1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số theo pháp luật hoa kỳ, pháp và kinh nghiệm đối với việt nam

82 168 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hành Vi Xâm Phạm Quyền Tác Giả Trong Môi Trường Kỹ Thuật Số Theo Pháp Luật Hoa Kỳ, Pháp Và Kinh Nghiệm Đối Với Việt Nam
Tác giả Đỗ Huỳnh Yến Vy
Người hướng dẫn PGS, TS. Lê Thị Nam Giang
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân Sự Và Tố Tụng Dân Sự
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 775,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: XÁC ĐỊNH HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ (18)
    • 1.1. Khái quát hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số (18)
      • 1.1.1. Khái quát pháp luật Hoa Kỳ, Pháp và Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả (18)
      • 1.1.2. Khái niệm và đặc điểm hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số (22)
    • 1.2. Hành vi sao chép bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số (28)
      • 1.2.1. Hành vi sao chép bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số theo pháp luật Hoa Kỳ (28)
      • 1.2.2. Hành vi sao chép bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số theo pháp luật Pháp (34)
      • 1.2.3. Hành vi sao chép bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số theo pháp luật Việt Nam (37)
    • 1.3. Hành vi truyền đạt, phân phối bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số (47)
      • 1.3.1. Hành vi truyền đạt, phân phối bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số theo pháp luật Hoa Kỳ (47)
      • 1.3.2. Hành vi truyền đạt, phân phối bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số theo pháp luật Pháp (49)
      • 1.3.3. Hành vi truyền đạt, phân phối bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số theo pháp luật Việt Nam (50)
    • 2.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong việc xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số (55)
    • 2.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam đối với các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số (57)
      • 2.2.1. Biện pháp tự bảo vệ (58)
      • 2.2.2. Biện pháp dân sự (65)
  • KẾT LUẬN (54)

Nội dung

Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ “Hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số theo pháp luật Hoa Kỳ, Pháp và kinh nghiệm đối với Việt Nam” là công trình nghiên cứu độc

XÁC ĐỊNH HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ

Khái quát hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số

1.1.1 Khái quát pháp luật Hoa Kỳ, Pháp và Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả

Bảo hộ quyền tác giả không chỉ là vấn đề của một quốc gia mà là xu hướng phát triển chung của xã hội Nó đóng vai trò là động lực trung tâm để thúc đẩy việc sáng tạo ra những sản phẩm mới, đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người và góp phần ngăn chặn những sản phẩm văn hoá độc hại, bất lợi cho cộng đồng và lợi ích quốc gia Sự thâm nhập của môi trường kỹ thuật số đã tạo điều kiện để các hành vi xâm phạm quyền tác giả diễn ra phức tạp Nhận thức được tầm quan trọng đó, pháp luật của các quốc gia trên thế giới đưa ra những cơ chế đặc thù để bảo vệ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số Với mỗi hệ thống pháp luật khác nhau, việc bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số mang những đặc trưng riêng

Liên quan đến quyền tác giả, Hoa Kỳ là quốc gia điển hình theo hệ thống Thông luật (Common Law System) với truyền thống lịch sử bảo hộ quyền tác giả dày dặn Hoa Kỳ không có văn bản luật mang tên “Luật Sở hữu trí tuệ” như Việt Nam để điều chỉnh lĩnh vực này Căn cứ vào các đối tượng của quyền SHTT, Bộ Chuẩn luật Quốc gia có ba luật liên quan điều chỉnh về bản quyền; sáng chế; thương mại và mậu dịch Cụ thể, Đạo luật số 17 về Bản quyền (The U.S Code Title 17 - Copyrights) điều chỉnh độc lập các vấn đề liên quan đến quyền tác giả Còn đối với hệ thống Dân luật (Civil Law System), Pháp là quốc gia bảo hộ quyền tác giả khá toàn diện với đạo luật riêng để điều chỉnh vấn đề này Việc nghiên cứu và so sánh giữa pháp luật về quyền tác giả của Việt Nam với Hoa Kỳ và Pháp s giúp làm r các quy định pháp luật khi điều chỉnh về hành vi xâm phạm trong môi trường kỹ thuật số

Hoa Kỳ là một quốc gia có cơ chế bảo hộ bản quyền được hình thành lâu đời và bắt nguồn từ pháp luật Anh quốc – “Đạo luật Anne” (The Statue of

Anne) 4 Năm 1787, Hiến pháp Hoa Kỳ công nhận thẩm quyền của Quốc hội khuyến khích phát triển những sáng tạo Tuy nhiên, Hiến pháp cũng đưa ra một thời hạn để xác định quyền tác giả Mãi đến năm 1790, Nghị viện Hoa Kỳ đã ban hành Đạo luật Bản quyền 1790 (Copyright Act of States Code) đầu tiên thuộc cuốn thứ 17 của Bộ luật Liên bang Hoa Kỳ (title 17 of the United States Code) Đạo luật quy định tác giả được độc quyền in ấn, in lại hoặc xuất bản tác phẩm của chính họ trong suốt 14 năm và được phép gia hạn quyền này thêm 14 năm nữa Sau khi hết thời hạn độc quyền, các tác phẩm này s được công khai sử dụng rộng rãi nh m kích thích sự sáng tạo của tác giả và sự tiến bộ của khoa học và nghệ thuật hữu ích

Kể từ khi ban hành đến nay, Luật Bản quyền Hoa Kỳ đã trải qua nhiều lần sửa đổi và bổ sung, cụ thể vào năm 1831, 1870, 1909 và 1976 Với bối cảnh Hoa

Kỳ là thành viên tham gia vào Công ước Bern (Bern Convention) và sự phát triển của kỹ thuật nên Nghị viện Hoa Kỳ đã ban hành Luật bản quyền năm 1976 (the Copyright Act of 1976 – ký hiệu Pub L No 94-553, 90 Stat 2541 ban hành ngày 19/10/1976, bắt đầu hiệu lực kể từ ngày 01/01/1978) Hoa Kỳ thuộc sự điều chỉnh của hệ thống thông luật (Common law) nên khi đề cập đến pháp luật Hoa

