Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Việc mua bán tài sản với Công ty TTĐN của họ là hợp pháp, tài sản mua bán không phải là tài sản thế chấp hình thành từ vốn vay, tạ
Trang 1LUẬT NGÂN HÀNG BÀI TẬP NHÓM: BÌNH LUẬN BẢN ÁN
Tháng 11 – Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 2MỤC LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 02/2009/KDTM-GĐT NGÀY 710-3-2009 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỔNG TÍN DỤNG 7HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO 7Ngày 10 tháng 3 năm 2009, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao, đã mở phiên toà giám đốcthẩm xét xử vụ án kinh doanh, thương mại tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa các đươngsự: 7Tại Biên bản làm việc ngày 22-01-2007 hai bên thoả thuận: 9
“1 Công ty TTĐN đồng ý bàn giao, Ngân hàng đồng ý nhận lại các tài sản thế chấp theodanh mục sau để xử lý thu hồi nợ: 9Các tài sản theo danh mục tại Hợp đồng thế chấp tài sản số 01 ngày 16-6-2004: nguyên giá 5.151.256.000 đồng 9Trại nái 131 con theo Hợp đồng thế chấp tài sản ngày 18-10-2004: nguyên giá
828.670.462 đồng 9Trạm nghiền thức ăn gia súc theo Hợp đồng thế chấp tài sản ngày 3-4-2005: nguyên giá 700.000.000 đồng 9Tổng giá trị theo nguyên giá là 6.733.926.462 đồng 9Các tài sản trên hiện đang đảm bảo cho khoản nợ vay tại Ngân hàng Hoằng Hoá với số tiền gốc là 6.133.516.000 đồng” 9Tại biên bản làm việc ngày 10-02-2007, hai bên thông nhất bàn giao tài sản của Công ty TTĐN theo hợp đồng đảm bảo, riêng đàn lợn theo đúng thực tế tại thời điểm bàn giao và
ấn định ngày bàn giao là ngày 13-02-2007 9Ngày 13-02-2007, Ngân hàng Hoằng Hoá và Công ty TTĐN tiến hành bàn giao toàn bộ tài sản để xử lý thu hồi nợ Tại biên bản bàn giao tài sản có nội dung: 10Ngày 22-02-2007, Toà án nhân dân huyện Hoằng Hoá thụ lý vụ án 10Cùng ngày 22-02-2007, Ngân hàng Hoằng Hoá có đơn đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên, phong toả khu chuồng trại mới xây dựng trên các thửa đất số 50,
51, tờ bản đồ số 8 tại xã Hoằng Quang và trên 1000 con lợn của Công ty TTĐN giao choNgân hàng Hoằng Hoá quản lý, trông coi chăm sóc cho đến khi định giá phát mại tài sản
để thu hồi nợ; áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để cấm di chuyển, chuyển nhượng khối tài sản 10Ngày 23-02-2007, Toà án nhân dân huyện Hoằng Hoá ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa 1000 con lợn và khu trang trại trên thửa đất 50, 51, tờ bản
đồ số 8 tại xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hoá; giao số lợn và khu trang trại cho Ngân hàng Hoằng Hoá quản lý trông coi 10Ngày 14-6-2007, Ngân hàng Hoằng Hoá có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với khoản nợ của 3 Hợp đồng tín dụng số 09, 12, 04 với số tiền gốc còn nợ là
4.233.516.000 đồng ra khỏi vụ kiện vì khoản nợ gốc này cho vay có bảo đảm bằng tài sản và ngày 13-02-2007, Công ty TTĐN đã bàn giao tài sản thế chấp cho Ngân hàng Hoằng Hoá Còn lại khoản tiền 1.900.000.000 đồng cho vay không có bảo đảm bằng tài sản và tiền lãi tính đến ngày 31-5-2007 là 215.013.540 đồng đề nghị Toà án buộc Công
ty TTĐN phải trả cho Ngân hàng Hoằng Hoá 11Ngày 15-6-2007, Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá ra Quyết định thay đổi biện pháp khẩn cấp tạm thời số 38/2007/QĐ-BPKCTT cho bán số lợn hiện có đang được phong toả theo Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2007/QĐ-BPKCTT ngày 23-02-2007 của Toà án nhân dân huyện Hoằng Hoá; số tiền bán lợn chuyển vào tàikhoản tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Thanh Hoá của Thi hành án dân sự tỉnh ThanhHoá để chờ xử lý 11
Trang 3Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Việc mua bán tài sản với Công
ty TTĐN của họ là hợp pháp, tài sản mua bán không phải là tài sản thế chấp hình thành
từ vốn vay, tại thời điểm mua bán không có lệnh cấm và diễn ra trước khi Ngân hàng khởi kiện: khi có quyết định phong toả tài sản không còn thuộc quyền sở hữu của Công
ty TTĐN, đề nghị Toà án huỷ bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và trả lại tài sản đang bị phong toả cho các ông 13Tại phiên toà sơ thẩm ngày 06-07-2007, Đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu rút một phần đơn khởi kiện và đề nghị tạm đình chỉ vụ án Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của phía nguyên đơn xin rút một phần đơn khởi kiện (thể hiện tại biên bản phiên toà
sơ thẩm chứ không có quyết định mà chỉ ra Quyết định số 03/2007/QĐST-KDTM ngày 06-7-2007 tạm đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm) 13Ngày 10/7/2007, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá kháng nghị; Công
ty TTĐN và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo 13Tại Quyết định số 213/2007/QĐ – PT ngày 05-11-2007, Toà phúc thẩm Toà án nhân dântối cao tại Hà Nội Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án số 03 nêu trên để giải quyết
