1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ôn tập lý thuyết luật ngân hàng

2 242 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 2
Dung lượng 16,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Khác nhau: thông qua các tiêu chí sau để phân định sự khác nhau, đó là: chủ thể, đối tượng kinh doanh, tính chất, tầm ảnh hưởng đến các lĩnh vực kinh tế-xã hội.. Tiêu chí Hoạt động ngâ

Trang 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

VỀ NGÂN HÀNG VÀ PHÁP LUẬT NGÂN HÀNG Câu 1 Các giai đoạn trong lịch sử hình thành, phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam và pháp luật NH Việt Nam

Hệ thống ngân hàng Việt Nam đã trải qua ba giai đoạn chính

- Giai đoạn 1951 – 1987: Ngân hàng một cấp

- Giai đoạn 1987 -1990: thí điểm cải cách hệ thống ngân hàng

- Giai đoạn 1990 đến nay: hệ thống ngân hàng hai cấp

Câu 2 So sánh sự khác biệt giữa hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác

- Điểm giống nhau: đều là các hoạt động kinh doanh vì mục tiêu sinh lợi

- Khác nhau: thông qua các tiêu chí sau để phân định sự khác nhau, đó là: chủ thể, đối tượng kinh doanh, tính chất, tầm ảnh hưởng đến các lĩnh vực kinh tế-xã hội

Tiêu chí Hoạt động ngân hàng Hoạt động kinh doanh

khác Chủ thể thực hiện Tổ chức tín dụng theo quy

định của Luật các tổ chức tín dụng 2010

Các cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện theo quy định của Luật doanh nghiệp và các luật chuyên ngành khác

Đối tượng kinh doanh Tiền tệ Mọi loại tài sản được pháp

luật thừa nhận và cho phép kinh doanh

Tính chất Hoạt động kinh doanh mang

tính rủi ro cao

Tuỳ theo đối tượng kinh doanh quyết định một phần đến tính chất hoạt động có rủi ro nhiều hoặc ít

Tính chất ảnh hưởng đến

nền kinh tế

Có ảnh hưởng rất lớn đến hệ thống tài chính và nền kinh tế

Tuỳ hoạt động kinh doanh

mà mức độ ảnh hưởng khác nhau, tuy nhiên xét theo nghĩa hẹp thì không bằng hoạt động ngân hàng

Câu 3 Chứng minh rằng hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh có điều kiện.

Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh có điều kiện vì các yếu tố sau:

1

Trang 2

- Giấy phép: chỉ những tổ chức tín dụng được Ngân hàng nhà nước Việt Nam

(NHNNVN) cấp giấy phép mới được phép hoạt động và chịu sự quản lý của NHNNVN

Tại chương II của Luật các tổ chức tín dụng 2010 (Luật CTCTD) đã dành các điều khoản từ 18 đến 29 để quy định về nội dung của quy định pháp luật liên quan đến việc cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi Giấy phép cho hoạt động ngân hàng theo quy định pháp luật Bởi vì hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh có tính rủi ro cao, có sức ảnh hưởng lớn đến hoạt động của nền kinh tế nên đây là thủ tục bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng muốn thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ này

- Vốn pháp định: nhìn chung các hoạt động kinh doanh hiện nay pháp luật không quy

định mức vốn tối thiểu để được phép hoạt động (vốn pháp định), nhưng đối với hoạt động ngân hàng thì bắt buộc phải có quy định Với đối tượng kinh doanh chính là tiền tệ, hoạt động ngân hàng cần phải có sự lớn mạnh về vốn để đảm bảo nhu cầu huy động vốn, cấp tín dụng, Chính vì vậy tại Điều 19 Luật CTCTD quy định Chính phủ sẽ có các quy định cụ thể về mức vốn điều lệ của các tổ chức tín dụng cụ thể

- Chủ sở hữu: tại Điểm b Khoản 1 Điều 20 Luât CTCTD có đặt ra yêu cầu về tư cách

pháp lý đối với pháp nhân, cá nhân tham gia góp vốn vào các tổ chức tín dụng Vì hoạt động ngân hàng có tính rủi ro cao nên yêu cầu về chủ thể cần thoả mãn những điều kiện theo quy định pháp luật để nâng cao tính minh bạch khối tài sản, đảm bảo khả năng chi trả nợ trong trường hợp xấu và khẩn cấp nhất, như tổ chức tín dụng lâm vào tình trạng phá sản, mất khả năng thanh toán

- Về người quản lý, người điều hành, thành viên Ban kiểm soát: cần phải thoã mãn

các điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 50 của Luật CTCTD Việc kinh doanh ngân hàng đòi hỏi các chủ thể trên cần có kiến thức, chuyên môn nhất định để đưa việc kinh doanh tiền tệ mang lại lợi nhuận Ngoài ra, trong trường hợp các tổ chức tín dụng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán hoặc các tình huống xấu khác thì các chủ thể trên cần phải có uy tín, năng lực nhất định để giải quyết hoạt động của các tổ chức tín dụng, tránh trường hợp xấu nhất có thể xảy ra đe doạ đến sự

ổn định của các tổ chức tín dụng, đảm bảo sự phát triển an toàn và lành mạnh của hoạt động ngân hàng , hệ thống tài chính và cả nền kinh tế

2

Ngày đăng: 27/04/2016, 15:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w