1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Che dinh huong QT VN

65 209 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 630 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề hưởng quốc tịch theo Luật quốc tịch Việt Nam trong giai đoạn hội nhập hiện nay đang là vấn đề hết sức quan trọng trong đời sống xã hội. Luận văn Pháp luật Việt Nam về vấn đề hưởng quốc tịch sẽ cung cấp cho các bạn nguồn tài liệu cho các bạn ngành luật tham khảo.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Quốc tịch là một chế định pháp lý thể hiện sự ràng buộc giữa một cá nhân – gọi là công dân với một quốc gia mà cá nhân đó mang quốc tịch Pháp luật về quốc tịch luôn giữ vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia Ngày nay, trước sự hòa nhập quốc tế, trước các mối quan hệ qua lại giữa các quốc gia và để bảo vệ chủ quyền của mình, các nước ngày càng quan tâm đến việc hoàn thiện pháp luật về quốc tịch của mình bởi quốc tịch là một trong những yếu tố để phân định rõ địa vị pháp lý của mỗi cá nhân tồn tại trên cùng một lãnh thổ, một người có quốc tịch của quốc gia sở tại sẽ khác

về quyền và nghĩa vụ so với người có quốc tịch nước ngoài hay người không quốc tịch

Nếu quyền và nghĩa vụ là chế định trung tâm của luật Hiến pháp về địa vị pháp lý của công dân thì quốc tịch có tính chất tiền đề, có ý nghĩa quyết định Chỉ trên cơ sở xác định được quốc tịch của một cá nhân mới có thể xác định đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân của họ, bởi lẻ không phải bất kỳ ai cũng là công dân của Nhà nước mà hiện tại họ đang sinh sống Quốc tịch của một người, được gọi là công dân của một Nhà nước

là yếu tố cơ bản để xác định người đó có được hưởng các quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ do pháp luật của Nhà nước đó quy định, đồng thời phải chịu sự chi phối và quản lý mọi mặt của Nhà nước Có thể nói, quyền và nghĩa vụ của công dân chịu sự chi phối của Nhà nước mà người đó mang quốc tịch

Một cá nhân sẽ mang quốc tịch của một Nhà nước kể từ khi cá nhân đó được sinh

ra, nhưng việc xác lập quốc tịch cho một cá nhân phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhất định, phải tuân thủ các quy định của Nhà nước mà cá nhân đó mang quốc tịch

Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, việc hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về quốc tịch là một yêu cầu cấp thiết Chính vì vậy, các quốc gia trên thế giới đã không ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về các vấn đề quốc tịch của quốc gia mình Xuất phát từ mục đích, lợi ích, tính chất giai cấp mà pháp luật của các nước quy định về quốc tịch khác nhau Việc nhà nước ban hành pháp luật về quốc tịch là biểu hiện cụ thể của chính quyền quốc gia, mang ý nghĩa chính trị - xã hội to lớn cả về mặt đối nội và đối ngoại

Trong bối cảnh ở nước ta hiện nay, tình hình hội nhập quốc tế, đặc biệt là vấn đề giao lưu kinh tế, văn hóa giữa Việt Nam và các nước, nhu cầu nghiên cứu và tìm hiểu những quy định về quốc tịch đối với công dân vô cùng cần thiết và cấp bách Nhất là tìm hiểu về luật quốc tịch, những quy định về vấn đề hưởng quốc tịch của luật quốc tịch để thực hiện đúng, triển khai áp dụng phù hợp với điều kiện thực tiễn ở nước ta hiện nay

Trang 2

Chính vì những lý do trên, người viết đã chọn đề tài: “Pháp luật Việt Nam về vấn

đề hưởng quốc tịch” để làm đề tài nghiên cứu tốt nghiệp Cử nhân ngành luật của mình.

2 Phạm vi nghiên cứu

Với đề tài: “Pháp luật Việt Nam về vấn đề hưởng quốc tịch” người viết tìm hiểu

khái quát chung về quốc tịch và hưởng quốc tịch như khái niệm, đặc điểm; căn cứ và điều kiện hưởng quốc tịch; vai trò, ý nghĩa, sự hình thành và phát triển của vấn đề hưởng quốc tịch Bên cạnh đó, người viết phân tích quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về vấn đề hưởng quốc tịch do sinh ra theo nguyên tắc quyết thống, nguyên tắc nơi sinh, hưởng quốc tịch theo sự gia nhập gồm điều kiện, miễn điều kiện được nhập quốc tịch, hồ

sơ, trình tự thủ tục giải quyết Người viết còn phân tích các vấn đề về hưởng quốc tịch do được trở lại quốc tịch gồm các trường hợp được trở lại, hồ sơ, trình tự thủ tục giải quyết, hưởng quốc tịch theo sự lựa chọn và theo điều luật quốc tế Đồng thời người viết còn tìm hiểu về thực trạng và đưa ra một số giải pháp góp phần hoàn thiện hơn về vấn đề hưởng quốc tịch ở Việt Nam

3 Mục đích nghiên cứu

Hiện nay, do nhu cầu phát triển của xã hội, việc giao lưu kinh tế, văn hóa, chính trị giữa công dân các nước ngày một là nhu cầu cần thiết và cấp bách, vì vậy việc tìm hiểu những quy định về quốc tịch của công dân mà cụ thể là luật quốc tịch rất cần thiết Do đó, mục đích nghiên cứu đề tài là nhằm tìm hiểu những quy định của luật quốc tịch và vấn đề hưởng quốc tịch của luật quốc tịch Việt Nam cũng như những phát sinh trong thực tiễn

áp dụng luật Từ đó, giúp cho bản thân cũng như mọi đối tượng trong xã hội nhận thức một cách tương đối đầy đủ về các vấn đề về quốc tịch Qua đó, đề xuất mốt số giải pháp nhằm từng bước hoàn thiện các quy định về chế định hưởng quốc tịch của luật quốc tịch

để tháo gỡ những khó khăn trong việc áp dụng luật quốc tịch

4 Phương pháp nghiên cứu

Bằng phương pháp nghiên cứu chủ yếu là so sánh, tổng hợp, đối chiếu, phân tích luật viết Từ đó cho chúng ta có thể hiểu hơn những quy định của luật quốc tịch, cũng như những khó khăn khi áp dụng trong thực tế, bên cạnh đó đề ra những giải pháp để hoàn thiện luật quốc tịch

5 Bố cục đề tài

Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu đề tài gồm hai chương:

Chương 1: Khái quát chung về vấn đề hưởng quốc tịch;

Chương 2: Pháp luật Việt Nam về vấn đề hưởng quốc tịch – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

Trang 3

Luận văn là công trình nghiên cứu của bản thân, bên cạnh đó người viết cũng nhận được sự giúp đỡ của thầy cô, bạn bè Trong quá trình nghiên cứu dù đã tìm hiểu và làm việc rất tích cực, trên tinh thần cầu thị nhưng do điều kiện nghiên cứu và kiến thức bản thân về lĩnh vực nghiên cứu còn giới hạn nên không tránh khỏi thiếu sót Nhưng với những gì đã thực hiện tôi hy vọng đề tài của mình sẽ là nguồn tài liệu cho những ai quan tâm và yêu thích về lĩnh vực này.

Cuối cùng, người viết mong nhận được sự đóng góp của thầy cô, bạn bè để cho đề tài hoàn thiện hơn

Trang 4

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUỐC TỊCH VÀ LUẬT QUỐC TỊCH

1.1 Khái niệm và đặc điểm về quốc tịch

1.1.1 Khái niệm quốc tịch

Quốc tịch có quan hệ khắng khít, không tách rời với Nhà nước Sự ra đời và tồn tại của Nhà nước quyết định sự ra đời và tồn tại của quốc tịch; sự ra đời và tồn tại của quốc tịch phản ánh sự ra đời và tồn tại của Nhà nước Nguyên nhân làm quốc tịch xuất hiện là quá trình vận động xã hội, mà kết quả của sự vận động đó là sự xuất hiện của chính quyền Nhà nước Khi thiết lập được chính quyền Nhà nước giai cấp thống trị mới ban hành pháp luật về quốc tịch nhằm điều chỉnh mối quan hệ của Nhà nước mình với các cá nhân sống trên lãnh thổ của Nhà nước Người ta chỉ có thể nói về một Nhà nước khi quyền lực chính trị bao trùm lên một lãnh thổ nhất định và những cá nhân sống trên lãnh thổ đó Học thuyết Mác- Lênin về Nhà nước và pháp luật đã coi sự phân chia dân cư theo lãnh thổ là một trong những đặc trưng cơ bản của Nhà nước mình, chịu sự quản lý về mọi mặt của Nhà nước và được Nhà nước bảo vệ trước sự can thiệp của Nhà nước khác Ngay

khi nghiên cứu sự ra đời của nhà nước Aten, Enghen đã chỉ rõ “bây giờ, cái có ý nghĩa

quyết định không phải là việc thuộc về những tập đoàn cùng dòng máu nào, mà là địa điểm cư trú, người ta không phải phân chia nhân dân, mà là phân chia địa vực, về phương tiện chính trị, dân cư đã đơn thuần trở thành một phần thuộc về địa vực”.

Như vậy, khi một chính quyền Nhà nước được thành lập sẽ làm xuất hiện mối quan hệ pháp lý – chính trị giữa chính quyền Nhà nước và các cá nhân đang sống trên lãnh thổ của chính quyền Nhà nước đó Mối quan hệ pháp lý – chính trị này được hình thành một cách tự động và trực tiếp với sự thiết lập chính quyền Nhà nước Khi Nhà nước xuất hiện thì quốc tịch cũng xuất hiện một cách tự nhiên Không có Nhà nước thì không có quốc tịch và ngược lại, không có quốc tịch nào xuất hiện và tồn tại nếu không

có Nhà nước Chỉ có sự ra đời của Nhà nước mới làm xuất hiện quốc tịch, chứ tuyệt nhiên không phải là pháp luật về quốc tịch tạo ra quốc tịch Pháp luật về quốc tịch chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội xung quanh vấn đề quốc tịch, thể chế hóa quốc tịch mà thôi Có thể hiểu rằng, quốc tịch ra đời, tồn tại, mất đi cùng với sự ra đời, tồn tại và mất

đi của chính quyền Nhà nước Nó hoàn toàn mang tính khách quan, không phụ thuộc vào bất cứ một ý chí chủ quan hay một yếu tố thần bí nào Chính vì sự ra đời và tồn tại của quốc tịch gắn liền với sự ra đời và tồn tại của một Nhà nước, nên mối quan hệ giữa người

có quốc tịch của Nhà nước đó với Nhà nước mà cá nhân mang quốc tịch là mối quan hệ thể hiện một sự bền vững về mặt không gian và thời gian Xét về mặt thời gian, quốc tịch

Trang 5

thể hiện mối quan hệ có tính chất ổn định cao, bền vững giữa Nhà nước với công dân Mối quan hệ này không dễ dàng bị thay đổi mà chỉ thay đổi trong những trường hợp đặt biệt, với những điều kiện hết sức khắt khe Xét về mặt không gian, mối quan hệ giữa một Nhà nước với cá nhân hoàn toàn không bị giới hạn Khi đã là công dân của một Nhà nước, người đó phải chịu sự chi phối và tác động mọi mặt bởi chính quyền Nhà nước đó,

dù người đó ở bất kỳ nơi nào, trong nước hay ngoài nước Mặt khác, người đó được Nhà nước bảo đảm cho hưởng các quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ công dân đối với Nhà nước

