1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

bản quyền theo pháp luật hoa kỳ

34 202 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 69,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A.PHẦN MỞ ĐẦUSở hữu trí tuệ được hiểu là việc sở hữu các tài sản trí tuệ những kết quả từ hoạt động tư duy, sáng tạo của con người. Đối tượng của loại sở hữu này là các tài sản phi vật chất nhưng có giá trị kinh tế, tinh thần to lớn góp phần quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nền văn minh, khoa học, công nghệ của nhân loại. Đó là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, các công trình khoa học – kĩ thuật ứng dụng cũng như các tên gọi, hình ảnh được sử dụng trong các hoạt động thương mại.Do vậy, việc bảo hộ quyền tác giả đối với các sản phẩm của sự sáng tạo trí tuệ của các quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam có ý nghĩa vô cùng quan trọng.Hoa Kì là nước công nghiệp rất phát triển, các quy định về quyền tác giả rất chặt chẽ, vấn đề bảo hộ cũng như thực thi các xâm phạm quyền tác giả được coi trọng và thực hiện một cách nghiêm chỉnh.Vì vậy, việc nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của quốc gia này nhằm phục vụ công tác xây dựng pháp luật về bảo vệ quyền tác giả có ý nghĩa to lớn đối với Việt Nam.Bên cạnh đó, Hoa Kì là đối tác thương mại lớn của Việt Nam và đồng thời là bên tham gia kí kết hiệp định về Quyền tác giả năm 1997, Hiệp định Thương mại năm 2001, hai nước cùng là thành viên Công ước Bern về bảo hộ quyền tác giả. Do đó, việc nghiên cứu, tiếp thu, tiến tới sự tương thích về pháp luật trong lĩnh vực quyền tác giả giữa hai nước là điều kiện hết sức quan trọng trong giao lưu, hợp tác về kinh tế, thương mại, văn hóa.Tuy có ý nghĩa lí luận và thực tiễn quan trọng như vậy nhưng vấn đề bảo hộ quyền tác giả trong pháp luật Hoa Kì chưa được các nhà khoa học pháp lý đầu tư nghiên cứu một cách thỏa đáng. Chính vì vậy, nhóm đã chọn đề tài tiểu luận là “Bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật Hoa Kì – kinh nghiệm pháp luật cho Việt Nam”. B.PHẦN NỘI DUNGCHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TÁC GIẢ1.1.Khái quát về quyền tác giả:1.1.1.Khái niệm quyền tác giả:Quyền tác giả, theo tiếng anh thực chất là quyền sao chép vì từ “copyright” được ghép từ “copy” (sao chép) và “right” (quyền).Các nước theo hệ thống luật dân sự (civil law) (của các nước châu Âu lục địa, điển hình là Pháp) gọi là quyền tác giả (droit d’ auteur). Ngay trong thuật ngữ này tác giả được đề cập một cách trực tiếp thể hiện quyền của tác giả trước hết là quyền tinh thần đối với những tài sản trí tuệ do mình sáng tạo ra, sau đó mới là quyền kinh tế (thương mại hóa tài sản trí tuệ). Với thuật ngữ quyền tác giả, đã thể hiện và ghi nhận trực tiếp các quyền tinh thần và quyền kinh tế của tác giả. Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.Như vậy, có thể khái quát quyền tác giả là quyền của người sáng tác đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học do họ sáng tạo. quyền tác giả bao gồm những quyền nhân thân, quyền tài sản của tác giả liên quan đến tác phẩm, các quyền này được bảo hộ bởi pháp luật.1.1.2.Đặc điểm của quyền tác giả:Thứ nhất, quyền tác giả là quyền gắn liền với nhân thân của chủ thể sáng tạo, là sự thể hiện quyền cơ bản của con người, đó là quyền tự do sáng tạo.Thứ hai, quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.Quyền nhân thân là những quyền gắn liền với các chủ thể, bao gồm quyền nhân thân không thể chuyển giao và quyền nhân thân có thể chuyển giao.Còn quyền tài sản là độc quyền khai thác hoặc cho người khác khai thác tác phẩm của chủ sở hữu quyền tác giả.Thứ ba, quyền tác giả có thể trở thành đối tượng của các giao dịch mua bán thông qua hình thức chuyển quyền sử dụng quyền tác giả bằng hợp đồng.Thứ tư, đối tượng của quyền tác giả được định hình dưới một dạng vật chất nhất định và thiên về việc bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm, cùng với sự phát triển khoa học công nghệ quyền tác giả dễ bị xâm phạm hơn. Đối tượng bảo hộ quyền tác giả là các tác phẩm – những ý tưởng sáng tạo được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định. Pháp luật về quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức thể hiện của các ý tưởng sáng tạo mà không quy định điều kiện nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm được bảo hộ. Điều này có nghĩa là mặc dù ý tưởng của các tác giả là trùng hoặc tương tự với nhau nhưng được thể hiện dưới hình thức khác thì các tác giả đó đều được pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm do mình sáng tạo ra.Cũng vì đặc điểm này mà các tác phẩm muốn được bảo hộ cần phải được định hình dưới một hình thức nhất định (từ ngữ, hình ảnh, âm thanh, màu sắc...)Thứ năm, quyền tác giả xác lập theo cơ chế bảo hộ tự động và được bảo hộ một cách không tuyệt đối. Các quy định về việc sử dụng hợp lý tác phẩm cho thấy rằng quyền tác giả không phải được bảo vệ tuyệt đối. 1.1.3.Bảo hộ quyền tác giả:Bảo hộ quyền tác giả có ý nghĩa sống còn đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của tất cả các quốc gia. Pháp luật của các quốc gia, các điều ước quốc tế đều đã quan tâm nhiều đến việc bảo hộ quyền tác giả nhằm ngăn chặn tình trạng vi phạm bản quyền có xu hướng ngày càng gia tăng không chỉ ở các nước đang phát triển mà cả ở những nước phát triển như Hoa Kì, Nhật Bản,.... Trong bối cảnh chịu sức ép của tiến trình toàn cầu hóa hội nhập kinh tế quốc tế cũng như sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ hướng tới nền kinh tế tri thức thì bảo hộ quyền tác giả là phương thức hữu hiệu nhất để bảo vệ sức sáng tạo của toàn xã hội nhằm tạo lập môi trường văn hóa của các quốc gia ngày càng nâng cao.1.1.4.Ý nghĩa bảo hộ quyền tác giả:Bảo hộ quyền tác giả có ý nghĩa vô cùng to lớn.Thứ nhất, bảo hộ quyền tác giả góp phần thúc đẩy sức sáng tạo và sự phát triển của văn học, nghệ thuật và khoa học góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn cả trên trường quốc tế.Thứ hai, thông qua việc bảo hộ quyền tác giả sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phổ biến tác phẩm tới công chúng và là cầu nối cho việc tăng cường sự hiểu biết giữa các dân tộc, tạo tiền đề cho việc thiết lập hệ thống bảo hộ quốc tế đối với quyền tác giả trong phạm vi toàn cầu. Thứ ba, bảo hộ quyền tác giả dù ở cấp độ quốc gia hay quốc tế cũng sẽ góp phần vào việc bảo đảm một cơ chế bảo hộ quyền tác giả ngày càng có hiệu quả hơn.Việc bảo hộ quyền tác giả thông qua các phương thức như phương thức dân sự, phương thức hành chính và phương thức hình sự.1.1.5.Các nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả:Nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả là tư tưởng chỉ đạo cho các chủ thể khi vận dụng các quy phạm pháp luật về quyền tác giả, đặc biệt là đối với việc áp dụng các quy định về quyền tác giả của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi giải quyết tranh chấp.các nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả bao gồm: Nguyên tắc đối xử quốc gia là nguyên tắc bảo trợ tác phẩm có nguồn gốc từ cácquốc gia thành viên của Công ước, tương tự như bảo hộ tác phẩm của công dân chínhquốc gia mình.

