Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ “Hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số theo pháp luật Hoa Kỳ, Pháp và kinh nghiệm đối với Việt Nam” là công trình nghiên cứu độc
Trang 1ĐỖ HUỲNH YẾN VY
HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ
THEO PHÁP LUẬT HOA KỲ, PHÁP VÀ
KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ
ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2020
Trang 2HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ
TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ
THEO PHÁP LUẬT HOA KỲ, PHÁP VÀ
KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Đỗ Huỳnh Yến Vy, lớp Cao học Luật khoá 30, chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự, năm học 2018 - 2020, trường Đại học Luật Thành
phố Hồ Chí Minh Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ “Hành vi xâm phạm
quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số theo pháp luật Hoa Kỳ, Pháp và kinh nghiệm đối với Việt Nam” là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi,
các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong Luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả
Đỗ Huỳnh Yến Vy
Trang 4Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô trong Hội đồng khoa học Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đã đóng góp ý kiến, đưa ra những lời khuyên quý giá để tôi hoàn thành Luận văn này
Trong quá trình học tập, dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của quý thầy, cô, mặc
dù bản thân đã có nhiều cố gắng, tuy nhiên cũng không tránh khỏi những hạn chế
và thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô để tôi hoàn thiện Luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Đỗ Huỳnh Yến Vy
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ đầy đủ Chữ viết tắt
Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24
tháng 11 năm 2015
BLDS 2015
Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian
(Internet Service Provider)
ISP
Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày
29 tháng 11 năm 2005 được sửa đổi, bổ
sung bởi Luật số 36/2009/QH12 ngày 19
tháng 6 năm 2009 và Luật số
42/2019/QH14 ngày 14 tháng 6 năm 2019
Luật SHTT
Nghị định số 105/2006/NĐ-CP của Chính
phủ ngày 22/9/2006 quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí
tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
Nghị định số 105/2006/NĐ-CP
Nghị định số 22/2018/NĐ-CP quy định chi
tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật
Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật SHTT năm
2009 về quyền tác giả, quyền liên quan
Nghị định số 22/2018/NĐ-CP
Trang 7MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: XÁC ĐỊNH HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ THEO PHÁP LUẬT HOA KỲ, PHÁP VÀ VIỆT NAM 10
1.1 Khái quát hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số 10
1.1.1 Khái quát pháp luật Hoa Kỳ, Pháp và Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả 10 1.1.2 Khái niệm và đặc điểm hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số 14
1.2 Hành vi sao chép bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số 20
1.2.1 Hành vi sao chép bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số theo pháp luật Hoa Kỳ 20 1.2.2 Hành vi sao chép bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số theo pháp luật Pháp 26 1.2.3 Hành vi sao chép bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số theo pháp luật Việt Nam 29
1.3 Hành vi truyền đạt, phân phối bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số 39
1.3.1 Hành vi truyền đạt, phân phối bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số theo pháp luật Hoa Kỳ 39 1.3.2 Hành vi truyền đạt, phân phối bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số theo pháp luật Pháp 41 1.3.3 Hành vi truyền đạt, phân phối bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số theo pháp luật Việt Nam 42
Trang 8CHƯƠNG 2: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH HÀNH VI XÂM PHẠM VÀ CÁC BIỆN PHÁP
XỬ LÝ HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ TRONG MÔI
TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ 47
2.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong việc xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số 47
2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam đối với các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số 49
2.2.1 Biện pháp tự bảo vệ 50
2.2.2 Biện pháp dân sự 57
KẾT LUẬN 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thế giới đương đại, một quốc gia phát triển không chỉ đơn thuần dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có hay lao động cơ bắp của con người, mà trí tuệ - tài sản vô hình mới là yếu tố thể hiện lợi thế cạnh tranh, đóng vai trò quyết định trong sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó Với sự phát triển tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và sự ra đời của Internet đã làm xuất hiện một môi trường đặc biệt, đó là môi trường kỹ thuật số Mạng lưới kỹ thuật số cho phép thông tin đã được số hóa có thể được trao đổi nhanh chóng mà không thực sự cần đến phương thức chuyển giao vật lý Kết quả của công nghệ kỹ thuật số giúp cho thông tin hình ảnh, âm thanh, văn bản được thể hiện hay lưu trữ trong một định dạng kỹ thuật số1
Trong khi đó, chỉ một chiếc máy tính kết nối Internet, người dùng Internet có thể khai thác, sử dụng hàng loạt sản phẩm trí tuệ: các tác phẩm nhiếp ảnh, âm nhạc, văn học, nghệ thuật, khoa học một cách dễ dàng thông qua các trang web mà không cần biết đến tác giả của chúng Môi trường kỹ thuật số ra đời đã làm hoạt động sáng tạo và các sản phẩm trí tuệ có sự tăng trưởng, sự đầu
tư mạnh m Nếu năm 2007 số lượng người sử dụng Internet ở Việt Nam là 17.718.112 người thì đến năm 2019 đã tăng lên 64 triệu người (tức là khoảng 67%) dân số2 Có thể thấy, sự phát triển nhanh chóng của Internet góp phần làm gia tăng số hoá các sản phẩm trí tuệ, góp phần có hiệu quả để các chủ thể có thể tiếp cận đến các tác phẩm của tác giả một cách nhanh chóng nhưng cũng tạo ra hệ lụy là các quốc gia phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trước những hành
vi xâm phạm vượt khỏi tầm kiểm soát của chủ sở hữu quyền tác giả và thậm chí
là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Tính chất “lan truyền” với tốc độ nhanh như vũ bão của môi trường kỹ thuật
số đã tạo cơ hội cho người sử dụng tiếp cận các sản phẩm trí tuệ một cách nhanh
1
Thomas Dreier M.C.J., “Copyright Law and Digital Exploitantion of Work: The Current Copyright Landscape in the Age of the Internet and Multimedia, International Law Publisher”,
http://www.ipa-uie.org, truy cập ngày 22/3/2020
2 Vnetwork, “Các số liệu thống kê Internet Việt Nam 2019”, thong-ke-internet-viet-nam-2019, truy cập ngày 02/03/2020
Trang 10https://vnetwork.vn/news/cac-so-lieu-chóng và dễ dàng, song song đó là nguy cơ quyền tác giả bị xâm phạm, việc sao chép, sử dụng dữ liệu một cách bất hợp pháp ngày một dễ dàng và tinh vi hơn Thực tế hiện nay cho thấy, tình trạng vi phạm quyền tác giả diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực với các hình thức và mức độ khác nhau, nhất là trong các lĩnh vực như
âm nhạc số, sách, báo điện tử…Tại hội thảo “Bảo vệ bản quyền điện ảnh và truyền hình” được tổ chức vào năm 2015, Phim và công nghệ truyền hình Việt Nam đã thống kê có khoảng “30-40% số bộ phim hiện nay bị phát tán trên mạng ngay sau khi phát hành”3 Tình trạng này không những gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sáng tạo, mà còn làm phương hại đến môi trường đầu tư, kìm hãm
sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước trong tiến trình hội nhập quốc
tế Vì vậy, bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay ngày càng giữ vai trò quan trọng không những đối với Việt Nam mà còn đối với hầu hết quốc gia trên thế giới
Chú trọng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và bảo hộ quyền tác giả nói chung, bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số nói riêng, trong những năm gần đây, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ, bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số, đặc biệt
là tham gia các Điều ước quốc tế đa phương và song phương, như: Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật năm 1886 (có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 26/10/2004); Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và các tổ chức phát sóng (có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 01/3/2007); Công ước Geneve về bảo hộ các nhà sản xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép trái phép bản ghi âm của họ (có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 06/7/2005); Hiệp định về những khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày11/01/2007); Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa
Kỳ về thiết lập quan hệ quyền tác giả ngày 27/6/1997; Hiệp định thương mại giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ngày 13/7/2000 và nhiều Điều ước quốc tế khác
3 Khi khán giả livstream phim, kịch vi phạm bản quyền, chi-tiet/khi-khan-gia-livestream-phim-kich-vi-pham-ban-quyen/2128.html, truy cập ngày 23/3/2020