Như vậy, có thể hiểu chung rằng, quốc tịch là mối quan hệ pháp lý – chính trị, có tính chất lâu dài, bền vững, ổn định cao về mặt thời gian, không bị hạn chế về không gian giữa một cá nhân cụ thể với một chính quyền Nhà nước nhất định

Mối quan hệ pháp lý- chính trị giữa một cá nhân với một Nhà nước không thể là

sự tác động một chiều từ Nhà nước đến cá nhân là công dân hay ngược lại từ công dân đến Nhà nước mà mối quan hệ này là sự tác động qua lại lẫn nhau, bổ trợ cho nhau đồng thời qua đó cũng thể hiện tính giai cấp rõ rệt, bằng việc Nhà nước ban hành các chế độ pháp lý cho công dân nước mình Nhà nước ban hành quyền và nghĩa vụ cho công dân đồng thời Nhà nước cũng đề ra trách nhiệm bảo hộ cho công dân của nước mà mình không phụ thuộc vào nơi mà họ đang sinh sống Tùy theo điều kiện phát triển về quốc tịch của mỗi nước mà khái niệm “quốc tịch” được hiểu khác nhau, chẳng hạn, theo từ

điển bách khoa Luật của Liên Xô cũ thì quốc tịch được hiểu rằng: “Quốc tịch là sự quy

thuộc về mặt pháp lý và chính trị của một cá nhân vào một Nhà nước thể hiện mối quan

hệ qua lại giữa một Nhà nước với một cá nhân Nhà nước quy định các quyền cho cá nhân là công dân của mình, bảo vệ và bảo hộ công dân đó ở nước ngoài Về phần mình, công dân phải tuân theo pháp luật của Nhà nước và hoàn thành các nghĩa vụ đối với Nhà nước” Một cách hiểu khác, theo từ điển của Luật Mỹ thì quốc tịch được hiểu như

sau: “Quốc tịch là một đặc tính phát sinh từ sự kiện quy thuộc của một người vào một

quốc gia nào đó”.

Theo quy định của pháp luật về quốc tịch Việt Nam thì: “Quốc tịch Việt Nam thể

hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân với Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước và quyền, trách nhiệm của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với công dân Việt Nam.” 1

Dù mỗi nước đều có những cách hiểu khác nhau về quốc tịch, nhưng cái cốt lõi thì quốc tịch vẫn là sự biểu hiện pháp lý kết nối giữa một cá nhân với Nhà nước về quyền và

1 Điều 1 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008

Trang 6

nghĩa vụ và trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân Công dân thì cần Nhà nước trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình còn Nhà nước thì cần công dân

để đảm bảo điều kiện cấu thành quốc gia, để góp phần ổn định, giữ gìn và bảo vệ đất nước Mối quan hệ này hoàn toàn không thể bị gián đoạn bởi những điều khách quan, nó luôn tồn tại bền vững theo thời gian và không có sự ngăn cách về không gian điều này

đã dẫn đến quốc tịch có những đặc điểm sau: Thứ nhất, quốc tịch có tính bền vững và ổn

định; Thứ hai, đối với nhà nước mình, cá nhân có quyền (Ví dụ: Bầu cử, ứng cử, khiếu

nại, tố áo ) và nghĩa vụ (Ví dụ: Nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ đóng thuế, phí và các lệ phí ); Thứ ba, đối với công dân của mình, nhà nước có quyền (gọi đi nghĩa vụ quân sự, buộc phải đóng thuế, tuân thủ pháp luật ) và cũng có những nghĩa vụ nhất định (bảo đảm các quyền công dân cơ bản như quyền sống, quyền được làm việc, quyền chính trị, kinh tế )

Từ những đặc điểm trên của quốc tịch giúp ta phân biệt ba dạng người trên lãnh thổ của một quốc gia: Công dân của chính quốc gia đó, người có quốc tịch nước ngoài, người không có quốc tịch Việc phân biệt các dạng người khác nhau trên lãnh thổ tạo nên các mối quan hệ pháp lý khác nhau của từng dạng người Người có quốc tịch nước sở tại thì được hưởng đầy đủ những quyền và lợi ích tương xứng và đồng thời phải gánh vác các nghĩa vụ do Nhà nước quy định Những cá nhân không có quốc tịch của quốc gia

sở tại thì chỉ được hưởng một số quyền lợi và chỉ phải gánh vác một số nghĩa vụ không đầy đủ so với những người có quốc tịch của quốc gia sở tại theo quy định của pháp luật nước sở tại Xác định quốc tịch của một cá nhân mang ý nghĩa quan trọng, bởi vì, chỉ sau khi đã xác định một cá nhân mang quốc tịch của một Nhà nước thì cá nhân đó mới được hưởng thụ những quyền và lợi ích về vật chất cũng như tinh thần mà Nhà nước đó dành cho công dân của mình Ví dụ: quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền lao động, quyền tự do cư trú; đi lại

Một cá nhân con người không thể có được quyền và danh dự như công dân của một Nhà nước nhất định, nếu như cá nhân đó không phải là công dân của quốc gia mình, điều này có nghĩa, khi xác định được quốc tịch chính là việc xác định quyền và nghĩa vụ của Nhà nước với công dân và ngược lại đối với một Nhà nước có chủ quyền, việc xác định quốc tịch để bảo hộ công dân của mình ở nước ngoài, cũng như việc xác định quốc tịch nước ngoài cho người nước ngoài cư trú trên lãnh thổ nước mình để có chính sách thích hợp đối với họ thực chất có ý nghĩa như là vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia

Về vấn đề luật quốc tịch, Theo lý luận về quốc tịch thì cơ sở duy nhất cho sự ra đời và tồn tại của quốc tịch chính là sự ra đời và tồn tại của nhà nước Trong mỗi hình

Trang 7

thức nhà nước khác nhau thì bản chất và nội dung của quốc tịch cũng khác nhau Do đó, quốc tịch luôn gắn liền với sự phát triển địa vị pháp lý của người dân, phạm vi các quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, sự bình đẳng giữa các tầng lớp trong xã hội…

Quốc tịch đã thể hiện đúng bản chất của nó và mang nội dung hoàn toàn mới Nhân dân lao động thật sự trở thành những người chủ trong các lĩnh vực đời sống xã hội Quan hệ giữa nhà nước và công dân đã thể hiện được bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Công dân có quyền nhất định bên cạnh những nghĩa vụ đối với nhà nước và ngược lại nhà nước cũng có trách nhiệm đối với công dân của mình Tất cả những quyền và nghĩa vụ đó được biểu hiện trong pháp luật của nhà nước mà đặc biệt và chủ yếu là luật quốc tịch

Như vậy, luật quốc tịch là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong vấn đề quốc tịch, bao gồm các vấn đề liên quan đến việc xác lập và chấm dứt quốc tịch của cá nhân.

Dưới góc độ này thì luật quốc tịch chính là phương tiện pháp lý để xác định mối liên hệ giữa Nhà nước và công dân Do đó, muốn xác định một cá nhân có quốc tịch của một quốc gia nào đó hay không, chúng ta phải căn cứ vào các quy định của pháp luật quốc gia đó mà cụ thể là luật quốc tịch

1.1.2 Đặc điểm về quốc tịch

Do quốc tịch có mối quan hệ pháp lý - chính trị gắn kết một cá nhân với một nhà nước có chủ quyền cho nên quốc tịch có những đặc điểm sau:

- Thứ nhất, Quốc tịch có tính ổn định và bền vững

Quốc tịch là quan hệ pháp lý gắn với quyền nhân thân của mỗi cá nhân, phát sinh

từ lúc cá nhân đó mới sinh ra, được đăng ký khai sinh và kể từ đó được nhà nước thừa nhận cá nhân đó là công dân của nước mình và gắn liền trong suốt cuộc đời cho đến khi

cá nhân đó chết

Tính bền vững ở đây là quốc tịch được xác lập cho thời gian là cả cuộc đời của một người Không ai cũng như không một nước nào có thể tự ý cho thôi quốc tịch hay tước quốc tịch của một cá nhân mà bản thân họ không có vi phạm gì đến lợi ích quốc gia hay gây phương hại đến đất nước Đồng thời, một nhà nước cũng không thể nào cho thôi quốc tịch hoặc tước quốc tịch của công dân mình khi họ đang sinh sống trên lãnh thổ của quốc gia khác mà họ không nhập quốc tịch của quốc gia mà họ đang sinh sống

Tính bền vững còn được thể hiện ở chỗ quốc tịch gắn liền với sự tồn tại và phát triển của nhà nước Bởi vì có ba yếu tố cấu thành nhà nước là: lãnh thổ, dân cư và quyền lực nhà nước Mà dân cư ở đây chủ yếu là công dân

Trang 8

Như vậy, quốc tịch có tính bền vững và ổn định Nó gắn liền với quyền nhân thân của một cá nhân Đồng thời nó cũng gắn liền với sự tồn tại và phát triển của một nhà nước.

- Thứ hai, Quốc tịch thể hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ cơ bản của một công dân

Một khi mà nhà nước xác lập quốc tịch cho một cá nhân nào đó và họ trở thành công dân của quốc gia thì những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân sẽ phát sinh Những quyền này được nhà nước thể chế hóa trong luật của quốc gia Họ có quyền được hưởng trong chừng mực mà nhà nước cho phép Bởi vì quyền công dân là một quyền quan trọng đối với người dân như: quyền ứng cử, quyền bầu cử, quyền được nhà nước bảo hộ ngoại giao khi vi phạm pháp luật ở nước ngoài Nếu như không phải là công dân thì nhà nước không thừa nhận những quyền này Do đó, người nước ngoài và người không quốc tịch sẽ không được hưởng đầy đủ các quyền nêu trên Đồng thời, công dân phải thực hiện nghĩa vụ bắt buộc như trung thành với tổ quốc, thực hiện nghĩa vụ quân sự, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Do đó, nếu mà người nước ngoài cũng như người không quốc tịch thì họ không có những quyền và nghĩa vụ như trên Họ chỉ được hưởng chính sách đãi ngộ như công dân chứ không phải là công dân của quốc gia đó

- Thứ ba, Quốc tịch thể hiện những quyền và nghĩa vụ của nhà nước đối với công dân

Khi đã là công dân của nước mình thì nhà nước đưa ra những chính sách, đường lối cho công dân thực hiện và tuân theo, có quyền áp dụng những biện pháp thích hợp khi công dân vi phạm hoặc có hành vi gây ảnh hưởng đến xã hội, ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước thì nhà nước có quyền áp đặt ý chí của giai cấp mình được thể hiện trong luật

để làm chuẩn mực cho nhân dân thực hiện theo mà không một cá nhân, nhà nước nào có quyền can thiệp, vì đây được coi là công việc nội bộ của quốc gia Đồng thời, nhà nước cũng phải có trách nhiệm đối với công dân của mình như: bảo hộ ngoại giao khi công dân mình bị xâm hại ở nước ngoài hay công dân mình có vi phạm ở nước ngoài và cơ sở pháp

lý để không dẫn độ công dân mình cho nước khác khi có yêu cầu dẫn độ tội phạm

1.2 Khái niệm và đặc điểm về vấn đề hưởng quốc tịch

1.2.1 Khái niệm về vấn đề hưởng quốc tịch

Như chúng ta đã biết, quốc tịch có mối quan hệ mang tính chính trị pháp lý, ổn định, lâu dài, và ràng buộc giữa một cá nhân và một Nhà nước nhất định trên cơ sở những quy định pháp luật của Nhà nước đó