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ ĐẠI HỌC LUẬT

TIỂU LUẬN

Đề tài: BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ THEO PHÁP LUẬT HOA KỲ KINH NGHIỆM

PHÁP LUẬT CHO VIỆT NAM

Trang 2

DANH SÁCH NHÓM

1. Phan Thị Tiên Sinh

2. Tô Thị Minh Hằng

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

A. PHẦN MỞ ĐẦU

Sở hữu trí tuệ được hiểu là việc sở hữu các tài sản trí tuệ - những kết quả từ hoạt động tư duy, sáng tạo của con người Đối tượng của loại sở hữu này là các tài sản phi vật chất nhưng có giá trị kinh tế, tinh thần to lớn góp phần quan trọng trong quá trình hình thành

và phát triển nền văn minh, khoa học, công nghệ của nhân loại Đó là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, các công trình khoa học – kĩ thuật ứng dụng cũng như các tên gọi, hình ảnh được sử dụng trong các hoạt động thương mại.Do vậy, việc bảo hộ quyền tác giả đối với các sản phẩm của sự sáng tạo trí tuệ của các quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam có ý nghĩa vô cùng quan trọng

Hoa Kì là nước công nghiệp rất phát triển, các quy định về quyền tác giả rất chặt chẽ, vấn

đề bảo hộ cũng như thực thi các xâm phạm quyền tác giả được coi trọng và thực hiện một cách nghiêm chỉnh.Vì vậy, việc nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của quốc gia này nhằm phục vụ công tác xây dựng pháp luật về bảo vệ quyền tác giả có ý nghĩa to lớn đối với Việt Nam

Bên cạnh đó, Hoa Kì là đối tác thương mại lớn của Việt Nam và đồng thời là bên tham gia kí kết hiệp định về Quyền tác giả năm 1997, Hiệp định Thương mại năm 2001, hai nước cùng là thành viên Công ước Bern về bảo hộ quyền tác giả Do đó, việc nghiên cứu, tiếp thu, tiến tới sự tương thích về pháp luật trong lĩnh vực quyền tác giả giữa hai nước là điều kiện hết sức quan trọng trong giao lưu, hợp tác về kinh tế, thương mại, văn hóa.Tuy có ý nghĩa lí luận và thực tiễn quan trọng như vậy nhưng vấn đề bảo hộ quyền tác giảtrong pháp luật Hoa Kì chưa được các nhà khoa học pháp lý đầu tư nghiên cứu một cách

thỏa đáng Chính vì vậy, nhóm đã chọn đề tài tiểu luận là “Bảo hộ quyền tác giả theo

pháp luật Hoa Kì – kinh nghiệm pháp luật cho Việt Nam”.

Trang 5

B. PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TÁC GIẢ

1.1. Khái quát về quyền tác giả:

1.1.1. Khái niệm quyền tác giả:

Quyền tác giả, theo tiếng anh thực chất là quyền sao chép vì từ “copyright” được ghép từ

“copy” (sao chép) và “right” (quyền)

Các nước theo hệ thống luật dân sự (civil law) (của các nước châu Âu lục địa, điển hình là Pháp) gọi là quyền tác giả (droit d’ auteur) Ngay trong thuật ngữ này tác giả được đề cập một cách trực tiếp thể hiện quyền của tác giả trước hết là quyền tinh thần đối với những tài sản trí tuệ do mình sáng tạo ra, sau đó mới là quyền kinh tế (thương mại hóa tài sản trí tuệ) Với thuật ngữ quyền tác giả, đã thể hiện và ghi nhận trực tiếp các quyền tinh thần và quyền kinh tế của tác giả.1

Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, quyền tác giả là quyền của

tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu

Như vậy, có thể khái quát quyền tác giả là quyền của người sáng tác đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học do họ sáng tạo quyền tác giả bao gồm những quyền nhân thân, quyền tài sản của tác giả liên quan đến tác phẩm, các quyền này được bảo hộ bởi pháp luật

1.1.2. Đặc điểm của quyền tác giả:

Thứ nhất, quyền tác giả là quyền gắn liền với nhân thân của chủ thể sáng tạo, là sự thể hiện quyền cơ bản của con người, đó là quyền tự do sáng tạo

Thứ hai, quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.Quyền nhân thân là nhữngquyền gắn liền với các chủ thể, bao gồm quyền nhân thân không thể chuyển giao và quyền

1Giáo trình Pháp luật sở hữu trí tuệ Đại học Luật Huế , trang 31

Trang 6

nhân thân có thể chuyển giao.Còn quyền tài sản là độc quyền khai thác hoặc cho người khác khai thác tác phẩm của chủ sở hữu quyền tác giả.

