Hệ thống trữ năng dùng bánh đà Bánh đà có thể được dùng để trữ năng lượng trong hệ thống điện, khi được ghép vào một máy điện.. Ắc-quy chì-axit Ắc-quy chì-axit không bị hiệu ứng nhớ n
Trang 1408004 Năng lượng tái tạo
Giảng viên: TS Nguyễn Quang Nam
2013 – 2014, HK1
http://www4.hcmut.edu.vn/~nqnam/lecture.php
nqnam@hcmut.edu.vn
Trang 3Giới thiệu về tích trữ năng lượng
Các công nghệ trữ năng không đóng vai trò nguồn năng
lượng Thiết bị lưu trữ có tác dụng hỗ trợ nhằm cải thiện: độ
ổn định, chất lượng điện năng và sự an ninh năng lượng
Trang 4Giới thiệu về tích trữ năng lượng
Trang 5ICoil
Dewar Power Conversion System
CSI or VSI + dc-dc chopper
AC
Line
Trang 6Hệ thống trữ năng dùng siêu dẫn
Trang 7Hệ thống trữ năng dùng bánh đà
Bánh đà có thể được dùng để trữ năng lượng trong hệ thống
điện, khi được ghép vào một máy điện
Năng lượng lưu trữ trong bánh đà phụ thuộc vào mô men
quán tính của phần quay và bình phương tốc độ quay Năng lượng được truyền vào bánh đà khi máy điện hoạt động như một động cơ (gia tốc bánh đà), nạp năng lượng vào thiết bị Bánh đà giải phóng năng lượng khi máy điện hoạt động ở chế độ máy phát (giảm tốc bánh đà)
Trang 8Hệ thống trữ năng dùng bánh đà
Trang 9Các loại pin/ắc-quy
Ở đây đề cập đến các thiết bị lưu trữ năng lượng Trước hết,
chúng ta phân loại theo tính chất năng lượng của thiết bị:
Pin/ắc-quy sơ cấp (không thể nạp lại được)
Pin/ắc-quy thứ cấp (có thể nạp lại được)
Pin/ắc-quy sơ cấp phổ biến là loại carbon-kẽm và
kền-mangan Ngoài ra, người ta cũng sản xuất pin/ắc-quy sơ cấp bằng lithium
Có khá nhiều loại pin/ắc-quy thứ cấp đang được sử dụng,
trong đó một số loại thông dụng được liệt kê ở slide tiếp
theo
Trang 10Các loại pin/ắc-quy
Một số pin/ắc-quy thứ cấp thông dụng:
Chì-axit (Lead-acid)
Niken-cađimi (NiCd)
Niken-hyđrôxit kim loại (NiMH)
Lithium-ion (Li-ion): được chia thành ba loại chính, bao
gồm ion-cobalt, ion-manganese, và ion-phosphate
lithium- Lithium-polymer (Li-Po)
Trang 11Ắc-quy chì-axit
Được sáng chế vào năm 1859, đây là loại ắc-quy có thể nạp
lại đầu tiên được thương mại hóa
Ưu điểm chính là độ tin cậy cao và giá rẻ (trên đơn vị công
suất) Nhược điểm chính là nặng nề và kém bền hơn ắc-quy gốc niken và lithium khi phóng điện sâu
Tùy vào độ sâu phóng điện, số chu kỳ nạp/phóng của ắc-quy
chì-axit là khoảng 200 – 300 chu kỳ Nhiệt độ tăng cao và tốc
độ phóng điện cao hơn sẽ làm giảm giới hạn này
Ắc-quy chì-axit không cho phép nạp nhanh, thông thường
phải được nạp ở tốc độ C/10 trong thời gian 14 – 16 giờ
Trang 12Ắc-quy chì-axit
Ắc-quy chì-axit không bị hiệu ứng nhớ như ắc-quy gốc niken,
và có mức tự phóng điện thấp nhất trong số các ắc-quy có thể nạp lại
Ắc-quy chì-axit kín khí (hay không cần bảo dưỡng) sử dụng
công nghệ gel (còn gọi là VRLA) hay absorbent glass mat
(AGM) để giảm tối đa sự hao hụt nước và cho phép sử dụng ắc-quy ở bất kỳ tư thế nào
Nhiệt độ làm việc tối ưu của VRLA là 25 °C, và mỗi 8 °C gia tăng sẽ làm giảm một nửa tuổi thọ của ắc-quy
Trang 13Nạp điện cho ắc-quy chì-axit