Kỳ phải kể đến các án lệ, đặc biệt là án lệ của Toà án Tối cao Hoa Kỳ Các nhà lập pháp của Hoa Kỳ không đưa ra định nghĩa về quyền tác giả mà chỉ liệt kê các quyền độc quyền đối với tác phẩm được bảo hộ của chủ sở hữu quyền tác giả tại các Điều 106, 106A Luật Bản quyền Hoa Kỳ Lý giải cho vấn đề này, lý do pháp luật Hoa Kỳ không có nêu khái niệm cụ thể về quyền tác giả là do ngoài tác giả là người được hưởng lợi thì các nhà in hoặc nhà xuất bản cũng được hưởng lợi bởi vì tác giả chỉ được trả tiền khi nhượng lại quyền nhân bản tác phẩm cho nhà in 5

Nội dung cốt l i của Điều 106 Luật Bản quyền Hoa Kỳ quy định về các giá trị kinh tế của tác phẩm hay quyền lợi về mặt tài sản, thương mại mà tác phẩm mang lại thuộc về chủ sở hữu quyền tác giả chứ không phải tác giả (trừ trường hợp tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả) Quy định này giúp chủ thể

4 Đạo luật Anne là đạo luật về quyền tác giả của Vương quốc Anh vào năm 1710, đạo luật ra đời đầu tiên trên thế giới về quyền tác giả

5 Vương Tịnh Mạch (2003), Bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam và Hoa Kỳ từ góc nhìn so sánh, Luận văn thạc sỹ luật, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr.26 nắm giữ chúng là chủ sở hữu quyền tác giả bảo vệ bản quyền của tác phẩm Tuy nhiên, cho đến khi lần sửa đổi, bổ sung năm 1990, Luật Bản quyền của Mỹ (Copyright Law of United States of America) mới nhắc đến khái niệm quyền nhân thân của tác giả Có thể thấy, pháp luật của Hoa Kỳ chỉ tập trung vào quyền kinh tế trong quá trình khai thác tác phẩm nên quyền nhân thân rất ít được chú ý đến Đối với hệ thống pháp luật của Pháp, Luật bản quyền của Pháp phát triển vào thế kỷ 18 cùng lúc với bản quyền của Vương quốc Anh Năm 1791, văn bản pháp luật đầu tiên của Pháp thông qua Luật 1793 (Revolutionary Law 1793) công nhận độc quyền của tác giả đối với tác phẩm của họ Nhà nước đã chính thức thiết lập luật về quyền tác giả, trong đó không chỉ bảo hộ lợi ích kinh tế của chủ nhà in, mà còn dành cho tác giả tác phẩm văn học, nghệ thuật một sự độc quyền trong sự cho phép nhân bản và trình diễn đối với tác phẩm của họ (chỉ với sự sửa đổi không đáng kể, luật này có hiệu lực cho tới năm 1957) Tuy nhiên, đến năm 1814, quyền nhân thân mới thực sự được quan tâm và tiếp tục phát triển đến năm 1828 Đến năm 1886, Công ước quốc tế về Bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật đã được ký kết tại Berne, trong đó Pháp là thành viên Cộng hoà Pháp thừa nhận 4 quyền nhân thân của tác giả, cụ thể là quyền đứng tên của tác phẩm, quyền công bố tác phẩm, quyền rút lại tác phẩm và quyền về tính toàn vẹn của tác phẩm

Sự phát triển của hệ thống pháp luật về Sở hữu trí tuệ của Việt Nam hình thành muộn hơn so với các nước trên thế giới Sự kiện Việt Nam gia nhập vào Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) năm 1976 là bước ngoặt quan trọng trong quá trình xây dựng pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam Kể từ khi tham gia vào tổ chức này, Điều 72 Hiến pháp Việt Nam năm 1980 đã chính thức quy định về bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam Trên cơ sở của Hiến pháp này, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 142/HĐBT với nhiều nội dung trọng yếu của quyền tác giả Đây được xem là văn bản pháp luật đầu tiên của Việt Nam đề cập đến việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm, công trình văn học, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật 6

Nh m tiếp tục hoàn thiện chế độ pháp lý cao nhất cho việc xác lập, bảo hộ

6 Vương Tịnh Mạch, tlđd (5), tr.19 và thực thi quyền SHTT trong và ngoài nước, đáp ứng với tiêu chuẩn tham gia vào Tổ chức Thương mại thế giới WTO, Việt Nam đã gấp rút ban hành đạo Luật

Sở hữu trí tuệ năm 2005 (Luật SHTT năm 2005) có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2006 Đây là đạo luật đầu tiên của Việt Nam quy định về vấn đề sở hữu trí tuệ được ban hành ở cấp độ cao nhất Luật SHTT năm 2005 là kết quả của quá trình nghiên cứu, tổng hợp các quy phạm pháp luật được ban hành từ trước đến nay của nước ta và tương thích với các Điều ước quốc tế và các Hiệp định quốc tế

Xã hội luôn vận động, biến đổi và phát triển theo thời gian nên các quan hệ pháp luật sở hữu trí tuệ cũng phải điều chỉnh cho phù hợp, cụ thể là Luật SHTT năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 Vào năm 2019, khi Cách mạng công nghiệp 4.0 bùng nổ, sản phẩm trí tuệ loài người ngày càng phát triển nên Luật SHTT cũng tiếp tục được hoàn thiện tại “Luật sửa đổi, bổ sung mội số điều của luật sở hữu trí tuệ - Luật số 42/2019/QH14 Việt Nam tiếp cận vấn đề với mục tiêu bảo vệ là quyền tác giả hay còn gọi là tác quyền (author‟s right) Tác phẩm là sự thể hiện dấu ấn cá nhân của chính tác giả nên mối quan hệ cá nhân giữa tác giả và tác phẩm chặt ch và mật thiết với nhau Pháp luật Việt Nam rất coi trọng quyền sáng tạo ra đứa con tinh thần của mình, đặc biệt là các quyền nhân thân Chính vì vậy, Luật SHTT đã đưa ra khái niệm về quyền tác giả:

“Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu” Quyền này được pháp luật quan tâm và bảo vệ Minh chứng là các văn bản pháp luật hiện hành đã ghi nhận một cách minh thị các cơ chế nh m bảo vệ nhóm quyền chính đáng này Ngoài ra, khi nghiên cứu khoản 2 Điều 4, Điều 18 Luật SHTT: “Quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Luật này bao gồm quyền nhân thân và quyền tác giả” Có thể thấy, quyền nhân thân được quy định song song với quyền tài sản Như vậy, có thể khẳng định Việt Nam khi xây dựng pháp luật Sở hữu trí tuệ, Việt Nam chú trọng bảo hộ cả quyền tài sản và quyền nhân thân của tác giả

Nhìn chung, Hoa Kỳ, Pháp và Việt Nam đều là thành viên của Công ước Berne và các Điều ước quốc tế khác về bảo hộ quyền tác giả Tuy nhiên, pháp luật về bảo hộ quyền tác giả giữa các nước cũng có những điểm tương đồng và khác biệt Cả ba quốc gia đều đặt ra hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh khi điều chỉnh các vấn đề liên quan đến bảo hộ quyền tác giả Pháp luật về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số của Pháp có những điểm khác biệt, cụ thể, đối tượng trung tâm được các quy phạm pháp luật của Pháp ưu tiên bảo vệ là chính tác giả, chứ không phải tác phẩm hay chủ sở hữu quyền tác giả, hay nói cách khác là bảo vệ quyền nhân thân Ngược lại, Hoa Kỳ chú trọng bảo hộ về các quyền tài sản (quyền kinh tế) để bảo đảm quyền lợi cho các chủ sở hữu quyền tác giả Còn đối với pháp luật Việt Nam, đối tượng bảo hộ quyền tác giả nói chung cũng như trong môi trường kỹ thuật số nói riêng là sự kết hợp hài hoà của Hoa

Hành vi sao chép bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số

1.2.1 Hành vi sao chép bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số theo pháp luật Hoa Kỳ

Môi trường kỹ thuật số đã làm thay đổi nhiều mặt trong cuộc sống h ng ngày Máy tính và Internet đem lại cho chúng ta cơ hội mới và kèm theo là những khó khăn, thách thức mới cũng như phải đặt ra các nghĩa vụ và trách nhiệm Kể từ khi khoa học - công nghệ ngày càng trở nên phổ biến trên khắp thế giới, chính phủ, cơ quan lập pháp và tư pháp cố gắng tìm ra những hướng đi hiệu quả và đúng đắn để điều chỉnh và kiểm soát không gian mạng, đồng thời giảm thiểu sự tác động tiêu cực đến bản quyền tác giả

Luật Bản quyền Hoa Kỳ quy định các quyền tài sản được bảo hộ là “các quyền độc quyền đối với tác phẩm được bảo hộ” tại Điều 106 bao gồm:

“a.Tái bản tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả dưới dạng bản sao hoặc bản ghi; Sáng tạo các tác phẩm phái sinh trên cơ sở các tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả; b Phân phối các bản sao và bản ghi của tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả tới công chúng thông qua việc bán hoặc các hình thức chuyển nhượng quyền sở hữu khác, hoặc thông qua việc cho thuê, cho mượn, cho mướn c Đối với các tác phẩm văn học, âm nhạc, sân khấu và các tác phẩm địa chí, kịch câm, tác phẩm điện ảnh hoặc các tác phẩm nghe nhìn khác, trình diễn công khai tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả; d Đối với các tác phẩm văn học, âm nhạc, sân khấu, và các tác phẩm địa chí, kịch câm, và các tác phẩm về nghệ thuật, mỹ thuật, điêu khắc bao hàm cả những hình ảnh đơn chiếc của các tác phẩm điện ảnh hoặc các tác phẩm nghe nhìn, trình bày công khai tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả; e Đối với bản ghi âm trình diễn công cộng tác phẩm được bảo hộ thông qua phương tiện truyền âm kỹ thuật số” 17 Đồng thời, theo Điều 501 Luật Bản quyền Hoa Kỳ quy định về hành vi xâm phạm quyền tác giả như sau:

“(a) Bất kỳ người nào mà xâm phạm bất kỳ quyền độc quyền nào của chủ sở hữu quyền tác giả như quy định tại các Điều 106 tới 118 hoặc của các tác giả như quy định tại Điều 106 A(a) hoặc người mà nhập khẩu các bản sao hoặc bản ghi vào Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ vi phạm Điều 602, là người vi phạm bản quyền hoặc quyền của tác giả, tuỳ trường hợp có thể Trong phạm vi của chương này (ngoại trừ Điều 506), bất kỳ dẫn chiếu nào đến bản quyền s được coi là bao hàm các quyền quy định tại Điều 106 A(a) Như được sử dụng trong Khoản này, thuật ngữ "bất kỳ người nào" bao hàm bất kỳ Bang, các cơ quan nhà nước của Bang, và công chức hoặc nhân viên nhà nước của Bang hoặc cơ quan quản lý nhà nước của Bang thực hiện nhiệm vụ của mình Bất kỳ Bang, và bất kỳ cơ quan quản lý nhà nước của Bang, công chức, nhân viên nhà nước nào s thuộc đối tượng điều chỉnh của các quy định của Điều luật này trong cùng phạm vi và cùng cách thức tương tự như bất kỳ tổ chức phi Chính Phủ nào” 18

Như vậy, có thể thấy pháp luật Hoa Kỳ đã quy định những hành vi mà chỉ có chủ sở hữu quyền tác giả được thực hiện độc quyền đối với tác phẩm Bất kỳ chủ thể nào (tiểu bang, công chức, viên chức, nhân viên nhà nước hoặc các cá nhân, tổ chức khác) có những hành vi xâm phạm thuộc nhóm các hành vi nói trên