Vì quốc tịch có mối quan hệ khăng khít và không tách rời với Nhà nước, nên việc một cá nhân mang quốc tịch của một nước vốn có một ý nghĩa hết sức quan trọng, nó

Trang 9

không chỉ quan trọng đối với bản thân cá nhân đó mà còn là đối với chính Nhà nước mà

cá nhân đó mang quốc tịch Thế nhưng, để có thể cho rằng và xác định được rằng mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân về quốc tịch là đặc biệt quan trọng đến như vậy thì vấn đề hưởng quổc tịch được đặt ra Hưởng quốc tịch là cơ sở để xác định mối quan hệ pháp lý giữa cá nhân hưởng quốc tịch với quốc gia cho hưởng quốc tịch Mối quan hệ nảy được định nghĩa bằng khái niệm “hưởng quốc tịch

Trước đây, trong khoa học pháp lý nói chung và trong Luật quốc tịch của các nước nói riêng thì có nhiều khái niệm khác nhau về vấn đề hưởng quốc tịch Nhưng nhìn chung, tất cả đều thừa nhận quan điểm cho rằng: Hưởng quốc tịch là cơ sở pháp lý để xác định mối quan hệ pháp lý giữa cá nhân hưởng quốc tịch với quốc gia cho hưởng quốc tịch

Trên thực tế cho thấy, mỗi quốc gia sẽ có một cách hiểu khác nhau về vấn đề hưởng quốc tịch và cho dù mỗi quốc gia đó có những cách hiểu khác nhau về vấn đề hưởng quốc tịch như thế nào thì tập trung lại về cơ bản ta có thể thấy được sự xuất hiện của hai chủ thể, đó là cá nhân hưởng quốc lịch và quốc gia cho cá nhân đó hưởng quốc tịch

Điều này có nghĩa là, đối với cá nhân hưởng quốc tịch khi muốn nhận quốc tịch của một quốc gia nào đó thì cá nhân đó phải đáp ứng được những điều kiện mà pháp luật của quốc gia cho hưởng quốc tịch quy định, và khi mang quốc tịch của quốc gia cho hưởng quốc tịch rồi thì cá nhân sẽ mặc nhiên có những quyền và nghĩa vụ nhất định theo quy định của pháp luật quốc gia mà mình mang quốc tịch Đối với chủ thể cho hưởng quốc tịch thì bắt buộc phải là Nhà nước và đây chính là thẩm quyền tuyệt đối của các quốc gia nói chung và Việt Nam ta nói riêng

Từ những phân tích trên, chúng ta có thể khái niệm một cách chung nhất về vấn đề

hưởng quốc tịch như sau: “Hưởng quốc tịch là việc một cá nhân có được quốc tịch của

một quốc gia nào đó trên cơ sở các quy định về việc xác lập quốc tịch trong Luật quốc tịch của nước đó hoặc theo các Điều ước quốc tế giữa các quốc gia với nhau”.

Từ khái niệm trên, ta có thể thấy được những đặc điểm chung về vấn đề hưởng quốc tịch cũng có các đặc điểm của quốc tịch theo quy định của pháp luật Việt Nam

1.2.2 Đặc điểm của vấn đề hưởng quốc tịch

Vấn đề hưởng quốc tịch có một số đặc điểm chung như sau:

Thứ nhất, đối với cá nhân thì đây là mối quan hệ mang tính ổn định và bền vững

Tính ổn định và bền vững được thể hiện ở việc xác lập quốc tịch hay còn gọi một cách khác là hưởng quốc tịch cho thời gian là cả cuộc đời một người, không ai cũng như không một nước nào có thể tự ý cho thôi quốc tịch hay tước quốc tịch của một cá

Trang 10

nhân mà bản thân họ không có vi phạm gì đến lợi ích quốc gia hay gây phương hại đến đất nước Đồng thời, một nhà nước cũng không thể nào cho thôi quốc tịch hoặc tước quốc tịch của công dân mình khi họ đang sinh sống trên lãnh thổ của quốc gia khác mà họ không nhập quốc tịch của quốc gia mà họ đang sinh sống.

Thứ hai, hưởng quốc tịch còn thể hiện tính ráng buộc giữa cá nhân hưởng quốc

tịch với Nhà nước cho hưởng quốc tịch về quyền và nghĩa vụ mang tính hai chiều Một khi mà nhà nước xác lập quốc tịch cho một cá nhân nào đó và họ trở thành công dân của quốc gia thì những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân sẽ phát sinh Những quyền này được nhà nước thể chế hóa trong luật của quốc gia Họ có quyền được hưởng trong chừng mực mà nhà nước cho phép Ngược lại, khi đã là công dân của nước mình thì nhà nước đưa ra những chính sách, đường lối cho công dân thực hiện và tuân theo, có quyền áp dụng những biện pháp thích hợp khi công dân vi phạm hoặc có hành vi gây ảnh hưởng đến xã hội, ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước thì nhà nước có quyền áp đặt ý chí của giai cấp mình được thể hiện trong luật để làm chuẩn mực cho nhân dân thực hiện theo mà không một

cá nhân, nhà nước nào có quyền can thiệp, vì đây được coi là công việc nội bộ của quốc gia

Ngoài ra, hưởng quốc tịch vừa mang tính quốc tế vừa là đối tượng điều chỉnh của luật trong nước, đặc thù này xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa quyền con người

và quyền công dân của một cá nhân khi tồn tại trong xã hội

1.3 Vai trò và ý nghĩa của vấn đề hưởng quốc tịch trong luật quốc tịch Việt Nam

1.3.1 Vai trò của vấn đề hưởng quốc tịch

Quốc tịch là mối quan hệ pháp lý giữa công dân với nhà nước nhất định Hưởng quốc tịch là chế định nhằm thể hiện mối quan hệ này ở tổng thể các quyền và nghĩa vụ được pháp luật của một nước quy định và bảo đảm thực hiện Việc cá nhân có quốc tịch của một quốc gia nhất định hay không là tùy thuộc vào những quy định về hưởng quốc tịch trong luật quốc tịch của quốc gia đó Dó đó, hưởng quốc tịch là cơ sở để xác định mối quan hệ pháp lý giữa cá nhân hưởng quốc tịch với quốc gia cho hưởng quốc tịch.2

Tại Điều 1 Luật quốc tịch Việt Nam 2008 quy định: “Quốc tịch Việt Nam thể

hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân với Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước và quyền,

2 Diệp Ngọc Dũng – Cao Nhất Linh, Tập bài giảng Tư pháp quốc tế, khoa luật trường Đại học Cần Thơ năm 2002,

trang 48.

Trang 11

trách nhiệm của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với công dân Việt Nam.” 3

Như vậy, mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân về vấn đề hưởng quốc tịch được thể hiện bằng tổng thể quyền và nghĩa vụ của hai bên

Hưởng quốc tịch đối với một cá nhân còn thể hiện những điều kiện mà pháp luật nước đó quy định, khi thỏa mãn các điều kiện đó thì cá nhân đó có những quyền và nghĩa

vụ nhất định theo quy định của pháp luật quốc gia mà mình mang quốc tịch

1.3.2 Ý nghĩa của vấn đề hưởng quốc tịch

Quốc tịch là quan hệ pháp lý không chỉ đối với cá nhân nhận quốc tịch mà còn đối với nhà nước cấp quốc tịch Vì quốc tịch là cơ sở pháp lý duy nhất để xác định một cá nhân là công dân của một nước và trên cơ sở đó là căn cứ làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa nhà nước và công dân

Điều 17 Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013

quy định: “Công dân nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc

tịch Việt Nam” Theo đó, chỉ những người mang quốc tịch Việt Nam mới

được hưởng những quyền và lợi ích một cách đầy đủ mà Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam dành cho công dân mình Ngược lại, để đổi lấy việc được Nhà nước bảo hộ công dân, công dân phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định, bởi không bao giờ quyền của công dân tách rời với nghĩa vụ của công dân Vấn đề xác định quốc tịch của một cá nhân không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân

cá nhân mà còn đối với Nhà nước Chẳng hạn, sau ngày Nhà nước Việt Nam tuyên bố độc lập năm 1945, vấn đề xác định một người có quốc tịch Việt Nam

có ý nghĩa chính trị to lớn để chuẩn bị cho cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Chính lẽ đó, ngày 20/10/1945 chỉ hơn một tháng tuyên

bố độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành sắc lệnh số 53/SL quy định về quốc tịch Việt Nam Đối với một nhà nước có chủ quyền, việc xác định quốc tịch

có ý nghĩa nhằm bảo hộ công dân mình ở nước ngoài, cũng như việc xác định quốc tịch nước ngoài cho người nước ngoài cư trú trên lãnh thổ nước mình

để có chính sách thích hợp đối với họ.4

1.4 Căn cứ và điều kiện hưởng quốc tịch

1.4.1 Căn cứ hưởng quốc tịch

Trong mối quan hệ pháp luật quốc tế về quốc tịch, thì quốc gia là chủ thể duy nhất

có quyền cho cá nhân hưởng quốc tịch theo các nguyên tắc và quy định pháp luật của quốc gia đó Vì vậy, việc quy định về căn cứ và trình tự, thủ tục cho hưởng quốc tịch

3 Điều 1 Luật quốc tịch Việt Nam 2008

4 http://doan.edu.vn/do-an/de-tai-cac-van-de-ve-quoc-tich-3262/ [truy cập ngày 15/10/2014]

Trang 12

thuộc về mỗi quốc gia Song, các quy định đó cần phù hợp với nguyên tắc của luật quốc

tế mà quốc gia đó là thành viên

Trên bình diện pháp luật quốc gia và quốc tế, mỗi cá nhân được xác lập quốc tịch theo pháp luật của nước mình thì hầu hết các nước đều thừa nhận những hình thức xác lập quốc tịch như: Xác lập do sinh ra, theo sự gia nhập, theo sự lựa chọn hay do được trở lại quốc tịch Tương tự như thế, theo quy định của Luật quốc tịch Việt Nam hiện hành (Luật quốc tịch năm 2008) thì một cá nhân có thể được hưởng quốc tịch Việt Nam dựa trên các căn cứ sau đây:

- Do được sinh ra theo quy định tại các Điều 15,16 và 17 của Luật này, đó là các trường hợp: Trẻ em khi sinh ra có cả cha và mẹ đều là công dân Việt Nam; trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam; trẻ em khi sinh ra có cha mẹ là người không quốc tịch;

- Được nhập quốc tịch Viêt Nam;

- Được trở lại quốc tịch Viêt Nam;

- Theo sự lựa chọn trong các trường hợp trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam; con chưa thành niên khi cha mẹ được nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam; đối với con nuôi chưa thành niên;

- Theo điều ước quốc tể mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

Được quy định tại Điều 14 Luật quốc tịch năm 2008

Có thể thấy một điều rằng, khi đã tìm hiểu, nghiên cứu về vấn đề hưởng quốc tịch thì rõ ràng những căn cứ vừa nêu ở trên thật sự là một đối tượng nghiên cứu chính thống của vấn đề Và quá trình tìm hiểu lần lượt từng căn cứ một sẽ là một hướng đi mà người viết sẽ hướng tới