Thứ ba, quyền tác giả có thể trở thành đối tượng của các giao dịch mua bán thông qua hình thức chuyển quyền sử dụng quyền tác giả bằng hợp đồng

Thứ tư, đối tượng của quyền tác giả được định hình dưới một dạng vật chất nhất định và thiên về việc bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm, cùng với sự phát triển khoa học công nghệ quyền tác giả dễ bị xâm phạm hơn Đối tượng bảo hộ quyền tác giả là các tác phẩm – những

ý tưởng sáng tạo được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định Pháp luật về quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức thể hiện của các ý tưởng sáng tạo mà không quy định điều kiện nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm được bảo hộ

Điều này có nghĩa là mặc dù ý tưởng của các tác giả là trùng hoặc tương tự với nhau nhưng được thể hiện dưới hình thức khác thì các tác giả đó đều được pháp luật bảo hộ quyền tác giảvới tác phẩm do mình sáng tạo ra

Cũng vì đặc điểm này mà các tác phẩm muốn được bảo hộ cần phải được định hình dưới một hình thức nhất định (từ ngữ, hình ảnh, âm thanh, màu sắc )

Thứ năm, quyền tác giả xác lập theo cơ chế bảo hộ tự động và được bảo hộ một cách không tuyệt đối Các quy định về việc sử dụng hợp lý tác phẩm cho thấy rằng quyền tác giả không phải được bảo vệ tuyệt đối.2

1.1.3. Bảo hộ quyền tác giả:

Bảo hộ quyền tác giả có ý nghĩa sống còn đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của tất cả các quốc gia Pháp luật của các quốc gia, các điều ước quốc tế đều đã quan tâm nhiều đến việc bảo hộ quyền tác giả nhằm ngăn chặn tình trạng vi phạm bản quyền có xu hướng ngày càng gia tăng không chỉ ở các nước đang phát triển mà cả ở những nước phát triển như Hoa

Kì, Nhật Bản, Trong bối cảnh chịu sức ép của tiến trình toàn cầu hóa hội nhập kinh tế quốc tế cũng như sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ hướng tới nền kinh tế tri thức thì bảo hộ quyền tác giả là phương thức hữu hiệu nhất để bảo vệ sức sáng tạo của toàn xã hội nhằm tạo lập môi trường văn hóa của các quốc gia ngày càng nâng cao

2 Luận văn ThS Luật: 60 38 60 / Trần Anh Hùng

Trang 7

1.1.4. Ý nghĩa bảo hộ quyền tác giả:

Bảo hộ quyền tác giả có ý nghĩa vô cùng to lớn

Thứ nhất, bảo hộ quyền tác giả góp phần thúc đẩy sức sáng tạo và sự phát triển của văn học,

nghệ thuật và khoa học góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn cả trên trường quốc tế

Thứ hai, thông qua việc bảo hộ quyền tác giả sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phổ biến tác

phẩm tới công chúng và là cầu nối cho việc tăng cường sự hiểu biết giữa các dân tộc, tạo tiền đề cho việc thiết lập hệ thống bảo hộ quốc tế đối với quyền tác giả trong phạm vi toàn cầu

Thứ ba, bảo hộ quyền tác giả dù ở cấp độ quốc gia hay quốc tế cũng sẽ góp phần vào việc

bảo đảm một cơ chế bảo hộ quyền tác giả ngày càng có hiệu quả hơn.Việc bảo hộ quyền tác giả thông qua các phương thức như phương thức dân sự, phương thức hành chính và phươngthức hình sự

1.1.5. Các nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả:

Nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả là tư tưởng chỉ đạo cho các chủ thể khi vận dụng các quy phạm pháp luật về quyền tác giả, đặc biệt là đối với việc áp dụng các quy định về quyền tác giả của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi giải quyết tranh chấp.các nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả bao gồm:

- Nguyên tắc đối xử quốc gia là nguyên tắc bảo trợ tác phẩm có nguồn gốc từ các

quốc gia thành viên của Công ước, tương tự như bảo hộ tác phẩm của công dân chính

quốc gia mình

- Nguyên tắc đương nhiên bảo hộ là sự bảo hộ không lệ thuộc vào bất kỳ thủ tục

hình thức nào như là thủ tục đăng ký, nộp lưu chiểu hoặc các thủ tục tương tự

- Nguyên tắc độc lập bảo hộ việc hưởng và thực thi các quyền được đề cập theo

công ước là độc lập với những gì hiện được hưởng tại nước xuất xứ của tác phẩm

- Nguyên tắc bảo hộ suốt đời Quyền tác giả với nguyên tắc chung là được bảo hộ

Trang 8

cho cho cả cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả qua đời Với mỗi loại hình tác

phẩm thì có những ngoại lệ khác nhau về thời gian bảo hộ quyền tác giả.3

1.2. Bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật Hoa Kì:

1.2.1. Sơ lược sự ra đời và phát triển của quyền tác giả:

Trong thời kỳ Cổ đại và thời kỳ Trung Cổ người ta chưa biết đến quyền cho một tác

phẩm trí tuệ.Cùng với phát minh in (khoảng 1440), các bản sao chép lại của một tác

phẩm bắt đầu có thể được sản xuất ở số lượng lớn một cách dễ dàng hơn Nhưng tác giảvẫn chưa có được "quyền tác giả" ở bên cạnh và còn phải vui mừng là chẳng những tác phẩm được in mà nhà in hay nhà xuất bản còn trả cho một số tiền cho bản viết tay Khi thời kỳ Phục hưng bắt đầu, cá nhân con người trở nên quan trọng hơn và đặc quyền tác giả cũng được ban phát để thưởng cho những người sáng tạo ra tác phẩm của họ Mãi đến thế kỷ XVIII, lần đầu tiên mới có các lý thuyết về các quyền giống như sởhữu cho các lao động trí

óc (và hiện tượng của sở hữu phi vật chất) Trong một bộ luật của nước Anh năm 1710, Statue of Anne, lần đầu tiên một độc quyền sao chép của tác giả được công nhận.Tác giả sau