17 Tuấn Tâm, Lê Hoài Dương (2000), Luật quyền tác giả Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Nxb Cục bản quyền tác giả, tr.42, 43

18 Tuấn Tâm, Lê Hoài Dương, tlđd (17), tr.206, 207

(tái bản dưới dạng bản sao hoặc bản ghi; phân phối; trình diễn hoặc trình bày công khai tác phẩm) thì được xem là xâm phạm quyền tác giả Cách quy định này không chỉ điều chỉnh những hành vi xâm phạm đã tồn tại trên thực tế mà còn cả các hành vi có thể xảy ra trong tương lai Bất kỳ tác phẩm nào được tái bản dưới dạng bản sao thì được xem là hành vi sao chép bất hợp pháp tác phẩm

Ngoài ra, Điều 101 Luật bản quyền Hoa Kỳ định nghĩa “bản sao” như sau:

“Bản sao là một dạng vật liệu (không phải là một bản ghi), trên đó tác phẩm được định hình b ng bất kỳ một phương tiện nào đã được biết hoặc s phát triển trong tương lai và từ dạng vật liệu đó tác phẩm có thể được cảm nhận, tái bản hoặc phổ biến, hoặc là trực tiếp hoặc là với sự trợ giúp của máy móc, thiết bị Thuật ngữ

“bản sao” bao hàm dạng vật liệu, mà không phải là một bản ghi, trên đó tác phẩm được định hình lần đầu 19 ”

Như vậy, định nghĩa “bản sao” của Hoa Kỳ khá trừu tượng Hiểu một cách ngắn gọn, thuật ngữ “bản sao” bao hàm dạng vật liệu, mà không phải là một bản ghi, trên đó tác phẩm được định hình lần đầu b ng bất kỳ một phương tiện nào, trong đó có phương tiện kỹ thuật số Liên quan đến ngoại lệ và giới hạn quyền tác giả, Điều 107 Luật Bản quyền Hoa Kỳ nêu ra những hạn chế và ngoại lệ cụ thể đối với hành vi sao chép mà không cần phải có sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả:

“ Điều 107: Hạn chế đối với các quyền độc quyền: sử dụng hợp lý

Không trái với các quy định tại Điều 106 và 106A, sử dụng được phép một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm các hình thức sử dụng thông qua hình thức sao chép dưới dạng bản sao hoặc bản ghi hoặc bởi bất kỳ một phương thức nào được quy định trong Điều này cho mục đích bình luận, phê bình, đưa tin hoặc giảng dạy (bao hàm cả việc sử dụng nhiều bản sao cho lớp học), nghiên cứu, học tập là không vi phạm quyền tác giả Để xác định xem liệu việc sử dụng tác phẩm trong các trường hợp cụ thể có phải là sử dụng được phép hay không cần xem xét các nhân tố sau:

(1) Mục đích và đặc điểm của việc sử dụng, bao gồm việc sử dụng đó có

19 Tuấn Tâm, Lê Hoài Dương, tlđd (17), tr.14 tính chất thương mại không hay là chỉ nh m mục đích giáo dục phi lợi nhuận;

(2) Bản chất của tác phẩm được bảo hộ;

(3) Số lượng và thực chất của phần được sử dụng trong tác phẩm được bảo hộ như là một tổng thể; và

(4) Vấn đề ảnh hưởng của việc sử dụng đó đối với tiềm năng thị trường hoặc đối với giá trị của tác phẩm được bảo hộ;

Ghi nhận là một tác phẩm chưa công bố về bản chất không ngăn cản việc tìm kiếm để sử dụng hợp lý nếu việc tìm kiếm này được thực hiện dựa trên việc xem xét tất cả các nhân tố kể trên” 20

Do đó, để xác định một hành vi sao chép có được xem là hành vi xâm phạm quyền tác giả, cần phải cân nhắc và xem xét trên 4 yếu tố: (1) Mục đích và tính chất của việc sử dụng, trong đó xem xét liệu việc sử dụng nh m mục đích thương mại hay là nh m mục đích giáo dục phi lợi nhuận; (2) Tính chất của tác phẩm được bảo hộ; (3) Số lượng và chất lượng của phần đã được sử dụng trong tác phẩm; (4) Tác động của việc sử dụng đó đến thị trường tiềm năng hoặc giá trị của tác phẩm được bảo hộ Pháp luật Hoa Kỳ cũng đặt ra ngoại lệ nếu hành vi sao chép được thực hiện trong môi trường kỹ thuật số nh m mục đích bình luận, phê bình, đưa tin hoặc giảng dạy, nghiên cứu học tập thì hành vi này không xâm phạm bản quyền

Tại Hoa Kỳ, điển hình là Án lệ A&M Records, Inc v Napster 21 , Inc (ngày 9/9/2001) Trong đó Nguyên đơn là Công ty A&M sản xuất âm nhạc, bị đơn là công ty Napster chuyên thiết kế và vận hành tệp ngang ngang hàng (P2P) cho phép người sử dụng mạng có thể tìm kiếm, truy cập và tải xuống các bản nhạc dưới dạng Mp3 vào máy tính của họ Nguyên đơn đã kiện bị đơn vì Napster có được các tác phẩm có bản quyền từ các máy tính nối mạng của nhau mà không có sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả Thông qua một máy chủ trung tâm,

20 Tuấn Tâm, Lê Hoài Dương, tlđd (17), tr.47, 48

21 Case study: A&M Records, Inc v Napster, https://web.archive.org/web/20200531145508/https:/onlinelaw.wustl.edu/blog/case-study-am-records-inc- v-napster-inc/, truy cập ngày 23/7/2020 những người sử dụng mạng khác có thể truy cập và tải bản nhạc này trực tiếp từ máy tính của người khác mà không cần phải thông qua hệ thống trung tâm Hệ thống này của Napster đã phải đối mặt đơn kiện của công ty công nghiệp âm nhạc A&M về hành vi xâm phạm quyền tác giả với lập luận r ng người sử dụng mạng Napster đã trực tiếp xâm phạm đến bản quyền tác giả và Napster phải có trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm của những người sử dụng này