1.4.2 Điều kiện hưởng quốc tịch

Khi một cá nhân muốn hưởng quốc tịch của một quốc gia, thì cá nhân hường quốc tịch đó phải đáp ứng được những điều kiện mà quốc gia cho hưởng quốc tịch quy định

Pháp luật quốc tịch Việt Nam quy định, một cá nhân được hưởng quốc tịch Việt Nam thì phải đáp ứng được các điều kiện chung về vấn đề hưởng quốc tịch, các điều kiện

đó là:

Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; Theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật dân sự năm 2005 thì năng lực hành vi dân sự được hiểu là: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là

Năng lực hành vi dân sự đầy đủ là người phải đủ 18 tuổi (mười tám tuổi) trở lên (người

5 Điều 17, Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005

Trang 13

thành niên), không bị Tòa án ra Quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hay là

bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và không phải là nguời đang chấp hành hình phạt Dựa trên cơ sở tại Điều 19, Điều 22, Điều 23 của Bộ luật dân sự năm 2005

Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; Tôn trọng truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Việt Nam Điều kiện này được quy định hoàn toàn hợp lý và phù hợp ở mọi lúc, mọi thời kỳ Có thể nói, tính hợp lý ở đây được thể hiện ở chổ nếu cá nhân muốn hưởng quốc tịch của Nhà nước Việt Nam để trở thành công dân của Nhà nước Việt Nam thì cá nhân đó phải tuyệt đối tôn trọng Hiến pháp, pháp luật và những truyền thống, phong tục tập quán của Nhà nước Việt Nam

Đây là điều kiện chung, không thể thiếu khi đề cập đến vấn đề hưởng quốc tịch Việt Nam đối với cá nhân hưởng quốc tịch

Trên thực tế, các quốc gia thường đưa ra những quy định về hưởng quốc tịch khác nhau, nhưng nhìn chung pháp luật các nước đều quy định về điều kiện hưởng quốc tịch là

có phẩm chất đạo đức tốt, tuân thủ theo pháp luật, Do đó, Nhà nước Việt Nam quy định về điều kiện hưởng quốc tịch như trên là khá chặt chẽ, phù hợp với pháp luật và đặc thù của pháp luật Việt Nam Đồng thời, cũng có sự tương thích với Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948, Công ước của Liên hợp quốc về hạn chế tình trạng người không quốc tịch năm 1975

1.5 Mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân về vấn đề hưởng quốc tịch

Việc một cá nhân có quốc tịch của một quốc gia nhất định hay không là tùy thuộc vào những quy định về hưởng quốc tịch trong Luật quốc tịch của quốc gia đó Do đó, hưởng quốc tịch là cơ sở để xác định mối quan hệ pháp lý giữa cá nhân hưởng quốc tịch với quốc gia cho hưởng quốc tịch

Từ đó, sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của công dân hưởng quốc tịch đối với Nhà nước cho hưởng quốc tịch hay nói một cách khác là làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của công dân mang quốc tịch đối với Nhà nước cấp quốc tịch và ngược lại nó cũng sẽ làm phát sinh quyền và trách nhiệm của Nhà nước cấp quốc tịch đối với cá nhân mang quốc tịch của nước mình Theo quy định tại Điều 1 Luật quốc tịch năm 2008: “Quốc tịch Việt Nam thể hiện mối quan hệ của cá nhân với Nhà nước Cộng hòa xã hôi chủ nghĩa Việt Nam, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam đối với Nhà nước và quyền, trách nhiệm của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với công dân Việt Nam” 6

Như vậy, rnối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân về vấn đề hưởng quốc tịch được

thể hiện bằng tổng thể quyền và nghĩa vụ của hai bên.

Ngoài ra, về nguyên tắc mối quan hệ này cũng được thể hiện trên cơ sở pháp lý

6 Điều 1 Luật quốc tịch Việt Nam 2008

Trang 14

phù hợp về mặt lý luận và toàn diện về mặt thực tiễn.

1.5.1 Mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân về vấn đề hưởng quốc tịch xét

về mặt lý luận

Việc hưởng quốc tịch đối với một cá nhân là vô cùng quan trọng Bởi vì, sau khi được hưởng quốc tịch cá nhân đã mang quốc tịch của một Nhà nước và trở thành công dân của Nhà nước cho cá nhân hưởng quốc tịch thì cá nhân mới được thụ hưởng những quyền và lợi ích về vật chất cũng như tinh thần mà Nhà nước đó dành cho công dân của mình

Theo Khoản 1 Điều 17 Hiến pháp năm 2013 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam” 7 . Theo đó, chỉ những người mang quốc tịch Việt Nam mới được hưởng những quyền và lợi ích mà Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam dành cho công dân của mình Và ngược lại, để đổi lấy việc được Nhà nước bảo hộ các quyền của công dân, công dân cũng phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định, bởi không bao giờ quyền của công dân tách rời với nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nước mà công dân đó mang quốc tịch

Ngoài ra, vấn đề hưởng quốc tịch không chỉ quan trọng đối với bản thân cá nhân hưởng quốc tịch mà còn đối với Nhà nước cho cá nhân huởng quốc tịch Chẳng hạn như,

sau ngày Việt Nam tuyên bố đôc lập năm 1945 thì việc xác định một người có quốc tịch Việt Nam сó

ý nghĩa chính trị to lớn để chuẩn bị cho cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên сủa Nhà nước Việt Nam Chính vì điều này, ngày 20 tháng 10 năm 1945 chỉ hơn một tháng sau ngày độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 53/SL quy định các vấn đề về quốc tịch Việt Nam, trong đó có vấn hưởng quốc tịch.

Đối với một Nhà nước có chủ quyền thì việc cho cá nhân hưởng quốc tịch cũng

như xác định quốc tịch cho cá nhân là công dân của nước mình nhằm để bảo hộ quyền và lợi ích cho công dân của nước mình và những quyền, lợi ích của cá nhân cư trú trên lãnh thổ

của nước mình để có thể thu hút được sự quan tâm của cá nhân cũng như của công dân đối với Nhà nước về vấn đề hưởng quốc tịch Xuất phát từ những điểm này, đã giúp ta lý giải được là đốỉ với Nhà nước có chủ quyền thì việc cho cá nhân hưởng quốc tịch

và công nhận cá nhân đó mang quốc tịch của nước mình là nhằm để bảo hộ quyền và lợi ích của họ cũng có ý nghĩa như ván đề bảo hộ chủ quyền quốc gia.

Từ những phân tích trên, đã nói lên được mối quan hệ gắn bó giữa cá nhân với Nhà nước về vấn đề hưởng quốc tịch, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nước và quyền, trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân của nước mình Đề

7 Khoản 1 Điều 17 Hiến pháp năm 2013

Trang 15

cao vinh dự và ý thức trách nhiệm của công dân trong việc hưởng và làm nghĩa vụ của công dân, tăng cường hơn nữa sự gắn bó giữa Nhà nước với mọi công dân Việt Nam.

1.5.2 Mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân về vấn đề hưởng quốc tịch xét

về mặt thực tiễn

Thực tế cho thấy, một cá nhân không thể được hưởng quyền và danh dự như một công dân của Nhà nước nhất định Vì vậy, hưởng quốc tịch chính là việc để cá nhân hưởng các quyền và nghĩa vụ của Nhà nước mà cá nhân được hưởng quốc tịch là công dân Từ chổ cá nhân được hưởng quốc tịch thì cá nhân đó còn nhận được sự bảo hộ của nước cho cá nhân hưởng quốc tịch mà chỉ có công dân của nước cho hưởng quốc tịch mới có được như: Quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền lao động, quyền có nhà và quyền

tự do cư trú, đi lại và quyền được Nhà nước bảo hộ ngoại giao khi vi phạm pháp luật nước ngoài, Chẳng hạn, các quyền về chính trị được thể hiện ở việc tham gia vào hoạt động quản lý của Nhà nước như: Công dân có quyền bầu cử những người сó tài, có đức vào các cơ quan quản lý của Nhà nước hoặc được bầu vào các cơ quan này tham gia thảo luận đóng góp ý kiến xây dựng Hiến pháp và pháp luật

Và thông qua việc cho cá nhân hưởng quốc tịch, Nhà nước ta đã xác định được các quyền của mình cũng như xác định trách nhiệm đối với cá nhân được hưởng quốc tịch là công dân của nước mình, dù công dân đó cư trú ở trong nước hay ở nước ngoài

Theo Điều 6 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định: “Nhà nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài Các cơ quan nhà nước ở trong nước, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm thi hành mọi biện pháp cần thiết, phù hợp với pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế để thực hiện sự bảo hộ đó.” 8 Điều đó có nghĩa là, khi quyền và lợi ích của cá nhân được hưởng quốc tịch là công dân Việt Nam đang cư trú tại một nước nào đó có nguy cơ bị xâm phạm thì các cơ quan ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam

ở nước ngoài phải dựa trên cơ sở pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước sở tại, kết hợp với các quy định của pháp luật quốc tế cũng như các điều ước quốc tế liên quan tới lĩnh vực đó mà Việt Nam đã ký kết và tham gia để bảo vệ quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài Ví dụ như: Cơ quan ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài phải thực hiện sự bảo hộ ngoại giao cho công dân Việt Nam khi họ bị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tạm giữ hoặc bị đưa ra xét xử trước Tòa án của nước ngoài

Bên cạnh đ ó, đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài Nhà nước ta cũng có những chính

và đi lại tại Việt Nam, tạo điều kiện cho họ thăm quê hương, bà con họ hàng Trong lĩnh vực

8 Điều 6 Luật quốc tịch Việt Nam 2008

Trang 16

kinh tế, Nhà nước ta luôn tạo điều kiên thuận lợi cho người gốc Việt Nam được đầu tư, làm ăn chính đáng nhằm góp phần xây dựng quê hương, đất nước 9

Qua đó cho thấy, mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân về vấn đề hưởng quốc tịch không thể là mối quan hệ có sự tác động từ một phía như từ Nhà nước hay từ cá nhân hưởng quốc tịch là công dân mà mối quan hệ này là mối quan hệ có sự tác động qua lại lẫn nhau, bổ trợ cho nhau bằng việc Nhà nước ban hành các chế độ pháp lý cho cá nhân hưởng quốc tịch là công dân của nước mình Song song đó, Nhà nước cũng đề ra trách nhiệm bảo hộ quyền, lợi ích cho cá nhân trong cộng đồng dân cư của quốc gia mà họ là công dân cũng như trong quan hệ quốc tế mà cá nhân đó tham gia và nhân danh chính cá nhân mình

1.6 Quá trình hình thành và phát triển của chế định hưởng quốc tịch

Cũng như những ngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Luật quốc tịch cũng có quá trình hình thành và phát triển của mình, quá trình đó gắn liền với các giai đoạn lịch sử trong công cuộc đấu tranh giành độc lập và bảo vệ nền độc lập của nước nhà

Chế định hưởng quốc tịch là một chế định quan trọng trong luật quốc tịch Việt Nam, sự hình thành và phát triển các quy định về vấn đề hưởng quốc tịch cũng gắn liền với sự phát hình thành và phát triển của luật quốc tịch ở nước ta

Có thể thấy được luật quốc tịch và vấn đề hưởng quốc tịch ở nước ta được hình thành và phát triển qua các giai đoạn sau