vụ án 13Ngày 26-11-2007, Ngân hàng Hoằng Hoá có đơn bổ sung đơn khởi kiện và ngày 14-12-
2007, Ngân hàng Hoằng Hoá có đơn thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện và đề nghị Toà
án tiếp tục đưa vụ án ra xét xử, buộc Công ty TTĐN thanh toán số dư nợ có bảo đảm còn lại của các hợp đồng số 09, 12 và 04 là 987.926.264 đồng (sau khi khấu trừ tài sản cầm cố, thế chấp, bán đấu giá là 3.245.589.736 đồng) và số dư nợ không có bảo đảm là 1.900.000.000 đồng (của Hợp đồng số 16) và tiền lãi; tổng cộng số nợ là 3.685.691.770 đồng (trong đó, tiền gốc là 2.887.926.264 đồng, tiền lãi tính đến ngày 30-11-2007 là 797.656.500 đồng) 13Ngày 21-12-2007, Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá ra Quyết định số 15/2007/QĐST-KDTM đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm, trả lại đơn khởi kiện
và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho các đương sự; đồng thời, ra Quyết định huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời số 101/2007/QĐ-BPKCTT ngày 21-12-2007 với nội dung:
" Trả lại tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là khu chuồng trại trên thửa đất 50, 51, tờ bản đồ số 08, xã Hoằng Quang, Hoằng Hoá, Thanh Hoá cho người mua là ông Lê Khả Thuỷ; giao số tiền bán tài sản phong toả là 619 con lợn theo Quyết định thayđổi biện pháp khẩn cấp tạm thời số 38/2007/QĐ-BPKCTT ngày 15-6-2007 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá là 1.010.915.000 đồng tại tài khoản số 9219.0000.0008 của Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá cho người có lợn bị phong toả là ông Nguyễn Hữu Lợi và ông Lê Khả Thuỷ Việc phân chia số tài sản trên cho mỗi ngưồi do ông Lợi và ông Thủy tự giải quyết; trả lại toàn bộ tài sản bảo đảm là 700.000.000 đồng tại tài khoảnphong toả được mở tại Ngân hàng NN và PTNT Chi nhánh Hoằng Hoá cho chính Ngân hàng NN và PTNT Chi nhánh Hoằng Hoá ” 14Ngày 24-12-2007, Ngân hàng Hoằng Hoá có đơn kháng cáo Quyết định đình chỉ vụ án
số 15/2007/QĐST-KDTM 14Cùng ngày 24-12-2007, Ngân hàng Hoằng Hoá có đơn đề nghị Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 14Tại Quyết định số 71/2008/QĐ-PT ngày 31-3-2008, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tốỉ cao tại Hà Nội quyết định: “Chấp nhận kháng cáo và đề nghị của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Hoằng Hoá, huỷ Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 15/2007/QĐST-KDTM ngày 21-12-2007 và Quyết định huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời số 101/2007/QĐ-BPKCTT ngày 21-12-2007 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá; chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá để tiếp tục giải quyết lại vụ án” 14
Trang 4Tại Quyết định kháng nghị số 17/KN-VKSTC-V12 ngày 10-11-2008, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại số 71/2008/QĐ-PT ngày 31-3-2008 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm theo hướng: Hủy Quyết định số 71/2008/QĐ-PT ngày 31-3-2008 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội; giữ nguyên các Quyết định số 15/2007/QĐST-KDTM, Quyết định số 101/2007/QĐ- BPKCTT ngày 21-12-2007 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá 15XÉT THẤY: 151.Về tư cách tố tụng của nguyên đơn 15Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thanh Hoá – Chi nhánh Hoằng Hoá được thành lập theo Quyết định số 340/QĐ-NHNN-02 ngày 19-6-1998 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam “về việc thành lập đơn
vị trực thuộc đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” 15Theo quy định tại khoản 3,4 và 5 Điều 92 Bộ luật dân sự, thì Ngân hàng Nông Nghiệp
và Phát triển Nông thôn Thanh Hoá – Chi nhánh Hoằng Hoá là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân chứ không phải là pháp nhân 15Ngày 12-02-2007, ông Phạm Anh Thư – Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển Nông thông huyện Hoằng Hoá thực hiện việc khởi kiện vụ án theo uỷ quyền của Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam tại Quyết định số 781/QĐ/NHNN-TKPC ngày 13-6-2006 về việc uỷ quyền tham gia tố tụng, thi hành án 15Theo quy định tại Điều 92 Bộ Luât dân sự; Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự, tiểu mục 1.4
và điểm c tiểu mục 1.5 mục 1 Phần I của Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày
12-5-2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Phần thứ hai
“Thủ tục giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự hướng dẫn việc pháp nhân khởi kiện và uỷ quyền khởi kiện vụ án dân sự, thì trong vụ án này nguyên đơn phải là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam như Toà
án cấp phúc thẩm đã xác định; do đó, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao cho rằng nguyên đơn là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thanh Hoá – Chi nhánh Hoằng Hoá là không có căn cứ chấp nhận 16
