1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài trình thu hoạch môn đấu tranh sinh học

20 440 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 440,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài trình thu hoạch môn đấu tranh sinh học

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA SINH - KTNN

BÀI TRÌNH THU HOẠCH

MÔN : Đ ẤU TRANH SINH H ỌC

Giảng viên : Lớp : K34B SP Sinh Khoa : Sinh – KTNN

Hà Nội - Tháng 11/2010

Đề Bài

Trang 2

Vai trò, ý nghĩa,tầm quan trọng của đấu tranh sinh học.Những triển vọng, thuận lợi và khó khăn của việc áp dụng đấu tranh sinh học ở Việt Nam.Giải pháp để phát triển áp dụng đấu tranh sinh học ở Việt Nam.Cho biết những sinh vật là thiên địch mà em đã biết, đã gặp.

Bài Làm Bước sang thế kỉ XXI loài người càng nhận thức rõ ràng hơn với những thách thức an ninh lương thực, ô nhiễm và sự nóng lên của trái đất,

sự giảm sút đa dạng sinh học và an toàn lương thực thực phẩm.Trong sản xuất nông nghiệp cần áp dụng tốt hơn những tiến bộ về công nghệ sinh học

và sinh thái tổ hợp…

Chất lượng cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao, đòi hỏi các sản phẩm nông nghiệp và môi trường an toàn Điều này chỉ có thể đạt được khi mối cân bằng sinh học trong tự nhiên được duy trì ổn định.

Trong sản xuất nông nghiệp hiện nay với hàng loạt các yếu tố thường xuyên thay đổi trong quá trình canh tác từ khi gieo trồng đến khi thu hoạch, việc tăng gia đầu vào (giống, phân hóa học, thuốc trừ hại dịch,…) đã

và đang làm giảm sự đa dạng sinh học dẫn đến mất cân bằng sinh học.Hệ quả là nhiều loài thiên địch giảm số lượng nghiêm trọng, không thể khống chế được dịch hại và do đó dịch hại bùng phát số lượng quá mức, gây thiệt hại ngày một nhiều đối với cây trồng Để giữ vững năng suất , người ta lại phải sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, chủ yếu là các loại thuốc hóa học và cứ như vậy vòng luẩn quẩn tăng sản lượng, tăng đầu vào, nguy cơ sản phẩm không an toàn và ô nhiễm môi trường lại tiếp tục diễn ra

Vì vậy hiện nay chúng ta đang chú trọng áp dụng các biện pháp đấu tranh sinh học.

I Khái niệm và lịch sử phát tiển của “đấu tranh sinh học”( ĐTSH)

1 Khái niệm

Khái niệm về “đấu tranh sinh học ” được xây dựng và bổ sung trong một thời gian dài, đi từ đơn giản đến phức tạp và trở nên hoàn thiện.

Trang 3

Trước đây người ta đã biết sử dụng côn trùng để tiêu diệt sâu hại Năm 1958 có tác giả đã định nghĩa nghĩa rộng của ĐTSH bao gồm sử dụng kháng sinh trong y tế và chăn nuôi và sử dụng những sinh vật sống

để trừ sinh vật gây hại , cỏ dại, côn trùng gây bệnh hại cây trồng.

Năm 1971, tổ chức đấu tranh sinh học thế giới đưa ra định nghĩa: ĐTSH là việc sử dụng những sinh vật sống hay các sản phẩm hoạt động sống của chúng nhằm ngăn ngừa hay giảm bớt các tác hại do các sinh vật gây hại.

Ví dụ: Một số loài côn trùng tiết ra các hoocmon dẫn dụ con cai đến.

Ở Việt Nam ĐTSH là biện pháp sử dụng sinh vật hay các sản phẩm của chúng nhắm ngăn chặn hay giảm bớt tác động do dịch hại gây ra Qua quá trình xây dựng định nghĩa về đấu tranh sinh học ta có thể định nghĩa ĐTSH như sau: ĐTSH là sự vận dụng mối quan hệ đối kháng như bắt mồi ăn thịt, kí sinh, kháng sinh giữa các nhóm sinh vật nhằm giảm thiểu thiệt hại do các nhóm sinh vật gây ra cho con người, cho vật nuôi cây trồng hoặc côn trùng trong tự nhiên.