đó nhượng quyền này lại cho nhà xuất bản.Sau một thời gian được thỏa thuận trước tất cả các quyền lại thuộc về tác giả.Tác phẩm phải được ghi vào trong danh mục của nghiệp hội các nhà xuất bản và phải có thêm ghi chú copyright để được bảo vệ.Phương pháp này được đưa vào ứng dụng tại Hoa kỳ vào năm 1795 (yêu cầu phải ghi vào danh mục được bãi bỏ tại Anh vào năm 1956 và tại Hoa Kỳvào năm 1978)

HR 5728, Đạo luật Stela tái phê chuẩn năm 2014 ( PL 113-200 ) đã ký thành luật 04 tháng

12 năm 2014, sửa đổi tiêu đề 17 (UNITED STATES CODE TITLE 17—COPYRIGHTS

AS AMENDED THROUGH DECEMBER 13, 2003)

1.2.2. Đối tượng được bảo hộ quyền tác giả:

Theo quy định tại Điều 102 Luật quyền tác giả của Hợp chủng quốc Hoa Kì hiện hành,Luật quyền tác giả bảo hộ tác phẩm nguyên thủy độc đáo hoàn chỉnh của tác giả đã được định hình dưới bất kì một dạng vật chất thể hiện hữu hình nào hiện đã được biết hoặc sẽ được phát triển trong tương lai, mà từ các dạng vật chất thể hiện hữu hình này tác phẩm có thể được cảm nhận, tái bản hoặc phổ biến khác hoặc là trực tiếp hoặc là với sự trợ giúp của các máy móc thiết bị Pháp luật Hoa Kì, trong bất kỳ trường hợp nào sự bảo hộ quyền tác giả đối

3 Luận văn ThS Luật: 60 38 60 / Trần Anh Hùng

Trang 9

với tác phẩm nguyên thuỷ độc đáo hoàn chỉnh của tác giả không mở rộng đến các ý tưởng, các biện pháp, phương pháp, nguyên lý hoạt động, khái niệm, quy luật, phát minh, không phân biệt hình thức mà chúng được miêu tả, giải thích, minh hoạ hoặc diễn đạt trong tác phẩm đó.

Về thể loại, tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm: Tác phẩm văn học, tác phẩm âm nhạc bao hàm tác phẩm kèm theo bất kỳ một từ nào, tác phẩm sân khấu bao hàm các tác phẩm kèm theo bất kỳ âm thanh nào, tác phẩm kịch câm và vũ ba lê, tác phẩm về nghệ thuật,Hoa kỳ thuật, điêu khắc, tác phẩm điện ảnh và các tác phẩm nghe nhìn khác, bản ghi âm, và tác phẩm kiến trúc.4

Về nguồn gốc, theo quy định tại Điều 103 Luật quyền tác giả của Hợp chủng quốc Hoa Kì, tác phẩm được bảo hộ không chỉ có tác phẩm nguyên thủy mà còn bao gồm các tác phẩm phái sinh, tác phẩm biên soạn.5

1.2.3. Chủ sở hữu quyền tác giả:

Khái niệm chủ sở hữu quyền tác giả được giải thích tại Điều 101 Luật quyền tác giả như sau:

“Chủ sở hữu quyền tác giả, đối với bất kì một quyền độc quyền nào được quy định trong Luật quyền tác giả, chỉ người chủ sở hữu của quyền cụ thể đó” Theo đó chủ sở hữu quyền tác giả là người sở hữu các quyền tác giả được ghi nhận, bảo hộ bởi Luật quyền tác giả.Theo quy định tại Chương 2Luật quyền tác giả Hoa Kì, chủ sở hữu quyền tác giả bao gồm:Thứ nhất, chủ sở hữu gốc là tác giả (các tác giả), người sáng tạo ra tác phẩm được bảo hộ Theo quy định này, tác giả (các tác giả) là chủ sở hữu trước tiên và đương nhiên của quyền tác giả

Thứ hai, chủ sở hữu là người mà tác phẩm được tạo ra cho họ Người chủ sở hữu này không sáng tác ra tác phẩm được bảo hộ nhưng tác phẩm đó tạo cho họ bằng cách thuê mướn

4Luật quyền tác giả của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (UNITED STATES CODE TITLE 17—COPYRIGHTS AS

AMENDED THROUGH DECEMBER 13, 2003) Điều 102: Đối tượng điều chỉnh của Luật Quyền tác giả: quy định chung

5Điều 103: Đối tượng điều chỉnh của Luật quyền tác giả: tác phẩm biên soạn và tác phẩm phái sinh

Trang 10

Thứ ba, chủ sở hữu là người được chuyển nhượng quyền tác giả Chủ sở hữu quyền tác giả

có thể chuyển nhượng một phần hay toàn bộ quyền này cho người khác theo phương thức chuyển nhượng hợp pháp nào đó hoặc bằng cách để lại thừa kế Bởi vậy, người nhận chuyểnnhượng, nhận thừa kế phần quyền được chuyển nhượng một cách độc lập với các quyền khác thuộc quyền tá giả

Thứ tư, chủ sở hữu trong trường hợp tác phẩm hợp tuyển Quyền tác giả tác phẩm của từng tác phẩm riêng biệt trong một tác phẩm hợp tuyển là độc lập với quyền tác giả tác phẩm hợp tuyển như một tổng thể, và trước hết thuộc về các tác giả của các tác phẩm riêng biệt đó

1.2.4. Thời hạn bảo hộ quyền tác giả:

Để bảo đảm cho việc bảo hộ được toàn diện, theo quy định tại Chương 3Luật quyền tác giả Hoa Kì, thời hạn bảo hộ quyền tác giả như sau:

Đối với các tác phẩm được sáng tạo vào hoặc sau ngày 1/1/1978: quyền tác giả đối với tác phẩm được sáng tạo vào hoặc sau ngày 1/1/1978, tồn tại từ ngày tác phẩm được sáng tạo và ,ngoại trừ trường hợp quy định tại các Khoản tiếp theo, kéo dài một thời hạn là cả cuộc đời của tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết Tuy nhiên, đối với các tác phẩm khuyết danh, ký danh hoặc sáng tạo do thuê mướn, quyền tác giả kéo dài một thời hạn là 70 năm kể từ năm công bố lần đầu của tác phẩm, hoặc một thời hạn là 100 năm kể từ năm sáng tạo tác phẩm, tuỳ thuộc vào thời hạn nào kết thúc trước