2 Về điều kiện khởi kiện 16Tại điều 9 của Hợp đồng tín dụng số 16/HĐTD ngày 0/4/2005 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng số 16/HĐTD ngày 04-4-2005 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng số 16), quy định: “Đến hạn Công ty không trả được nợ gốc và lãi Ngân hàng được quyền xử lý tài sản mà đã thế chấp để thu hồi nợ gốc và lãi” 16Thực tế thì hai bên không xác lập hợp đồng thế chấp tài sản nào để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ tại Hợp đồng số 16 mà chỉ xác lập Giấy thoả thuận đăng ký lại nghĩa vụ được bảo đảm nợ vay Ngân hàng không đề ngày chỉ ghi tháng 4/2005 về việc dùng tài sản thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo Hợp đồng số 16 16Tuy nhiên, Giấy thoả thuận trên chưa được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền theo đúng quy định tại Điều 7 Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29-12-1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng; Điều 2 và Điều 19 Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10-3-2000 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm (quy định
về những trường hợp phải được đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm và thủ tục thay đổi nội dung đã đăng ký giao dịch bảo đảm); điểm b khoản 1 Điều 64 và khoản
3 Điều 153 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai bằng quyền sử dụng đất); đoạn 2 mục 6 phần III Thông tư số 07/2003 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn thực hiện một số quy định về bảo đảm tiền
Trang 5vay của các tổ chức tín dụng (Mỗi lần cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng một tài sản bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ trả nợ, các bên phải lập thành văn bản và đăng ký tại cơ
quan đăng ký giao dịch bảo đảm) 17
*** 17
Bản thân Ngân hàng Hoằng Hoá cũng xác định Hợp đồng tín dụng số 16 là hợp đồng không có bảo đảm; còn Công ty TTĐN thì cho rằng Hợp đồng này là hợp đồng có bảo đảm theo Giấy thoả thuận nêu trên Vì vậy, do Giấy thoả thuận đăng ký lại nghĩa vụ được bảo đảm nợ vay Ngân hàng đề tháng 4/2005 chưa được các bên thực hiện đúng theo quy định của pháp luật và có tranh chấp nên không có hiệu lực thi hành 17
Tuy tại các Biên bản làm việc ngày 22-01-2007 và ngày 10-02-2007, Ngân hàng Hoằng Hoá và Công ty TTĐN đã thoả thuận: Ngân hàng Hoằng Hoá nhận bàn giao nguyên trạng tài sản của Công ty TTĐN theo đúng các danh mục mục tại các hợp đồng đảm bảo tiền vay đã ký để xử lý thu hồi nợ và ngày 13- 02-2007, hai bên đã tiến hành bàn giao toàn bộ tài sản bảo đảm tiền vay thuộc sở hữu của Công ty TTĐN cho Ngân hàng Hoằng Hoá để xử lý thu hồi nợ nhưng đây là sự thoả thuận của các đương sự trong quá trình thanh toán nợ với nhau, không thể coi mục 5 mục I phần B Thông tư liên tịch số 03/2001/TTLT/NHNN-BTP-BCA- BTC-TCĐC ngày 23-4-2001 hướng dẫn việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng; ngoài ra, các bên không có sự thoả thuận nào khác Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 54 Luật các tổ chức tín dụng thì không bắt buộc phải xử lý tài sản bảo đảm xong mới có quyền khởi kiện tại Toà án Pháp luật hiện hành không có quy định bắt buộc phải xử lý tài sản bảo đảm xong mới có quyền khởi kiện vụ án tại Toà án Mặt khác, hợp đồng có bảo đảm hay không có bảo đảm cũng không ảnh hưởng đến quyền khởi kiện của đương sự Hơn nữa, ngày 13-02-2007 Công ty TTĐN bàn giao tài sản thế chấp cho Ngân hàng Hoằng Hoá là để xử lý thu hồi nợ của các hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết và thực hiện chứ không chỉ để thanh toán cho riêng một hợp đồng tín dụng nào Mặt khác, tuy nguyên đơn đã rút một phần yêu cầu khởi kiện ban đầu đối với 03 Hợp đồng tín dụng số 09, 04 và 12, chỉ yêu cầu giải quyết tranh chấp về Hợp đồng tín dụng số 16; nhưng sau khi Toà án cấp phúc thẩm (lần 1) hủy quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm, thì Ngân hàng Hoằng Hoá đã có đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu Toà án buộc Công ty TTĐN phải thanh toán số tiền còn thiếu của 4 Hợp đồng 09, 04, 12 và 16 do bán tài sản thế chấp không bù trừ đủ số nợ gốc Ngoài ra, Ngân hàng Hoằng Hoá, Công ty TTĐN và hai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có tranh chấp về tài sản bị đem bán theo quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án Vì vậy, Toà án phải tiếp tục giải quyết vụ án mà không thể đình chỉ giải quyết vụ án vì lý do chưa đủ điều kiện khởi kiện như Toà án cấp sơ thẩm đã quvết định và kháng nghị nêu 18
Tuy nhiên, khi tiến hành giải quyết lại vụ án, Toà án cấp sơ thẩm cần hướng dẫn cho nguyên đơn làm lại đơn khởi kiện theo đúng quy định tại Điều 164 Bộ luật tố tụng dân sự và hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12-5-2006 Nếu bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu phản tố thì cũng phải thực hiện theo đúng quy đinh của pháp luật về tố tụng 19