Ví dụ: Mèo ăn chuột, chim ăn sâu,…

2 Ý nghĩa

2.1 Ưu điểm

- An toàn cho con người, cho vật nuôi, cho môi trường và cho nhiều sinh vật có ích khác.

- Có hiệu quả kinh tế lớn hơn so với các biện pháp khác Đạt được lợi ích lâu dài.(các biệnn pháp vật lý hay hóa học có hiệu quảv nhanh hơn biện pháp đấu tranh sinh học nhưng phải tốn công bài trừ hậu quả)

- Những sinh vật có ích, sinh vật thiên địch có vai trò kiểm soát, khống chế những sinh vật gây hại Những sinh vật gây hại có thể gọi là

“địch hại” hay “dịch hại”.

- ĐTSH có vai trò khống chế, kìm hãm những sinh vật gây hại trong quần xã.

Trang 4

- Sử dụng ĐTSH có hiệu quả mà lại không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm nông nghiệp, hạn chế những tác dụng phụ đối với con người

và vật nuôi

2.2 Nhược điểm

Bên cạnh những ưu điểm thì việc sử dụng biện pháp đấu tranh sinh học cũng có một số mặt hạn chế.

- Hiệu quả chậm, thâm chí rất chậm tùy theo từng trường hợp.

- Thường không đạt được mức gây hại dưới ngưỡng kinh tế.

- Sinh vật thiên địch thường nhạy cảm với nhất nhiều yếu tố ngoại cảnh nên rất dễ bị tổn thương.

VD: Nhạy cảm với hóa chất bảo vệ thực vật ,…

- ĐTSH đòi hỏi người sử dụng phải có trình độ chuyên môn cao, kể

cả rong sản xuất và ứng dụng.

Tóm lại, biện pháp ĐTSH có những ưu điểm quan trọng phù hợp với tương lai nhưng không được sử dụng hoàn toàn mà cần phối hợp một cách hợp lý với nhiều biện pháp khác.

Ngày nay phải sử dụng biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp

TPM.Trong đó vẫn lấy ĐTSH làm trung tâm.

VD: Để phòng trừ dịch hại phải sử dụng biện pháp canh tác hợp lý

3 Lịch sử phát triển của Đấu tranh sinh học

Đấu tranh sinh học có một lịch sử phát triển lâu dài Đấu tranh sinh học hay còn gọi là Biện pháp sinh học được hình thành và phát triển trên cơ

sở những quan sát ban đầu và thực nghiệm của các nhà nghiên cứu tự nhiên thời xa xưa Con đường phát triển của đấu tranh sinh học có nhiều bước qua nhiều thế kỷ có nhiều bước thăng trầm.

ĐTSH xuất hiện và được nghiên cứu từ trước thế kỷ 18 và phát triển đến ngày nay, và được áp dụng khá phổ biến

.

3.1 Những nghiên cứu và áp dụng biện pháp ĐTSH ở Việt Nam.

Trang 5

Mặc dù biện pháp đấu tranh sinh học trên thế giới đã thành công hơn

100 năm, nhưng đây là một lĩnh vực khoa học tương đối mới ở nước ta Theo những gì ghi chép lại, nông dân nước ta cũng biết sử dụng kiến vàng để diệt trừ sâu hại trong vườn cam quýt từ rất lâu.Nhưng nghiên cứu phát triển ĐTSH thì mới chỉ được bắt đầu từ những năm đầu thập niên 1970 Những nghiên cứu về thành phần sâu bệnh trên sâu hại lúa của P.B.Quyền và nnk(1972-1973), của viện bảo vệ thực vật và việc đánh giá hiệu lực của các chế phẩm sinh học từ vi khuẩn Bt để trừ sâu tơ tại viện bảo vệ thực vật (1971-1974) có thể coi là những công trình đầu tiên

về nghiên cứu ĐTSH phòng chống dịch hại ở nước ta (P.V.Lầm,2003)

Từ 1973, việc nghiên cứu sử dụng ong mắt đỏ Trichogramma spp,

để trừ một số sâu hại được bắt đầu tại Viện bảo vệ thực vật Sau đó công việc nghiên cứu này cũng được một số cơ quan khác tến hành như

Phòng sinh thái côn trùng(viện sinh thái và tài nguyên động vật), Bộ môn động vật không xương sống Đến nửa sau thập niên 1970, việc nghiên cứu sử dụng ong mắt đỏ Trichogramma spp để trừ sâu hại được chi cục BVTV Vĩnh Phúc , Thái Bình hưởng ứng triển khai.

