1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhóm 1 – kinh tế vĩ mô

11 159 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 165 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I TỔNG SẢN PHẨM QUỐC NỘI VÀ TỔNG SẢN PHẨM QUỐC DÂN Khái niệm tổng sản phẩm quốc nội và tổng sản phẩm quốc dân - GDP là chỉ tiêu phản ánh giá trị bằng tiền của toàn bộ sản phẩm cuối cùng

Trang 1

MỞ ĐẦU

Theo dõi trên báo đài, TV và báo chí hàng ngày chúng ta thường xuyên được nghe và đọc các thông tin kinh tế vĩ mô Các cơ quan chức năng của chính phủ báo cáo hàng tháng

về tỷ lệ lạm phát Hàng quý có báo cáo về tổng sản phẩm trong nước (GDP) Các thông tin

về hoạt động của hệ thống tài chính bao gồm những vấn đề về thị trường tiền tệ, tín dụng

và lãi suất cũng được các tác nhân kinh tế quan tâm và bàn luận rộng rãi trên các báo chí chuyên ngành và báo điện tử hàng ngày Điều chắc chắn hầu như ai trong chúng ta cũng

đã ít nhiều đọc và nghe tới các thuật ngữ trên

Trong phần trình bày của mình, chúng tôi xin trình bày ý nghĩa của các cặp chỉ tiêu GDP (GNP) tổng số và bình quân, GDP (GNP) danh nghĩa và thực tế, qua các phân tích chung về tình hình thực tế tại Việt Nam trong 10 năm qua

Trang 2

I) TỔNG SẢN PHẨM QUỐC NỘI VÀ TỔNG SẢN PHẨM QUỐC DÂN

Khái niệm tổng sản phẩm quốc nội và tổng sản phẩm quốc dân

- GDP là chỉ tiêu phản ánh giá trị bằng tiền của toàn bộ sản phẩm cuối cùng

được sản xuất ra trên lãnh thổ một nước, tính trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm

- GNP tức Tổng sản lượng quốc gia hay Tổng sản phẩm quốc gia là một chỉ

tiêu kinh tế đánh giá sự phát triển kinh tế của một đất nước nó được tính là tổng giá trị bằng tiền của các sản phẩm cuối cùng và dịch vụ mà công dân của một nước làm ra trong một khoảng thời gian nào đó, thông thường là một năm tài chính, không kể làm ra ở đâu (trong hay ngoài nước)

Ý nghĩa

Lợi nhuận là thước đo tốt nhất kết quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp Trong khi đó, thành tựu kinh tế của một quốc gia phản ánh trong việc quốc gia đó đã sử dụng những yếu tố sản xuất của mình đến mức độ nào, để tạo ra sản phẩm phục vụ cho đời sống nhân dân đất nước mình

Vì GNP bao gồm GDP và phần chênh lệch về tài sản từ nước ngoài, nên GNP bình quân đầu người là một thước đo tốt hơn xét theo khía cạnh số lượng hàng hóa dịch vụ

mà mỗi người dân có thể mua được Đó là sự gia tăng quy mô sản lượng kinh tế nhanh hay chậm so với thời điểm gốc Quy mô và tốc độ tăng trưởng là"cặp đôi" trong nội dung khái niệm tăng trưởng kinh tế Hiện nay, trên thế giới người ta thường tính mức gia tăng về tổng giá trị của cải của xã hội bằng các đại lượng tổng sản phẩm quốc dân hoặc tổng sản phẩm quốc nội

- Chỉ tiêu GNP và GDP là những thước đo tốt về thành tựu kinh tế một đất nước Ngân hàng thế giới (WB) hay Quỹ tiền tệ quốc tế ( IMF) cũng như các nhà kinh tế khác thường sử dụng các chỉ tiêu này để so sánh quy mô sản xuất của các nước khác nhau trên thế giới

- GNP và GDP thường được sử dụng để phân tích những biến đổi về sản lượng của một đất nước trong thời gian khác nhau

- Các chỉ tiêu này còn được sử dụng để phân tích sự thay đổi mức sống dân cư

- Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là tổng giá trị tính bằng tiền của những hàng hoá

và dịch vụ mà một nước sản xuất ra từ các yếu tố sản xuất của mình (dù là sản xuất ở trong nước hay ở nước ngoài) trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)