Vì vậy, khi Toà án cấp sơ thẩm tiến hành thụ lý, giải quyết lại vụ án thì xem xét việc có áp dụng hay không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo đúng quy định của pháp luật 20
Vì các lẽ trên, cản cứ vào khoản 3 Điều 291; khoản 3 Điều 297; khoản 2 và 20
Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự; 20
QUYẾT ĐỊNH: 20 Huỷ Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối vối quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 71/2008/QĐ-PT ngày 31-3-2008 của Toà phúc thẩm
Trang 6Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội và Quyêt định đình chi giải quyết vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 15/2007/QĐST-KDTM ngày 21-12-2007 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá; 20Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá giải quyết, xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật 202.1.Tóm tắt bản án 21Phía công ty TTĐN trình bày: Cả 4 hợp đồng tín dụng đều là hợp đồng có bảo đảm và
có tổng số dư nợ gốc 6.133.516.000 đồng thấp hơn trị giá tài sản thế chấp 6.733.926.000đồng Ngân hàng đã nhận tài sản thế chấp để xử lý thu hồi nợ nhưng chưa được xử lý xong đã khởi kiện là chưa đủ điều kiện khởi kiện Còn tài sản bị phong toả của Toà án thì tài sản đã bán cho ông Thuỷ và ông Lợi, đề nghị trả tài sản cho ông Lợi và ông Thuỷ 24Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Việc mua bán tài sản với Công
ty TTĐN của họ là hợp pháp, tài sản mua bán không phải là tài sản thế chấp hình thành
từ vốn vay, tại thời điểm mua bán không có lệnh cấm và diễn ra trước khi Ngân hàng khởi kiện: khi có quyết định phong toả tài sản không còn thuộc quyền sở hữu của Công
ty TTĐN, đề nghị Toà án huỷ bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và trả lại tài sản đang bị phong toả cho các ông 24Tại phiên toà sơ thẩm ngày 06-07-2007, Đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu rút một phần đơn khởi kiện và đề nghị tạm đình chỉ vụ án Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của phía nguyên đơn xin rút một phần đơn khởi kiện (thể hiện tại biên bản phiên toà
sơ thẩm chứ không có quyết định mà chỉ ra Quyết định số 03/2007/QĐST-KDTM ngày 06-7-2007 tạm đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm) 24Ngày 10/7/2007, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá kháng nghị; Công
ty TTĐN và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo 24Tại Quyết định số 213/2007/QĐ – PT ngày 05-11-2007, Toà phúc thẩm Toà án nhân dântối cao tại Hà Nội Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án số 03 nêu trên để giải quyết
vụ án 24Ngày 26-11-2007, Ngân hàng Hoằng Hoá có đơn bổ sung đơn khởi kiện và ngày 14-12-
2007, Ngân hàng Hoằng Hoá có đơn thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện và đề nghị Toà
án tiếp tục đưa vụ án ra xét xử, buộc Công ty TTĐN thanh toán số dư nợ có bảo đảm còn lại của các hợp đồng số 09, 12 và 04 là 987.926.264 đồng (sau khi khấu trừ tài sản cầm cố, thế chấp, bán đấu giá là 3.245.589.736 đồng) và số dư nợ không có bảo đảm là 1.900.000.000 đồng (của Hợp đồng số 16) và tiền lãi; tổng cộng số nợ là 3.685.691.770 đồng (trong đó, tiền gốc là 2.887.926.264 đồng, tiền lãi tính đến ngày 30-11-2007 là 797.656.500 đồng) 25Ngày 21-12-2007, Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá ra Quyết định số 15/2007/QĐST-KDTM đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm, trả lại đơn khởi kiện
và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho các đương sự; đồng thời, ra Quyết định huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời số 101/2007/QĐ-BPKCTT ngày 21-12-2007 với nội dung:
" Trả lại tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là khu chuồng trại trên thửa đất 50, 51, tờ bản đồ số 08, xã Hoằng Quang, Hoằng Hoá, Thanh Hoá cho người mua là ông Lê Khả Thuỷ; giao số tiền bán tài sản phong toả là 619 con lợn theo Quyết định thayđổi biện pháp khẩn cấp tạm thời số 38/2007/QĐ-BPKCTT ngày 15-6-2007 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá là 1.010.915.000 đồng tại tài khoản số 9219.0000.0008 của Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá cho người có lợn bị phong toả là ông Nguyễn Hữu Lợi và ông Lê Khả Thuỷ Việc phân chia số tài sản trên cho mỗi ngưồi do ông Lợi và ông Thủy tự giải quyết; trả lại toàn bộ tài sản bảo đảm là 700.000.000 đồng tại tài khoảnphong toả được mở tại Ngân hàng NN và PTNT Chi nhánh Hoằng Hoá cho chính Ngân hàng NN và PTNT Chi nhánh Hoằng Hoá ” 25
Trang 7Ngày 24-12-2007, Ngân hàng Hoằng Hoá có đơn kháng cáo Quyết định đình chỉ vụ án