Nghiên cứu nấm Beauveria bassiana để trừ sâu róm thông

Dendrolimus punctatúu được bắt đầu từ giữa thập niên 1970 ở trường Đại học Lâm nghiệp.

Từ cuối thập niên 1980 đến nay, việc nghiên cứu biện pháp đấu tranh sinh học được tiến hành ở nhiều cơ quan như Viện bảo vệ thực vật, Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật, Khoa sinh (Đại học khoa học tự nhiên

Hà Nội), Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, Viện nghiên cứu và phát triển cây bông, …Tác nhân sinh học được nghiên cứu cũng đa dạng, gồm ong mắt đỏ Trichogramma spp, vi khuẩn,virus côn trùng, nấm côn trùng, nấm đối kháng, tuyến trùng hại côn trùng,…

* Kết quả nghiên cứu

Trang 6

Trong khoảng 1/3 thế kỉ qua, chúng ta đã tiến hành nghiên cứu nhiều vấn đề về đấu tranh sinh học.Các nghiên cứu này tập trung chủ yếu ở hai hướng sau:

- Bảo vệ duy trì và phát triển quần thể thiên địch có sẵn trong tự

nhiên.

- Bổ sung thiên địch vào sinh quần cây trồng nông lâm nghiệp.

II Áp dụng đấu tranh sinh học ở Việt Nam

Sau khi điều tra thành phần thiên địch của dịch hại ở Việt Nam,

chúng ta đã có được bảng số lượng loài thiên địch đã phát hiện đươcj trên đồng lúa:

Tên bộ Số lượng họ Số lượng giống Số lượng loài

thiên địch

Tỉ lệ % số lượng thiên địch

Bộ cuồn chuồn

Odonata

Bộ bọ ngựa

Mantodea

Bộ cánh thẳng

Orthoptera

Bộ cánh da

Dermaptera

Bộ cánh nửa

Hemiptera

Bộ cánh cứng

Coleoptera

Bộ cánh cuốn

Strepsiptera

Bộ cánh màng

Hymenoptera

Bộ hai cánh

Diptera

Trang 7

Bộ nấm

Etomophthorales

Bộ nấm cành

Moniliales

Virus côn trùng

Virus

Tuyến trùng

Nematoda

* Việt Nam đã nghiên cứu bổ sung thiên địch vào sinh quần cây

trồng lâm nghiệp

- Nhập nội , thuần hóa thiên địch để trừ dịch hại ngoại lai.

Năm 1996, được sự tài trợ của FAO, chi cục BVTV tỉnh Lâm Đồng đã nhập nội từ Malaysia ong ký sinh Diadegma semicláuum để trừ sâu tơ ở

Đà Lạt Sau 3 năm, nhân và thả ở một số địa điểm ở Đà Lạt, ong ký sinh

đã tồn tại, thiết lập được quần thể ở ruộng thả ong và phát tán ra những ruộng xung quanh Tỷ lệ ký sinh của ong ký sinh trên sâu tơ đạt 2,6-69,4% tùy thuộc vào điều kiện cụ thể ở nơi thả ong Ở nơi không thả ong, tỷ lệ ký sinh của ong đạt 24,3%.

Năm 1995-1997, trong chương trình hợp tác quốc tế với tổ chức

CSIRO(Australia) do ACIAR tài trợ, viện BVTV đã nhập nội 3 tác nhân sinh học để trừ cây trinh nữ thân gỗ (Mimosa pigra) và 3 tác nhân sinh học để trừ cây bèo tây(Eichhornia crassipes) Các tác nhân đã nhập nội

là sâu đục thân trinh nữ (Carmenta mimosae), mọt đục hạt trinh

nữ(Acanthoscelides puniceus, Acanthoscelides quadridentatus), bọ vòi voi đục củ bèo tây(Neochetia bruchi) và sâu đục cọng bèo tây(Sameodes albiguttalis).

Kết quả thử nghiệm kiểm tra tính chuyên hóa thức ăn của các tác nhân sinh học đã nhập nội cho thấy tất cả chúng đều có tính chuyên hóa thức ăn rất cao Viện BVTV đã đề xuất xin phép các cơ quan quản lý

Trang 8

cho thả sâu đục thân trinh nữ để trừ cây trinh trinh nữ thân gỗ và bọ vòi voi đục củ bèo tây để trừ bèo tây Hai tác nhân này thả ra đã tồn tại và tạo lập quần thể ở nơi thả chúng.