Toà án phúc thẩm San Francisco đã xem xét 4 yếu tố của Điều 107 về nguyên tắc sử dụng hợp lý:

- Mục đích và đặc tính sử dụng: Hành vi tải tệp mp3 xuống không làm biến đổi mục đích và đặc tính sử dụng Napster đã thông qua phần mềm peer to peer để tạo ra các bản sao trước khi người dùng mua Toà án xem đó là hành vi sử dụng nh m mục đích kinh doanh nếu người sử dụng phần mềm đó đem đi bán

- Bản chất tác phẩm được bảo hộ: các bài hát có bản chất giống với các tác phẩm được bảo hộ

- Hành vi của Napster gây ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường kinh doanh âm nhạc của công ty A&M, đồng thời cũng gây nguy hiểm cho tương lai của ngành công nghiệp thu âm trong thị trường kỹ thuật số

Hành vi truyền đạt, phân phối bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số

1.3.1 Hành vi truyền đạt, phân phối bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số theo pháp luật Hoa Kỳ

Luật Bản quyền Hoa Kỳ không có đưa ra khái niệm cụ thể về truyền đạt, phân phối tác phẩm Tuy nhiên, tại Điều 101 Luật Bản quyền Hoa Kỳ, khi định nghĩa về khái niệm “công bố” có đề cập đến nội hàm của hành vi phân phối Theo đó, Hoa Kỳ quy định như sau: “Công bố là việc phân phối các bản sao hoặc bản ghi của tác phẩm tới công chúng thông qua việc bán hoặc các hình thức chuyển nhượng quyền sở hữu khác, hoặc thông qua việc cho thuê, cho mướn, cho mượn” Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 106 Luật Bản quyền Hoa Kỳ quy định: “Phân phối các bản sao và bản ghi của tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả tới công chúng thông qua việc bán hoặc các hình thức chuyển nhượng quyền sở hữu khác, hoặc

37 Nguyễn Hùng (2016), “6 doanh nghiệp vi phạm bản quyền phần mềm trị giá khoảng 6,5 tỷ đồng”, tại địa chỉ http://dantri.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/6-doanh-nghiep-vi-pham-ban-quyen-phan- mem-tri- gia-khoang-65-ty-dong-20160627181623495.htm, truy cập ngày 24/4/2020 thông qua việc cho thuê, cho mượn, cho mướn” Quyền phân phối tác phẩm là một trong những quyền độc quyền của chủ sở hữu quyền tác giả Quyền này cho phép chủ sở hữu quyền tác giả chuyển tải các tác phẩm đến công chúng b ng việc bán, cho thuê, cho mượn hoặc cho mướn Như vậy, để xác định hành vi truyền đạt, phân phối các bản sao là hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số, cần chứng minh tác phẩm được đưa đến công chúng thông qua việc bán, cho thuê, cho mượn, cho mướn Đối với môi trường truyền thống, quyền phân phối tác phẩm bị giới hạn phạm vi trong trường hợp Học thuyết bán hàng đầu tiên (First Sale Doctrine) Học thuyết này được quy định tại Điều 109 Luật Bản quyền Hoa Kỳ: “Sau khi bán hoặc phân phối bản sao lần đầu tiên, chủ sở hữu quyền tác giả không có quyền kiểm soát đối với bất kỳ bản sao nào” Vì thế, sau khi tác phẩm được phát hành và bán ra thị trường thì chủ sở hữu quyền tác giả s không được quyền có bất cứ hành động hay ý kiến gì về việc phân phối bản sao như thế nào 38 Vậy liệu học thuyết bán hàng đầu tiên có được mở rộng trong môi trường kỹ thuật số hay không? Điều 104 Luật Bản quyền Hoa Kỳ quy định không nên mở rộng Điều 109 bao gồm học thuyết bán hàng đầu tiên trong môi trường kỹ thuật số vì cơ quan bản quyền Hoa Kỳ không nhận thấy sự tương đồng của việc truyền dữ liệu qua môi trường kỹ thuật số với việc trao đổi các đối tượng vật lý Trong khi các bản sao vật lý của tác phẩm s giảm giá trị theo thời gian và quá trình sử dụng, còn các bản sao kỹ thuật số thì không Việc chuyển giao nội dung kỹ thuật số dễ dàng hơn nhiều so với việc chuyển các bản sao vật lý của tác phẩm có bản quyền từ người này sang người khác, bởi vì “thời gian, không gian, nỗ lực và chi phí” không còn là rào cản với sự di chuyển của các bản sao Các nhà làm luật cũng chỉ ra r ng khi các tệp tin kỹ thuật số sau khi chuyển tệp tin cho người khác, họ

38 Nguyên văn: “The distribution right grants to the copyright holder the exclusive right to make a work available to the public by sale, rental, lease, or lending This right allows the copyright holder to prevent the distribution of unauthorized copies of a work In addition, the right allows the copyright holder to control the first distribution of a particular authorized copy However, the distribution right is limited by the "first sale doctrine", which states that after the first sale or distribution of a copy, the copyright holder can no longer control what happens to that copy Thus, after a book has been purchased at a book store (the first sale of a copy), the copyright holder has no say over how that copy is further distributed Thus, the book could be rented or resold without the permission of the copyright holder.” - “Rights granted under copyright law”, https://www.bitlaw.com/copyright/scope.html, truy cập ngày 23/7/2020 không thể thực hiện hành động xoá tự nguyện hoặc có kế hoạch xoá tự động do tồn tại khả năng gian lận Bên cạnh đó, một điểm đáng chú ý nữa cũng được luật đề cập đến khi cho r ng các tệp kỹ thuật số không bị suy giảm chất lượng theo thời gian s tạo thêm nguy cơ khiến hành vi vi phạm bản quyền nội dung kỹ thuật số ngày càng tăng 39 Chính vì những lý do đó, Cục bản quyền của Liên Bang Hoa