1.6.1 Sơ lược về luật quốc tịch Việt Nam qua các thời kỳ

1.6.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988

Vấn đề quốc tịch gắn liền với độc lập dân tộc và chủ quyền Nhà nước Do vậy, khi một nhà nước tuyên bố độc lập, khẳng định sự ra đời của Nhà nước mình là đồng thời khẳng định người dân của đất nước đó có quyền công dân Ở Việt Nam quyền con người và quyền công dân cũng không thoát ly khỏi sự chi phối đó Nước ta với bề dày lịch sử về chống giặc ngoại xâm như ngàn năm Bắc thuộc, hơn tám mươi năm chống Pháp và hơn hai mươi năm chống Mỹ Trong tất cả khoản thời gian trên dù tồn tại dưới chế độ phong kiến hay thực dân nửa phong kiến hay đế quốc và các tư tưởng qua các thời kỳ có sự tiến bộ hơn nhưng quyền con người của nhân dân ta không được khẳng định cho nên vấn đề quốc tịch cũng không tồn tại trong thời kỳ này Do sự gắn liền của nền độc lập chủ quyền của một Nhà nước với quyền con người của người dân đang tồn tại trong Nhà nước đó, cho nên, đất nước ta dù có một lịch sử phát triển khá dày nhưng luôn bị chi phối bởi các cuộc chiến tranh và không có độc lập chủ

9 http://doan.edu.vn/do-an/de-tai-cac-van-de-ve-quoc-tich-3262/ [truy cập ngày 15/10/2014]

Trang 17

quyền nên không có quyền công dân và không có quốc tịch Tình trạng này kéo dài đến năm 1945 khi Cách mạng tháng Tám thành công, thì Việt Nam trở thành một quốc gia có chủ quyền và có nền độc lập bằng bảng Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch nước

Hồ Chí Minh Với bảng Tuyên ngôn độc lập đã đánh dấu sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nước ta đã trở thành một quốc gia độc lập, có đầy đủ chủ quyền

và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành ngay văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên

Việt Nam, đó là Sắc lệnh số 53/SL ngày 20.10.1945 Kể từ thời điểm này mọi người Việt Nam bắt đầu có quyền của con người, quyền có quốc tịch và quyền được sống trong một Nhà nước có chủ quyền Sau đó, Nhà nước tiếp tục ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vấn đề quốc tịch như: Sắc lệnh số 73/SL ngày 07.12.1945 quy định về việc nhập quốc tịch Việt Nam; Sắc lệnh số 215/SL ngày 20.8.1948 ấn định những quyền lợi đặc biệt cho những người nước ngoài đã có công giúp đỡ cuộc kháng chiến Việt Nam; Sắc lệnh số 51/SL ngày 14/12/1959 bãi bỏ điều 5 và điều 6 của Sắc lệnh số 53/SL, quy định quốc tịch của người phụ nữ kết hôn Nghị quyết số 1043/NQTVQH ngày 08/2/1971 của Ủy ban thường vụ quốc hội về việc giao cho Hội đồng Chính phủ thẩm quyền xét và quyết định những trường hợp xin vào hoặc xin thôi quốc tịch Việt Nam

Các văn bản pháp luật về quốc tịch của nhà nước ta trong thời kỳ nay ra đời đã đáp ứng kịp thời, thiết thực yêu cầu chính trị là xác định được quốc tịch của công dân của Nhà nước ta, làm cơ sở và tạo điều kiện đảm bảo cho công dân được hưởng các quyền

về mọi mặt, đồng thời làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước Tuy nhiên, do điều kiện đất nước mới giành được độc lập nên nền lập pháp chưa cao, các quy định trên còn tản mạn, thiếu hệ thống và chưa hoàn chỉnh dẫn đến một số quy định mang tính hạn chế Chẳng

hạn Điều thứ 9 Hiến pháp năm 1946 quy định: “đàn bà ngang quyền với đàn ông về

mọi phương diện” Nhưng tại Điều 2 sắc lệnh 53/SL ngày 20/10/1945 ta thấy quy

định này chưa phù hợp với nguyên tắc nam nữ bình đẳng đã được pháp luật quốc tế và pháp luật nước ta ghi nhận Điều khoản này quy định công dân Việt Nam là những người mà:

- Cha là công dân Việt Nam;

- Cha không rõ là ai hay không thuộc quốc tịch nào mà mẹ là công dân Việt Nam.

Có thể trong thời điểm này Việt Nam còn ảnh hưởng khá nhiều của tư tưởng phong kiến trọng nam khinh nữ, nên điều luật chưa thể hiện hết bản chất của sự bình đẳng mà pháp luật thời kỳ này hướng tới Tuy nhiên, đây chỉ là một điểm hạn chế mang

Trang 18

tính khách quan, phụ thuộc khá nhiều vào hoàn cảnh thực tế của đất nước Việc ban hành được Luật quốc tịch để xác định quốc tịch cho người Việt Nam đã là một thành công trong hệ thống lập pháp lúc bấy giờ để đáp ứng cho nhu cầu quốc tịch khẳng định quyền con người của dân tộc Việt Nam, cho nên những hạn chế và thiếu sót là không thể tránh khỏi.10

1.6.1.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1998

Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, những thay đổi về kinh tế, chính trị và xã hội đã đưa đến đòi hỏi bức thiết phải có những văn bản quy phạm pháp luật có giá trị cao để điều chỉnh quan hệ pháp luật về quốc tịch

Trước tình hình đó, ngày 28/6/1988, Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật quốc tịch Việt Nam đây là đạo luật đầu tiên điều chỉnh các vấn đề về quốc tịch Việt Nam, đánh dấu một mốc mới trong quá trình lập pháp của nước ta Với tư duy chính trị và pháp lý mới, luật quốc tịch Việt Nam 1988 đã quy định một cách khá đầy

đủ, toàn diện và có hệ thống về quốc tịch Việt Nam Sau gần mười năm thực hiện, Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988 đã phát huy những hiệu quả tích cực, có tác dụng to lớn trong việc tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, hướng dẫn và động viên mọi người hưởng các quyền công dân và nâng cao ý thức công dân, hăng hái gánh vác nghĩa vụ công dân, góp phần to lớn vào công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Tuy nhiên, do được ban hành vào những năm đầu của sự nghiệp đổi mới, kinh nghiệm lập pháp tích lũy chưa nhiều, các quy định của Luật năm 1988 còn mang tính chất luật khung, khái quát, chưa cụ thể và khó áp dụng trên thực tế, chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của Luật.11

1.6.1.3 Giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2008

Qua quá trình tổng kết thực tiễn gần mười năm thực hiện luật cho thấy cần phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật quốc tịch năm 1988, nhằm bảo đảm Luật quốc tịch phù hợp với các quy định của Hiến pháp năm 1992, tạo cơ chế đồng bộ thực hiện chặt chẽ nguyên tắc một quốc tịch theo quy định của Nhà nước ta, giải quyết tồn tại về hai quốc tịch do lịch sử để lại trong cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tăng cường quản lý Nhà nước về quốc tịch và bổ sung các vấn đề mới về quốc tịch chưa được quy định Ngày 20/5/1998, Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 3 của nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật quốc tịch Việt Nam số 07/1998/QH10 thay thế Luật Quốc tịch 1988 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 có hiệu lực thi hành

10 http://doc.edu.vn/tai-lieu/khoa-luan-su-hinh-thanh-va-phat-trien-cua-phap-luat-quoc-tich-viet-nam-39361/ [truy cập ngày 15/10/2014]

11 http://doc.edu.vn/tai-lieu/khoa-luan-su-hinh-thanh-va-phat-trien-cua-phap-luat-quoc-tich-viet-nam-39361/ [truy cập ngày 15/10/2014]

Trang 19

kể từ 01/01/1999 Luật quốc tịch năm 1998 là một văn bản pháp lý hoàn chỉnh tất cả các văn bản điều chỉnh về vấn đề quốc tịch của nước ta từ khi mới tuyên ngôn độc lập đến thời điểm cho ra đời Luật quốc tịch hiện nay Nếu thời kỳ 1945 quốc tịch của người Việt Nam có nhiều điểm hạn chế thì đến năm 1998 những hạn chế thiếu sót dần dần được khắc phục để đảm bảo cho quyền công dân của người Việt Nam ngày càng tốt hơn

Có thể nói, Luật quốc tịch năm 1998 là một bước hoàn thiện trong hệ thống pháp luật của Việt Nam

Luật quốc tịch năm 1998 là một đạo luật tương đối đầy đủ và bao gồm khá nhiều điều khoản, tất cả tựu chung lại đã thể hiện sự tiến bộ qua từng thời kỳ lập pháp của nước ta Luật quốc tịch Việt Nam 1998 gồm 6 chương với 42 điều quy định các vấn

đề cơ bản sau đây: Quy định những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tịch Việt Nam, đó

là nguyên tắc về quyền có quốc tịch, nguyên tắc Nhà nước Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, quy định về nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo hộ quyền và lợi ích chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài v.v.; Quy định những căn cứ để có quốc tịch Việt Nam, theo đó, những căn cứ để xác định một người có thể có quốc tịch Việt Nam là do sinh ra, do được nhập, được trở lại quốc tịch Việt Nam, có quốc tịch Việt Nam theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia v.v ; Quy định về việc mất quốc tịch Việt Nam, theo đó, một công dân có thể mất quốc tịch Việt Nam do được thôi quốc tịch Việt Nam, bị tước quốc tịch Việt Nam và do những điều kiện khác mà pháp luật quy định; Quy định về việc thay đổi quốc tịch của người chưa thành niên và của con nuôi, mà theo đó, khi cha mẹ có sự thay đổi về quốc tịch do nhập, thôi, hoặc trở lại quốc tịch Việt Nam thì quốc tịch của con chưa thành niên cũng thay đổi theo quốc tịch của cha

mẹ và trong trường hợp trẻ em được nhận làm con nuôi thi vẫn có quyền giữ hoặc có thể được nhập quốc tịch Việt Nam; Quy định về thẩm quyền và thủ tục giải quyết các vấn

đề về quốc tịch, theo đó, Luật Quốc tịch phân định rõ ràng và cụ thể thẩm quyền của Quốc hội, của Chủ tịch nước, của Chính phủ, Bộ Tư pháp và các bộ khác, của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc giải quyết các vấn đề về quốc tịch; Quy định về điều khoản thi hành, theo đó, Luật Quốc tịch năm 1998 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1999 và thay thế Luật Quốc tịch năm 1988.12

1.6.2 Những nội dung cơ bản về vấn đề hưởng quốc tịch của Luật quốc tịch Việt Nam 2008 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật quốc tịch Việt Nam 2014

12 http://doc.edu.vn/tai-lieu/khoa-luan-su-hinh-thanh-va-phat-trien-cua-phap-luat-quoc-tich-viet-nam-39361/ [truy cập ngày 15/10/2014]

Trang 20

1.6.2.1 Những nội dung cơ bản về vấn đề hưởng quốc tịch của Luật quốc tịch Việt Nam 2008

Ngày 13/11/2008, kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2009 bao gồm 6 chương với với

44 điều Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 còn bảo đảm sự phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 1992, sự đồng bộ với các văn bản pháp luật có liên quan cũng như tính khả thi các quy định có tính nguyên tắc của Luật Đảm bảo quyền có Quốc tịch của mỗi

cá nhân, hạn chế tình trạng không Quốc tịch ở nước ta, tăng cường và nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về Quốc tịch, tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ cho việc bảo hộ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài

Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 có 6 chương gồm 44 điều:

Chương 1: Những quy định chung;

Chương 2: Có Quốc tịch Việt Nam;

Chương 3: Mất Quốc tịch Việt Nam;

Chương 4: Thay đổi Quốc tịch của người chưa thành niên và của con nuôi;

Chương 5: Trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước về Quốc tịch;

Chương 6: Điều khoản thi hành

So với cấu trúc của Luật Quốc tịch năm 1998, Luật Quôc tịch năm 2008 cũng có 6

chương tuy nhiên tăng thêm 2 điều và chương 5 có tên gọi khác Luật năm 1998 (Thẩm

quyền và thủ tục giải quyết các vấn đề về Quốc tịch) Chương 5 Luật Quốc tịch năm 2008

thay đổi tên nhằm mục đích nhấn mạnh đến trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong những vấn đề về Quốc tịch Phân tích toàn bộ các chương và điều của Luật Quốc tịch năm 2008, chúng ta thấy Luật này có các nội dung cơ bản sau đây:

- Nguyên tắc một quốc tịch, nếu như điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 có

tên gọi là nguyên tắc “một Quốc tịch” và điều này quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã

hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân có một Quốc tịch là Quốc tịch Việt Nam”

thì “nguyên tắc Quốc tịch” là tên gọi của điều 4 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 là:

“Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một Quốc tịch là Quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp Luật này có quy định khác” Như vậy,

có thể thấy Luật Quốc tịch năm 1998 được xây dựng trên nguyên tắc “một Quốc tịch

triệt để” còn Luật Quốc tịch năm 2008 được xây dựng trên nguyên tắc “một Quốc tịch mềm dẻo” Nguyên tắc “một Quốc tịch mềm dẻo” thể hiện ở chỗ một mặt luật xác định ở

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mỗi cá nhân đều có quyền có Quốc tịch Việt Nam Nhà nước thừa nhận công dân Việt Nam có một Quốc tịch là Quốc tịch Việt Nam, nhưng nhà nước cũng thừa nhận một số người có hai hoặc nhiều Quốc tịch

Trang 21

- Nhập quốc tịch Việt Nam, về điều kiện để người nước ngoài, người không Quốc

tịch được nhập Quốc tịch Việt Nam, Luật Quốc tịch Việt Nam 2008, vẫn giữ nguyên như năm 1998 ở một số điểm sau:

+ Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam

+ Tuân thủ hiến pháp và pháp luật Việt Nam, tôn trọng truyền thống, tập quán của dân tộc Việt Nam

+ Biết tiếng việt để được hòa nhập vào cộng đồng Việt Nam

+ Đã thường trú ở Việt Nam từ 5 năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập Quốc tịch Việt Nam

+ Có khả năng đảm bảo cuộc sống tại Việt Nam13

Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định và làm rõ nếu người không Quốc tịch hoặc người nước ngoài thì sẽ được miễn điều kiện tại c), d), đ) khoản 1 Điều 19 luật

quốc tịch Việt Nam năm 2008 với điều kiện “là vợ chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của

công dân Việt Nam” hoặc “là người có công lao đóng góp đặc biệt cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam” hoặc “việc gia nhập Quốc tịch của người đó có lợi cho nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” thì được nhập Quốc tịch Việt Nam.

Bên cạnh đó, Khoản 5, Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 tiếp tục quy

định “Người xin nhập Quốc tịch Việt Nam không được nhập Quôc tịch Việt Nam nếu việc

đó làm hại đến lợi ích quốc gia Việt Nam”.

Thêm vào đó, Khoản 3, Điều 19, Luật Quốc tịch 2008 đã quy định “chỉ những đối

tượng cụ thể trong trường hợp đặc biệt nếu được Chủ tịch nước cho phép mới được giữ quốc tịch nước ngoài khi gia nhập Quốc tịch Việt Nam” Quy định này nhằm đảm bảo

nguyên tắc một Quốc tịch

Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã giải quyết vấn đề cư dân không Quốc tịch không có đầy đủ các giấy tờ về nhân thân nhưng đã cư trú ổn định tại Việt Nam bằng quy

định tại Điều 22: “Người không Quốc tịch mà không có đầy đủ giấy tờ về nhân thân

nhưng đã cư trú ổn định trên lãnh thổ Việt Nam từ 20 năm trở lên tính đến ngày Luật này

có hiệu lực và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam thì được nhập Quốc tịch Việt Nam theo trình tự, thủ tục và hồ sơ do Chính phủ quy định” Quy định trên cũng nhằm

hạn chế tình trạng người không có Quốc tịch đồng thời đảm bảo các quyền dân sự, chính trị cơ bản của con người, trong đó có quyền Quốc tịch cá nhân

Về thủ tục giải quyết trong vấn đề gia nhập Quốc tịch thì Luật Quốc tịch năm

2008 cũng đã luật hóa quy định về hồ sơ xin nhập Quốc tịch, tạo điều kiện thuận lợi cho người làm thủ tục xin hưởng quốc tịch Việt Nam

13 Điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008

Trang 22

- Trở lại quốc tịch Việt Nam, nhằm khắc phục các vướng mắc trong các quy định

của Luật Quốc tịch năm 1998 về trở lại Quốc tịch, Luật Quốc tịch năm 2008 đã có những sửa đổi, bổ sung kịp thời, hợp lý trong việc giải quyết các trường hợp xin trở lại Quốc tịch Việt Nam Khác với các quy định đơn giản và dàn trải trong Luật Quốc tịch 1998

(tập trung trong Điều 21 và rải rác trong một số điều liên quan đến trình tự, thủ tục giải quyết), Luật Quốc tịch 2008 đã dành hẳn một mục lớn (mục 3, bắt đầu từ Điều 23 đến Điều 26) quy định cụ thể và rõ ràng hơn về các vấn đề liên quan đến trở lại Quốc tịch.

Điều 23 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã ghi nhận thêm hai trường hợp có

thể được cho phép trở lại Quốc tịch Việt Nam, đó là “thực hiện đầu tư tại Việt Nam” hoặc

“đã thôi Quốc tịch Việt Nam để nhập Quốc tịch nước ngoài, nhưng không được nhập

Quốc tịch nước ngoài” Luật Quốc tịch năm 2008 cho phép trở lại Quốc tịch Việt Nam

đối với những người thôi Quốc tịch Việt Nam để nhập Quốc tịch nước ngoài, nhưng không được nhập Quốc tịch nước ngoài nhằm đảm bảo quyền có Quốc tịch của công dân đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Việt Nam, nhằm tránh tình trạng không Quốc tịch Chính vì vậy mà khoản 1, Điều 2 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy

định “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mỗi cá nhân đều có quyền có Quốc

tịch”.

Hơn nữa, khoản 2 Điều 23 Luật Quốc tịch năm 2008 còn ghi nhận, đối với các trường hợp xin trở lại Quốc tịch Việt Nam, nếu xét thấy sự trở lại Quốc tịch của người đó

có thể “làm phương hại đến lợi ích quốc gia Việt Nam” thì cơ quan nhà nước có thẩm

quyền xem xét và từ chối giải quyết

Bên cạnh đó, luật còn “luật hóa” các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ

xin trở lại Quốc tịch thay vì được quy định trong nghị định của Chính Phủ, đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước ở hiện tại cũng như định hướng phát triển chung của đất nước trong những năm sắp tới Theo quy định tại Điều 24 của Luật Quốc tịch năm 2008, người xin trở lại Quốc tịch Việt Nam phải lập hồ sơ xin trở lại Quốc tịch, đồng thời theo quy định tại điều 25 thì thời gian giải quyết xin trở lại Quốc tịch Việt Nam đã được rút ngắn

chỉ còn một nửa (tổng thời gian giải quyết chỉ còn 3 tháng).

- Pháp luật quốc tịch về trẻ em, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 đã kết hợp

nhuần nhuyễn hai nguyên tắc huyết thống và lãnh thổ trong việc xác định quốc tịch trẻ

em, cụ thể trẻ em sinh ra có Quốc tịch Việt Nam nếu:

+ Cha mẹ đều là công dân Việt Nam;

+ Cha mẹ là công dân Việt Nam còn người kia không có Quốc tịch

+ Mẹ là công dân Việt Nam còn người kia không rõ là ai

Trang 23

+ Cha mẹ thỏa thuận bằng văn bản vào thời điểm khai sinh cho trẻ em khi cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người nước ngoài Nếu cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn Quốc tịch thì trẻ em có Quốc tịch Việt Nam Quy định này nhằm mục đích bảo đảm cho trẻ em không bị rơi vào tình trạng không Quốc tịch.

Theo nguyên tắc nơi sinh, trẻ em có Quốc tịch Việt Nam trong những trường hợp:

+Cha mẹ không có Quốc tịch nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam

+ Mẹ không có Quốc tịch nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam còn cha không rõ

Đối với vấn đề của con nuôi, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 tiếp thu hoàn toàn nội dung của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 mà không có bất cứ sự điều chỉnh nào 14

1.6.2.2 Vấn đề hưởng quốc tịch trong luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật quốc tịch Việt Nam 2014

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam gồm 2 điều, đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 24/6/2014

Theo đó, nhằm Tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ quan

hệ gắn bó với gia đình và quê hương, Điều 13 được sửa đổi, bổ sung như sau:

- Người có quốc tịch Việt Nam bao gồm người đang có quốc tịch Việt Nam cho đến ngày Luật này có hiệu lực và người có quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật này

- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam

14 http://doan.edu.vn/do-an/de-tai-su-hinh-thanh-va-phat-trien-cua-phap-luat-quoc-tich-viet-nam-38526/ [truy cập ngày 15/10/2014]

Trang 24

- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam mà không

có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 11 của Luật này thì đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để được xác định có quốc tịch Việt Nam và cấp Hộ chiếu Việt Nam

- Chính phủ quy định chi tiết khoản này.15

- Bãi bỏ khoản 3 Điều 26

15 Điều 13 Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật quốc tịch Việt Nam 2014

Trang 25

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ HƯỞNG QUỐC TỊCH

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

2.1 Vấn đề hưởng quốc tịch trong luật quốc tịch Việt Nam

Sau đây, người viết đi vào phân tích về vấn đề hưởng quốc tịch trong luật quốc tịch Việt Nam Theo đó, một cá nhân được hưởng quốc tịch Việt Nam qua các trường hợp sau:

2.1.1 Hưởng quốc tịch do sinh ra

Hưởng quốc tịch do sinh ra là việc một công dân mang quốc tịch của một nhà nước được xác định một cách mặc nhiên ngay từ khi cá nhân đó mới sinh ra Hay nói cách khác, việc cá nhân mang quốc tịch của một nhà nước không phụ thuộc vào ý chí của bản thân cá nhân đó mà phụ thuộc vào ý chí của nhà nước

Luật quốc tịch Việt Nam công nhận hi nguyên tắc là “nguyên tắc huyết thống” và

“nguyên tắc nơi sinh” để xác định quốc tịch do sinh ra.16

2.1.1.1 Hưởng quốc tịch theo nguyên tắc huyết thống

Việc xác định quốc tịch cho trẻ em là rất quan trọng, đối với Nhà nước Việt Nam với mục đích là bảo vệ quyền lợi của trẻ em nên việc xác định quốc tịch của trẻ em sinh

ra được dựa trên cơ sở kết hợp hài hòa, hợp lý cả hai tiêu chí huyết thống và nơi sinh