* Di chuyển thiên địch trong vùng khu phân bố của loài

Kiến vàng là thiên địch tương đối phổ biến trong các vườn cây ăn quả

có múi ở nước ta Tuy vậy, ở một số vườn cây ăn quả có múi thiếu vắng loài này Nông dân đã áp dụng mọi biện pháp để di chuyển kiến vàng từ vườn có đến những vườn không có nó.

* Nhân thả thiên địch để trừ dịch hại.

- Nhân thả các ký sinh sâu hại

Ở nước ta mới nghiên cứu thả ong mắt đỏ để trừ trứng sâu hại Đến nay đã xây dựng được quy trình nhân nuôi lượng lớn ong mắt đỏ ở trong nhà bằng trứng ngài gạo corcyra cephalonica Các loài ong mắt đỏ được nhân nuôi để thả trừ sâu hại.

Đã nghiên cứu dùng ong mắt đỏ để trừ một số sâu hại như sâu cuốn

lá nhỏ, sâu đục thân lúa bướm hai chấm, sâu đo xanh, sâu xanh, sâu đục thân ngô, sâu đục thân mía, sâu tơ.

Kết quả cho thấy trứng sâu hại ở nơi thả ong mắt đỏ bị ký sinh đạt tỷ

lệ 35-94% tùy thuộc vào loài sâu hại và điều kiện thả ong mắt đỏ.

* Nghiên cứu sử dụng chế phẩm sinh học từ vi khuẩn Bacillus

thuringiensis (Bt) để trừ sâu hại.

Vi khuẩn Bt là loài vi khuẩn gây bệnh cho côn trùng quan trọng nhất Trên thế giới, Bt đã được nghiên cứu sử dụng rộng rãi nhất để trừ nhiều loài sâu hại Ở nước ta, việc nghiên cứu sử dụng Bt được tiến hành theo hai hướng : nhập nội chế phẩm Bt của nước ngoài và nghiên cứu sản xuất Bt ở trong nước.

* Nghiên cứu sử dụng nấm côn trùng để trừ sâu hại

Từ giữa thập niên 1970, trường đại học Lâm nghiệp bắt đầu nghiên cứu nấm Beauveria bassiana để trừ sâu róm thông Dendrolimus punctatus, nhưng chưa được chế phẩm nào vào trong sản xuất.

Trang 9

* Nghiên cứu sử dụng virus côn trùng để trừ sâu hại

Ở nước ta, các nghhiên cứu sử dụng virus côn trùng để trừ sâu hại mới được bắt đầu những năm cuối thập niên 1980.Các nghiên cứu này cũng chỉ tập trung vào nhóm NPV.Nghiên cứu sử dụng virus côn trùng trong phòng chống sâu hại gồm 2 mảng công việc riêng biệt là: nghiên cứu nhân nuôi hàng loạt sâu vật chủ bằng môi trường thức ăn và nghiên cứu phát triển, sử dụng chế phẩm sinh học từ NPV.

Từ năm 1988, Viện BVTV bắt đầu nghiên cứu môi trường thức ăn tổng hợp để nuôi sâu non các loài côn trùng cánh vảy, như sâu cắn gié, sâu xanh, sâu khoang, sâu keo da láng, sâu đục thân ngô, sâu tơ và sâu xanh bướm trắng.Viện BVTV đã chế được 10 môi trường thức ăn từ nguyên liệu phế thải có sẵn ở trong nước để nuôi sâu xanh, sâu khoang và sâu keo da láng Các môi trường này được cục sở hữu công nghiệp nhà nước cấp bằng sáng chế.

Đến nay chỉ có chế phẩm HaNPV được sử dụng nhiều hơn cả Hàn năm chế phẩm này được sử dụng trên diện tích vài trăm hecta bông ở phía Nam Sau đó là chế phẩm NPV sâu keo da láng được sử dụng trên hàng trăm hecta hành tây, nho, đậu xanh ở Trung bộ.

* Nghiên cứu tuyến trùng côn trùng để trừ sâu hại

Có hàng ngàn loài côn trrùng là ký chủ của tuyến trùng Một số loài tuyến trùng côn trùng đã được nghiên cứu tạo nên chế phẩm sinh học để phòng chống sâu hại.