Ắc-quy chì-axit dùng một thuật toán dựa vào điện áp tương
tự như ắc-quy lithium-ion
Thời gian nạp của ắc-quy nhỏ (SLA) là 12 – 16 giờ, và đến
36 – 48 giờ với các ắc-quy lớn
Ắc-quy chì-axit nên được nạp theo ba giai đoạn: nạp ở dòng
điện không đổi, nạp bổ sung, và nạp thả nổi
Nạp ở dòng không đổi đưa phần lớn điện tích vào ắc-quy và
kéo dài khoảng một nửa thời gian cần nạp, sau đó giai đoạn nạp bổ sung tiếp tục ở dòng điện thấp hơn và ắc-quy bão hòa, và nạp thả nổi bù cho các hao hụt do tự phóng điện
Trang 14Nạp điện cho ắc-quy chì-axit
Giai đoạn 1: điện áp tăng
ở dòng điện không đổi
Giải đoạn 2: điện áp đạt
Trang 15Nạp điện cho ắc-quy chì-axit
Trong giai đoạn nạp ở dòng không đổi, ắc-quy nạp đến 70%
dung lượng trong 5 – 8 giờ, 30% còn lại được cung cấp bởi giai đoạn nạp bổ sung
Việc nạp bổ sung là cần thiết để giúp ắc-quy hoạt động tốt
Nếu bỏ qua giai đoạn này, ắc-quy sẽ mất dần dung lượng
Sự chuyển tiếp từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 2 xảy ra một
cách tự nhiên khi ắc-quy đạt giới hạn điện áp Dòng điện sẽ giảm xuống khi ắc-quy bắt đầu bão hòa, và ắc-quy đầy khi dòng điện còn bằng 3% dòng điện danh định
Điện áp của một ngăn khi đầy là 2,3 đến 2,45 V.
Trang 16Nạp điện cho ắc-quy chì-axit
Khi đã nạp đầy, ắc-quy không nên được đặt điện áp nạp bổ
sung quá 48 giờ, mà phải giảm xuống mức điện áp nạp thả nổi, đặc biệt cho các hệ kín khí
Ắc-quy chì-axit phải luôn luôn được lưu trữ ở trạng thái được
nạp, và phải nạp bổ sung mỗi 6 tháng để điện áp của ngăn không giảm xuống dưới 2,1 V
Việc đo điện áp hở mạch khi ắc-quy đã được nghỉ vài giờ sẽ
cung cấp thông tin đáng tin cậy về trạng thái điện tích (SOC) của ắc-quy Chú ý sự phụ thuộc của điện áp vào nhiệt độ
Trang 17Ắc-quy lithium
Lithium là kim loại nhẹ nhất, có thế điện hóa lớn nhất và
cung cấp suất năng lượng lớn nhất
Sự không ổn định của kim loại lithium trong các pin/ắc-quy thứ cấp gốc lithium đầu tiên đã dẫn đến việc sử dụng ion lithitum
Suất năng lượng của Li-ion gấp đôi của NiCd, nhờ vào điện
thế danh định của cell là 3,6 V so với 1,2 V của thiết bị gốc niken
Đặc tính phóng điện dạng nằm ngang cho phép tận dụng
hiệu quả năng lượng lưu trữ trong pin/ắc-quy
Trang 18Ắc-quy lithium-ion
Chi phí sản xuất pin/ắc-quy Li-ion giảm mạnh sau 2 thập kỷ,
trong khi dung lượng lại tăng lên vài lần, kết hợp với sự gia tăng suất năng lượng và sự vắng mặt của các vật liệu độc hại đã dọn đường cho Li-ion trở thành pin/ắc-quy được chấp nhận rộng rãi trong các ứng dụng xách tay
Li-ion ít cần bảo dưỡng, không có hiệu ứng nhớ và không
cần phóng điện hoàn toàn để duy trì dung lượng
Điện áp danh định 3,6 V rất phù hợp cho các điện thoại và
camera, giúp đơn giản hóa và giảm chi phí
Trang 19Ắc-quy lithium-ion
Mặc dù đều dùng ion lithium, có nhiều loại pin/ắc-quy
lithium-ion, do chúng dùng vật liệu làm cathode khác nhau
Cathode có thể được chế tạo từ Lithium Cobalt Oxide,
Lithium Manganese Oxide, Lithium Iron Phosphate, Lithium Nickel Manganese Cobalt (NMC) và Lithium Nickel Cobalt Aluminum Oxide (NCA).