số 15/2007/QĐST-KDTM 25Cùng ngày 24-12-2007, Ngân hàng Hoằng Hoá có đơn đề nghị Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời 25Tại Quyết định số 71/2008/QĐ-PT ngày 31-3-2008, Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tốỉ cao tại Hà Nội quyết định: “Chấp nhận kháng cáo và đề nghị của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Hoằng Hoá, huỷ Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 15/2007/QĐST-KDTM ngày 21-12-2007 và Quyết định huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời số 101/2007/QĐ-BPKCTT ngày 21-12-2007 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá; chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá để tiếp tục giải quyết lại vụ án” 26Tại Quyết định kháng nghị số 17/KN-VKSTC-V12 ngày 10-11-2008, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh thương mạii số 71/2008/QĐ-PT ngày 31-3-2008 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm theo hướng: Hủy Quyết định số 71/2008/QĐ-PT ngày 31-3-2008 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội; giữ nguyên các Quyết định số 15/2007/QĐST-KDTM, Quyết định số 101/2007/QĐ- BPKCTT ngày 21-12-2007 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá 26 Trong phần xét thấy của quyết định Giám đốc thẩm có đề cập thì tại Điều 9 của của Hợp đồng tín dụng số 16/HĐTD ngày 0/4/2005, quy định: “Đến hạn Công ty không trả được nợ gốc và lãi Ngân hàng được quyền xử lý tài sản mà đã thế chấp để thu hồi nợ gốc và lãi” Tuy nhiên, căn cứ theo các quy định pháp luật tại thời điểm hợp đồng được giao kết, cụ thể tại Khoản 1 Điều 9 của Nghị định 85/2002, sửa đổi, bổ sung Điều 7 Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29-12-1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay củacác tổ chức tín dụng đã buộc hợp đồng bảo đảm tiền vay phải thể hiện dưới hình thức văn bản, phải có sự chứng nhận của Công chứng nhà nước hay chứng thực của Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền và phải đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật Đây chính là các yếu tố về hình thức của hợp đồng để đảm bảo tính hiệu lực của hợp đồng Như vậy rất có thể hợp đồng này sẽ bị tuyên vô hiệu vì không thỏa mãn dấu hiệu về mặt hình thức theo Điều 139 Bộ luật dân sự 1995 27
Trang 81 Bản án: Quyết định giám đốc thẩm số 02/2009/KDTM-GĐT ngày 10 tháng 3 năm 2009 về vụ tranh chấp hợp đồng tín dụng của Hội đồng thẩm phán
QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 02/2009/KDTM-GĐT NGÀY 10-3-2009 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỔNG TÍN DỤNG
HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Ngày 10 tháng 3 năm 2009, tại trụ sở Toà án nhân dân tối cao, đã mở phiên toàgiám đốc thẩm xét xử vụ án kinh doanh, thương mại tranh chấp hợp đồng tíndụng giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thanh Hoá
-Chi nhánh Hoằng Hoá (theo xác định của Toà án cấp sơ thẩm); có trụ sở tại thị trấn Bút Sơn, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá; do ông Phạm Anh Thư
- Giám đốc Chi nhánh đại diện.
Bị đơn: Công ty cổ phần Thương mại và phát triển gia súc TTĐN; có trụ sở
tại Hoằng Quang, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá; do ông Nguyễn Hữu Thơm -Giám đốc Công ty đại diện.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan:
1 Ông Nguyễn Hữu Lợi; trú tại thôn 7, xã Hoằng Quang, huyện Hoằng
Hoá, tỉnh Thanh Hoá;
2 Ông Lê Khả Thủy; trú tại thôn Anh Vinh, xã Hoằng Thịnh, huyện
Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hoá.
NHẬN THẤY:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 12-02-2007 của nguyên đơn, các lời khai của đương sự và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thì thấy: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thanh Hoá - Chi nhánh Hoằng Hoá (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Hoằng Hoá) và Công ty cổ phần thương mại
và phát triển gia súc TTĐN (sau đây gọi tắt là Công ty TTĐN) có ký kết 04 Hợp đồng tín dụng, cụ thể như sau:
1/ Hợp đồng tín dụng số 09/HĐTD ngày 24-6-2004 (có Phụ lục Hợp đồng kèm
Trang 9theo) với số tiền vay là 3.500.000.000 đồng; thời hạn cho vay 60 tháng; ngày trả hết
nợ (gốc và lãi) là 24-6-2009 Ngày 16-6-2004, hai bên ký kết Hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 01/TC, tài sản thế chấp là quyền
sử dụng 16.970m 2 đất và tài sản hình thành từ vốn vay gắn liền với đất, giá trị tài sản bảo đảm là 5.380.351.000 đồng.
2/ Hợp đồng tín dụng số 12/HĐTD ngày 28-10-2004, với số tiền vay là 600.000.000 đồng; thời hạn cho vay 60 tháng; ngày trả hết nợ (cả gốc và lãi) là 28-10-2009 Cùng ngày, hai bên ký Hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản hình
thành từ vốn vay, giá trị tài sản dự kiến sẽ hình thành từ vốn vay là 850.000.000
đồng.
3/ Hợp đồng tín dụng số 04/HĐTD ngày 04-4-2005, với số tiền cho vay là 525.000.000 đồng; thời hạn cho vay 60 tháng; ngày trả hết nợ (cả gốc và lãi) là ngày 04-4-2010 Cùng ngày, hai bên ký kết Hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản
hình thành từ vốn vay, giá trị tài sản dự kiến sẽ hình thành từ vốn vay là
700.000.000 đồng.