Trang 3

- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng giá trị tính bằng tiền của toàn bộ hàng hoá

và dịch vụ mà một nước sản xuất ra trên lãnh thổ của nước đó (dù nó thuộc về người trong nước hay người nước ngoài) trong một thời gian nhất định (thường là một năm)

So sánh tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ta thấy: GNP = GDP + thu nhập ròng từ tài sản ở nước ngoài

Thu nhập ròng từ tài sản ở nước ngoài = thu nhập chuyển về nước của công dân nước

đó làm việc ở nước ngoài trừ đi thu nhập chuyển ra khỏi nước của người nước ngoài làm việc tại nước đó

Bảng số liệu Tổng Sản phẩm Quốc nội( tỷ USD)

GDP tính theo USD hiện tại Không được điều chỉnh theo mức lạm phát

Năm Tổng GDP

(tỷ USD)

Tăng trưởng (%)

GDP/ người (USD)

GDPn (tỷ USD)

Trang 4

Năm 2001 :Việt Nam tăng trưởng GDP là 6,8%

Năm 2002: Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tổng sản phẩm trong

nước (GDP) năm 2002 đạt trên 536 ngàn tỷ đồng, tăng 7,04% so với năm

2001 Với thành tựu này, Việt Nam xếp vị trí thứ hai về tốc độ tăng trưởng kinh tế của Châu Á, chỉ đứng sau Trung Quốc Đây là một thành tích vượt bậc của tất cả các ngành các cấp, các địa phương, vượt qua những khó khăn thách thức mới nảy sinh như dầu thô khai thác giảm, đầu tư nước ngoài thấp, thị trường xuất khẩu biến động bất lợi, hạn hán lũ quét ở nhiều nơi, cháy rừng U Minh, giá nông sản không ổn định

Các ngành sản xuất và dịch vụ đều phát triển toàn diện và tăng trưởng khá Trong 7,04% tăng trưởng của GDP, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 3,45% Giá trị sản xuất công nghiệp năm qua đạt trên 260 ngàn tỷ đồng, tăng 14,5% so với năm 2001.Trong cơ cấu sản xuất, tỷ trọng nông lâm nghiệp và thủy sản giảm từ trên 25,4% năm 1999 xuống còn xấp xỉ 23% năm 2002 Giá trị sản xuất nông nghiệp năm qua đạt gần 154.5 ngàn tỷ

Trang 5

đồng, tăng 5,4% so với năm ngoái Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện, thu nhập bình quân tăng khoảng 10% so với năm 2001

Năm 2003 : Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt mức tăng cao nhất trong 5 năm với 7,24%.Trong cơ cấu GDP, ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ lần lượt đạt các mức tăng trưởng 3,2%, 10,3% và 5,6% Báo cáo của Tổng cục thống kê chỉ rõ, trong các năm gần đây, ngành công nghiệp đã khẳng định sự tăng trưởng cao và ổn định, trong khi nông nghiệp thì ngược lại, tăng vừa thấp vừa không ổn định Trong các số liệu 2003 được ngành thống kê đưa ra, đáng chú ý là xuất khẩu đạt 19,9 tỷ USD (tăng 19% so với năm 2002), nhưng nhập khẩu lại lên đến 25 tỷ USD - kéo theo nhập siêu là 5,1 tỷ USD, cao chưa từng

có trong lịch sử Chỉ số giá (CPI) tăng 3%, mức khá lý tưởng trong điều kiện kinh tế VN đang trong giai đoạn tiến lên nền kinh tế thị trường Thu nhập bình quân đầu người (suy ra từ báo cáo của ngành thống kê) đạt khoảng 450 USD, tăng 30 USD so với năm trước Cũng trong năm qua, đã có 40,5 triệu lao động

từ 15 tuổi trở lên có việc làm Tỷ lệ thất nghiệp của khu vực thành thị chỉ 5,8%

Năm 2004 :tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt 7,8%

Năm 2005 : xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam đạt 32,23 tỷ USD, tăng 5,73

tỷ USD so với năm 2004

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2005 tăng, đạt 8,4% so với năm

2004, trong đó khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 4%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,6% và khu vực dịch vụ tăng 8,5%

Lĩnh vực văn hoá - xã hội tiếp tục có những bước phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện Tỷ lệ thất nghiệp tiếp tục giảm còn 5,3% ở khu vực thành thị (vượt mục tiêu kế hoạch 2001-2005 về giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị)