Kỳ đưa ra kết luận giữa việc truyền tệp tin kỹ thuật số với những đối tượng vật lý có những khác biệt quá lớn để có thể áp dụng học thuyết bán hàng đầu tiên cho nội dung kỹ thuật số

1.3.2 Hành vi truyền đạt, phân phối bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số theo pháp luật Pháp Điều L335-3 Bộ luật về sở hữu trí tuệ của Pháp quy định: “Việc sao chép hoặc phổ biến tác phẩm trí tuệ trái với quyền của tác giả thì bị coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả” Có thể thấy, tương tự với hành vi sao chép, điều luật này quy định hành vi phổ biến tác phẩm bị coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả

Ngoài ra, Điều L213-1 Bộ luật về sở hữu trí tuệ của Pháp cũng quy định:

“Mọi hành vi sao chép, phổ biến bản ghi âm ra công chúng để bán, cho thuê, trao đổi đều phải được sự cho phép của nhà sản xuất” Hành vi sao chép, phổ biến được thực hiện bởi chủ thể là nhà sản xuất cũng được quy định là hành vi xâm phạm quyền tác giả

Thêm vào đó, Điều L.122-5 Bộ luật về sở hữu trí tuệ của Pháp quy định ngoại lệ của quyền tác giả “tác giả không được phép ngăn cấm việc sao chép để sử dụng vào mục đích cá nhân đối với bản sao của các tác phẩm nghệ thuật mà bản sao đó vốn được dùng cho những mục đích tương tự như những mục đích mà vì đó tác phẩm đã được sáng tạo ra”

Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng MONTPELLIER ngày 24.09.1999: Đây là bản án đầu tiên liên quan đến hành vi bán tệp MP3 qua Internet Vụ việc liên quan đến một kỹ sư tin học, giao bán đĩa CD âm nhạc do anh ta tự sản

39 “Copyright policy, creativity, and innovation in the digital economy”, https://www.uspto.gov/sites/default/files/news/publications/copyrightgreenpaper.pdf, truy cập ngày 5/7/2020 xuất Các tác phẩm âm nhạc được nén thành tệp và được bán qua trang web của kỹ sư này Điều tra viên của SESAM (Cơ quan quản lý tác quyền trong lĩnh vực nghe nhìn) đã phát hiện và tố cáo hành vi

Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng MONTPELLIER tuyên phạt người đó phải bồi thường thiệt hại 250.000 Franc cho bên nguyên đơn dân sự (bao gồm hai công ty SCPP và SDRM)

1.3.3 Hành vi truyền đạt, phân phối bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số theo pháp luật Việt Nam

Pháp luật Việt Nam quy định quyền truyền đạt và quyền phân phối quyền tác giả nói chung và trong môi trường kỹ thuật số nói riêng là quyền độc quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả Đây là một trong những nội dung quan trọng của quyền tác giả được quy định tại Điều 21 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP Theo đó, quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng b ng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 20 của Luật Sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc đưa tác phẩm hoặc bản sao tác phẩm đến công chúng mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do chính họ lựa chọn Như vậy, việc đưa tác phẩm này đến những người sử dụng Internet được xem là hành vi truyền đạt tác phẩm đến công chúng Bởi l , thông qua các trang web trực tuyến, tác phẩm có thể được truy cập trên toàn thế giới Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) đã ban hành một Hiệp ước quốc tế liên quan đến việc sửa đổi Công ước Bern nh m đưa ra những nguyên tắc quốc tế nh m giải quyết tranh chấp pháp lý trước sự phát triển của công nghệ và truyền thông Theo Điều 8 Hiệp ước này, tác giả “được hưởng độc quyền cho phép truyền đạt đến công chúng tác phẩm của họ b ng vô tuyến hay hữu tuyến, bao gồm cả việc đưa tác phẩm đến công chúng theo cách thức mà những thành viên trong xã hội có thể tiếp cận các tác phẩm đó tại địa điểm và thời gian do chính họ lựa chọn” Hành vi truyền đạt tác phẩm rất dễ bị xâm phạm hiển nhiên trong môi trường kỹ thuật số, nơi mà khán giả không ở trước một sân khấu hay trong một nhà hát mà là trước màn hình máy tính Hành vi này khiến cho tác giả phải gánh chịu ngày càng nhiều thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích hợp pháp của tác giả dưới tác động của công nghệ kỹ thuật số và Internet Hơn nữa, việc số hoá và sau đó đưa tác phẩm lên trang web Internet bất hợp pháp cũng gây ảnh hưởng đến chất lượng đích thực của tác phẩm do có thể có sai sót trong việc tải hình và nội dung của tác phẩm

Quyền phân phối bản gốc hoặc bản sao tác phẩm quy định tại điểm d khoản

1 Điều 20 của Luật sở hữu trí tuệ là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện b ng bất kỳ hình thức, phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được để bán, cho thuê hoặc các hình thức chuyển nhượng khác bản gốc hoặc bản sao tác phẩm Hành vi phân phối tác phẩm có nghĩa là bao gồm việc truyền tải các bản sao của tác phẩm thông qua mạng Internet Tuy nhiên, việc phân phối này có thể gây ra ảnh hưởng đáng kể đến lợi ích tài chính của tác giả, vì nếu giải quyết triệt để vấn đề, có thể thấy hành vi này gây tác động trực tiếp lên hành vi sao chép và hành vi truyền đạt tác phẩm