Trang 11https://baohothuonghieu.com/banquyen/tin-Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa gia nhập một số Điều ước quốc tế quan trọng trong lĩnh vực quyền tác giả, trực tiếp điều chỉnh vấn đề bảo hộ quyền tác giả trong môi trường số,đó là: i) Hiệp ước của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (World Intellectual Property Organization - WIPO) về quyền tác giả (WCT, có hiệu lực từ ngày 06/3/2002, hiện nay có 91 quốc gia là thành viên), được ký kết
nh m làm r một số quy định của Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật trong môi trường số Đồng thời, Công ước này cũng bổ sung thêm một số quyền của tác giả, quyền và nghĩa vụ của quốc gia thành viên trong việc bảo hộ quyền tác giả trong môi trường số: ii) Hiệp ước của WIPO về quyền của người biểu diễn (WPPT, có hiệu lực từ ngày 20/5/2002, hiện nay có 92 quốc gia
là thành viên) được ký kết nh m làm r và bổ sung một số quy định của Công ước Rome 1961 về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và các tổ chức phát sóng trong môi trường số Pháp luật Việt Nam vẫn còn tồn tại một số điểm chưa phù hợp với quy định của Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng như tình hình thực tế xảy ra tại Việt Nam, nhưng đánh giá một cách tổng thể và khách quan, pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam đã xây dựng được một khung pháp lý tương đối hoàn chỉnh về việc bảo hộ quyền tác giả nói riêng và quyền sở hữu trí tuệ nói chung
Để bảo vệ quyền SHTT nói chung cũng như quyền tác giả trong môi trường
kỹ thuật số nói riêng, trước hết phải xác định đúng hành vi xâm phạm Chỉ khi xác định đúng hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số thì
cơ quan có thẩm quyền mới xử lý đúng và hiệu quả các hành vi xâm phạm, thông qua đó s góp phần vào công tác bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Việc tìm hiểu các quy định về xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật
số, đánh giá thực tiễn xét xử liên quan đến việc xác định hành vi xâm phạm và từ
đó chỉ ra những điểm bất cập, vướng mắc nh m tìm giải pháp tháo gỡ có ý nghĩa quan trọng Điều này không chỉ góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, đồng thời nâng cao ý thức pháp luật cũng như tạo lối sống văn hoá tôn trọng tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả - những người cần được đền đáp xứng đáng với vốn trí tuệ cũng như công sức họ bỏ ra Bên cạnh đó, còn giúp cho cá nhân, tổ chức hiểu được giá trị sáng tạo của tác giả cũng như thúc đẩy hoạt động sáng tạo để làm giàu nền tri thức của nhân loại và thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam một cách hiệu quả trong việc xác định hành vi xâm phạm
Trang 12quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm và cấp bách là hoàn thiện quy định của pháp luật SHTT nh m tạo ra hành lang pháp lý an toàn và minh bạch, góp phần bảo vệ lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền tác giả Xuất phát từ những lý do
trên, tác giả đã chọn đề tài: “Hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường
kỹ thuật số theo pháp luật Hoa Kỳ, Pháp và kinh nghiệm đối với Việt Nam” để
làm Luận văn Thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu
Quyền tác giả trong môi trường truyền thống là lĩnh vực được nghiên cứu rất lâu trên thế giới cũng như tại Việt Nam Môi trường kỹ thuật số ra đời và phát triển đã thể hiện những điểm vượt trội so với các hình thức thể hiện tác phẩm truyền thống Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phát huy được những tiện ích của môi trường kỹ thuật số nhưng vẫn bảo đảm được quyền tác giả Qua quá trình nghiên cứu, tìm kiếm, thu thập tài liệu, vấn đề xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số tại Việt Nam còn tương đối mới Có thể, kể đến một số công trình sau đây:
Tại Việt Nam:
- Vũ Thị Phương Lan, Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số
theo Điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam - Sách chuyên khảo, năm 2018 Tác
giả đã làm r những thách thức của môi trường kỹ thuật số với vấn đề bảo hộ quyền tác giả, đồng thời phân tích các biện pháp để bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số tại Việt Nam và so sánh với pháp luật một số quốc gia Bên cạnh đó, tác giả đề xuất xây dựng và ban hành Luật Quyền tác giả riêng biệt với Luật SHTT (do tài sản quyền tác giả là loại tài sản đặc thù, khác biệt với các tài sản sở hữu công nghiệp của SHTT, đặc biệt là khác về căn cứ xác lập, thực thi
và bảo hộ quyền tác giả) Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của vấn đề này chỉ mới dừng lại ở khía cạnh bảo hộ quyền tác giả mà chưa nghiên cứu chuyên sâu về cách xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số
- Nguyễn Thị Hồng Nhung, Quyền tác giả trong không gian ảo - Sách
chuyên khảo, năm 2015 Công trình đã khái quát chung về quyền tác giả và mạng không gian ảo Một mặt, tác giả đã đưa ra những đặc quyền và ngoại lệ của quyền
Trang 13tác giả trong thời đại số và làm r trách nhiệm của các chủ thể liên quan đến việc khai thác tác phẩm trên Internet Mặt khác, tác giả cũng thể hiện các biện pháp chế tài đối với hành vi xâm phạm nhưng chưa làm r đặc thù của các hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số
- TS Lê Thị Nam Giang, “Những thách thức về mặt pháp lý trong việc bảo
hộ quyền tác giả trong môi trường Internet” - Hội thảo khoa học quốc gia về thực
thi cam kết pháp lý của Việt Nam trong các Hiệp định thương mại tự do (FTAs) năm 2015 Bài viết phân tích thực trạng xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số tại Việt Nam ở mức độ tổng quát mà chưa đưa ra những đánh giá chuyên sâu, trong đó trình bày việc xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số và đưa ra những biện pháp xử lý và ngăn ngừa đối với các hành vi này
- Nguyễn Thị Hải Vân, Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số:
nghiên cứu kinh nghiệm áp dụng luật Hadopi của Cộng hòa Pháp Mặc dù, nội
dung của bài viết đã trình bày một cách tổng quát về quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số cũng như các biện pháp để tăng cường bảo hộ quyền tác giả trong bối cảnh mới và nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của Pháp nhưng tác giả vẫn chưa phân tích toàn diện về các hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số đang diễn ra trên thực tế
- ThS Đỗ Khắc Chiến, Về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường Internet,
năm 2014 Tác giả chủ yếu tập trung phân tích về bản sao tạm thời theo pháp luật quốc tế, mặc dù có đề cập quy định pháp luật Việt Nam về vấn đề này nhưng nhìn chung còn hạn chế và chưa được nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ thực tiễn cũng như quy định pháp luật
- Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí
Minh, xuất bản năm 2017 cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng quan về các hành
vi xâm phạm quyền tác giả Trong đó, giáo trình đã phân tích những quy định chung về quyền tác giả gồm nội dung quyền tác giả, nội dung và thời hạn bảo hộ quyền tác giả Đồng thời, giáo trình cũng làm nổi bật vai trò của việc xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả nhưng để xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số vẫn còn mang tính chất khái quát
Trang 14- Nhóm tác giả Nguyễn Hồ Bích H ng, Nguyễn Ngọc Hồng Phượng và
Nguyễn Phương Thảo, Sách tình huống Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, năm 2016
Liên quan đến hành vi xâm phạm quyền tác giả, nhóm tác giả đã tiến hành phân tích các quy định của pháp luật và xem xét các yếu tố để xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả, từ đó thể hiện quan điểm đối với cách giải quyết của Tòa án Tuy nhiên, những vấn đề liên quan đến quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật
số vẫn chưa được nghiên cứu cụ thể
- Đỗ Văn Đại, Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng – Bản án và bình
luận bản án - sách chuyên khảo, năm 2016 Đây là một trong những tài liệu tham
khảo bổ ích với vai trò cung cấp thực tiễn xét xử tại Toà án là tác giả đã phân tích
và bình luận các bản án có liên quan đến biện pháp bảo vệ quyền tác giả do xâm phạm quyền SHTT Tuy nhiên, vấn đề hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số chưa được trình bày một cách cụ thể
- Dương Bảo, “Một số vấn đề về quyền tác giả trong thời đại kỹ thuật số theo Hiệp ước WIPO về quyền tác giả”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số
1/2013, năm 2013 Bài viết nghiên cứu về một số nội dung của Hiệp ước WCT liên quan đến khía cạnh quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số, và một số đóp góp vào nỗ lực tham gia WCT của Việt Nam trong tương lai
- Nguyễn Phương Thảo, “Bình luận án: Hành vi xâm phạm quyền tác giả”,
Tạp chí Khoa học pháp lý, số 05, năm 2018, Trường Đại học Luật thành phố Hồ
Chí Minh Trong bài viết này, tác giả đã phân tích hành vi xâm phạm quyền tác giả dựa trên bản án thực tế Từ đó, tác giả nhận xét, đánh giá các căn cứ, lập luận của Tòa án khi xác định những hành vi xâm phạm quyền tác giả Tuy nhiên, hành
vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số vẫn chưa được nghiên cứu
- Phạm Hồng Hải, Bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số, Luận