Đối với các tác phẩm đã được sáng tạo nhưng không được công bố hoặc có quyền tác giả trước ngày 1/1/1978, quyền tác giả đối với tác phẩm được sáng tạo trước ngày 1/1/1978, nhưng không thuộc lĩnh vực công cộng trước thời điểm này hoặc có quyền tác giả, tồn tại từ ngày 1/1/1978, và kéo dài một thời hạn quy định tại Điều 302 Tuy nhiên, trong đó không một trường hợp nào thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm đó kết thúc trước ngày 31/12/2002; và nếu tác phẩm này được công bố vào hoặc trước ngày 31/12/2002, thời hạn bảo hộ quyền tác giả sẽ không kết thúc trước ngày 31/12/2027

Ngoài ra, Đạo luật tạo ra một hạn bảy mươi lăm năm tĩnh (ngày kể từ ngày công bố) cho tác phẩm khuyết danh, công danh, và các công trình thực hiện cho thuê Thời hạn gia hạn cho

Trang 11

các công trình có bản quyền trước năm 1978 đã không đã bước vào phạm vi công cộng đượctăng 28 năm tới bốn mươi bảy năm, tổng cộng thời hạn bảy mươi lăm năm Năm 1998, Luật Gia hạn bản quyền tiếp tục mở rộng bảo vệ bản quyền với thời gian trong cuộc đời của tác giả cộng thêm bảy mươi năm đối với quyền tác giả nói chung và để chín mươi lăm năm đối với các công trình được thực hiện cho thuê và các công trình có bản quyền trước năm 1978.6Thời hạn bảo hộ quyền tác giả: các tác phẩm hiện có: Điều 304 quy định:

(a) Quyền tác giả có thời hạn bảo hộ lần đầu vào ngày 1/1/1978:

(1).

(A) Bất kỳ quyền tác giả nào trong đó thời hạn bảo hộ lần đầu của nó tiếp tục tồn tại vàongày 1/1/1978, sẽ kéo dài một thời hạn là 28 năm từ ngày tác phẩm đó bị chiếm hữu nguyênthuỷ

B) Trong trường hợp:

(i) Bất kỳ tác phẩm được công bố sau khi tác giả chết nào hoặc của bất kỳ ấn phẩm định kỳ,bách khoa toàn thư, hoặc tác phẩm hợp tuyển khác mà quyền tác giả của tác phẩm này bịchiếm hữu nguyên thuỷ bởi chủ sở hữu của tác phẩm đó, hoặc

(ii) Bất kỳ tác phẩm có quyền tác giả nào thuộc về tổ chức (ngoài những người được chuyểnnhượng hoặc cấp phép bởi cá nhân tác giả) hoặc thuộc về người chủ mà đối với người nàytác phẩm được tạo ra do thuê mướn,

Người chủ sở hữu quyền tác giả này sẽ được hưởng sự mở rộng và nối tiếp thời hạn bảo hộquyền tác giả đối với các tác phẩm đó một thời hạn là 47 năm nữa

(C) Đối với trường hợp bất kỳ tác phẩm có quyền tác giả nào bao hàm cả sự đóng góp của

cá nhân một tác giả trong một ấn phẩm định kỳ hoặc bách khoa toàn thư hoặc tác phẩm hợptuyển khác:

(i) Tác giả của những tác phẩm đó, nếu tác giả còn sống,

(ii) Vợ hoặc chồng goá, hoặc con cái của tác giả, vợ hoặc chồng goá của những người conkhông còn sống của tác giả, hoặc

(iii) Những người thực hiện di chúc của tác giả, nếu tác giả, vợ hoặc chồng goá, hoặc concái của tác giả không còn sống, hoặc

(iv) Người có họ kế tiếp của tác giả, trong trường hợp không có di chúc,

sẽ được hưởng sự mở rộng và nối tiếp thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm đómột thời gian 47 năm nữa

6 https://en.wikipedia.org/wiki/Copyright_Act_of_1976.Thời hạn bảo hộ Đạo luật Bản quyền năm 1976

Trang 12

(A) Vào thời điểm kết thúc thời hạn bảo hộ quyền tác giả lần đầu đối với tác phẩm quy địnhtại Điểm (1)(B) của Khoản này, quyền tác giả sẽ kéo dài một thời hạn mở rộng và nối tiếp 47năm nữa, trong trường hợp:

(i) Nếu một đơn đăng ký yêu cầu hưởng thời hạn thêm được gửi tới Cục Bản quyền tác giảtrong vòng một năm trước khi kết thúc thời hạn quyền tác giả lần đầu, và yêu cầu này đượcđăng ký, sẽ thuộc về chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm đó, người được hưởng quyềnyêu cầu nối tiếp thời hạn quyền tác giả và thời điểm đơn được gửi, hoặc

(ii) Nếu không một đơn nào được nộp hoặc yêu cầu theo đơn này không được đăng ký, vàothời điểm bắt đầu của thời hạn thêm, sẽ thuộc về người hoặc tổ chức mà đã là chủ sở hữucủa quyền tác giả vào ngày cuối cùng của thời hạn quyền tác giả đầu tiên

(B) Vào thời điểm kết thúc thời hạn quyền tác giả lần đầu đối với với tác phẩm quy định tạiĐiểm (1)(C) của Khoản này, quyền tác giả sẽ kéo dài một thời hạn mở rộng và nối tiếp mộtthời gian 47 năm nữa, trong trường hợp:

(i) Nếu một đơn đăng ký yêu cầu thời hạn thêm này đã được nộp tại Cục Bản quyền tác giảtrong vòng một năm trước khi kết thúc thời hạn quyền tác giả lần đầu, và yêu cầu này đượcchứng nhận, vào thời điểm bắt đầu thời hạn thêm, sẽ thuộc về bất kỳ người nào được hưởngquyền theo quy định tại Điểm (1)(C) đối với việc mở rộng và nối tiếp quyền tác giả vào thờiđiểm đơn được nộp; hoặc

(ii) Nếu không một đơn nào được nộp hoặc yêu cầu theo đơn này đã không được đăngký,vào điểm bắt đầu của thời hạn thêm, sẽ thuộc về bất kỳ người nào được hưởng quyềntheo Điểm (1)(C) vào ngày cuối cùng của thời hạn quyền tác giả lần đầu, đối với việc mởrộng và nối tiếp quyền tác giả