Tương tự với hành vi sao chép, hành vi truyền đạt và phân phối tác phẩm trên mạng Internet được tiến hành một cách nhanh chóng và lan tỏa trên phạm vi rộng hơn nhiều so với các phương thức truyền thống, với điều kiện có hợp đồng thuê bao với nhà cung cấp dịch vụ Internet Mạng Internet cho phép từ một máy chủ có thể truyền tải tới số lượng người truy cập không giới hạn và cho phép người sử dụng tiếp cận nguồn thông tin vào bất cứ lúc nào mà không bị hạn chế về mặt thời gian hay địa điểm Trên một số trang web, chúng ta có thể nhập từ khoá thông qua công cụ tìm kiếm và sau đó xuất hiện tất cả các loại tác phẩm đã sẵn sàng để được sử dụng mà không có sự cho phép của tác giả hay phải trả tiền Đặc biệt, mỗi người sử dụng Internet đều có thể thực hiện hành vi truyền tải tác phẩm tới những người khác, không giới hạn ở bất cứ yếu tố nào Do đó, nếu một tác phẩm được công bố trên Internet mà không được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả thì thiệt hại s là rất lớn Trong trường hợp này, các tác phẩm được công bố trái phép s dẫn đến việc truyền tải, sao chép và thậm chí là phân phối một cách dễ dàng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả

Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy, không hiếm các trường hợp là minh chứng cho hành vi xâm phạm Trong lĩnh vực điện ảnh, các bộ phim thường được tải xuống và phân phối bất hợp pháp dưới các định dạng như Wav, MPEG,

Quicktime, Ngoài ra, các tác phẩm điện ảnh còn bị phân phối bất hợp pháp b ng cách đặt trộm máy quay cá nhân vào rạp chiếu phim và công khai trình chiếu bộ phim đó trên trang web cá nhân Mặc dù, các bản sao như vậy thường có chất lượng thấp hơn đĩa DVD nhưng việc không mất tiền đến rạp chiếu phim hay mua một đĩa DVD chất lượng là một việc vô cùng hấp dẫn đối với những cá nhân yêu thích sử dụng Internet

Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong việc xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số

Các kiến nghị về hoàn thiện quy định pháp luật không chỉ tạo ra một khung pháp lý ổn định hơn mà còn tạo cơ sở để khắc phục tình trạng xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số:

Một là, sửa tên của Điều 28 Luật SHTT là “một số hành vi phổ biến xâm phạm quyền tác giả” vì luật đã quy định sự độc quyền của chủ thể quyền tác giả được ghi nhận tại Điều 19, Điều 20 của Luật SHTT và một số ngoại lệ của Điều

25 Luật SHTT Do đó, bất kỳ sự sử dụng nào của chủ thể khác mà không được tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đồng ý hoặc luật quy định thì được xem là xâm phạm quyền tác giả Việc quy định như vậy góp phần mở rộng hơn về các hành vi xâm phạm quyền tác giả, đặc biệt trong môi trường kỹ thuật số s ngày càng phát sinh nhiều hành vi phức tạp và quy mô khó có thể dự đoán được trong tương lai

Hai là, cần ban hành những quy định mang tính chất giải thích về hành vi xâm phạm s giúp cho việc xác định trên thực tế dễ dàng hơn Điều này xuất phát từ lý do là các hành vi xâm phạm quyền tác giả được quy định tại Điều 28 Luật SHTT chỉ mang tính chất liệt kê từ khoản 1 đến khoản 16 mà không có sự giải thích cụ thể Hoặc có thể xây dựng hệ thống án lệ về quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số Nếu từng hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số được quy định quá chi tiết trong luật hoặc các văn bản hướng dẫn thì việc áp dụng cũng chưa thực sự tốt Tuy nhiên, nếu có hệ thống án lệ thì vấn đề này s được giải quyết hữu hiệu Đây chính là cơ chế bảo hộ được xây dựng bởi nhiều quốc gia phát triển hiện nay, trong đó Luật về SHTT chỉ mang giá trị nền tảng

Ba là, đánh giá sự tham gia của các chủ thể trong việc sao chép, truyền đạt, phân phối các tác phẩm trên môi trường Internet, xác định trách nhiệm của từng chủ thể nếu có hành vi xâm phạm quyền tác giả xảy ra; đồng thời quy định r về trách nhiệm của ISP trong việc bảo hộ quyền tác giả ISP chính là người gác cổng, người bảo vệ trong môi trường kỹ thuật số, nên không thể bảo hộ được quyền tác giả, nếu không quy định gì về trách nhiệm của ISP Hiện nay, Việt Nam chỉ mới có Thông tư liên tịch số 07/2012/TTLT-BTTTT- BVHTTDL ngày 19/6/2012 của Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quy định về trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trong việc bảo hộ quyền tác giả trên môi trường Internet và mạng truyền thông Các quy định này còn quá sơ sài, chưa thể hiện r trách nhiệm của các loại ISP trong việc cung cấp thông tin người vi phạm, các dạng trách nhiệm dân sự, hình sự cụ thể và căn cứ miễn các trách nhiệm đó

Bốn là, quy định cụ thể về giới hạn của quyền sao chép trong môi trường kỹ thuật số Theo quy định tại Điều 25 Luật SHTT (sửa đổi năm 2009) đã thu hẹp các trường hợp sao chép tác phẩm không cần xin phép, không cần trả thù lao, không chỉ thể hiện tính thiếu thực tế của quy định pháp luật mà còn ảnh hưởng đến việc khai thác tác phẩm của công chúng Trên cơ sở đã phân tích những điểm hạn chế của điều luật, cần sửa đổi điều luật theo hướng sau:

(i) nên bỏ quy định giới hạn về số bản sao chép như hiện nay Qua nghiên cứu pháp luật một số quốc gia trên thế giới, hiếm thấy có quốc gia nào quy định giới hạn số bản sao chép được thực hiện như Việt Nam Pháp luật về bản quyền của nhiều quốc gia cho phép sao chép nhưng kết hợp chặt ch với cơ chế trả “phí đền bù bản quyền” (remuneration) cho chủ sở hữu quyền Theo Điều 20.3 Đạo luật quyền tác giả Thụy Sĩ quy định việc trả tiền đền bù bản quyền của những người sản xuất vật ghi và thiết bị ghi Ngoài ra, cần nhận thấy r ng tại pháp luật sở hữu trí tuệ của Pháp thì việc sử dụng thuật ngữ là “phí sao chép để sử dụng riêng”, theo đó trên cơ sở tính đến cơ hội bị lỡ của chủ thể quyền do hành vi sao chép để sử dụng riêng, nhà làm luật đã quy định từ năm 1985 “một khoản phí đối với hành vi sao chép để sử dụng riêng” (Điều L.311-1 Bộ luật SHTT Pháp) 44 Quy định này hiện nay được ghi nhận tại Điều 15 Luật số 2001-624 ngày 17/7/2001, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như xã hội, giáo dục, văn hóa