văn thạc sĩ, năm 2016 Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của vấn đề bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số theo quy định của pháp luật Việt Nam Tuy đã đề cập đến nội dung của quyền tác giả trong môi trường số, nhưng nhìn chung Luận văn chưa được nghiên cứu chuyên sâu, chưa phân tích được dưới góc độ lý luận, đặc biệt là phân tích quy định liên quan đến hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số cũng như thực
Trang 15trạng thực thi quy định còn hạn chế
Tại nước ngoài:
Bên cạnh các công trình trong nước thì hiện nay trên thế giới cũng có một
số công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến vấn đề này Cụ thể:
- David L Hayes, Advanced copyright issues on the Internet, Texas
intellectual property law journal, Vol 7, 1998 Công trình này nghiên cứu về nhiều lĩnh vực mà trong đó có liên quan vấn đề bản quyền trong môi trường Internet Công trình còn thảo luận về quyền tác giả có liên quan đến việc sao chép, truyền tải, sử dụng tác phẩm trên Internet, đồng thời phân tích, bổ sung các quy định về quyền tác giả đối với các hoạt động trên Internet…
- Hombal, S G; Prasad “Digital copyright protection: issues in the digital
library environment”, (2012) Bài viết được đăng trên Tạp chí Journal of Library
and Information Technology, số 32 (3) trình bày những vấn đề liên quan đến bảo
hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số
Qua việc khảo sát tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài, tôi nhận thấy đây là những nguồn tài liệu tham khảo rất có giá trị, các tác giả đã đề cập, phân tích, làm rõ, đưa ra cách nhìn tổng quát các vấn đề liên quan đến hành vi xâm phạm quyền tác giả, bảo đảm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số nói chung Tuy nhiên, hiện nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, cụ thể, toàn diện, sâu sắc về xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số ở Việt Nam Vì vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên sâu vấn đề xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Pháp; so sánh, đối chiếu, phân tích, đánh giá thực tiễn vi phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số ở Việt Nam; từ đó đề ra một số giải pháp và khuyến nghị là hết sức cần thiết
3 Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ các hành vi xâm phạm quyền tác giả đặc trưng trong môi trường kỹ thuật số và các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam, Hoa Kỳ và Pháp Trên cơ sở đó, đưa ra một số kiến nghị nh m hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành và nâng cao hiệu quả của hoạt động ngăn ngừa, hạn
Trang 16chế và xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số
4 Phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung:
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các hành vi xâm phạm quyền tác giả đặc trưng trong môi trường kỹ thuật số cũng như biện pháp xử lý các hành vi xâm phạm đó, cụ thể là hành vi sao chép và hành vi truyền đạt, phân phối bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số
- Về pháp luật:
Luận văn chú trọng nghiên cứu quy định của pháp luật Hoa Kỳ, Pháp và Việt Nam Việc lựa chọn pháp luật Hoa Kỳ và Pháp làm nền tảng trọng tâm để phân tích các quy định về hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số cũng như các biện pháp xử lý xuất phát từ lý do đây là hai quốc gia đại diện cho hai hệ thống pháp luật Common Law (Thông luật) và Civil Law (Dân luật) có cơ chế bảo hộ quyền tác giả được hình thành lâu đời Từ đó, rút ra bài học kinh nghiệm cho pháp luật Việt Nam
- Về thực tiễn:
Luận văn phân tích một số án lệ xâm phạm quyền tác giả trong môi trường
kỹ thuật số của Hoa Kỳ và Pháp để minh thị cụ thể các hành vi đó Đồng thời, đánh giá thực tiễn xâm phạm quyền tác giả tại Việt Nam nh m kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu phù hợp với nội dung, nhiệm vụ của từng chương, mục:
Phương pháp phân tích được sử dụng xuyên suốt tại Chương 1 và Chương 2
để làm r các quy định của pháp luật Hoa Kỳ, Pháp, Việt Nam về những hành vi đặc trưng xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số Từ đó, góp phần nhận diện được dễ dàng hơn các hành vi xâm phạm quyền tác giả xảy ra trong thực tiễn cũng như đưa ra những biện pháp chế tài tương ứng đối với các hành vi
Trang 17xâm phạm này
Phương pháp tổng hợp và đánh giá được áp dụng cuối mỗi chương để tổng hợp các vấn đề đã nghiên cứu của mỗi chương, đồng thời tác giả đưa ra những nhận định, đánh giá và kết luận khi nghiên cứu các quy định của pháp luật về hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số
Phương pháp so sánh được vận dụng chủ yếu đồng thời tại Chương 1 và Chương 2 để làm nổi bật những điểm khác biệt giữa pháp luật Việt Nam, các Điều ước quốc tế và pháp luật một số quốc gia trên thế giới như Hoa Kỳ và Pháp
nh m tham khảo và xác định r bản chất hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số
5 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo thì phần nội dung gồm 02 chương:
- Chương 1: Xác định hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số theo pháp luật Hoa Kỳ, Pháp và Việt Nam
- Chương 2: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong việc xác định hành vi xâm phạm và các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số theo pháp luật Hoa Kỳ, Pháp và kiến nghị hoàn thiện cho Việt Nam
Trang 18CHƯƠNG 1: XÁC ĐỊNH HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ TRONG MÔI TRƯỜNG KỸ THUẬT SỐ THEO PHÁP LUẬT HOA KỲ,
PHÁP VÀ VIỆT NAM 1.1 Khái quát hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số
1.1.1 Khái quát pháp luật Hoa Kỳ, Pháp và Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả
Bảo hộ quyền tác giả không chỉ là vấn đề của một quốc gia mà là xu hướng phát triển chung của xã hội Nó đóng vai trò là động lực trung tâm để thúc đẩy việc sáng tạo ra những sản phẩm mới, đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người
và góp phần ngăn chặn những sản phẩm văn hoá độc hại, bất lợi cho cộng đồng
và lợi ích quốc gia Sự thâm nhập của môi trường kỹ thuật số đã tạo điều kiện để các hành vi xâm phạm quyền tác giả diễn ra phức tạp Nhận thức được tầm quan trọng đó, pháp luật của các quốc gia trên thế giới đưa ra những cơ chế đặc thù để bảo vệ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số Với mỗi hệ thống pháp luật khác nhau, việc bảo hộ quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số mang những đặc trưng riêng
Liên quan đến quyền tác giả, Hoa Kỳ là quốc gia điển hình theo hệ thống Thông luật (Common Law System) với truyền thống lịch sử bảo hộ quyền tác giả dày dặn Hoa Kỳ không có văn bản luật mang tên “Luật Sở hữu trí tuệ” như Việt Nam để điều chỉnh lĩnh vực này Căn cứ vào các đối tượng của quyền SHTT, Bộ Chuẩn luật Quốc gia có ba luật liên quan điều chỉnh về bản quyền; sáng chế; thương mại và mậu dịch Cụ thể, Đạo luật số 17 về Bản quyền (The U.S Code Title 17 - Copyrights) điều chỉnh độc lập các vấn đề liên quan đến quyền tác giả Còn đối với hệ thống Dân luật (Civil Law System), Pháp là quốc gia bảo hộ quyền tác giả khá toàn diện với đạo luật riêng để điều chỉnh vấn đề này Việc nghiên cứu và so sánh giữa pháp luật về quyền tác giả của Việt Nam với Hoa Kỳ
và Pháp s giúp làm r các quy định pháp luật khi điều chỉnh về hành vi xâm phạm trong môi trường kỹ thuật số
Hoa Kỳ là một quốc gia có cơ chế bảo hộ bản quyền được hình thành lâu đời và bắt nguồn từ pháp luật Anh quốc – “Đạo luật Anne” (The Statue of
Trang 19Anne)4 Năm 1787, Hiến pháp Hoa Kỳ công nhận thẩm quyền của Quốc hội khuyến khích phát triển những sáng tạo Tuy nhiên, Hiến pháp cũng đưa ra một thời hạn để xác định quyền tác giả Mãi đến năm 1790, Nghị viện Hoa Kỳ đã ban hành Đạo luật Bản quyền 1790 (Copyright Act of States Code) đầu tiên thuộc cuốn thứ 17 của Bộ luật Liên bang Hoa Kỳ (title 17 of the United States Code) Đạo luật quy định tác giả được độc quyền in ấn, in lại hoặc xuất bản tác phẩm của chính họ trong suốt 14 năm và được phép gia hạn quyền này thêm 14 năm nữa Sau khi hết thời hạn độc quyền, các tác phẩm này s được công khai sử dụng rộng rãi nh m kích thích sự sáng tạo của tác giả và sự tiến bộ của khoa học và nghệ thuật hữu ích
Kể từ khi ban hành đến nay, Luật Bản quyền Hoa Kỳ đã trải qua nhiều lần sửa đổi và bổ sung, cụ thể vào năm 1831, 1870, 1909 và 1976 Với bối cảnh Hoa
Kỳ là thành viên tham gia vào Công ước Bern (Bern Convention) và sự phát triển của kỹ thuật nên Nghị viện Hoa Kỳ đã ban hành Luật bản quyền năm 1976 (the Copyright Act of 1976 – ký hiệu Pub L No 94-553, 90 Stat 2541 ban hành ngày 19/10/1976, bắt đầu hiệu lực kể từ ngày 01/01/1978) Hoa Kỳ thuộc sự điều chỉnh của hệ thống thông luật (Common law) nên khi đề cập đến pháp luật Hoa
Kỳ phải kể đến các án lệ, đặc biệt là án lệ của Toà án Tối cao Hoa Kỳ Các nhà lập pháp của Hoa Kỳ không đưa ra định nghĩa về quyền tác giả mà chỉ liệt kê các quyền độc quyền đối với tác phẩm được bảo hộ của chủ sở hữu quyền tác giả tại các Điều 106, 106A Luật Bản quyền Hoa Kỳ Lý giải cho vấn đề này, lý do pháp luật Hoa Kỳ không có nêu khái niệm cụ thể về quyền tác giả là do ngoài tác giả là người được hưởng lợi thì các nhà in hoặc nhà xuất bản cũng được hưởng lợi bởi