* Nghiên cứu sinh vật đối kháng trừ vật gây bệnh cây

Có rất nhiều vi sinh vật đối kháng với vật gây bệnh cây Nhóm vi sinh vật đối kháng được nhiều nước nghiên cứu là nấm Trichoderma Ở Việt

Trang 10

Nam, nhóm nấm này cũng được quan tâm nghiên cứu đầu tiên trong các vi sinh vật đối kháng với vật gây bệnh cây Công việc này được bắt đầu từ năm 1987 tại Bộ môn Bệnh cây Viện Bảo vệ thực vật.

* Nghiên cứu vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy để trừ chuột

Từ năm 1994, Viên BVTV bắt đầu nghiên cứu sản xuất bả chuột sinh học từ vi khuẩn Salmonella enteridis chủng isachenko Bả sinh học có hiệu lực trừ chuột cao(80-100%) với liều lượng 1-2g bả/ 1 chuột Chuột chết ở ngày thứ 4 đến 10 sau khi ăn bả Hiệu quả trừ chuột trên đồng ruộng đạt 66,6-83,3%

* Nghiên cứu vi sinh vật trừ cỏ dại

Từ năm 1996, viện bảo vệ thực vật hợp tác với viện nghiên cứu nông nghiệp bang New South Wales nghiên cứu nấm chuyên tính để trừ cỏ lồng vực trên lúa….

Cách áp dụng biện pháp đấu tranh sinh học:

.Khi sử dụng biện pháp sinh học:

Tạo môi trường thuận lợi cho các loại sinh vật có ích là kẻ thù tự nhiên của dịch hại phát triển nhằm góp phần tiêu diệt dịch hại:

- Bảo vệ thiên địch tránh khỏi độc hại do dùng thuốc hoá học bằng cách sử dụng những loại thuốc chọn lọc, thuốc có phổ tác động hẹp, dùng thuốc khi thật cần thiết và phải dựa vào ngưỡng kinh tế

- Tạo nơi cư trú cho thiên địch sau vụ gieo trồng bằng cách trồng xen, trồng cây họ đậu trên bờ ruộng, làm bờ rạ cho thiên địch ẩn nấp

- Áp dụng các kỹ thuật canh tác hợp lí tạo điều kiện cho thiên địch phát triển, ưu tiên sử dụng các loại thuốc Bảo vệ thực vật sinh học;

Các loại thuốc sinh học chỉ có tác dụng trừ dịch hại, không độc hại với các loại sinh vật có ích an toàn với sức khỏe con người và môi trường

Trang 11

+ Khi sử dụng biện pháp hoá học :

a) Sử dụng hợp lý thuốc hoá học BVTV

- Sử dụng thuốc theo ngưỡng kinh tế: Tiết kiệm được chi phí, giữ cân bằng sinh học trên đồng ruộng, hạn chế ô nhiễm môi trường.

- Sử dụng thuốc an toàn với thiên địch: Lựa chọn thuốc ít độc hại, chọn thời gian và phương thức xử lý ít ảnh hưởng với thiên địch.

- Sử dụng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng:

+ Đúng chủng loại:

Mỗi loại sâu hay bệnh đều có những loại thuốc thích hợp để phòng trừ Dùng không đúng thuốc sẽ không diệt được sâu bệnh mà còn gây lãng phí và ảnh hưởng tới thiên địch và môi trường.

+ Đúng liều lượng và nồng độ:

Liều lượng: Là lượng thuốc quy định cho một đơn vị diện tích (ha, sào hay công đất mét khối kho tàng )

Nồng độ sử dụng: Là độ pha loãng của thuốc dạng lỏng, dạng bột để phun lên cây, lượng đất bột, cát để trộn với thuốc hạt rắc vào đất.

Dùng thuốc không đủ liều lượng và nồng độ hiệu quả sẽ kém, dịch hại

dễ nhờn thuốc Sử dụng quá liều lượng và nồng độ (lạm dụng thuốc) vừa lãng phí, vừa độc hại

Phun rải thuốc không đúng cách hiệu quả sẽ kém, thậm chí không có hiệu quả.

+ Đúng thời điểm (Đúng lúc):

Ngày đăng: 16/05/2016, 11:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w