Những kết quả đạt được năm 2005, tạo tiền đề vững chắc cho cả nước bước vào thực hiện kế hoạch 2006 - 2010 Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia: Chất lượng tăng trưởng, hiệu quả đầu tư, chuyển dịch cơ cấu kinh

tế chung và cơ cấu trong nội bộ từng ngành kinh tế, cơ cấu xuất khẩu và sức cạnh tranh của sản phẩm nước ta không chỉ trên thị trường quốc tế mà ngay cả ở thị trường trong nước vẫn là những thách thức đối với nền kinh tế nước ta trong

Trang 6

những năm tới, nhất là trong năm 2006 khi thực hiện AFTA, cũng như chuẩn bị gia nhập WTO./

Năm 2006: GDP tăng 8,17%

trong hầu hết các lĩnh vực Khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm

2007 theo giá thực tế ước đạt 461,9 nghìn tỷ đồng, bằng 40,4% GDP (đạt kế hoạch đề ra 40% GDP) và tăng 15,8% so với năm 2006 Giá trị sản xuất của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2007 theo giá so sánh năm 1994 ước đạt gần 200 nghìn tỷ đồng, tăng 4,6% so với năm 2006, trong đó nông nghiệp tăng 2,9%; lâm nghiệp tăng 1% và thuỷ sản tăng 11% Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007 ước tính tăng 17,1% so với năm 2006.Giá trị hàng hóa xuất khẩu năm 2007 ước đạt gần 48,4 tỷ USD, tăng 21,5% so với năm 2006, trong

đó tất cả các mặt hàng chủ yếu đều tăng Giá trị xuất, nhập khẩu dịch vụ cả năm

2007 ước đạt 12,4 tỷ USD, tăng 21,6% so với năm trước, trong đó giá trị xuất khẩu dịch vụ đạt 6 tỷ USD, tăng 18,2% và giá trị nhập khẩu dịch vụ, gồm cả phí vận tải và bảo hiểm hàng nhập khẩu đạt 6,4 tỷ USD, tăng 24,9%

Năm 2007, nhìn chung đời sống của dân nhân tiếp tục ổn định và từng

bước được cải thiện Tỷ lệ hộ nghèo của cả nước đã giảm từ 15,47% năm 2006 xuống còn 14,75% năm 2007 vượt kế hoạch đề ra (16%)

Năm 2008: GDP của Việt Nam chỉ tăng 6,23%

Theo Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Nguyễn Đức Hoà, mặc dù tốc

độ tăng GDP năm 2008 chỉ là 6,23%, thấp hơn 2,25% so với năm 2007 và thấp hơn 0,77% so với kế hoạch điều chỉnh nhưng trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu, tốc độ tăng như vậy cũng là một thành tựu lớn, tạo điều kiện thuận lợi để giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội Năm

2008, giá trị sản xuất nông-lâm-nghiệp-thuỷ sản, giá trị sản xuất công nghiệp

và dịch vụ đều tăng trưởng so với năm 2007 Mặc dù gặp nhiều khó khăn về thị trường xuất khẩu nhưng Việt Nam vẫn có 8 nhóm mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 2 tỷ USD; trong đó có gạo và cà phê Nhập siêu hàng hoá là 17,5 tỷ USD, bằng 27,8% giá trị xuất khẩu Đáng chú ý, tỷ lệ hộ nghèo cả nước năm

2008 đã giảm 1,3% so với năm 2007 Tuy nhiên, tình hình kinh tế xã hội năm

2008 vẫn còn những hạn chế và yếu kém, nếu không có các biện pháp khắc phục có hiệu quả sẽ ảnh hưởng lớn đến thực hiện kế hoạch năm 2009 và các

Trang 7

năm tiếp theo Theo đó, 3 nhóm hạn chế là: Tốc độ tăng trưởng kinh tế có xu hướng chậm lại; kết quả kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vì mô chưa vững chắc; một số vấn đề xã hội bức xúc như: thiếu đói, dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm, tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường chậm được khắc phục

Năm 2009: Tổng sản phẩm trong nước GDP năm 2009 tăng 5,32%, vượt chỉ

tiêu đề ra trước đó là 5% Trong đó, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 7,6%

-Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước thực hiện tăng 88,9% Vốn đầu tư toàn

xã hội thực hiện năm 2009 theo giá thực tế ước tính tăng 15,3% so với năm

2008 và bằng 42,8% GDP

-Hai chỉ tiêu giảm so với năm ngoái là tổng kim ngạch xuất khẩu giảm 9,3% Tổng kim ngạch nhập khẩu giảm 14,7%

-Bội chi ngân sách Nhà nước năm 2009: bằng 7% GDP, thực hiện được mức Quốc Hội đề ra

-Xuất khẩu hàng hoá: Tính chung kim ngạch hàng hoá xuất khẩu năm 2009 ước tính đạt 56,6 tỷ USD, giảm 9,7% so với năm 2008

-Nhập khẩu hàng hoá: Tính chung cả năm 2009, kim ngạch hàng hoá nhập khẩu ước tính 68,8 tỷ USD, giảm 14,7% so với năm 2008

-Chỉ số giá tiêu dùng: Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2009 tăng 6,88%

so với năm 2008, thấp nhất trong 6 năm trở lại đây

II) GDP (GNP) BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI

Khái niệm

Là tỷ lệ giữa GDP tổng số với tổng dân số của một quốc gia trong một thời

kỳ nhất định

GDP bình quân đầu người = GDP tổng số /Dân số

Dùng để đánh giá và phân tích sự thay đổi mức sống dân cư thông qua GNP bình quân đầu người hay GDP bình quân đầu người

Ý nghĩa:

-GDP bình quân đầu người cho biết mức sống của một nước phụ thuộc vào

số lượng hàng hóa và dịch vụ mà họ sản xuất ra và quy mô dân số của nước đó -GDP bình quân đầu người là một thước đo tốt hơn về số lượng hàng hóa dịch vụ sản xuất ra tính bình quân cho một người dân

Trang 8

 Thu nhập bình quân của người dân Việt Nam ngày càng nâng cao Thế nhưng cuộc sống của người dân Việt Nam có được nâng cao hơn không?

-Năm 2008, thế giới phải trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế lớn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều nước Điều này đã ít nhiều gây ảnh hưởng đến nền kinh

tế Việt Nam GDP bình quân đầu người ở Việt Nam năm 2008, tăng lên nhưng thực tế chỉ số giá tiêu dùng còn tăng nhiều hơn với tỉ lệ 21% -22% Theo ý kiến của

TS.Nguyễn Minh Phong, Viện phát triển kinh tế xã hội Hà Nội thì : “lạm phát của Việt Nam năm nay ước tính 22%” Còn GDP tăng lên phản ánh quy mô nền kinh tế tăng lên

mà trong trường hợp của chúng ta là tăng về đầu tư trực tiếp và cả gián tiếp (đầu tư FDI chiếm khoảng 40% GDP) Do vây, tuy có chỉ số GDP tăng nhưng thu nhập thực tế của người dân chưa chắc đã tăng lên GDP không phản ánh tất cả

Với mức chuẩn Liên hợp quốc đưa ra là 960USD/đầu người/năm, người dân Việt Nam đang có cơ hội thoát nghèo và tiến dần đến mức thu nhập trung bình trên thế giới Song kết quả gây không ít ngạc nhiên cho nhiều người dân

Một cuộc khảo sát nhanh của VTC News với 10 người dân đã cho kết quả thực tế: 6 người biết thu nhập của họ thực tế tăng rất ít từ năm ngoái tới năm nay, 4 người còn lại cho biết thu nhập được điều chỉnh tăng lên nhưng không đáng kể so với mức giá cả hiện nay

Một cuộc khảo sát khác trên tờ báo điện tử cho kết quả: 60.7% người được hỏi cho rằng GDP bình quân đầu người dưới 800USD, và 10.9% nhận định trên 1000 USD

GNP (GDP) thực tế và GNP (GDP) danh nghĩa

Tăng trưởng kinh tế là mức gia tăng GDP hay GNP năm sau so với năm trước GNP và GDP là hai thước đo tiện lợi nhất để tính mức tăng trưởng kinh

tế của một nước biểu hiện bằng giá cả Vì vậy, để tính đến yếu tố lạm phát người ta phân định GNP, GDP danh nghĩa và GNP, GDP thực tế GNP, GDP danh nghĩa là GNP và GDP tính theo giá hiện hành của năm tính; còn GNP và GDP thực tế là GNP và GDP được tính theo giá cố định của một năm được chọn làm gốc Với tư cách này, GNP, GDP thực tế loại trừ được ảnh hưởng của