vì tác giả chỉ được trả tiền khi nhượng lại quyền nhân bản tác phẩm cho nhà in5 Nội dung cốt l i của Điều 106 Luật Bản quyền Hoa Kỳ quy định về các giá trị kinh tế của tác phẩm hay quyền lợi về mặt tài sản, thương mại mà tác phẩm mang lại thuộc về chủ sở hữu quyền tác giả chứ không phải tác giả (trừ trường hợp tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả) Quy định này giúp chủ thể
4 Đạo luật Anne là đạo luật về quyền tác giả của Vương quốc Anh vào năm 1710, đạo luật ra đời đầu tiên trên thế giới về quyền tác giả
5 Vương Tịnh Mạch (2003), Bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam và Hoa Kỳ từ góc nhìn
so sánh, Luận văn thạc sỹ luật, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr.26
Trang 20nắm giữ chúng là chủ sở hữu quyền tác giả bảo vệ bản quyền của tác phẩm Tuy nhiên, cho đến khi lần sửa đổi, bổ sung năm 1990, Luật Bản quyền của Mỹ (Copyright Law of United States of America) mới nhắc đến khái niệm quyền nhân thân của tác giả Có thể thấy, pháp luật của Hoa Kỳ chỉ tập trung vào quyền kinh tế trong quá trình khai thác tác phẩm nên quyền nhân thân rất ít được chú ý đến
Đối với hệ thống pháp luật của Pháp, Luật bản quyền của Pháp phát triển vào thế kỷ 18 cùng lúc với bản quyền của Vương quốc Anh Năm 1791, văn bản pháp luật đầu tiên của Pháp thông qua Luật 1793 (Revolutionary Law 1793) công nhận độc quyền của tác giả đối với tác phẩm của họ Nhà nước đã chính thức thiết lập luật về quyền tác giả, trong đó không chỉ bảo hộ lợi ích kinh tế của chủ nhà
in, mà còn dành cho tác giả tác phẩm văn học, nghệ thuật một sự độc quyền trong
sự cho phép nhân bản và trình diễn đối với tác phẩm của họ (chỉ với sự sửa đổi không đáng kể, luật này có hiệu lực cho tới năm 1957) Tuy nhiên, đến năm 1814, quyền nhân thân mới thực sự được quan tâm và tiếp tục phát triển đến năm 1828 Đến năm 1886, Công ước quốc tế về Bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật đã được ký kết tại Berne, trong đó Pháp là thành viên Cộng hoà Pháp thừa nhận 4 quyền nhân thân của tác giả, cụ thể là quyền đứng tên của tác phẩm, quyền công
bố tác phẩm, quyền rút lại tác phẩm và quyền về tính toàn vẹn của tác phẩm
Sự phát triển của hệ thống pháp luật về Sở hữu trí tuệ của Việt Nam hình thành muộn hơn so với các nước trên thế giới Sự kiện Việt Nam gia nhập vào Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO) năm 1976 là bước ngoặt quan trọng trong quá trình xây dựng pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam Kể từ khi tham gia vào
tổ chức này, Điều 72 Hiến pháp Việt Nam năm 1980 đã chính thức quy định về bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam Trên cơ sở của Hiến pháp này, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 142/HĐBT với nhiều nội dung trọng yếu của quyền tác giả Đây được xem là văn bản pháp luật đầu tiên của Việt Nam đề cập đến việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm, công trình văn học, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật6
Nh m tiếp tục hoàn thiện chế độ pháp lý cao nhất cho việc xác lập, bảo hộ
6 Vương Tịnh Mạch, tlđd (5), tr.19
Trang 21và thực thi quyền SHTT trong và ngoài nước, đáp ứng với tiêu chuẩn tham gia vào Tổ chức Thương mại thế giới WTO, Việt Nam đã gấp rút ban hành đạo Luật
Sở hữu trí tuệ năm 2005 (Luật SHTT năm 2005) có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2006 Đây là đạo luật đầu tiên của Việt Nam quy định về vấn đề sở hữu trí tuệ được ban hành ở cấp độ cao nhất Luật SHTT năm 2005 là kết quả của quá trình nghiên cứu, tổng hợp các quy phạm pháp luật được ban hành từ trước đến nay của nước ta và tương thích với các Điều ước quốc tế và các Hiệp định quốc
tế
Xã hội luôn vận động, biến đổi và phát triển theo thời gian nên các quan hệ pháp luật sở hữu trí tuệ cũng phải điều chỉnh cho phù hợp, cụ thể là Luật SHTT năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 Vào năm 2019, khi Cách mạng công nghiệp 4.0 bùng nổ, sản phẩm trí tuệ loài người ngày càng phát triển nên Luật SHTT cũng tiếp tục được hoàn thiện tại “Luật sửa đổi, bổ sung mội số điều của luật sở hữu trí tuệ - Luật số 42/2019/QH14 Việt Nam tiếp cận vấn đề với mục tiêu bảo vệ là quyền tác giả hay còn gọi là tác quyền (author‟s right) Tác phẩm là sự thể hiện dấu ấn cá nhân của chính tác giả nên mối quan hệ cá nhân giữa tác giả và tác phẩm chặt ch và mật thiết với nhau Pháp luật Việt Nam rất coi trọng quyền sáng tạo ra đứa con tinh thần của mình, đặc biệt là các quyền nhân thân Chính vì vậy, Luật SHTT đã đưa ra khái niệm về quyền tác giả:
“Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo
ra hoặc sở hữu” Quyền này được pháp luật quan tâm và bảo vệ Minh chứng là các văn bản pháp luật hiện hành đã ghi nhận một cách minh thị các cơ chế nh m bảo vệ nhóm quyền chính đáng này Ngoài ra, khi nghiên cứu khoản 2 Điều 4, Điều 18 Luật SHTT: “Quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Luật này bao gồm quyền nhân thân và quyền tác giả” Có thể thấy, quyền nhân thân được quy định song song với quyền tài sản Như vậy, có thể khẳng định Việt Nam khi xây dựng pháp luật Sở hữu trí tuệ, Việt Nam chú trọng bảo hộ cả quyền tài sản và quyền nhân thân của tác giả
Nhìn chung, Hoa Kỳ, Pháp và Việt Nam đều là thành viên của Công ước Berne và các Điều ước quốc tế khác về bảo hộ quyền tác giả Tuy nhiên, pháp luật về bảo hộ quyền tác giả giữa các nước cũng có những điểm tương đồng và khác biệt Cả ba quốc gia đều đặt ra hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh khi điều chỉnh các vấn đề liên quan đến bảo hộ quyền tác giả Pháp luật về bảo hộ
Trang 22quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số của Pháp có những điểm khác biệt, cụ thể, đối tượng trung tâm được các quy phạm pháp luật của Pháp ưu tiên bảo vệ là chính tác giả, chứ không phải tác phẩm hay chủ sở hữu quyền tác giả, hay nói cách khác là bảo vệ quyền nhân thân Ngược lại, Hoa Kỳ chú trọng bảo hộ về các quyền tài sản (quyền kinh tế) để bảo đảm quyền lợi cho các chủ sở hữu quyền tác giả Còn đối với pháp luật Việt Nam, đối tượng bảo hộ quyền tác giả nói chung cũng như trong môi trường kỹ thuật số nói riêng là sự kết hợp hài hoà của Hoa
Kỳ và Pháp, Việt Nam không chỉ chú trọng bảo vệ một nhóm quyền (quyền tài sản hay quyền nhân thân) mà xem quyền tài sản và quyền nhân thân là hai quyền quan trọng của tác giả nên cần phải được bảo vệ ngang b ng nhau Theo đó, phụ thuộc vào cách tiếp cận bảo hộ quyền tác giả, các quốc gia s có những biện pháp
xử lý khác nhau đối với các hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số
Từ giữa thế kỷ XX sang thế kỷ XXI, cuộc cách mạng kỹ thuật số diễn ra mạnh m , đánh dấu sự khởi đầu của kỷ nguyên công nghệ thông tin với việc áp dụng rộng rãi máy tính kỹ thuật số và lưu giữ hồ sơ kỹ thuật số Theo định nghĩa phổ quát nhất, tín hiệu số là tín hiệu được sử dụng để biểu diễn dữ liệu dưới dạng một chuỗi các giá trị biến thiên rời rạc theo thời gian, chỉ có hai trạng thái 0 và 1 hay cao và thấp tương ứng với hai trạng thái “đóng” và “mở” của các linh kiện bán dẫn7 Như vậy, dưới góc độ kỹ thuật, môi trường kỹ thuật số hợp các yếu tố của hệ thống sử dụng các giá trị rời rạc để đại diện cho thông tin Nó được biểu diễn b ng các số nhị phân sử dụng hai cơ số là “0” và “1” Môi trường kỹ thuật số
là một môi trường truyền thông tích hợp nơi các thiết bị kỹ thuật số giao tiếp và quản lý nội dung, hoạt động bên trong nó Có thể hiểu ngắn gọn, kỹ thuật số là công nghệ rất phổ biến, nó được thâm nhập và được ứng dụng trong hầu hết tất cả các lĩnh vực của đời sống, kinh tế, văn hóa, xã hội Có thể kể đến các thiết bị kỹ thuật số như máy tính cá nhân, máy ảnh kỹ thuật số, điện thoại thông minh, máy nghe nhạc kỹ thuật số, truyền hình kỹ thuật số,…
7 Nguyễn Đình Phú, Nguyễn Trường Duy (2013), Giáo trình Kỹ thuật số, Nxb Đại học Quốc gia
TP Hồ Chí Minh, tr.28
Trang 23Hiện nay, với sự đa dạng các loại thiết bị kỹ thuật số, máy tính cá nhân và Internet là hai yếu tố quan trọng trong cấu thành môi trường kỹ thuật số:
Một là, máy tính cá nhân Chiếc máy tính cá nhân cùng với hệ thống vô tận
các phần mềm tạo cho con người một môi trường tương tác mới, giao diện tương tác mới đáp ứng hầu hết mọi nhu cầu của con người, từ làm việc tới giải trí, từ giao tiếp, trao đổi thông tin tới phổ biến thông tin Con người có thể soạn thảo văn bản, lập bản v thiết kế, sáng tác âm nhạc, làm phim với một cách thức hiệu quả và nhanh chóng Các biến thể của máy tính ngày càng phong phú hơn, cụ thể
có những loại máy tính chuyên để bàn, có những loại máy tính xách tay, máy tính bảng… mà con người có thể sử dụng bất kỳ nơi nào trong bất kỳ tình huống nào
và phục vụ các nhu cầu đa dạng của mình Máy tính và các phần mềm là một yếu
tố quan trọng của môi trường kỹ thuật số
Hai là, Internet (hay còn gọi là siêu xa lộ thông tin) Thông thường,
Internet được biết đến như một không gian mà tại đây con người có thể trao đổi, tìm kiếm thông tin, gửi thư tín, xem phim, nghe nhạc, bày tỏ thông tin cá nhân… Internet là một định hình mới có sức ảnh hưởng rất lớn, vượt qua mọi khoảng cách về không gian và thời gian Linda J Engelman đã định nghĩa Internet là một thế giới rộng lớn, mạng lưới tự quản lý kết nối với hàng ngàn mạng lưới nhỏ hơn của hàng triệu máy tính và người sử dụng với lượng thông tin khổng lồ8