44 Nhà pháp luật Việt – Pháp (2006), “Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và công nghệ cao”, Hội thảo khoa học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.46 và bổ sung cho Điều L 311-1 Bộ luật SHTT quy định là tác giả có thể được nhận một khoản thù lao trong trường hợp sao chép tác phẩm trên phương tiện kỹ thuật số, và từ ngày 04/7/2002 được áp dụng mở rộng cho đĩa cứng được cài vào các máy kỹ thuật số 45

(ii) về phí đền bù: kinh nghiệm của một số quốc gia đã thể hiện r sự đối lập r ràng của các của pháp luật Việt Nam và luật quốc tế Do đó, thông qua việc tham khảo thì cần Điều 25 Luật SHTT sửa đổi 2009 theo hướng mở rộng hơn ngoại lệ cho việc sao chép với mục đích sử dụng cá nhân, phi thương mại, cụ thể thay vì buộc các chủ thể này phải xin phép, trả tiền cho chủ sở hữu quyền tác giả khi sao chép với số lượng lớn (hơn một bản), sau đó thì việc thu một khoản phí đền bù bản quyền Khoản phí này là một khoản tiền cố định được khấu trừ trên giá bán các sản phẩm có thể ghi được, bao gồm các thiết bị kỹ thuật số chưa có nội dung (như Minidisc, CDR hoặc DVD có thể ghi được và một số thiết bị ghi kỹ thuật số khác)

Như đã đề cập, khoản phí này là khoản phí cố định được khấu trừ trên giá bán các sản phẩm có thể ghi được Do đó, khoản phí đền bù s không thể thuộc về trách nhiệm của chủ sở hữu quyền tác giả, mà chỉ có thể thuộc về trách nhiệm của nhà sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu các sản phẩm đó - được xem là bên trung gian tạo ra các phương thức để làm ra bản sao hoặc là thuộc về trách nhiệm của người mua sản phẩm để sử dụng vào mục đích tạo ra bản sao tác phẩm Tóm lại, chúng ta nên cân nhắc sửa đổi Điều 25 Luật SHTT sửa đổi 2009 theo hướng mở rộng hơn ngoại lệ cho việc sao chép với mục đích sử dụng cá nhân, phi thương mại, cụ thể nên bỏ quy định giới hạn về số bản sao chép như hiện nay Thay vào đó, để bảo đảm quyền lợi cho chủ thể quyền tác giả, Luật SHTT nên bổ sung quy định về việc thu phí đền bù bản quyền như đã trình bày ở trên.

Ngày đăng: 20/04/2021, 23:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hải An (2014), “So sánh hành vi xâm hại quyền tác giả và bồi thường thiệt hại trong tố tụng dân sự giữa Luật quyền tác giả Hàn Quốc và Luật SHTT Việt Nam”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (10-11), tr. 29-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh hành vi xâm hại quyền tác giả và bồi thường thiệt hại trong tố tụng dân sự giữa Luật quyền tác giả Hàn Quốc và Luật SHTT Việt Nam”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Nguyễn Hải An
Năm: 2014
2. Trần Phương Anh (2019), “Trách nhiệm pháp lí của nhà cung cấp dịch vụ trung gian với vi phạm quyền tác giả trên Internet”, Tạp chí Luật học, (01), tr.29-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm pháp lí của nhà cung cấp dịch vụ trung gian với vi phạm quyền tác giả trên Internet”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Trần Phương Anh
Năm: 2019
4. Đỗ Khắc Chiến, “Về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường Internet”, Tài liệu hội thảo về “Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường số tại Việt Nam”, Trường Đại học Luật Tp.HCM, tr. 22-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường Internet”, Tài liệu hội thảo về “"Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường số tại Việt Nam
5. Cục bản quyền tác giả (2010), Từ điển thuật ngữ quyền tác giả, quyền liên quan, NXB. Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ quyền tác giả, quyền liên quan
Tác giả: Cục bản quyền tác giả
Nhà XB: NXB. Thế giới
Năm: 2010
6. Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ (Tái bản có bổ sung), NXB. Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ (Tái bản có bổ sung)
Tác giả: Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB. Hồng Đức
Năm: 2017
7. Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Pháp luật hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, NXB. Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Pháp luật hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Tác giả: Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB. Hồng Đức
Năm: 2013
1. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 Khác
6. Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 ngày 29/11/2005, có hiệu lực từ ngày 01/7/2006 Khác
7. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ năm 2009 ngày 19/6/2009, có hiệu lực từ ngày 01/10/2010 Khác
8. Luật số 42/2019/Qh14 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật sở hữu trí tuệ ngày 14/6/2019, hiệu lực thi hành từ ngày 01/11/2019 Khác
9. Luật Công nghệ thông tin năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2017 Khác
11. Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/09/2006 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự và Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan Khác
13. Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ Khác
15. Thông tư liên tịch 07/2012/TTLT-BTTTT-BVHTTDL ngày 19/06/2012 của Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch – Bộ Thông tin và Truyền thông quy định trách Khác
16. Thông tư 29/2009/TT-BTC ngày 10/02/2009 của Bộ tài chính quy định về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan.HOA KỲ Khác
18. Tittle 17 of the United states code – Copyright Law of the United States Khác
19. Tittle 17 of the United states code – Crimes and Criminal Procedure Khác
20. Digital Millennium Copyright Act 1998 (DMCA). PHÁP Khác
22. Luật sáng tạo và internet của Pháp năm 2010 Khác
23. Luật số 2009-669 ngày 12/6/2009 (Luật HADOPI) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w