4/ Hợp đồng tín dụng số 16/HĐTD ngày 04-4-2005, với số tiền cho vay là
1.900.000.000 đồng; thời hạn cho vay là 12 tháng; ngày trả hết nợ là ngày 2006; tiền vay được bảo đảm theo thoả thuận trong Hợp đồng đảm bảo tiền vaykèm theo hợp đồng vay; đến hạn Công ty không trả được nợ gốc và lãi, Ngân hàngđược quyền xử lý tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ gốc và lãi
04-4-Thực tế thì không có Hợp đồng bảo đảm kèm theo Hợp đồng tín dụng nêu trên nhưng có Giấy thoả thuận đăng ký lại nghĩa vụ được bảo đảm nợ vay Ngân
hàng do hai bên lập không đề ngày chỉ ghi tháng 4/2005, với nội dung: tài sản thế
chấp chính chủ và tài sản hình thành từ vốn vay là 16.970m2 đất tại thôn NguyệtViên, xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá do Uỷ ban nhân dântỉnh Thanh Hoá cấp ngày 03-9-2003 cho Công ty, tài sản gắn liền đất là Vănphòng làm việc, trang trại chăn nuôi, tài sản khác là xe con điều hành được tiếptục sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo Hợp đồng tín dụng số 16/HĐTDngày 04-4-2005 thay thế cho nghĩa vụ được bảo đảm của Hợp đồng tín dụng ngày
01-9-2004 Giấy thoả thuận này chưa được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
công chứng, chứng thực và đăng ký theo quy định của pháp luật
Trang 10Tại Biên bản làm việc ngày 22-01-2007 hai bên thoả thuận:
“1 Công ty TTĐN đồng ý bàn giao, Ngân hàng đồng ý nhận lại các tài sản thế chấptheo danh mục sau để xử lý thu hồi nợ:
Các tài sản theo danh mục tại Hợp đồng thế chấp tài sản số 01 ngày 16-6-2004:nguyên giá 5.151.256.000 đồng
Trại nái 131 con theo Hợp đồng thế chấp tài sản ngày 18-10-2004: nguyên giá828.670.462 đồng
Trạm nghiền thức ăn gia súc theo Hợp đồng thế chấp tài sản ngày 3-4-2005: nguyêngiá 700.000.000 đồng
Tổng giá trị theo nguyên giá là 6.733.926.462 đồng.
Các tài sản trên hiện đang đảm bảo cho khoản nợ vay tại Ngân hàng Hoằng Hoá với
số tiền gốc là 6.133.516.000 đồng”.
Tại biên bản làm việc ngày 10-02-2007, hai bên thông nhất bàn giao tài sản củaCông ty TTĐN theo hợp đồng đảm bảo, riêng đàn lợn theo đúng thực tế tạithời điểm bàn giao và ấn định ngày bàn giao là ngày 13-02-2007
Cũng trong ngày 10-02-2007, Công ty TTĐN ký Hợp đồng chuyển nhượng tài sảngắn liền với đất với ông Lê Khả Thuỷ, bao gồm chuồng lợn 800 m2, tường rào baoquanh, đường giao thông nội khu, hồ sinh thái, bể phốt, tháp nước và hệ thống cấpnước, san lấp mặt bằng trên diện tích đất 7.746m2 tại thôn 8 xã Hoằng Quang,huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá với giá 110.000.000 đồng và Công ty TTĐNbán cho ông Lê Khả Thủy 300 con lợn thành tiền là 152.290.000 đồng Ngày 11 và13-02-2007, Công ty TTĐN bán cho ông Nguyễn Hữu Lợi 358 con lợn thành tiền300.341.000 đồng
Tại đơn khởi kiện đề ngày 12-02-2007, Ngân hàng Hoằng Hoá yêu cầu Toà án nhândân huyện Hoằng Hoá buộc Công ty TTĐN phải thanh toán cho Ngân hàng Hoằng
Hoá số tiền nợ (cả gốc và lãi) của 4 Hợp đồng tín dụng nêu trên tính đến ngày
31-01-2007, gồm: nợ gốc là 6.133.516.000 đồng và nợ lãi là 558.411.000 đồng với lýdo: Công ty TTĐN vi phạm hợp đồng, sử dụng vốn vay không đúng mục đích,
không có hiệu quả.
Trang 11Ngày 13-02-2007, Ngân hàng Hoằng Hoá và Công ty TTĐN tiến hành bàn giaotoàn bộ tài sản để xử lý thu hồi nợ Tại biên bản bàn giao tài sản có nội dung:
“ bàn giao toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của Công ty TTĐN cho Ngân hàng Hoằng Hoá để xử lý thu hồi nợ theo quyết định của pháp luật
1/ Nguyên tắc bàn giao
- Công ty TTĐN thực hiện bàn giao toàn bộ tài sản bảo đảm tiền vay và
hồ sơ về tài sản cho Ngân hàng
- Phương thức xử lý tài sản đảm bảo được thực hiện theo điểm 5.2 khoản 5 mục 1 phần B quy định tại Thông tư 03/2001/TTLT-NHNN-BTP-BCA- BTC-TCĐC ngày 23-4-2001 ” (Kèm theo là Danh mục tài sản thế chấp bàn giao tổng giá trị tài sản khi thế chấp là 6.732.229.528 đồng).
Ngày 22-02-2007, Toà án nhân dân huyện Hoằng Hoá thụ lý vụ án.