Internet bao gồm một số mạng khác nhau có liên kết với nhau và cùng nhau kết nối hàng trăm triệu máy tính trên toàn thế giới Sự xuất hiện của Internet thực sự đã tạo ra rất nhiều cơ hội cũng như thách thức cho các tác giả trong môi trường kỹ thuật số đang ngày càng đa dạng và phức tạp hiện nay Tuy nhiên, ngay từ những năm đầu tiên Internet bắt đầu phổ biến, Liên minh châu Âu đã khẳng định r ng không ai có thể kiểm soát được dữ liệu cũng như nội dung thông tin trên Internet và đánh giá internet là nơi cung cấp các dịch vụ mang tính cách mạng, bao gồm tất cả các tính năng của công nghệ thông tin, liên lạc viễn thông và công nghệ truyền hình9
Môi trường kỹ thuật số xuất hiện tạo điều kiện cho nhiều tác phẩm bị xâm
8
Engelman, Linda J (1996), Interacting on the Internet, Nxb McGraw Hill Higher Education, tr.1
9 Uỷ ban châu Âu: Green paper on copy right and related rights in the ìnformation society (Sách xanh về quyền tác giả và quyền liên quan trong xã hội thông tin), Brussels, 19-7-1995, tr.19, 20
Trang 24phạm quyền tác giả Quyền tác giả nh m khuyến khích các hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học Điều này đóng vai trò quan trọng trong việc làm giàu và phong phú nền di sản văn hóa đất nước, góp phần đáng kể vào công cuộc phát triển kinh tế, thương mại, văn hóa, giáo dục quốc gia Trên thực tế, để xác định được hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số là rất khó Hành vi là thuật ngữ khá quen thuộc trong khoa học pháp lý nói riêng và đời sống xã hội nói chung Theo từ điển tiếng Việt phổ thông, hành
vi nói chung là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài của một người, trong một hoàn cảnh cụ thể10
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay không có quy định cụ thể các đặc điểm chung để nhận diện hành vi xâm phạm quyền tác giả mà Điều 28 Luật SHTT năm 2005 liệt kê các hành vi xâm phạm quyền tác giả Tương tự với pháp luật Hoa Kỳ và Pháp, các quốc gia này cũng quy định tương tự với pháp luật Việt Nam về các hành vi xâm phạm quyền tác giả mà không đưa ra khái niệm chung
về hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số nói riêng
Pháp luật SHTT nói chung và quyền tác giả nói riêng trao cho chủ sở hữu một độc quyền có giới hạn trong việc khai thác thành quả sáng tạo của họ nh m khuyến khích các hoạt động sáng tạo, đồng thời để công chúng tiếp cận những sản phẩm trí tuệ sau khi thời hạn nắm giữ độc quyền chấm dứt11 Sự độc quyền trong khai thác quyền tác giả cho phép ngăn cấm chủ thể khác không phải là chủ
sở hữu quyền sử dụng tác phẩm được bảo hộ Lý luận về hành vi xâm phạm dựa trên sự khai thác bất hợp pháp, tức là sử dụng tài sản của người khác mà không được phép, không tôn trọng quyền của chủ sở hữu (ở đây là những quyền thuộc độc quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả12) Đặc biệt, sự phát triển của công nghệ kỹ thuật số đã tạo điều kiện cho hành vi xâm phạm quyền tác giả ngày càng quy mô và phức tạp hơn, chủ yếu là hành vi sao chép bất hợp pháp và hành
vi truyền đạt, phân phối bất hợp pháp trong môi trường kỹ thuật số
10
Viện ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng việt phổ thông, Nxb.TPHCM, tr.374
11 Nguyễn Ngọc Xuân Thảo (2013), Luật SHTT – Án lệ, lý thuyết và bài tập vận dụng, Nxb Đại
học quốc gia Tp.Hồ Chí Minh, tr.360
12 Nguyễn Bình và Nguyễn Thị Chính, Bình luận về quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam, Nxb
Tư pháp, 2005, tr.104
Trang 25Từ những phân tích trên, có thể kết luận hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số là hành vi xâm phạm đến các đối tượng được bảo hộ bởi quyền tác giả được xảy ra trong môi trường kỹ thuật số thông qua việc thực hiện các hoạt động liên quan đến các thông tin số hoá mà không có sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả
Trên cơ sở phân tích khái niệm nêu trên có thể đưa ra các đặc điểm về hành
vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số như sau:
Thứ nhất, hành vi xâm phạm quyền tác giả được thực hiện dưới dạng số
hoá thông qua các phương tiện kỹ thuật số
Với tiến bộ của khoa học công nghệ, việc truyền tải một tác phẩm đến với công chúng không chỉ giới hạn trên cách phát hành truyền thống là giấy in hay băng từ… mà có thể b ng phương tiện khác như mã hóa và phát sóng qua vệ tinh hoặc lưu trữ trên máy tính hoặc những phương tiện khác (máy ảnh kỹ thuật số, máy nghe nhạc kỹ thuật số, máy quay phim kỹ thuật số, máy scan, truyền hình kỹ thuật số, công cụ tìm kiếm trực tuyến) để công chúng có thể trực tiếp truy cập vào qua đường truyền Internet, tức là trên môi trường kỹ thuật số Sự phát triển của công nghệ mới và đặc biệt là Internet đã tạo điều kiện ra đời các hình thức trao đổi đa dạng như Mạng đồng đẳng (Peer to Peer) hoặc Bit Torrent Với sự phát triển của các công nghệ hiện đại trong môi trường Internet cho phép các cá nhân trao đổi thông tin nhanh chóng và dễ dàng hơn Tuy nhiên, việc trao đổi này không tránh khỏi các hành vi xâm phạm quyền tác giả, cụ thể thực hiện trao đổi Peer-to-peer (hay P2P) từ các máy tính cá nhân với nhau, cho phép trao đổi các
dữ liệu, tập tin trực tiếp không thông qua các server (máy chủ) Hình thức “trao đổi tay đôi” hay “trao đổi đồng đẳng” - P2P cho phép phân cấp các dịch vụ và đưa vào sử dụng các nguồn tài nguyên trong một mạng Bất kỳ nút mạng trong một mạng ngang hàng sau đó có thể đề xuất các “mặt hàng”, ví dụ như các tập tin nhạc và tiếp nhận các tập tin đó từ trên mạng Một mạng đồng đẳng đúng nghĩa không có khái niệm máy chủ và máy khách, nói cách khác, tất cả các máy tham gia đều bình đẳng và được gọi là peer, là một nút mạng đóng vai trò đồng thời là
Trang 26máy khách và máy chủ đối với các máy khác trong mạng13
Mỗi người dùng là một “đối tượng” trong mạng lưới Do đó, họ có cơ hội để chia sẻ và tải các tập tin
từ máy cá nhân của những người khác Việc phân tán các “đối tượng” này làm cho việc kiểm duyệt trở nên khó khăn hơn
Mạng P2P có thể là kết nối tại chỗ - hai máy tính nối với nhau qua cổng USB để truyền tập tin P2P cũng có thể là cơ sở hạ tầng thường trực kết nối 5, 6 máy tính với nhau trong văn phòng nhỏ b ng dây cáp Tuy nhiên, P2P có quy mô lớn nhất phải kể đến là mạng P2P dùng các giao thức và ứng dụng đặc biệt để thiết lập những mối quan hệ trực tiếp giữa những người dùng Internet Phần mềm P2P sau khi cài đặt trong máy tính s cho phép người sử dụng máy truy cập vào các tệp dữ liệu ghi trong tất cả các máy tính nối mạng trên thế giới mà không cần phải thông qua máy chủ, với điều kiện các máy tính đó cũng cài phần mềm P2P14
Cơ chế trao đổi dữ liệu này đã phát triển với tốc độ chóng mặt, bởi vì công nghệ này cho phép người truy cập internet có được các tác phẩm thuộc diện bảo hộ một cách miễn phí và không cần sự cho phép của người có bản quyền đối với tác phẩm
Sự phát triển mạnh m của mạng ngang hàng sau P2P phải kể đến chính là BitTorent15 CacheLogic ước đoán BitTorrent chiếm khoảng 35% lưu lượng trên mạng Internet Giao thức BitTorrent có thể thay thế cho máy chủ và cung cấp mạng lưới để truyền các file lớn Tốt hơn là tải 1 file từ một máy chủ (nguồn cấp) duy nhất, BitTorrent cho phép người dùng tham gia vào một cộng đồng mạng để
có thể tải lên/ tải xuống (trao đổi tệp tin) với nhau16
Thông qua tải lên tải xuống này mà bản sao được tạo ra Đây cũng được xem là hành vi tạo ra bản sao một cách trái phép phổ biến nhất hiện nay
Nguyễn Thị Tuyết (2010), “Chia sẻ dữ liệu trong môi trường Internet và vấn đề liên quan đến
quyền tác giả”, Tạp chí Luật học, số 01, tr.51
15 BitTorrent dùng để tải về những dữ liệu lớn mà không tốn chi phí máy chủ và băng thông mạng
16 “Torrent là gì? Bit torrent là gì? BTT là gì? Cơ chế hoạt động như thế nào”, tại địa chỉ
https://www.totolink.vn/article/177-btt-la-gi-bit-torrent-la-gi-co-che-hoat-dong-nhu-the-nao.html, truy cập
ngày 3/4/2020.
Trang 27Thứ hai, hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số dễ
dàng thực hiện
Trong môi trường truyền thống, muốn tạo ra nhiều bản sao tác phẩm hoặc phân phối tác phẩm cần thực hiện qua nhiều giai đoạn như: phải có cơ sở sản xuất, nguồn nhân công dồi dào, có các công cụ hỗ trợ vật lý (máy in, máy photocopy)… Điều này dẫn đến chi phí cao nhưng hiệu quả kém Còn đối với môi trường kỹ thuật số, con người chỉ cần thực hiện một vài thao tác đơn giản là
có thể tiếp cận được những tác phẩm hoặc những nội dung mong muốn Dù ở địa điểm nào, miễn tác phẩm được định dạng dưới dạng kỹ thuật số, với các công cụ
kỹ thuật số tác giả đều có thể thực hiện dễ dàng sao chép tác phẩm, phân phối hay việc cho phép người khác thực hiện độc quyền sao chép (thông qua chuyển nhượng quyền tác giả hoặc chuyển quyền sử dụng quyền tác giả) cũng trở nên đơn giản hơn thông qua mạng Internet mà không cần gặp mặt trực tiếp
Thứ ba, hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số có
tốc độ lan truyền đến công chúng rất nhanh so với môi trường truyền thống Trước đây, khi khoa học - công nghệ chưa phát triển, việc phát hành và phổ biến rộng rãi một tác phẩm mang nhiều yếu tố cộng đồng, từ người đến người hoặc một nhóm người trong phạm vi nhỏ hẹp, phải di chuyển nhiều nơi để mở rộng tầm ảnh hưởng Công việc mang tính thủ công, tốn kém nhưng hiệu quả không cao Khi hệ thống kỹ thuật số phát triển, mạng Internet toàn cầu ra đời, cho khả năng kết nối và truyền dẫn thông tin một cách ấn tượng Từ bất cứ đâu trên địa cầu, chỉ cần có kết nối Internet, một người có thể trở thành chủ thể lan truyền rộng rãi các tài liệu dạng số hóa với tốc độ cao trên phạm vi toàn cầu