Theo đó, tại Điều 15 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định: “Trẻ em sinh ra trong

hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam.” 17 Pháp luật Việt Nam trong trường hợp này đã áp dụng nguyên tắc huyết thống tuyệt đối để xác định quốc tịch cho đứa trẻ, không phụ thuộc vào ý chí của cha, mẹ đứa trẻ Pháp luật về quốc tịch khẳng định trong mọi trường hợp nếu đứa trẻ

có cha, mẹ đều có cùng một quốc tịch là Việt Nam thì dù đứa trẻ đó được sinh ra ở bất

kỳ lãnh thổ nào ngoài lãnh thổ Việt Nam thì đứa trẻ đó vẫn có quốc tịch Việt Nam Ngay cả trong trường hợp nước mà đứa trẻ có cha mẹ là công dân Việt Nam được sinh

ra tại nước có quy định trẻ em sinh ra trên lãnh thổ nước đó thì mặc nhiên được mang quốc tịch nước đó vẫn không làm thay đổi quốc tịch Việt Nam của người có cha mẹ đều

là công dân Việt Nam khi được sinh ra trên lãnh thổ nước ngoài Do đó, nếu đứa trẻ này sinh ra trên lãnh thổ nước ngoài và mang quốc tịch nước ngoài nhưng đồng thời cũng mang quốc tịch Việt Nam thì đứa trẻ này cũng có các quyền và nghĩa vụ của một công dân của Nhà nước Việt Nam

16 http://luanvan.co/luan-van/su-hinh-thanh-va-phat-trien-cua-phap-luat-quoc-tich-viet-nam-10094/ [truy cập ngày 15/10/2014]

17 Điều 15, Luật quốc tịch Việt Nam 2008

Trang 26

Tuy nhiên, để bảo đảm về quyền lợi cho mọi trẻ em tránh trường hợp phân biệt đối xử, pháp luật Việt Nam còn áp dụng cả nguyên tắc huyết thống tương đối để xác lập quốc tịch cho trẻ em trong trường hợp trẻ em chỉ có cha hoặc mẹ là có quốc tịch Việt Nam thì đứa trẻ có thể sẽ có quốc tịch Việt Nam.

Tại Điều 16 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 ghi nhận:

- Trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha hoặc

mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người không quốc tịch hoặc có mẹ là công dân Việt Nam còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam.

- Trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài thì có quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha

mẹ vào thời điểm đăng ký khai sinh cho con Trường hợp trẻ em được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con thì trẻ

em đó có quốc tịch Việt Nam 18

Trong trường hợp tại khoản 1 Điều 16 thì quốc tịch của đứa trẻ chỉ phụ thuộc vào một trong hai người cha hoặc mẹ, chỉ cần cha hoặc mẹ có quốc tịch Việt Nam thì đứa trẻ sẽ mang quốc tịch Việt Nam với điều kiện người còn lại là người không quốc tịch; có

mẹ là công dân Việt Nam và cha không rõ là ai, việc xác lập quốc tịch trong trường hợp này giống như quy định tại Điều 16 Luật này hoàn toàn không phụ thuộc vào nơi sinh của đứa trẻ, bất kể sinh ra trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam thì cũng đều có quốc tịch Việt Nam Đây cũng là một trường hợp được xem như đương nhiên có quốc tịch Việt Nam mà không phụ thuộc vào ý chí của cha, mẹ hay một nhân tố nào khác đối với việc xác lập quốc tịch theo khoản 2 Điều 16 thì đứa trẻ sẽ có quốc tịch Việt Nam bằng việc thỏa thuận của cha mẹ đứa trẻ, việc thỏa thuận này phải có sự xác nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tại Việt Nam về việc lựa chọn quốc tịch Việt Nam là phù hợp với pháp luật Việt Nam cho đứa trẻ đó.19

2.1.1.2 Hưởng quốc tịch theo nguyên tắc nơi sinh

Ngoài các trường hợp thừa nhận quốc tịch cho trẻ em theo nguyên tắc huyết thống, pháp luật về quốc tịch Việt Nam còn thừa nhận việc xác lập quốc tịch cho trẻ em theo nguyên tắc nơi sinh Trong trường hợp này không phải bất cứ trẻ em nào sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam cũng sẽ có quốc tịch Việt Nam mà nó phụ thuộc vào những yếu

tố nhất định, được quy định tại Điều 17 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 như sau:

- Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam.

18 Điều 16 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008

19 http://luanvan.co/luan-van/su-hinh-thanh-va-phat-trien-cua-phap-luat-quoc-tich-viet-nam-10094/ [truy cập ngày 15/10/2014]

Trang 27

- Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có mẹ là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam, còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam 20

Pháp luật Việt Nam đã tạo mọi điều kiện cho trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều có quốc tịch Việt Nam, bất kể cha mẹ của đứa trẻ đó là người không quốc tịch nhưng phải kèm theo điều kiện là phải thường trú tại Việt Nam Trong trường hợp trẻ

em đó sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha, mẹ có quốc tịch nước ngoài thì quốc tịch của đứa trẻ đó sẽ do pháp luật của nước mà cha mẹ đứa trẻ đó quy định Pháp luật Việt Nam còn ghi nhận việc có quốc tịch trong cả trường hợp mà trẻ sơ sinh bị bỏ rơi mà tìm

thấy trên lãnh thổ Việt Nam, cụ thể tại khoản 1 Điều 18, như sau: “Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi,

trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam mà không rõ cha mẹ là ai thì có quốc tịch Việt Nam.”.

Trẻ sơ sinh bi bỏ rơi tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam sẽ có quốc tịch Việt Nam, điều này thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước Việt Nam Nhà nước chỉ bảo hộ cho những người là công dân của nước mình, vì thế việc xác lập quốc tịch cho trẻ em quy định tại khoản 1 Điều 18 là Nhà nước Việt Nam tự nguyện ràng buộc trách nhiệm của mình đối với đứa trẻ đó, đồng thời Nhà nước ta cũng khẳng định đó là quyền thiêng liêng của trẻ em là quyền được khai sinh và quyền có quốc tịch như quy định tại Khoản

1 Điều 11 Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em năm 2005: “Trẻ em có quyền khai sinh và

có quốc tịch” 21 Quy định trên nhằm đảm bảo sự thống nhất với xu hướng chung của thế giới về bảo vệ quyền trẻ em như quy định tại Điều 7 Khoản 1 công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em

Cả hai nguyên tắc huyết thống và nơi sinh dù ít hay nhiều cũng có khiếm khuyết, không thể bao quát hết những trường hợp những cá nhân đang sinh sống trong đất nước

sở tại có quốc tịch Nhưng trên mặt thực tế thì không thể có một nguyên tắc nào có thể thâu tóm hết tất cả những trường hợp mà cá nhân được mang quốc tịch của nước sở tại Muốn hay không muốn, nhiều trường hợp xác định quốc tịch chỉ là hình thức Do đó, để hạn chế đến mức tối đa các cơ quan đại diện Nhà nước phải ra quyết định nhận quốc tịch của cá nhân nên nhiều Nhà nước trên thế giới đã áp dụng cả hai nguyên tắc trên

2.1.2 Hưởng quốc tịch Việt Nam theo sự gia nhập

Hưởng quốc tịch theo sự gia nhập được hiểu là việc một người được nhận quốc tịch của một nhà nước nhất định do việc xin gia nhập quốc tịch của nhà nước đó Việc nhập quốc tịch được quyết định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc trao quốc tịch của nước đó cho một người theo trình tự được pháp luật nước đó quy định Pháp luật

20 Điều 17 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008

21 Khoản 1 Điều 11 Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em năm 2005

Trang 28

về quốc tịch của đa số các nước đều cho phép những người chưa có quốc tịch nước nào hoặc những người có quốc tịch nhưng muốn xin thay đổi quốc tịch, hoặc thậm chí những người đã có một quốc tịch muốn xin thêm một quốc tịch nữa, có thể gia nhập quốc tịch của nước đó Theo hình thức này thì đòi hỏi phải có sự thống nhất ý chí của một bên là cá nhân xin nhập quốc tịch và một bên là quốc gia cho quốc tịch trên tinh thần

tự nguyện của cả hai Tuy nhiên, để cho một cá nhân nhập quốc tịch bằng con đường gia nhập thì pháp luật của các nước đều quy định một số điều kiện nhất định đối với người xin gia nhập quốc tịch 22

2.1.2.1 Điều kiện nhập quốc tịch

Theo Khoản 1 điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định thì Công dân nước ngoài và người không quốc tịch đang thường trú ở Việt Nam có đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam thì có thể được nhập quốc tịch Việt Nam, nếu có đủ các điều kiện sau đây:

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật Việt Nam;

- Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; tôn trọng truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Việt Nam;

- Biết tiếng Việt đủ để hoà nhập vào cộng đồng Việt Nam;

- Đã thường trú ở Việt Nam từ 5 năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch Việt Nam;

- Có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam.23

Đối với điều kiện về năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 17 Bộ Luật Dân Sự 2005 của Việt Nam thì năng lực hành vi dân sự được hiểu như sau:

“Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự”.24 Theo đó một cá nhân muốn nhập quốc tịch Việt Nam phải thỏa mãn những điều kiện về năng lực hành vi dân sự của pháp luật Việt Nam quy định Theo các quy định trên thì cá nhân khi nhập quốc tịch Việt Nam phải bằng chính hành vi của mình đệ đơn xin gia nhập quốc tịch Việt Nam và cũng bằng chính hành vi của mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ của một công dân Nhưng xét về một khía cạnh nào đó, nếu một người rơi vào các trường hợp mất năng lực hành vi dân sự dẫn đến tình trạng là họ không thể tự mình xin gia nhập quốc tịch Việt Nam trong khi nhu cầu gia nhập quốc tịch Việt Nam của họ là hoàn toàn chính đáng, chẳng hạn như trường hợp cả gia đình của người mất năng lựa hành vi dân sự

đó đồng thời chuyển sang định cư, sinh sống và xin nhập quốc tịch Việt Nam đã được Nhà Nước Việt Nam chấp nhận, thì việc không chấp nhận nhập quốc tịch cho họ trong

22 http://luanvan.co/luan-van/su-hinh-thanh-va-phat-trien-cua-phap-luat-quoc-tich-viet-nam-10094/ [truy cập ngày 16/10/2014]

23 Khoản 1 điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008

24 Điều 17 Bộ Luật Dân Sự 2005

Trang 29

trường hợp này là hoàn toàn bất lợi, mặc dầu trên thực tế những người này không đủ khả năng nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của các quyền và nghĩa vụ mà mình là chủ thể nhưng nếu không cho họ nhập quốc tịch Việt Nam thì đi trái lại nguyên tắc nhân đạo mà pháp luật luôn hướng tới Người mất năng lực hành vi dân sự không đồng nghĩa với việc mất đi một số quyền mà họ cần phải có trong đó có quyền con người và trong quyền con người có quyền có quốc tịch Do vậy, trong một số trường hợp nhất định nên chấp nhận giải quyết cho người mất năng lực hành vi dân sự nếu có nhu cầu xin nhập quốc tịch Việt Nam thì được giải quyết có được quốc tịch để đảm bảo cho họ được hưởng toàn diện các chính sách bảo hộ và chăm sóc tốt nhất từ phía gia đình và nước mà hiện tại họ đang sinh sống.