Trang 9

sự biến động của giá cả (lạm phát) Do đó, có mức tăng trưởng danh nghĩa và mức tăng trưởng thực tế

- Đo lường tổng sản phẩm quốc dân sản xuất ra trong một thời kì, theo giá

cố định ở một thời kì được lấy làm gốc so sánh

- Được đưa ra nhằm điều chỉnh lại của những sai lệch như sự mất giá của đồng tiền trong việc tính toán GNP (GDP) danh nghĩa để có thể ước lượng chuẩn hơn số lượng thực sự của hàng hóa và dịch vụ tạo thành GNP (GDP) GNP (GDP) thứ nhất đôi khi được gọi là "GNP (GDP) tiền tệ" trong khi GNP (GDP) thứ hai được gọi là GNP (GDP) "giá cố định" hay GNP (GDP) "điều chỉnh lạm phát" hoặc

"GNP (GDP) theo giá năm gốc" (Năm gốc được chọn theo luật định)

- Đo lường tổng sản phẩm quốc dân sản xuất ra trong một thời kì, theo giá cố định ở một thời kì được lấy làm gốc so sánh

- Ký hiệu: GNPr (GDPr)

- GNPr (GDPr ) = ∑p0q1

Trong đó chỉ số 0 được dùng để chỉ thời kì cố định

GNPr2009/1991 = ∑ P1991 × Q2009

Để so sánh chỉ tiêu 2 năm ta dùng GNP(GDP) thực tế

* Cầu nối giữa GNP danh nghĩa và GNP thực tế là chỉ số giá cả, còn gọi

là chỉ số lạm phát (D) tính theo GNP

D = 100 × GNP danh nghĩa / GNP thực tế = 100 × GNPn / GNPr

Hay GNPr = GNPn / D

Như vây, khi biết chỉ số giá (D) chúng ta có thể tính được GNPr từ GNPn Ngược lại, khi biết GNPr và chỉ số giá (D) chúng ta có thể tính được GNPn của cùng một thời kì

* Chỉ tiêu GNP danh nghĩa và GNP thực tế thường được dùng cho các mục tiêu khác nhau Chẳng hạn, khi muốn nghiên cứu mối quan hệ tài chính ngân hàng, người ta thường dùng GNP danh nghĩa; khi cần phân tích tốc độ tăng trưởng kinh tế người ta thường dùng GNP thực tế

Trang 10

10

20

30

40

50

60

70

80

90

100

19 99 20 01 20 03 20 05 20 07 20 09

gdp thực tế

gdp danh nghĩa

Kết luận và kiến nghị

Hơn 20 năm đổi mới và hội nhập, kinh tế VN không ngừng phát triển với tốc độ cao, VN đã thoát ra khỏi nhóm các nước có mức thu nhập thấp, mức sống người dân được cải thiện, tỷ lệ nghèo giảm mạnh, nền kinh tế đang chuyển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên, như đã trình bày, những hạn chế và những thách thức của hội nhập không phải là ít Nhiều chỉ số phát triển còn thấp

Để phát triển đất nước theo mục tiêu về cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, một số chỉ tiêu phát triển VN phải đạt được đó là GDP/người phải > 3.000 USD, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP phải <15%, lao động làm việc trong các ngành phi nông nghiệp phải lớn hơn 75%, đô thị hóa có tỷ lệ dân số

đô thị >50%… Với những chỉ tiêu phát triển trên của một nước công nghiệp, đòi hỏi VN phải có một chiến lược phát triển phù hợp Trong 11 năm tới chúng

ta phải đạt được mức GDP/người gấp ba lần hiện nay, tốc độ tăng bình quân mỗi năm phải 9,6% Đây là mức phấn đấu vô cùng khó khăn, do qui mô nền kinh tế và thu nhập đã cao nhiều so với thời kỳ trước (mốc thu nhập đầu người của năm 1990 chỉ là hơn 100 USD, hiện nay trên 1,000 USD), đạt được tốc độ tăng bình quân cao là rất khó so với khi qui mô nền kinh tế nhỏ Mặc dù dân số

Ngày đăng: 11/05/2016, 16:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu Tổng Sản phẩm Quốc nội( tỷ USD) - Nhóm 1 – kinh tế vĩ mô
Bảng s ố liệu Tổng Sản phẩm Quốc nội( tỷ USD) (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w