Với những khả năng mà môi trường kỹ thuật số mang đến, việc khai thác các tác phẩm cho hiệu quả cao giúp tác giả công bố và phổ biến tác phẩm rộng rãi, đơn giản, nhanh chóng hơn đến công chúng, đem lại nguồn kinh tế dồi dào Cùng với sự dễ dàng, thuận tiện đó, các hành vi xâm phạm quyền tác giả ngày càng nhiều và đa dạng, nhiều cá nhân lợi dụng môi trường kỹ thuật số để trục lợi, khiến số lượng các bản sao chép tăng theo cấp số nhân với tốc độ mà môi trường truyền thống không thể mang lại
Thứ tƣ, hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số dễ
Trang 28dàng lưu trữ các tác phẩm hơn so với môi trường truyền thống
Về bản chất công nghệ kỹ thuật số có thể lưu trữ một dung lượng lớn các thông tin được số hóa và hàng năm giới hạn dung lượng đó lại được mở rộng ra rất nhiều Chưa bao giờ một khối lượng lớn thông tin lại có thể được lưu trữ trong một không gian ngày càng nhỏ như ngày nay Điều này làm cho một lượng lớn các tác phẩm được sao chép được lưu trữ rất dễ dàng Nếu như sao lưu trong môi trường truyền thống có thể dẫn đến một khả năng làm mất tác phẩm bởi đặc tính vật liệu thực tế của hình thức thể hiện tác phẩm ngay cả khi tạo ra khối lượng lớn các bản sao (có thể bởi những nguyên nhân khách quan như thiên tai, cháy, nổ,…) thì việc sao lưu bản sao tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số, ví dụ trong đĩa CD, USB đặc biệt các trang mạng điện tử có chức năng lữu trữ thông tin được xem là hình thức lưu trữ bản sao phổ biến nhất và đem lại khả năng lưu trữ vĩnh cửu
1.2 Hành vi sao chép bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số
1.2.1 Hành vi sao chép bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật
số theo pháp luật Hoa Kỳ
Môi trường kỹ thuật số đã làm thay đổi nhiều mặt trong cuộc sống h ng ngày Máy tính và Internet đem lại cho chúng ta cơ hội mới và kèm theo là những khó khăn, thách thức mới cũng như phải đặt ra các nghĩa vụ và trách nhiệm Kể
từ khi khoa học - công nghệ ngày càng trở nên phổ biến trên khắp thế giới, chính phủ, cơ quan lập pháp và tư pháp cố gắng tìm ra những hướng đi hiệu quả và đúng đắn để điều chỉnh và kiểm soát không gian mạng, đồng thời giảm thiểu sự tác động tiêu cực đến bản quyền tác giả
Luật Bản quyền Hoa Kỳ quy định các quyền tài sản được bảo hộ là “các quyền độc quyền đối với tác phẩm được bảo hộ” tại Điều 106 bao gồm:
“a.Tái bản tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả dưới dạng bản sao hoặc bản ghi; Sáng tạo các tác phẩm phái sinh trên cơ sở các tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả;
b Phân phối các bản sao và bản ghi của tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả tới công chúng thông qua việc bán hoặc các hình thức chuyển nhượng quyền sở hữu khác, hoặc thông qua việc cho thuê, cho mượn, cho mướn
Trang 29c Đối với các tác phẩm văn học, âm nhạc, sân khấu và các tác phẩm địa chí, kịch câm, tác phẩm điện ảnh hoặc các tác phẩm nghe nhìn khác, trình diễn công khai tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả;
d Đối với các tác phẩm văn học, âm nhạc, sân khấu, và các tác phẩm địa chí, kịch câm, và các tác phẩm về nghệ thuật, mỹ thuật, điêu khắc bao hàm cả những hình ảnh đơn chiếc của các tác phẩm điện ảnh hoặc các tác phẩm nghe nhìn, trình bày công khai tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả;
e Đối với bản ghi âm trình diễn công cộng tác phẩm được bảo hộ thông qua phương tiện truyền âm kỹ thuật số”17
Đồng thời, theo Điều 501 Luật Bản quyền Hoa Kỳ quy định về hành vi xâm phạm quyền tác giả như sau:
“(a) Bất kỳ người nào mà xâm phạm bất kỳ quyền độc quyền nào của chủ
sở hữu quyền tác giả như quy định tại các Điều 106 tới 118 hoặc của các tác giả như quy định tại Điều 106 A(a) hoặc người mà nhập khẩu các bản sao hoặc bản ghi vào Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ vi phạm Điều 602, là người vi phạm bản quyền hoặc quyền của tác giả, tuỳ trường hợp có thể Trong phạm vi của chương này (ngoại trừ Điều 506), bất kỳ dẫn chiếu nào đến bản quyền s được coi là bao hàm các quyền quy định tại Điều 106 A(a) Như được sử dụng trong Khoản này, thuật ngữ "bất kỳ người nào" bao hàm bất kỳ Bang, các cơ quan nhà nước của Bang, và công chức hoặc nhân viên nhà nước của Bang hoặc cơ quan quản lý nhà nước của Bang thực hiện nhiệm vụ của mình Bất kỳ Bang, và bất kỳ cơ quan quản lý nhà nước của Bang, công chức, nhân viên nhà nước nào s thuộc đối tượng điều chỉnh của các quy định của Điều luật này trong cùng phạm vi và cùng cách thức tương
tự như bất kỳ tổ chức phi Chính Phủ nào”18
Như vậy, có thể thấy pháp luật Hoa Kỳ đã quy định những hành vi mà chỉ
có chủ sở hữu quyền tác giả được thực hiện độc quyền đối với tác phẩm Bất kỳ chủ thể nào (tiểu bang, công chức, viên chức, nhân viên nhà nước hoặc các cá nhân, tổ chức khác) có những hành vi xâm phạm thuộc nhóm các hành vi nói trên
Trang 30(tái bản dưới dạng bản sao hoặc bản ghi; phân phối; trình diễn hoặc trình bày công khai tác phẩm) thì được xem là xâm phạm quyền tác giả Cách quy định này không chỉ điều chỉnh những hành vi xâm phạm đã tồn tại trên thực tế mà còn cả các hành vi có thể xảy ra trong tương lai Bất kỳ tác phẩm nào được tái bản dưới dạng bản sao thì được xem là hành vi sao chép bất hợp pháp tác phẩm
Ngoài ra, Điều 101 Luật bản quyền Hoa Kỳ định nghĩa “bản sao” như sau:
“Bản sao là một dạng vật liệu (không phải là một bản ghi), trên đó tác phẩm được định hình b ng bất kỳ một phương tiện nào đã được biết hoặc s phát triển trong tương lai và từ dạng vật liệu đó tác phẩm có thể được cảm nhận, tái bản hoặc phổ biến, hoặc là trực tiếp hoặc là với sự trợ giúp của máy móc, thiết bị Thuật ngữ
“bản sao” bao hàm dạng vật liệu, mà không phải là một bản ghi, trên đó tác phẩm được định hình lần đầu19
”
Như vậy, định nghĩa “bản sao” của Hoa Kỳ khá trừu tượng Hiểu một cách ngắn gọn, thuật ngữ “bản sao” bao hàm dạng vật liệu, mà không phải là một bản ghi, trên đó tác phẩm được định hình lần đầu b ng bất kỳ một phương tiện nào, trong đó có phương tiện kỹ thuật số Liên quan đến ngoại lệ và giới hạn quyền tác giả, Điều 107 Luật Bản quyền Hoa Kỳ nêu ra những hạn chế và ngoại lệ cụ thể đối với hành vi sao chép mà không cần phải có sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả:
“ Điều 107: Hạn chế đối với các quyền độc quyền: sử dụng hợp lý
Không trái với các quy định tại Điều 106 và 106A, sử dụng được phép một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả bao gồm các hình thức sử dụng thông qua hình thức sao chép dưới dạng bản sao hoặc bản ghi hoặc bởi bất kỳ một phương thức nào được quy định trong Điều này cho mục đích bình luận, phê bình, đưa tin hoặc giảng dạy (bao hàm cả việc sử dụng nhiều bản sao cho lớp học), nghiên cứu, học tập là không vi phạm quyền tác giả Để xác định xem liệu việc sử dụng tác phẩm trong các trường hợp cụ thể có phải là sử dụng được phép hay không cần xem xét các nhân tố sau:
(1) Mục đích và đặc điểm của việc sử dụng, bao gồm việc sử dụng đó có
19 Tuấn Tâm, Lê Hoài Dương, tlđd (17), tr.14
Trang 31tính chất thương mại không hay là chỉ nh m mục đích giáo dục phi lợi nhuận; (2) Bản chất của tác phẩm được bảo hộ;
(3) Số lượng và thực chất của phần được sử dụng trong tác phẩm được bảo
Do đó, để xác định một hành vi sao chép có được xem là hành vi xâm phạm quyền tác giả, cần phải cân nhắc và xem xét trên 4 yếu tố: (1) Mục đích và tính chất của việc sử dụng, trong đó xem xét liệu việc sử dụng nh m mục đích thương mại hay là nh m mục đích giáo dục phi lợi nhuận; (2) Tính chất của tác phẩm được bảo hộ; (3) Số lượng và chất lượng của phần đã được sử dụng trong tác phẩm; (4) Tác động của việc sử dụng đó đến thị trường tiềm năng hoặc giá trị của tác phẩm được bảo hộ Pháp luật Hoa Kỳ cũng đặt ra ngoại lệ nếu hành vi sao chép được thực hiện trong môi trường kỹ thuật số nh m mục đích bình luận, phê bình, đưa tin hoặc giảng dạy, nghiên cứu học tập thì hành vi này không xâm phạm bản quyền
Tại Hoa Kỳ, điển hình là Án lệ A&M Records, Inc v Napster21
, Inc (ngày 9/9/2001) Trong đó Nguyên đơn là Công ty A&M sản xuất âm nhạc, bị đơn là công ty Napster chuyên thiết kế và vận hành tệp ngang ngang hàng (P2P) cho phép người sử dụng mạng có thể tìm kiếm, truy cập và tải xuống các bản nhạc dưới dạng Mp3 vào máy tính của họ Nguyên đơn đã kiện bị đơn vì Napster có được các tác phẩm có bản quyền từ các máy tính nối mạng của nhau mà không có
sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả Thông qua một máy chủ trung tâm,
Trang 32https://web.archive.org/web/20200531145508/https:/onlinelaw.wustl.edu/blog/case-study-am-records-inc-những người sử dụng mạng khác có thể truy cập và tải bản nhạc này trực tiếp từ máy tính của người khác mà không cần phải thông qua hệ thống trung tâm Hệ thống này của Napster đã phải đối mặt đơn kiện của công ty công nghiệp âm nhạc A&M về hành vi xâm phạm quyền tác giả với lập luận r ng người sử dụng mạng Napster đã trực tiếp xâm phạm đến bản quyền tác giả và Napster phải có trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm của những người sử dụng này
Toà án phúc thẩm San Francisco đã xem xét 4 yếu tố của Điều 107 về nguyên tắc sử dụng hợp lý:
- Mục đích và đặc tính sử dụng: Hành vi tải tệp mp3 xuống không làm biến đổi mục đích và đặc tính sử dụng Napster đã thông qua phần mềm peer to peer
để tạo ra các bản sao trước khi người dùng mua Toà án xem đó là hành vi sử dụng nh m mục đích kinh doanh nếu người sử dụng phần mềm đó đem đi bán
- Bản chất tác phẩm được bảo hộ: các bài hát có bản chất giống với các tác phẩm được bảo hộ
- Hành vi của Napster gây ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường kinh doanh âm nhạc của công ty A&M, đồng thời cũng gây nguy hiểm cho tương lai của ngành công nghiệp thu âm trong thị trường kỹ thuật số
Ngoài việc căn cứ vào nguyên tắc sử dụng hợp lý, Toà án còn dựa vào Học thuyết “Trách nhiệm gián tiếp (Vicarious liability)” Tuy Napster không có trực tiếp thực hiện việc tải xuống các tệp nhưng Napster có quyền và có khả năng giám sát người xâm phạm trực tiếp và cũng có lợi ích trực tiếp từ hoạt động của người xâm phạm Theo đó, Toà án đã đưa ra phán quyết r ng Napster và những người sử dụng Internet là những đồng phạm trong việc vi phạm quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc bởi vì công ty này hoàn toàn có khả năng và có quyền kiểm tra hành vi xâm phạm của người sử dụng Internet và hơn nữa họ có lợi ích kinh tế trực tiếp để làm như vậy, đồng thời yêu cầu Napster phải chấm dứt hành
vi trao đổi âm nhạc ghi dưới dạng Napster
Qua việc nghiên cứu các quy định của pháp luật Hoa Kỳ và phân tích bản
án, để xác định một hành vi xâm phạm quyền tác giả phải chứng minh hành vi đó
vi phạm các quyền độc quyền của chủ sở hữu quyền tác giả và các nguyên tắc sử dụng hợp lý tại Điều 106 và Điều 107 Luật Bản quyền Hoa Kỳ Đồng thời, pháp
Trang 33luật Hoa Kỳ cũng rất đề cao trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ và xem đây là trách nhiệm gián tiếp Theo Hoa Kỳ, Học thuyết Trách nhiệm gián tiếp, nhà cung cấp dịch vụ có khả năng trở thành bị đơn trong các tranh chấp về hành vi xâm phạm quyền tác giả bởi họ được cho là xâm phạm gián tiếp hay đóng góp vào hành vi xâm phạm22 Học thuyết này được áp dụng khi bị đơn có quyền và có khả năng kiểm soát, giám sát người xâm phạm trực tiếp và cũng có lợi ích tài chính trực tiếp trong các hoạt động của người xâm phạm Việc quy định trách nhiệm gián tiếp này đã tạo động lực mạnh m trong việc theo d i và ngăn ngừa các hành
vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số
Bên cạnh đó, khi nghiên cứu về hành vi sao chép trong môi trường kỹ thuật
số, thuật ngữ “bản sao” của Hoa Kỳ đặt ra vấn đề về việc phiên bản dữ liệu được truyền tải qua RAM23
có được coi là bản sao hay không
Thứ nhất, dưới góc độ kỹ thuật, tùy thuộc vào giao thức truyền dẫn tín
hiệu, một dữ liệu lớn có thể được chia thành nhiều gói tin nhỏ với kích thước có thể chỉ là vài byte đi qua và tồn tại ở RAM trong một thời điểm Ví dụ, trong truyền phát tín hiệu, một máy trạm trung gian chỉ nhận được một vài gói dữ liệu trên tổng thể cả dữ liệu lớn, còn những gói khác cùng lúc s được chuyển qua rất nhiều những đường khác để cuối cùng tập hợp và giải mã ở thiết bị đích Do đó, một phần rời rạc các gói tin của dữ liệu n m trên RAM của máy trung gian này, đồng thời những gói tin khác tồn tại trên RAM của các máy trạm trung gian khác Việc chỉ tìm thấy một phần riêng lẻ không đầy đủ, thậm chí đã được mã hóa của một dữ liệu lớn trên một RAM duy nhất vào một thời điểm khó có thể được xem
là một bản sao
Ngoài ra, các phiên bản của dữ liệu được lưu trên RAM s không thể tồn tại
ổn định đủ lâu được xem là một bản sao Các dữ liệu trong RAM s biến mất hoàn toàn khi tắt máy, thậm chí ngay cả khi máy tính vẫn đang hoạt động, dữ liệu trên các RAM động s luôn được làm mới để có thể tồn tại ở trạng thái đọc khiến cho dữ liệu luôn biến động trên mọi phương diện
Trang 34Thứ hai, dưới góc độ pháp lý, Luật bản quyền 1976 định nghĩa một tác
phẩm là “được định hình b ng một trung gian hữu hình dưới dạng bản sao hoặc bản ghi âm, bởi tác giả hoặc dưới sự cho phép của tác giả, và phải tồn tại đủ lâu hoặc đủ ổn định để có thể được tiếp nhận, sao chép, hoặc truyền đạt trong khoảng thời gian dài hơn thời gian truyền tải” Như vậy, định nghĩa “định hình” trong luật này s loại trừ ra những trường hợp các dữ liệu được sao chép tạm thời và tồn tại trong một thời gian ngắn như phiên bản được lưu trong bộ nhớ RAM của máy tính Vì vậy, phiên bản dữ liệu tạm thời được lưu trong RAM không đủ điều kiện
để được coi là bản sao
1.2.2 Hành vi sao chép bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật
số theo pháp luật Pháp
Khi nghiên cứu về hành vi sao chép tác phẩm, Bộ luật về sở hữu trí tuệ của Pháp (Intellectual Property Code of French) không đưa ra định nghĩa về “sao chép” Tuy nhiên, Điều L335-3 Bộ luật về sở hữu trí tuệ của Pháp quy định:
“Việc sao chép hoặc phổ biến tác phẩm trí tuệ trái với quyền của tác giả thì bị coi
là hành vi xâm phạm quyền tác giả” Như vậy, hành vi sao chép mà trái với quyền tác giả hay nói cách khác hành vi sao chép bất hợp pháp thì được xem là hành vi xâm phạm quyền tác giả
Ngoài ra, Điều L122-5 Bộ luật về quyền sở hữu trí tuệ của Pháp cũng quy định về trường hợp ngoại lệ đối với hành vi sao chép như sau:
“1 mang tính chất cá nhân, không vì mục đích lợi nhuận và được sử dụng trong phạm vi gia đình;
2 bản sao hoặc tái bản dành riêng cho việc sử dụng của người sao chép và không sử dụng cho mục đích tập thể, ngoại trừ các bản sao tác phẩm nghệ thuật được sử dụng cho mục đích mà giống hệt với những tác phẩm gốc mà chúng được tạo ra và cũng được áp dụng tương tự với cơ sở dữ liệu điện tử;
3 có để tên tác giả và trích dẫn nguồn r ràng thì được phép phân tích, trích dẫn ngắn của công trình, báo chí, một bài phát biểu công khai như tin tức;
4 tác phẩm chế lại, nhái lại, tranh biếm hoạ nh m mục đích hài hước;
5 những hành động cần thiết để truy cập vào nội dung cơ sở dữ liệu điện tử
Trang 35cho mục đích và trong phạm vi sử dụng được cung cấp bởi hợp đồng”24
Nếu một hành vi sao chép thuộc vào một trong năm ngoại lệ trên thì không được xem là hành vi xâm phạm quyền tác giả Đồng thời, pháp luật Pháp cũng quy định ngoại lệ của hành vi sao chép trong môi trường kỹ thuật số cũng được
áp dụng tương tự với môi trường truyền thống
Bản án Mulholand Drive liên quan đến sao chép sử dụng vào mục đích cá nhân và các biện pháp bảo hộ:
Nguyên đơn: Stéphane P đã mua đĩa DVD bộ phim “Mulholand Drive” và
anh ấy đã nhận thấy r ng không thể sao chép ra một bản khác để tặng cho cha Anh ta đã kiện nhà sản xuất và nhà phân phối phim theo Điều L.122-5 Bộ luật sở hữu trí tuệ cho phép sao chép để sử dụng vào mục đích cá nhân Bị đơn đã phản kháng lại r ng đĩa gốc đã cài một số biện pháp chống sao chép (MTP)25
5 acts necessary to access the contents of an electronic database for the purposes of and within the limits
of the use provided by contract.”- Intellectual Property Code, www.legifrance.gouv.fr › content › location, truy cập ngày 25/7/2020.
25 Nguyên văn: “the plaintiff, St´ephane P., had purchased the DVD of David Lynch‟s picture Mulholland Drive and realised he could not copy the film on to a VHS cassette and so could not watch the film at his mother‟s house He sued the production company and distributor, alleging (1) that Art.L.122-5 of the IP Code entitled him to copy the DVD, and (2) that the defendants had failed to inform him of the existence
of anti-copy measures on the DVD in question, in violation of Art.L.111-1 of the Consumer Code.”- French Copyright Law Reform: French Supreme Court Upholds Legality of DVD Anti-Copy Measures,
Trang 36Toà án sơ thẩm thẩm quyền rộng Paris: đã bác yêu cầu với lý do: việc sao
chép để sử dụng vào mục đích cá nhân là một ngoại lệ, chứ không phải là một quyền dành cho người sử dụng Toà án cũng cho r ng chính việc sao chép tác phẩm điện ảnh ghi trên phương tiện số hoá là hành vi xâm hại quyền khai thác tác
phẩm đó
Toà phúc thẩm Paris, Phân toà số 4, Ban B, ngày 22.04.2005: đã thụ lý yêu
cầu của người mua đĩa DVD, căn cứ vào cách đánh giá vấn đề sao chép để sử dụng riêng theo quy định tại các điều ước quốc tế và văn bản của Liên minh Châu
Âu Theo cách đánh giá đó, thì các ngoại lệ đối với quyền tác giả phải đáp ứng ba
điều kiện:
Ba điều kiện này thường được gọi là “phương pháp ba bước thử” được đưa
ra trên sự cân b ng giữa các lợi ích (tác giả/chủ thể quyền, công chúng/người tiêu dùng, ngành công nghiệp văn hoá) Theo những điều kiện đó thì những ngoại lệ đối với quyền sao chép tác phẩm phải không làm phương hại đến “việc khai thác tác phẩm một cách bình thường, không gây ra thiệt hại bất hợp lý đối với quyền lợi chính đáng của chủ thể quyền”26
Toà án tư pháp tối cao: đã bác bản án phúc thẩm, đồng thời đưa ra cách giải
thích tương đối khác về pháp luật thực định Cụ thể, Toà án Tối cao đã bác bỏ bản án phúc thẩm, căn cứ vào Điều L.122-5 và L.211-3 Bộ luật về sở hữu trí tuệ của Pháp Toà án tối cao đã giải thích hai điều luật này dựa trên các quy định của Điều ước quốc tế nêu trên và cho r ng hành vi xâm hại đến quyền khai thác bình thường tác phẩm phải được đánh giá trên cơ sở xem xét “những nguy cơ gắn liền với môi trường kỹ thuật số mới” Như vậy là bản án phúc thẩm đã bị bác do Toà
https://www.hoganlovells.com/~/media/hogan-lovells/pdf/publication/frenchcopyright062006_pdf.pdf,
truy cập ngày 24/7/2020.