Cùng ngày 22-02-2007, Ngân hàng Hoằng Hoá có đơn đề nghị áp dụng biện phápkhẩn cấp tạm thời kê biên, phong toả khu chuồng trại mới xây dựng trên cácthửa đất số 50, 51, tờ bản đồ số 8 tại xã Hoằng Quang và trên 1000 con lợncủa Công ty TTĐN giao cho Ngân hàng Hoằng Hoá quản lý, trông coi chămsóc cho đến khi định giá phát mại tài sản để thu hồi nợ; áp dụng biện phápkhẩn cấp tạm thời để cấm di chuyển, chuyển nhượng khối tài sản
Ngày 23-02-2007, Toà án nhân dân huyện Hoằng Hoá ra quyết định áp dụng biệnpháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa 1000 con lợn và khu trang trại trên thửa đất
50, 51, tờ bản đồ số 8 tại xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hoá; giao số lợn vàkhu trang trại cho Ngân hàng Hoằng Hoá quản lý trông coi
Ngày 26-02-2007, Công ty TTĐN có đơn khiếu nại đề nghị huỷ bỏ quyết định nêutrên
Ngày 27-02-2007, Chánh án Toà án nhân dân huyện Hoằng Hoá ra quyết định giảiquyết khiếu nại không chấp nhận đơn khiếu nại của Công ty TTĐN
Ngày 12-3-2007, Toà án nhân dân huyện Hoằng Hoá chuyển hồ sơ vụ án lên Toà ánnhân dân tỉnh Thanh Hoá để giải quyết theo thẩm quyền Ngày 20-3-2007, Toà ánnhân dân tỉnh Thanh Hoá thụ lý vụ án
Ngày 30-3-2007, Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá ra Quyết định huỷ bỏ biện phápkhẩn cấp tạm thời số 20/2007/QĐ-BPKCTT, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đã
Trang 12được Toà án nhân dân huyện Hoằng Hoá áp dụng tại Quyết định số BPKCTT ngày 23-02-2007; trả lại toàn bộ tài sản đang bị phong toả gồm 643 con
01/2007/QĐ-lợn và khu chuồng trại tại thửa đất 50, 51 tờ bản đồ số 8 xã Hoằng Quang, huyện
Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá cho chủ sở hữu là các ông Nguyễn Hữu Lợi và Lê KhảThuỷ
Ngày 02-4-2007, Ngân hàng Hoằng Hoá khiếu nại Quyết định số BPKCTT nêu trên
20/2007/QĐ-Ngày 04-4-2007, Chánh án Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá ra quyết định giảiquyết khiếu nại vối nội dung: giữ nguyên Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấptạm thời số 01/2007/QĐ-BPKCTT ngày 23-02-2007 của Toà án nhân dân huyệnHoằng Hoá
Ngày 24-4-2007, Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá ra quyết định huỷ bỏ Quyết địnhhuỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời số 20 nêu trên
Ngày 14-6-2007, Ngân hàng Hoằng Hoá có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện
đối với khoản nợ của 3 Hợp đồng tín dụng số 09, 12, 04 với số tiền gốc còn nợ
là 4.233.516.000 đồng ra khỏi vụ kiện vì khoản nợ gốc này cho vay có bảođảm bằng tài sản và ngày 13-02-2007, Công ty TTĐN đã bàn giao tài sản thếchấp cho Ngân hàng Hoằng Hoá Còn lại khoản tiền 1.900.000.000 đồng chovay không có bảo đảm bằng tài sản và tiền lãi tính đến ngày 31-5-2007 là215.013.540 đồng đề nghị Toà án buộc Công ty TTĐN phải trả cho Ngânhàng Hoằng Hoá
Ngày 15-6-2007, Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá ra Quyết định thay đổi biện phápkhẩn cấp tạm thời số 38/2007/QĐ-BPKCTT cho bán số lợn hiện có đang được
phong toả theo Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số
01/2007/QĐ-BPKCTT ngày 23-02-2007 của Toà án nhân dân huyện HoằngHoá; số tiền bán lợn chuyển vào tài khoản tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước tỉnhThanh Hoá của Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá để chờ xử lý
Ngày 18-6-2007, Ngân hàng Hoằng Hoá có đơn đề nghị tạm đình chỉ vụ án để cóthời gian bán đàn lợn theo Quyết định số 38 nêu trên của Toà án Ngày 21-6-2007,
Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá bán đàn lợn theo quyết định của Toà án
Trang 13được 1.022.105.000 đồng, trừ chi phí còn 1.010.915.000 đồng chuyển vào tài khoảncủa Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Thanh Hoá.