Sau khi một cá nhân xin nhập quốc tịch thỏa mãn về điều kiện năng lực hành vi dân sự thì cá nhân đó cần phải thỏa mãn thêm điều kiện là tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; tôn trọng truyền thống, phong tục, tập quán của dân tộc Việt Nam, quy định này hoàn toàn phù hợp, vì nếu Nhà nước Việt Nam cho một cá nhân nhập quốc tịch Việt Nam mà bản thân họ không tôn trọng pháp luật Việt Nam và những truyền thống tốt đẹp hình thành có tính lịch sử truyền thống của đất nước Việt Nam thì có thể dẫn đến những những hậu quả bất lợi về sau cho Nhà nước hoặc chế độ ta Có tuân thủ Hiến pháp và tôn trọng pháp luật cũng là một cách thức thể hiện thái độ của người xin gia nhập đối với Nhà nước cho nhập quốc tịch, họ thừa nhận rằng họ chấp nhận chịu sự chế tài về mặt pháp luật đồng thời họ chấp nhận đi vào khuôn khổ truyền thống, phong tục, tập quán của người Việt Nam Quá trình xem xét các yếu tố trên, không chỉ xét về mặt hiện tại trong thời điểm mà họ đệ đơn xin nhập quốc tịch Việt Nam mà cần phải xem xét cả về thái độ của họ đối với Nhà nước Việt Nam trong thời điểm quá khứ, đồng thời cũng phải tính trước những khả năng trong tương lai, để đánh giá rằng họ có thể gây nguy hại đến Nhà nước Việt Nam hay không, cũng rất quan trọng

Điều kiện tiếp theo là người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải biết tiếng Việt đủ

để hòa nhập vào cộng đồng xã hội Việt Nam; Một người xin nhập quốc tịch Việt Nam thì

họ cần phải biết được ngôn ngữ của Việt Nam, nếu không họ sẽ khó mà hòa nhập với cuộc sống tại Việt Nam, đồng thời sẽ gây cho họ những khó khăn trong giao tiếp, họ

có thể không đạt được những hy vọng mà đặt ra khi nhập quốc tịch Việt Nam Và khó khăn lớn nhất là họ không hiểu tốt được những quy định pháp luật của Nhà nước Việt Nam về những hành vi vi phạm pháp luật gây cho Nhà nước những cản trở lớn trong quá trình quản lý họ tại Nhà nước Việt Nam Tuy nhiên, không chỉ khi họ biết tiếng việt Nam là có thể nhập quốc tịch Việt Nam mà họ còn phải thỏa mãn về những quy định của pháp luật Việt Nam về trình độ tiếng Việt

Trang 30

Người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải là người đã thường trú ở Việt Nam từ năm năm trở lên Việc đòi hỏi thời gian thường trú tại Việt Nam từ năm năm trở lên đây

là một khoản thời gian cần phải có khi nhập quốc tịch Việt Nam, trong suốt khoản thời gian này thì cuộc sống của họ đã được ổn định và trong suốt khoản thời gian này pháp luật cũng đảm bảo rằng họ đã biết tương đối về ngôn ngữ, văn hóa và pháp luật của Nhà nước Việt Nam

Đồng thời người xin gia nhập phải có khả năng bảo đảm cuộc sống tại Việt Nam Đây là một yêu tố cũng không kém phần quan trọng, hình thức này cũng được quy định trong luật pháp của nhiều nước, không riêng gì nước ta Đây là sự khác biệt giữa người

có quốc tịch nguyên thủy và người có quốc tịch do gia nhập, người có quốc tịch bằng con đường gia nhập có thể là do điều kiện sống họ muốn có quốc tịch Việt Nam để thực hiện quyền và nghĩa vụ đồng thời việc có quốc tịch Việt Nam họ sẽ dễ dàng thực hiện các giao dịch dân sự và pháp lý hơn, việc đảm bảo cuộc sống khi nhập quốc tịch Việt Nam sẽ giúp cho họ không gặp khó khăn trong cuộc sống

Khi một cá nhân đã hội đủ tất cả các điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam thì họ

sẽ được cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam cho nhập quốc tịch Việt Nam

và vấn đề đặt ra là khi nhập quốc tịch Việt Nam thì họ phải từ bỏ quốc tịch hiện tại

mà họ đang có, điều này được quy định tại khoản 3 Điều 19, như sau: “Người nhập quốc

tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ những người quy định tại khoản 2 Điều này, trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép” 25

Pháp luật Việt Nam tính tới thời điểm hiện tại vẫn đang đi theo hướng tôn trọng nguyên tắc một quốc tịch, như vậy, khi muốn nhập quốc tịch Việt Nam người xin nhập quốc tịch phải trình trước cơ quan có thẩm quyền bản cam kết về việc từ bỏ quốc tịch nước ngoài khi được nhập quốc tịch Việt Nam Trong một số trường hợp quy định tại khoản 2 pháp luật nước ta chấp nhận trường hợp một công dân nước ngoài nhập quốc tịch Việt Nam mà không cần từ bỏ quốc tịch nước ngoài và người này sẽ có hai quốc tịch, quốc tịch mà họ có trước khi xin nhập quốc tịch Việt nam và quốc tịch Việt Nam, trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép thì cá nhân mới giữ lại quốc tịch trước kia của mình Quy định này nhằm hạn chế một người có hai hay nhiều quốc tịch,

dễ gây ra hậu quả pháp lý phức tạp

Ngoài ra tại Khoản 4 Điều 19 cũng quy định người xin nhập quốc tịch Việt Nam phải có tên gọi Việt Nam Tên gọi này do người xin nhập quốc tịch Việt Nam lựa chọn và được ghi rõ trong Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam

25 khoản 3 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam

Trang 31

Không phải bất kỳ một cá nhân nào thỏa mãn điều kiện về nhập quốc tịch Việt Nam đều có thể nhập quốc tịch Việt Nam, thỏa mãn những quy định của Nhà nước mà người xin nhập muốn gia nhập cũng chỉ là một yếu tố cấu thành trong một quy định của Nhà nước đặt ra, điều quan trọng là, việc nhập quốc tịch của họ có ảnh hưởng gì đến lợi ích của quốc gia mà họ xin nhập quốc tịch hay không Tại khoản 5 Điều 19 Luật

quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định rằng: “Người xin nhập quốc tịch Việt Nam

không được nhập quốc tịch Việt Nam, nếu việc đó làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam”.26 Việc chấp nhận cho nhập quốc tịch một cá nhân có được quốc tịch nước mình, nếu thấy rõ rằng việc nhập quốc tịch cho người đó làm ảnh hưởng đến lợi ích của quốc gia mình thì chắc hẳn không quốc gia nào chấp nhận, không riêng gì Việt Nam Trong mối quan hệ quốc tế ngày càng phát triển thì lợi ích quốc gia luôn đặt lên hàng đầu, nếu vì một lý do nào đó mà việc cho một cá nhân nào đó nhập quốc tịch nước mình mà ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia thì việc đó là không thể Cơ sở để từ chối việc nhập tịch cho một cá nhân này là lợi ích của quốc gia, của cả dân tộc nói chung, không phải của một cá nhân riêng biệt nào và phải dựa trên một nền tảng pháp lý vững chắc

Ngoài ra, nhằm để giải quyết thực trạng người không quốc tịch cư trú ở Việt Nam (Điều 22 luật quốc tịch Việt Nam 2008) Theo quy định này, những người không quốc tịch mà không có giấy tùy thân vẫn phải đáp ứng các điều kiện chung về nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 19 của luật quốc tịch Việt Nam 2008 nhưng có thể nhập quốc tịch Việt Nam theo trình tự, thủ tục đơn giãn hơn Với quy định này đã đáp ứng được thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, giải quyết được tình trạng tồn đọng về người không quốc tịch, tạo điều kiện cho họ được nhập quốc tịch Việt Nam theo đúng quy định của pháp luật

2.1.2.2 Miễn điều kiện được nhập quốc tịch

Không phải tất cả những người có nguyện vọng muốn được nhập quốc tịch Việt Nam thì đều phải có đầy đủ tất cả các điều kiện nói trên, Luật Quốc tịch Việt Nam năm

2008 cũng có những quy định mang tính mở, tạo điều kiện cho một số đối tượng được nhập quốc tịch Việt Nam mà không nhất thiết phải có đủ tất cả các điều kiện nói trên

Khoản 2 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam và Điều 6 Nghị định số

78/2009/NĐ-CP quy định những trường hợp được miễn một số điều kiện khi xin nhập quốc tịch Việt Nam, cụ thể là:

- Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam;

26 khoản 5 Điều 19 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008

Trang 32

- Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam là những người: được tặng thưởng Huân chương, Huy chương, danh hiệu cao quý khác của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miên Nam Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam xác nhận về công lao đặc biệt đó.

- Có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Người mà việc nhập quốc tịch Việt Nam của họ có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải là người có tài năng trong các lĩnh vực khoa học, kinh tế, văn hóa, xã hội, nghệ thuật, thể thao, được cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng nhận và cơ quan quản

lý nhà nước cấp bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác nhận việc nhập quốc tịch của họ

sẽ có đóng góp cho sự phát triển trong các lĩnh vực nói trên của Việt Nam

Như vậy, những người xin nhập quốc tịch Việt Nam mà thuộc một trong các trường hợp nói trên thì có thể được nhập quốc tịch Việt Nam mà không phải có điều kiện

về tiếng Việt, khả năng đảm bảo cuộc sống tại Việt Nam và không nhất thiết phải có đủ 5 năm thường trú tại Việt Nam kể từ ngày được cơ quan công an cấp thẻ thường trú

Ngoài việc được miễn một số điều kiện nói trên, những người xin nhập quốc tịch Việt Nam mà thuộc một trong những trường hợp này sẽ không phải thôi quốc tịch nước ngoài, nếu được Chủ tịch nước cho phép (khoản 3 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam) Tuy nhiên, để được Chủ tịch nước xem xét, quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam mà không phải thôi quốc tịch nước ngoài thì họ phải đưa ra được những lý do đặc biệt để xin giữ quốc tịch nước ngoài, ví dụ nếu họ thôi quốc tịch nước ngoài của họ khi được nhập quốc tịch Việt Nam thì sẽ mất quyền được hưởng lương hưu, trợ cấp xã hội của nước mà

họ đang có quốc tịch, mà đây lại là nguồn thu nhập duy nhất của họ… Điều này có nghĩa rằng, không phải tất cả những người xin nhập quốc tịch Việt Nam thuộc những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam thì đều không phải thôi quốc tịch nước ngoài khi được nhập quốc tịch Việt Nam mà chỉ trong những trường hợp đặc biệt mới được Chủ tịch nước xem xét

Theo Điều 6 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP quy định những trường hợp được miễn một số điều kiện nhập quốc tịch Việt Nam như sau:

Điều 6 Nghị định hướng dẫn cụ thể các điểm b (người có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam) và điểm c (người mà việc nhập quốc tịch Việt Nam của họ có lợi cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) khoản 2 Điều 19 Luật Quốc tịch Việt Nam:

Ngày đăng: 12/05/2016, 14:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w