26
Nguyên văn: “The three-step test provides that exceptions to droit d‟auteur are to apply only (1)
in special cases (2) which do not impair the normal exploitation of the work or other protected device and (3) which do not cause unjustified harm to the legitimate interests of the right holder.”- French Copyright Law Reform: French Supreme Court Upholds Legality of DVD Anti-Copy Measures, https://www.hoganlovells.com/~/media/hogan-lovells/pdf/publication/frenchcopyright062006_pdf.pdf,
truy cập ngày 24/7/2020
Trang 37án phúc thẩm chưa xem xét đến môi trường kinh tế mới mà kỹ thuật số tạo ra27
Qua quá trình xét xử Toà án các cấp tại Pháp, Toà án phúc thẩm Paris, Phân toà số 4, Ban A, ngày 4.04.2007 cho r ng Nguyên đơn đưa ra ngoại lệ về việc sử dụng nh m mục đích cá nhân chưa thực sự thuyết phục vì ngoại lệ này chỉ có thể được sử dụng làm căn cứ để bào chữa (đặc biệt là khi bị truy tố về tội xâm phạm quyền tác giả) chứ không thể cấu thành một quyền chủ quan để viện dẫn làm căn
cứ cho một yêu cầu chính, ngay cả khi các điều kiện luật định đã hội tụ đầy đủ và ngay cả khi người sao chép đã trả một khoản tiền (tiền thuế đánh vào các đĩa trắng) cho việc sao chép cá nhân Có thể nhận thấy, lập luận của Toà án Tư pháp tối cao khá thuyết phục khi nhận định r ng không xem xét đến tiêu chí kinh tế mà chỉ căn cứ vào tính chất pháp lý của quy định ngoại lệ để giải quyết vụ việc
1.2.3 Hành vi sao chép bất hợp pháp tác phẩm trong môi trường kỹ thuật
số theo pháp luật Việt Nam
Trong môi trường kỹ thuật số, quyền tác giả được thực hiện một cách thuận lợi, dễ dàng nên các hành vi xâm phạm quyền tác giả cũng được thực hiện nhanh chóng dựa trên nhiều cách thức khác nhau Theo Điều 28 Luật SHTT năm 2009
và Điều 7 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP, các hành vi xâm phạm quyền tác giả được quy định khá chi tiết, bao gồm nhiều hành vi khác nhau, theo đó có những hành vi xâm phạm quyền tác giả nói chung và những hành vi được xem là đặc trưng cho việc xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số Một trong những hành vi đặc trưng và phổ biến nhất trong lĩnh vực quyền tác giả nói riêng hay sở hữu trí tuệ nói chung chính là hành vi “sao chép” Theo Từ điển tiếng Việt
27
Nguyên văn: “The court‟s ruling clarifies application of the three-step test to DVDs, which will help guide future decisions of the „„Mediation Committee‟‟ that the French legislature wants to create to deal with private copy disputes The court construed Art.L.122-5 of the French IP Code „„in light of the [D]irective.‟‟ The court was able to interpret French law „„in light of‟‟ the Directive, and to apply the Directive‟s three-step test directly, pursuant to the theory of „„compliant interpretation‟‟ (th´eorie de l‟interpr´etation conforme) This legal theory requires Member State courts to interpret provisions of national law in a way that would make them consistent with the clear and unambiguous provisions of a Directive.” - French Copyright Law Reform: French Supreme Court Upholds Legality of DVD Anti-Copy Measures, https://www.hoganlovells.com/~/media/hogan-
lovells/pdf/publication/frenchcopyright062006_pdf.pdf, truy cập ngày 24/7/2020.
Trang 38phổ thông, sao chép là chép lại nguyên văn bản chính28
Với tư cách là phạm trù
pháp lý, sao chép được hiểu là “việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm
hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm
cả việc tạo bản sao dưới hình thức điện tử”29
Việc sao chép có thể được tiến hành một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Sao chép dưới dạng trực tiếp nghĩa là việc tạo ra bản sao từ chính các tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình được quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị định số 22/2018/NĐ-
CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm
2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan (gọi tắt là Nghị định số 22/2018/NĐ-CP) Sao chép dưới dạng gián tiếp nghĩa là việc tạo ra các bản sao khác không từ chính các tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, như sao chép từ mạng thông tin điện tử, chương trình phát sóng, dịch vụ mạng bưu chính viễn thông liên quan và các hình thức tương tự khác30 Song song với khái niệm sao chép là quyền sao chép được pháp luật cho phép Theo đó, quyền sao chép là khả năng được pháp luật thừa nhận đối với việc
sử dụng tác phẩm dưới hình thức thể hiện ban đầu hoặc hình thức thể hiện khác
so với hình thức thể hiện ban đầu của các tác phẩm thông qua việc tái tạo lại tác phẩm trên bất kỳ phương tiện nào cho phép chuyển và nhận một hoặc nhiều hơn bản sao tác phẩm hoặc một phần tác phẩm31
Quy định trên của pháp luật Việt Nam điều chỉnh quyền sao chép trong môi trường truyền thống như trong môi trường kỹ thuật số và phù hợp với các Điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên như Công ước Berne và WPPT32 Quyền sao chép tác phẩm là một trong các quyền tài sản độc quyền thuộc quyền tác giả, do chủ sở hữu thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện Tính chất độc quyền của quyền sao chép tác phẩm thể hiện khía cạnh tôn trọng giá trị tác phẩm mà tác giả đã bỏ công
28 Nguyễn Lân (2000), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb Tp.HCM, tr.1558
29 Khoản 10 Điều 4 Luật SHTT
30 Khoản 2 Điều 29 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP
31
Nguyễn Thị Quế Anh (2016), “Một số vấn đề lý luận về quyền sao chép và đánh giá sự tương
thích giữa các quy định về quyền sao chép trong TPP và Luật SHTT Việt Nam”, Kỷ yếu hội thảo khoa học
quốc gia về thực thi các cam kết pháp lý của Việt Nam trong các hiệp định thương mại tự do FTAs và vấn
đề bảo vệ quyền sao chép trong bối cảnh hội nhập, tr.6
32 Điều 9 Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học (Công ước Berne)
Trang 39sức lao động, trí tuệ, chất xám của mình để tạo ra Quyền sao chép tác phẩm được
ghi nhận tại khoản 2 Điều 20 Luật SHTT năm 2005 quy định: “các quyền quy
định tại khoản 1 Điều này do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện theo đúng quy định của Luật này” và
khoản 2 Điều 21 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật SHTT năm 2009 về quyền tác giả:“khoản 2 Điều 23 được sửa đổi
như sau: 2 Quyền sao chép tác phẩm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 20 của Luật Sở hữu trí tuệ là một trong các quyền tài sản độc quyền thuộc quyền tác giả,
do chủ sở hữu thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra bản sao tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo ra bản sao dưới hình thức điện tử”
Hành vi sao chép tác phẩm đã được phổ biến từ lâu đời thông qua việc phát triển của công nghệ in ấn Cụ thể, vào khoảng năm 1440, máy in được phát minh
và các bản sao chép lại của một tác phẩm bắt đầu được sản xuất ở số lượng lớn một cách dễ dàng hơn Đến nay, môi trường kỹ thuật số phát triển vượt bậc dẫn đến việc thực hiện hành vi này ngày một tinh vi, khó kiểm soát Việc sao chép trái phép tác phẩm s làm tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả mất lợi nhuận từ việc khai thác tác phẩm Theo đó, hành vi sao chép tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số có những đặc điểm cụ thể như sau:
Thứ nhất, hành vi sao chép tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số dễ dàng
thực hiện, không làm mất quyền truy cập đối với bản gốc và tạo ra bản sao số lượng lớn đến công chúng
Trong môi trường truyền thống, để tạo ra bản sao của một tác phẩm văn học, chúng ta s phải sử dụng các phương pháp in ấn Một bản sao tạo ra cần phải trải qua những quy trình công đoạn nhất định Khi một quyển sách được cho đi thì người cho s bị mất quyền truy cập đối với quyển sách đó So sánh với công nghệ kỹ thuật trước đây, môi trường kỹ thuật số đem lại khả năng rút gọn về mặt thời gian chỉ tính b ng phần trăm giây đối với khả năng sao chép tác phẩm Mặt khác, một cuốn sách kỹ thuật số được tặng hoặc cho đi thì tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả vẫn giữ một bản sao giống hệt bản gốc
Một tác phẩm khi đã được số hóa có thể sao chép một cách dễ dàng, nhanh
Trang 40chóng, chi phí thấp mà chất lượng vẫn bảo đảm Từ một bản sao chép ban đầu lại tiếp tục được sao chép thành nhiều bản sao khác mà vẫn giữ nguyên chất lượng
và có thể đáp ứng được nhu cầu của hàng triệu người trên thế giới Tận dụng môi trường kỹ thuật số để cho ra số bản sao với số lượng lớn, trong khoảng thời gian rất ngắn không chỉ tiết kiệm về mặt chi phí cho tác giả so với phương pháp truyền thống, mà còn tạo ra tiềm năng phát triển trong việc khai thác tác phẩm
Thứ hai, bản sao tác phẩm được tạo ra một cách trái phép theo điểm a
khoản 1 Điều 7 Nghị định số 105/2006/NĐ-CP Đây được xác định là là yếu tố
xâm phạm được tạo ra từ hành vi xâm phạm quyền sao chép: “sao chép tác phẩm
mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả” Có thể thấy luật
không quy định hay hướng dẫn cụ thể bản sao được tạo ra như thế nào là bản sao tạo ra một cách trái phép Điều này có thể chấp nhận được khi xét đến sao chép trong môi trường kỹ thuật số Bởi không dễ để xác định được hết các phương thức tạo ra một bản sao trong môi trường kỹ thuật số Do đó, việc đánh giá bản sao được tạo ra một cách trái phép cần căn cứ vào từng trường hợp cụ thể trên thực tế
+ Một là, bản sao kỹ thuật số được tạo ra trên cơ sở các hình thức vật chất
cụ thể nhất định thông qua phương tiện kỹ thuật số Đó có thể là từ một quyển sách, thông qua máy scan, hoặc máy ảnh kỹ thuật số, đã có thể tạo ra bản sao kỹ thuật số được định dạng dưới các file kỹ thuật số có định dạng pdf hoặc img, jpg,
…Hành vi này cũng được xem là yếu tố xâm phạm nếu chưa được sự cho phép của chủ sở hữu quyền tác giả
+ Hai là, bản sao kỹ thuật số được tạo ra trên cơ sở tác phẩm được sáng tạo
định hình trên dạng kỹ thuật số Việc tạo ra bản sao có thể đơn giản hơn nếu tác giả sáng tạo ra tác phẩm trong môi trường kỹ thuật số, hoặc tác phẩm đã được đưa vào môi trường kỹ thuật số Môi trường kỹ thuật số là một môi trường phức tạp bởi nó có thể dễ dàng tạo ra bản sao, nhưng không phải mọi bản sao tạo ra được xem là tạo ra một cách trái phép Máy tính của chúng ta s tự động tạo ra các bản sao theo một số cách khác nhau khi chúng ta truy cập Internet Ronald B Standler giải thích r ng bản sao được tạo ra ít nhất b ng bốn cách khác nhau khi chúng ta truy cập Internet
(i) hành động xem một trang web trên Internet tự động tạo ra một bản sao,