Trong những năm gần đây, hầu hết các nhà sản xuất đều
dùng than chì làm anode, thay cho than cốc, để đạt được đặc tính phóng điện nằm ngang hơn
Trang 21Nạp điện ắc-quy lithium-ion
Bộ nạp điện cho ắc-quy Li-ion là một thiết bị giới hạn điện áp
tương tự như với ắc-quy chì-axit Sự khác biệt ở đây là điện
áp ngăn cao hơn, dung sai điện áp chặt hơn, và không có giai đoạn nạp thả nổi
Hầu hết các ngăn ắc-quy Li-ion nạp đến điện áp 4,2 V với
dung sai ±50 mV
Nạp đến điện áp cao hơn có thể tăng dung lượng, nhưng
làm ôxy hóa ngăn dẫn đến giảm tuổi thọ
Quan trọng hơn là điện áp ngăn quá cao ảnh hưởng đến độ
an toàn của ắc-quy
Trang 22Nạp điện ắc-quy lithium-ion
Ắc-quy Li-ion xem
Trang 23Nạp điện ắc-quy lithium-ion
Tốc độ nạp điển hình của ắc-quy Li-ion là trong khoảng 0,5C
và 1C ở giai đoạn 1, và thời gian nạp là khoảng 3 giờ
Một số nhà sản xuất đề nghị nạp các pin 18650 ở tốc độ từ 0,8C trở xuống
Hiệu suất nạp trong khoảng 97 đến 99% và ắc-quy vẫn mát
trong quá trình nạp
Giá trị dòng điện nạp không ảnh hưởng lắm đến điện lượng
khi nạp đầy của ắc-quy Mặc dù ắc-quy đạt điện áp đỉnh
nhanh hơn khi nạp nhanh, giai đoạn nạp bão hòa sẽ kéo dài lâu hơn
Trang 24Nạp điện ắc-quy lithium-ion
Ắc-quy Li-ion không cần phải nạp đầy như ắc-quy chì-axit
Thực tế, việc không nạp đầy sẽ tốt hơn, vì giảm được điện
áp đặt vào ắc-quy
Chọn ngưỡng điện áp thấp hơn, hay loại bỏ giai đoạn nạp
bão hòa, sẽ kéo dài tuổi thọ của ắc-quy nhưng giảm thời
gian làm việc
Bảng số liệu ở slide tiếp theo minh họa lượng điện tích trong
ắc-quy khi nạp đến các ngưỡng điện áp khác nhau, khi có và không có giai đoạn nạp bão hòa
Trang 25Nạp điện ắc-quy lithium-ion
Trang 26Nạp điện ắc-quy lithium-ion
Việc dựa vào điện áp nạp để ước lượng điện tích bên trong
ắc-quy Li-ion là không thực tế Cần phải dựa vào điện áp hở mạch (sau khi ắc-quy đã nghỉ vài giờ) để ước tính SOC
Ắc-quy Li-ion không thể được nạp điện quá mức, mà phải
ngắt điện khi ắc-quy đã đầy Điện áp hở mạch sẽ bằng 3,6 đến 3,9 V/ngăn sau khi đã nghỉ đủ lâu
Một số bộ nạp sử dụng chế độ nạp bổ sung khi ắc-quy được
nối thường trực với bộ nạp, nếu điện áp của ngăn giảm
xuống còn 4,05 V
Trang 27Nạp điện ắc-quy lithium-ion
Ắc-quy Li-ion sẽ mất ổn định khi bị nạp điện quá mức, vì sự
hình thành của kim loại lithium trên anode, và phát sinh CO2
ở cathode
Khi áp suất tăng cao, một màng an toàn sẽ bị phá hủy và
pin/ắc-quy có thể phát hỏa
Ngưỡng gia nhiệt mất kiểm soát bị hạ thấp khi ắc-quy được
nạp đầy, và nằm trong khoảng 130 – 150 °C (Li-cobalt), 170 – 180 °C (NMC) và 250 °C (Li-manganese)
Mọi hệ thống ắc-quy đòi hỏi phải thiết kế bộ nạp điện một
cách chính xác
Trang 28Lithium-ion burnout
Trang 29Lithium-polymer overcharging
Trang 30 Tụ điện giải dùng điện
môi ướt, điện dung đạt
vài chục mF
Siêu tụ điện có điện dung
Trang 31Siêu tụ điện
Siêu tụ điện được phát triển đầu tiên vào năm 1957, nhưng
chỉ đến những năm 1990 mới được thương mại hóa nhờ