(ii) Vào bất kỳ thời điểm nào trong khoảng thời hạn mở rộng và nối tiếp quyền tác giả bởibất kỳ người nào mà đối với người này thời hạn hưởng thêm thuộc về họ theo Điểm (2)(A)hoặc (B), hoặc bởi bất kỳ thừa kế hoặc người được uỷ quyền của người này, nếu đơn đượcnộp theo tên của người đó

(B) Các đơn này không phải là điều kiện của việc mở rộng và nối tiếp thời hạn quyền tácgiả đối với tác phẩm một thời gian 47 năm nữa

(4)

(A) Nếu một đơn để đăng ký yêu cầu về việc mở rộng và nối tiếp thời hạn quyền tác giả đốivới tác phẩm không được nộp trong vòng một năm trước thời điểm kết thúc thời hạn quyềntác giả lần đầu đối với tác phẩm, hoặc nếu yêu cầu theo đơn này đã không được đăng ký, thì

Trang 13

một tác phẩm phái sinh được sáng tạo theo sự cho phép của một sự cấp quyền hoặc cấp phépbản quyền được thực hiện trước thời điểm kết thúc thời hạn quyền tác giả lần đầu có thể tiếptục được sử dụng theo các điều khoản của sự cấp quyền đó trong thời hạn mở rộng và nốitiếp quyền tác giả mà không vi phạm quyền tác giả, miễn là sự sử dụng đó không mở rộngtới việc sáng tạo trong thời hạn mở rộng và nối tiếp quyền tác giả các tác phẩm phái sinhkhác trên cơ sở tác phẩm có quyền tác giả bao hàm trong sự cấp phép đó.

(B) Nếu đơn để đăng ký yêu cầu mở rộng và nối tiếp thời hạn quyền tác giả đối với tácphẩm được nộp trong vòng một năm trước thời điểm kết thúc thời hạn,và yêu cầu đó đượcđăng ký, chứng nhận về đăng ký này sẽ tạo thành chứng cớ hiển nhiên không phải chứngminh đối với hiệu lực của quyền tác giả trong thời hạn mở rộng và nối tiếp và của các sựkiện tuyên bố trong chứng nhận Giá trị của chứng cứ tuỳ thuộc vào các chứng nhận củađăng ký thời hạn mở rộng và nối tiếp quyền tác giả được thực hiện sau khi kết thúc thời gianmột năm này sẽ thuộc phạm vi xem xét của toà án

(b) Quyền tác giả trong thời hạn nối tiếp và đăng ký thời hạn nối tiếp trước ngày /1/11978: thời hạn của bất kỳ quyền tác giả nào, thời hạn nối tiếp của quyền tác giả đó tồn tạivào bất kỳ thời điểm nào giữa khoảng thời gian từ 31/12/1976 tới 31/12/1977, tất cả, hoặcđối với quyền tác giả mà đăng ký thời hạn nối tiếp được thực hiện giữa khoảng thời gian từ31/12/1976 tới 31/12/1977, tất cả, được mở rộng kéo dài một thời hạn là 75 năm kể từ ngàyquyền tác giả đó được công nhận gốc

(c) Chấm dứt sự chuyển nhượng và cấp phép trong thời hạn nối tiếp: trong trường hợp bất

kỳ quyền tác giả nào tồn tại hoặc là trong thời hạn đầu tiên hoặc là trong thời hạn nối tiếpvào ngày 1/1/1978, ngoại trừ quyền tác giả đối với các tác phẩm được làm do thuê mướm, sựcấp độc quyền hoặc không độc quyền theo một chuyển nhượng hoặc cấp phép trong thời hạnnối tiếp quyền tác giả hoặc bất kỳ quyền nào theo quyền tác giả đó, được thực hiệntrước 1/1/1978, bởi bất kỳ người nào được ủy nhiệm theo khoản (a)(1)(C) của Điều này,ngoại trừ trường hợp theo di chúc, thuộc đối tượng chấm dứt theo các điều kiện sau:

(1) Trong trường hợp sự cấp quyền được thực hiện bởi người hoặc những người không phải

là tác giả, sự chấm dứt của sự cấp quyền này có thể có hiệu lực bởi người hoặc những ngườicòn sống đã thực hiện sự cấp quyền đó Trong trường hợp sự cấp quyền được thực hiện bởimột hoặc nhiều tác giả của tác phẩm, sự chấm dứt của sự cấp quyền này có thể có hiệu lực,tuỳ thuộc vào mức độ tỷ phần trong quyền sở hữu quyền tác giả trong thời hạn nối tiếp củamột tác giả cụ thể, bởi người hoặc những người mà theo Điểm (2) của Khoản này sở hữu vàđược hưởng quyền thực thi tổng số lợi ích từ sự chấm dứt của tác giả trên 50 %

(2) Trong trường hợp tác giả chết, lợi ích từ sự chấm dứt của tác giả được sở hữu và có thểđược thực hiện bởi người vợ hoặc chồng goá, con cái hoặc cháu chắt của người này như sau:(A) Người chồng hoặc vợ goá sở hữu toàn bộ lợi ích của tác giả từ sự chấm dứt nếu không

có bất kỳ người con hoặc cháu này của tác giả còn sống; và trong trường hợp này thì ngườichồng hoặc vợ goá này sở hữu 50% lợi ích của tác giả;

Trang 14

(B) Những người con còn sống của tác giả và những người con còn sống của những ngườicon đã chết của tác giả sở hữu toàn bộ lợi ích từ sự chấm dứt của tác giả nếu không có ngườichồng hoặc vợ goá của tác giả, và trong trường hợp sau này quyền sở hữu 50% lợi ích củatác giả được phân chia giữa những người này với nhau;

(C) Các quyền của những người con và cháu của tác giả trong tất cả các trường hợp đượcphân chia giữa họ với nhau và được thực hiện trên cơ sở tỷ lệ phù hợp với số những ngườicon của tác giả được đại diện, phần của những người con của một người con đã chết của tácgiả đối với lợi ích từ sự chấm dứt có thể chỉ được thực hiện thông qua hành vi của đa sốnhững người con đó

(3) Chấm dứt cấp quyền có thể có hiệu lực vào bất kỳ thời điểm nào trong khoảng thời gian

5 năm kể từ khi kết thúc 56 năm tính từ ngày quyền tác giả được công nhận gốc, hoặc kể từngày 1/1/1978, tuỳ thuộc vào thời điểm nào xẩy ra sau