Phía Ngân hàng trình bày: 03 Hợp đồng tín dụng số 09, 12, 04 với số dư nợ gốc
4.233.516.000 đồng là hợp đồng có đảm bảo, còn Hợp đồng tín dụng số 16 ngày 4-2005 với số tiền vay 1.900.000 đồng là hợp đồng không có đảm bảo Việc công tyTTĐN bán tài sản cho các ông Nguyễn Hữu Lợi và Lê Khả Thuỷ là để tẩu tán tàisản và tài sản đó được hình thành từ vốn vay nên việc mua bán là trái pháp luật
04-Phía công ty TTĐN trình bày: Cả 4 hợp đồng tín dụng đều là hợp đồng có bảo
đảm và có tổng số dư nợ gốc 6.133.516.000 đồng thấp hơn trị giá tài sản thế chấp6.733.926.000 đồng Ngân hàng đã nhận tài sản thế chấp để xử lý thu hồi nợ nhưngchưa được xử lý xong đã khởi kiện là chưa đủ điều kiện khởi kiện Còn tài sản bịToà án phong toả là tài sản đã bán cho ông Thuỷ và ông Lợi, đề nghị trả tài sản choông Lợi và ông Thuỷ
Trang 14Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Việc mua bán tài sản
với Công ty TTĐN của họ là hợp pháp, tài sản mua bán không phải là tài sảnthế chấp hình thành từ vốn vay, tại thời điểm mua bán không có lệnh cấm vàdiễn ra trước khi Ngân hàng khởi kiện: khi có quyết định phong toả tài sảnkhông còn thuộc quyền sở hữu của Công ty TTĐN, đề nghị Toà án huỷ bỏquyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và trả lại tài sản đang bịphong toả cho các ông
Tại phiên toà sơ thẩm ngày 06-07-2007, Đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầurút một phần đơn khởi kiện và đề nghị tạm đình chỉ vụ án Hội đồng xét xửchấp nhận yêu cầu của phía nguyên đơn xin rút một phần đơn khởi kiện (thểhiện tại biên bản phiên toà sơ thẩm chứ không có quyết định mà chỉ ra Quyếtđịnh số 03/2007/QĐST-KDTM ngày 06-7-2007 tạm đình chỉ giải quyết vụ ánkinh doanh thương mại sơ thẩm)
Ngày 10/7/2007, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá kháng nghị;Công ty TTĐN và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo.Tại Quyết định số 213/2007/QĐ – PT ngày 05-11-2007, Toà phúc thẩm Toà ánnhân dân tối cao tại Hà Nội Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án số 03nêu trên để giải quyết vụ án
Ngày 26-11-2007, Ngân hàng Hoằng Hoá có đơn bổ sung đơn khởi kiện và ngày
14-12-2007, Ngân hàng Hoằng Hoá có đơn thay đổi nội dung yêu cầu khởikiện và đề nghị Toà án tiếp tục đưa vụ án ra xét xử, buộc Công ty TTĐNthanh toán số dư nợ có bảo đảm còn lại của các hợp đồng số 09, 12 và 04 là987.926.264 đồng (sau khi khấu trừ tài sản cầm cố, thế chấp, bán đấu giá là3.245.589.736 đồng) và số dư nợ không có bảo đảm là 1.900.000.000 đồng
(của Hợp đồng số 16) và tiền lãi; tổng cộng số nợ là 3.685.691.770 đồng
(trong đó, tiền gốc là 2.887.926.264 đồng, tiền lãi tính đến ngày 30-11-2007 là797.656.500 đồng)
Trang 15Ngăy 21-12-2007, Toă ân nhđn dđn tỉnh Thanh Hoâ ra Quyết định số
15/2007/QĐST-KDTM đình chỉ giải quyết vụ ân kinh doanh thương mại sơthẩm, trả lại đơn khởi kiện vă câc tăi liệu, chứng cứ kỉm theo cho câc đươngsự; đồng thời, ra Quyết định huỷ bỏ biện phâp khẩn cấp tạm thời số101/2007/QĐ-BPKCTT ngăy 21-12-2007 với nội dung: " Trả lại tăi sản bị
âp dụng biện phâp khẩn cấp tạm thời lă khu chuồng trại trín thửa đất 50, 51,
tờ bản đồ số 08, xê Hoằng Quang, Hoằng Hoâ, Thanh Hoâ cho người mua lẵng Lí Khả Thuỷ; giao số tiền bân tăi sản phong toả lă 619 con lợn theoQuyết định thay đổi biện phâp khẩn cấp tạm thời số 38/2007/QĐ-BPKCTTngăy 15-6-2007 của Toă ân nhđn dđn tỉnh Thanh Hoâ lă 1.010.915.000 đồngtại tăi khoản số 9219.0000.0008 của Thi hănh ân dđn sự tỉnh Thanh Hoâ chongười có lợn bị phong toả lă ông Nguyễn Hữu Lợi vă ông Lí Khả Thuỷ Việcphđn chia số tăi sản trín cho mỗi ngưồi do ông Lợi vă ông Thủy tự giải quyết;trả lại toăn bộ tăi sản bảo đảm lă 700.000.000 đồng tại tăi khoản phong toảđược mở tại Ngđn hăng NN vă PTNT Chi nhânh Hoằng Hoâ cho chính Ngđnhăng NN vă PTNT Chi nhânh Hoằng Hoâ ”
Ngăy 24-12-2007, Ngđn hăng Hoằng Hoâ có đơn khâng câo Quyết định đình chỉ vụ
ân số 15/2007/QĐST-KDTM.
Cùng ngăy 24-12-2007, Ngđn hăng Hoằng Hoâ có đơn đề nghị Toă phúc thẩm Toă
ân nhđn dđn tối cao tại Hă Nội âp dụng biện phâp khẩn cấp tạm thời
Tại Quyết định số 71/2008/QĐ-PT ngăy 31-3-2008, Toă phúc thẩm Toă ân nhđndđn tốỉ cao tại Hă Nội quyết định: “Chấp nhận khâng câo vă đề nghị của Ngđnhăng Nông nghiệp vă Phât triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhânh Hoằng Hoâ,huỷ Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ ân kinh doanh thương mại sơ thẩm
số 15/2007/QĐST-KDTM ngăy 21-12-2007 vă Quyết định huỷ bỏ biện phâpkhẩn cấp tạm thời số 101/2007/QĐ-BPKCTT ngăy 21-12-2007 của Toă ânnhđn dđn tỉnh Thanh Hoâ; chuyển hồ sơ vụ ân cho Toă ân nhđn dđn tỉnhThanh Hoâ để tiếp tục giải quyết lại vụ ân”