những tiến bộ trong công nghệ vật liệu và sản xuất
Siêu tụ điện hiện nay không phải là ắc-quy nhưng vay mượn
công nghệ từ ắc-quy
Siêu tụ điện bị giới hạn ở điện áp 2,5 – 2,7 V Để đạt điện áp
cao hơn, các siêu tụ điện được mắc nối tiếp với nhau
Điện dung tổng của tụ điện do đó bị giảm, và sẽ cần cân
bằng điện áp nếu có nhiều hơn 3 tụ điện được mắc nối tiếp với nhau
Trang 32Siêu tụ điện
Suất năng lượng của siêu tụ điện chỉ trong khoảng 1 đến 30
Wh/kg Ngoài ra, điện áp của siêu tụ điện giảm tuyến tính theo điện lượng trong tụ điện về bằng 0
Ví dụ, nguồn điện 6 V được phép phóng điện đến 4,5 V Với
đặc tính phóng điện tuyến tính, chỉ một phần tư năng lượng lưu trữ được sử dụng, và ba phần tư năng lượng còn lại
không thể sử dụng
Có thể dùng một bộ biến đổi DC-DC để tận dụng phần năng
lượng còn lại, nhưng sẽ có tổn thất khoảng 10 – 15%, và chi
Trang 33Siêu tụ điện
So sánh siêu tụ điện và pin/ắc-quy Li-ion
Function Supercapacitor Lithium-ion (general)
5 (typical)
Up to 10,000
$20 (typical)
10 to 15 years –40 to 65°C (–40 to 149°F) –40 to 65°C (–40 to 149°F)
10–60 minutes
500 and higher 3.6 to 3.7V 100–200 1,000 to 3,000
$0.50-$1.00 (large system)
5 to 10 years
0 to 45°C (32°to 113°F) –20 to 60°C (–4 to 140°F)
Trang 34Siêu tụ điện
Với tốc độ nạp/phóng điện cực nhanh, siêu tụ điện rất thích
hợp cho việc hỗ trợ dự phòng các trường hợp gián đoạn nguồn ngắn hạn, cũng như hỗ trợ phụ tải đỉnh trong các xe điện lai hay ứng dụng pin nhiên liệu
Thời gian nạp điện của siêu tụ điện là khoảng 10 giây, với
đặc tính tương tự như của ắc-quy điện hóa, và dòng điện nạp thường bị giới hạn bởi bộ nạp
Siêu tụ không thể bị nạp quá điện áp, và không cần mạch
bảo vệ nạp đầy; khi nạp đầy thì dòng điện chỉ ngưng chạy
Trang 35Siêu tụ điện
Siêu tụ điện cũng không bị lão hóa, và thường giảm dung
lượng xuống còn 80% trong vòng 10 năm
Siêu tụ điện có thể hoạt động tốt ở nhiệt độ cao và thấp
Dòng điện rò của siêu tụ điện khá lớn, với 50% năng lượng
lưu trữ bị hao hụt trong vòng 30 đến 40 ngày
Xét về chi phí trên đơn vị công suất thì siêu tụ điện thuộc loại
thiết bị đắt tiền Tuy nhiên, cần nhớ rằng siêu tụ điện và quy không cạnh tranh nhau, mà phục vụ cho những ứng
ắc-dụng riêng biệt
Trang 36Siêu tụ điện
Những ưu điểm của siêu tụ điện:
Lưu trữ năng lượng lớn So với công nghệ tụ điện truyền
thống, siêu tụ điện EDLC có mật độ cao hơn nhiều bậc, nhờ điện cực carbon xốp để tạo diện tích bề mặt lớn
Điện trở nối tiếp tương đương nhỏ So với ắc-quy, EDLC có
điện trở nội thấp, tạo ra mật độ công suất lớn
Hoạt động tốt ở nhiệt độ thấp.
Nạp/phóng điện nhanh Nhờ hấp thụ và giải phóng ion thông
qua điện trở nội thấp, có thể đạt được dòng điện nạp/phóng
Trang 37Siêu tụ điện
Những nhược điểm của siêu tụ điện:
Điện áp đơn vị thấp (EDLC có điện áp mỗi đơn vị khoảng
2,7 V), dẫn đến thường phải mắc nối tiếp
Không thể dùng trong các mạch AC và tần số cao, do hằng
số thời gian khá lớn
Trang 38Siêu tụ điện và những công nghệ khác