(4) Sự chấm dứt cấp quyền có thể có hiệu lực thông qua việc gửi thông báo trước bằng vănbản cho người được cấp quyền hoặc người thừa kế hợp pháp của người được cấp quyền.Trong trường hợp sự cấp quyền được thực hiện bởi một hoặc những người mà không phải làtác giả, thông báo sẽ được ký bởi tất cả những người được quyền chấm dứt sự cấp quyềntheo Điểm (1) của Khoản này, hoặc bởi những đại diện được uỷ nhiệm toàn quyền của họ.Trong trường hợp sự cấp quyền được thực hiện bởi một hoặc nhiều tác giả của tác phẩm,thông báo trong phạm vi từng phần của tác giả sẽ được ký bởi tác giả hoặc đại diện được uỷnhiệm toàn quyền của người đó hoặc nếu tác giả này chết, được ký bởi số lượng và tỷ lệnhững người sở hữu lợi ích từ sự chấm dứt của tác giả đó theo yêu cầu của Điểm (1) và (2)của Khoản này, hoặc được ký bởi những người được uỷ nhiệm toàn quyền của họ

(A) Thông báo sẽ tuyên bố ngày có hiệu lực của sự chấm dứt, ngày mà sẽ rơi vào khoảngthời gian 5 năm quy định tại Điểm (3) của Khoản này, và thông báo sẽ được gửi không dưới

2 năm hoặc trên 10 năm trước ngày đó Bản sao của thông báo sẽ được đăng ký tại Cục Bảnquyền tác giả trước ngày có hiệu lực của sự chấm dứt như là điều kiện để sự chấm dứt cóhiệu lực

(B) Thông báo này phải tuân thủ theo hình thức, nội dung và trình tự gửi thông báo theo cácquy định sẽ ban hành trong một quy chế

(5) Chấm dứt cấp quyền có thể có hiệu lực không phụ thuộc vào bất kỳ thoản thuận về sựtrái ngược nào, kể cả thoả thuận về việc làm di chúc hoặc thực hiện bất kỳ sự cấp quyềntrong tương lai nào

(6) Trong trường hợp sự cấp quyền được thực hiện bởi người hoặc những người không phải

là tác giả, tất cả các quyền theo Điều Luật này mà được bao hàm trong sự cấp quyền bị chấmdứt, vào ngày có hiệu lực của sự chấm dứt sẽ lại thuộc về tất cả những người được hưởngquyền chấm dứt sự cấp quyền đó theo Điểm (1) của Khoản này Trong trường hợp sự cấpquyền được thực hiện bởi một hoặc nhiều tác giả của tác phẩm, tất cả các quyền cụ thể củatác giả theo Điều luật này mà bao hàm trong sự cấp quyền bị chấm dứt, vào ngày có hiệu lựccủa sự chấm dứt, sẽ lại thuộc về tác giả này, hoặc nếu tác giả này đã chết, thuộc về những

Trang 15

người sở hữu lợi ích từ sự chấm dứt theo Điểm (2) của Khoản này, kể cả những người chủ

sở hữu không cùng ký thông báo về sự chấm dứt theo Điểm (4) của Khoản này, trong tất cảcác trường hợp các quyền thuộc sở hữu trở lại này phụ thuộc và các hạn chế sau:

(A) Tác phẩm phái sinh được sáng tạo theo sự cho phép của một sự cấp quyền trước khichấm dứt sự cấp quyền này có thể tiếp tục được sử dụng theo các điều kiện và điều khoảncủa sự cấp quyền đó sau khi chấm dứt sự cấp quyền, nhưng đặc quyền này không mở rộngtới việc sáng tạo các tác phẩm phái sinh sau khi chấm dứt sự cấp quyền các tác phẩm pháisinh khác dựa trên cơ sở các tác phẩm được bảo hộ bao hàm trong sự cấp quyền đó

(B) Các quyền mà trong tương lai sẽ thuộc sở hữu trở lại vào thời điểm chấm dứt sẽ đượcchuyển giao vào ngày thông báo về chấm dứt đã được gửi như quy định tại Điểm (4) củaKhoản này

(C) Đối với các trường hợp mà các quyền của tác giả thuộc sở hữu trở lại của hai hoặc nhiềungười theo Điểm (2) của Khoản này, chúng sẽ được trao cho những người đó theo tỷ phầnquy định tại Điểm đó Do vậy, tuỳ thuộc vào quy định tại Đoạn (D), trường hợp cấp quyềntiếp theo hoặc thoả thuận thực hiện sự cấp quyền tiếp theo về phần của một tác giả cụ thể đốivới bất kỳ quyền nào bao hàm trong sự cấp quyền bị chấm dứt chỉ có hiệu lực nếu nó được

ký cùng một số lượng và tỷ lệ những người sở hữu như được yêu cầu về sự chấm dứt theoĐiểm (2) của Khoản này, đối với với những người này quyền đó được trao theo Điểm này

Sự cấp quyền tiếp theo hoặc thoả thuận về sự cấp quyền tiếp theo này có hiệu lực đối với tất

cả những người mà đối với những người này các quyền bao hàm trong sự cấp quyền tiếptheo được trao cho họ theo Đoạn này, kể cả những người không cùng ký vào sự cấp quyềntiếp theo đó Nếu bất kỳ một người nào chết sau khi các quyền theo sự cấp quyền bị chấmdứt được trao cho người này, thì người đại diện pháp lý, người uỷ nhiệm hoặc những ngườithừa kế theo luật của người này đại diện cho người đó thực hiện quy định tại Đoạn này.(D) Sự cấp quyền tiếp theo hoặc thoả thuận thực hiện cấp quyền tiếp theo về bất kỳ quyềnnào bao hàm trong sự cấp quyền bị chấm dứt chỉ có hiệu lực nếu chúng được tiến hành saungày có hiệu lực của sự chấm dứt Tuy nhiên, ngoại trừ thoả thuận về sự cấp quyền tiếp theo

có thể được thực hiện giữa tác giả hoặc bất kỳ những người nào quy định tại câu thứ nhấtcủa Điểm (6) của Khoản này, hoặc giữa những người quy định tại Đoạn (C) của Điểm nàyvới người được cấp quyền gốc hoặc những người kế vị hợp pháp của người đó, sau khithông báo chấm dứt được gửi như quy định tại Điểm (4) của Khoản này

(E) Chấm dứt sự cấp quyền theo Khoản này chỉ có hiệu lực với những quyền bao hàm trong

sự cấp quyền đó phát sinh theo Điều luật này và không có hiệu lực đối với các quyền phátsinh theo bất kỳ các Luật của Liên Bang, các Bang, hoặc nước ngoài

(F) Trừ phi và cho tới khi sự chấm dứt có hiệu lực theo Khoản này, sự cấp quyền, nếu sựcấp quyền này không quy định khác, tiếp tục có hiệu lực trong thời hạn còn lại của thời hạnnối tiếp mở rộng quyền tác giả.7

7Chương 3 Luật quyền tác giả của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (UNITED STATES CODE TITLE 17—COPYRIGHTS AS AMENDED THROUGH DECEMBER 13, 2003)

Trang 16

Về thời hạn quyền tác giả đối với ngày kết thúc Điều 305 có quy định “Tất cả các thời hạnquyền tác giả quy định tại các Điều từ 302 tới 304 tính tới ngày cuối cùng của năm theo lịch

mà trong năm đó các thời hạn khác nhau kết thúc”.8

1.2.5. Những hạn chế đối với quyền tác giả:

Cũng như luật pháp của các nước khác, Luật quyền tác giả của Hoa Kì cũng quy định nhữnghạn chế quyền của tác giả đối với chủ sở hữu các tác phẩm từ Điều 107 đến Điều 112

Một là, hạn chế đối với các quyền độc quyền: các sử dụng hợp lý: việc sử dụng một tác

phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm các hình thức sử dụng thông qua hình thức sao chép dưới dạng bản sao hoặc bản ghi hoặc bởi bất kì một phương thức nào cho mục đích bình luận, phê bình, đưa tin hoặc giảng dạy (bao hàm cả việc sử dụng nhiều bản sao cho lớphọc), nghiên cứu, học tập là không vi phạm quyền tác giả

Hai là, hạn chế của các quyền độc quyền: tái bản nhằm mục đích lưu trữ và dùng trong thư

viện

Ba là, hạn chế đối với các quyền độc quyền: ảnh hưởng của việc chuyển nhượng các bản sao

và bản ghi cụ thể

Bốn là, hạn chế các quyền độc quyền: một số ngoại lệ đối với quyền trình diễn hoặc trình

bày: được phép sử dụng tác phẩm để trình diễn hoặc trình bày trong các trường hợp nhất định không bị coi là hành vi xâm phậm quyền tác giả

Năm là, hạn chế đối với các quyền độc quyền: truyền sóng thứ cấp.

Sáu là, hạn chế đối với các quyền độc quyền: các bản ghi thử.

1.2.6. Ký hiệu quyền tác giả:

Theo quy định của Luật quyền tác giả Hoa Kì, kí hiệu quyền tác giả được quy định từ Điều

8Chương 3 Luật quyền tác giả của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (UNITED STATES CODE TITLE 17—COPYRIGHTS AS AMENDED THROUGH DECEMBER 13, 2003)

Trang 17

Hai là, hình thức kí hiệu của bản ghi của bản ghi âm bao gồm Biểu tượng P (chữ P trong

vòng tròn); Năm công bố lần đầu của bản ghi âm; Tên của chủ sở hữu quyền tác giả đối với bản ghi âm, hoặc chữ viết tắt mà tên của người này có thể được nhân biết, hoặc nhìn chung không thể hiểu khác về việc xác định chủ sở hữu Nếu nhà sản xuất bản ghi âm có tên trên nhãn hiệu bản ghi hoặc bao bì thì tên của nhà sản xuất được coi là một phần của kí hiệu đó,

ví dụ như (P) 2006 A.B.C Records Inc

1.2.7. Đăng kí quyền tác giả:

Nhìn chung, đăng ký bản quyền là một thủ tục pháp lý nhằm lập hồ sơ công khai những thông tin cơ bản của một bản quyền cụ thể Tuy nhiên, đăng ký không phải là một điều kiện bảo hộ bản quyền.Mặc dù đăng ký không phải là yêu cầu bắt buộc để được bảo hộ, nhưng luật bản quyền mang lại một số thuận lợi nhằm khuyến khích chủ sở hữu bản quyền tiến hành đăng ký Việc đăng kí quyền tác giả được quy định tại Điều 408 Chương 4 Luật quyền tác giả của Hợp chủng quốc Hoa Kì như sau:

Thứ nhất, đăng kí được phép: vào bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn bảo hộ quyền tác giả

lần đầu đang tồn tại đối với bất kỳ tác phẩm đã hoặc chưa công bố nào mà quyền tác giả đối với tác phẩm đó được bảo hộ trước ngày 1/1/1978, và trong khoảng thời gian tồn tại của bất

kỳ quyền tác giả được bảo hộ vào hoặc sau ngày đó, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc bất kỳ quyền độc quyền nào đối với tác phẩm có thể đạt được yêu cầu đăng ký bản quyền thông qua việc gửi tới Cục Bản quyền tác giả hồ sơ yêu cầu nộp cùng với đơn và khoản lệ phí theo quy định Việc đăng ký này không phải là điều kiện đối với sự bảo hộ quyền tác giả

Thứ hai, hồ sơ đăng ký một tác phẩm gửi tới Thư viện Quốc hội Hoa kỳ, Cục Bản quyền Hồ

sơ bao gồm: Đối với tác phẩm chưa công bố, một bản sao hoặc bản ghi hoàn chỉnh; Đối với tác phẩm đã công bố, hai bản sao hoặc bản ghi là phiên bản chuẩn; Đối với tác phẩm đã công bố lần đầu ngoài Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, một bản sao hoặc bản ghi như đã được công bố; Đối với một phần của một tác phẩm hợp tuyển, một bản sao hoặc bản ghi là phiên bản chuẩn của tác phẩm hợp tuyển đó

Thứ ba, đăng ký quyền tác giả có thể thông qua mạng, đăng ký với mẫu đơn điền sẵn hoặc

đăng ký với mẫu đơn giấy

Thứ tư, việc đăng ký quyền tác giả sẽ có hiệu lực kể từ ngày Cục Bản quyền tác giả nhận

Ngày đăng: 13/05/2016, 20:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w