1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phương pháp dạy học Văn

26 223 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 63,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp nhận văn học đòi hỏi sự giao tiếp, sự tranh luận, thảo luận giữa người đọc - học sinh với giáo viên, giữa học sinh với nhau về tác phẩm.. Trong tiếp nhận văn học, người đọc ở vào mộ

Trang 1

- Nắm được cách đọc tác phẩm và cách hướng dẫn học sinh đọc tác phẩm

- Biết cách xây dựng câu hỏi

- Biết cách diễn giảng tích cực

- Biết cách thiết kế các biểu bảng, sơ đồ

- Nắm được cách dạy học nêu vấn đề

TÓM TẮT NỘI DUNG:

Nội dung chủ yếu của tiếp nhận văn học là hoạt động chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của tác phẩm Tiếp nhận văn học đòi hỏi sự giao tiếp, sự tranh luận, thảo luận giữa người đọc - học sinh với giáo viên, giữa học sinh với nhau về tác phẩm Ðiều này cũng phù hợp với một trong những nguyên tắc dạy học của lí luận dạy học hiện đại: học bằng cách khám phá (learnning by discovering) Nguyên tắc dạy học này trái ngược với sự áp đặt kiến thức một chiều từ phía giáo viên cho người học Giáo viên phải là người tổ chức và khuyến khích việc thảo luận, trao đổi ý kiến trong lớp học Ðiểm điểm giao tiếp, đối thoại của tiếp nhận văn học, trình độ học sinh, điều kiện giảng dạy và học tập, chương trình, sách giáo khoa, mục đích giáo dục là những yếu tố chi phối việc sử dụng các phương pháp dạy học văn

NỘI DUNG:

I TIẾP NHẬN VĂN HỌC VÀ DẠY HỌC VĂN

TOP

1.1 Tiếp nhận văn học - cuộc giao tiếp đa chiều:

Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về tiếp nhận văn học Sau đây là hai định nghĩa tiêu biểu:

- Ðịnh nghĩa 1: Về thực chất, tiếp nhận văn học là một cuộc giao tiếp, đối thoại tự do giữa người đọc

và tác giả thông qua tác phẩm Nó đòi hỏi người đọc tham gia với tất cả trái tim, khối óc, hứng thú và nhân cách, tri thức và sáng tạo Trong tiếp nhận văn học, người đọc ở vào một tâm trạng đặc biệt, vừa quên mình, nhập thân, vừa sống và thể nghiệm nội dung của tác phẩm, vừa phân thân và duy trì khoảng cách thẩm mĩ để tiếp nhận tác phẩm từ bên ngoài, để thưởng thức tài nghệ hoặc nhận ra

Trang 2

điều bất cập, hoặc cắt nghĩa khác với tác giả (Từ điển thuật ngữ văn học, Lê Bá Hán, Trần Ðình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên, NXBGD 1992, trang 221).

- Ðịnh nghĩa 2: Nói đến sáng tạo và tiếp nhận là nói đến cuộc đối thoại giữa tác giả và người đọc thông qua tác phẩm, sau đó là cuộc đối thoại giữa người đọc với người đọc về và từ tác phẩm đó (Lí luận văn học, vấn đề và suy nghĩ, GS Nguyễn Văn Hạnh, PTS Huỳnh Như Phương, NXB GD 1995, tr 140)

- Ðiểm chung của hai định nghĩa trên là gì?

Bản chất của tiếp nhận văn học là cuộc giao tiếp, đối thoại Cuộc giao tiếp này có nhiều chiều kích khác nhau: giao tiếp giữa người đọc và tác giả thông qua tác phẩm, giữa các thế hệ người đọc khác nhau thuộc các nền văn hóa khác nhau

- Ðể cảm, hiểu được tác phẩm, theo (anh) chị, người đọc phải có những khả năng nào?

Do chất liệu của văn học là ngôn ngữ, thế giới mà nhà văn miêu tả không hiện lên một cách trực tiếp như trong phim ảnh mà hiện lên gián tiếp qua ngôn từ của tác phẩm nên điều kiện của sự tiếp nhận văn học là khả năng liên tưởng, tưởng tượng, suy luận của người đọc.Khả năng cơ bản của người đọc

lý tưởng là khả năng khái quát hóa từ những vấn đề của tác phẩm đến những vấn đề rộng lớn hơn của truyền thống văn học hoặc ý nghĩa về con người và xã hội bên ngoài tác phẩm( Brumfit)

Khả năng này dựa trên vốn sống, vốn kinh nghiệm cá nhân, dựa trên sự hiểu biết xã hội, văn hóa của người đọc Do đó cùng một tác phẩm, một câu thơ mỗi người có thể có cách hiểu khác nhau

Bản chất giao tiếp, đối thoại của quá trình tiếp nhận văn học chi phối quá trình dạy học văn Dạy văn không phải là sự truyền đạt thông tin một chiều, giáo viên (GV) phân tích, học sinh (HS) nghe, ghi chép Hoạt động dạy học văn đòi hỏi sự đối thoại, tranh luận, sự phản hồi ý kiến giữa GV và HS, giữa

HS với nhau về một vấn đề nào đó của tác phẩöm

- Tiếp nhận văn học trong nhà trường có gì khác so với tiếp nhận văn học ngoài nhà trường? 1.2 Những khó khăn học sinh thường gặp trong quá trình tiếp nhận văn học:

Ðối tượng của chúng ta là HS phổ thông, những người còn trẻ về tuổi đời, vốn sống, vốn hiểu biết xã hội còn hạn hẹp nên các em sẽ gặp những khó khăn trong quá trình tiếp nhận văn học Những khó khăn đó là:

- Khó khăn về ngôn ngữ: từ cổ, điển cố văn học, nghĩa đen, nghĩa bóng của từ, cấu trúc ngữ phápcủa câu, hình ảnh ẩn dụ HS thường gặp những khó khăn này khi đọc tác phẩm văn học nước ngoài hoặc tác phẩm văn học cổ Cần lưu ý là chủ đề, ý tưởng của nhà văn thường được bộc lộ một cách gián tiếp Ðiều này bắt buộc người đọc phải có khả năng suy luận, hiểu được ý ngầm dưới văn bản

- Những khác biệt về quan niệm văn học, quan niệm thẩm mĩ của con người thời xưa được thể hiện trong tác phẩm văn học cổ cũng là một trong những rào cản đối với việc hiểu tác phẩm của học sinh

- Những khác biệt về văn hóa: lối sống, phong tục, tập quán, tôn giáo, cách đánh giá các giá trị trong xã hội, đánh giá con người, cách phản ứng với các hiện tượng xã hội cũng là một trong những

Trang 3

trở ngại trong quá trình tiếp nhận tác phẩm Ví dụ: người đọc thời kỳ chống Mỹ có cách đánh giá khácvới người đọc hôm nay về tình yêu của Nguyệt và Lãm (Mảnh trăng cuối rừng - Nguyễn Minh Châu).

- Những hạn chế trong kinh nghiệm sống của HS gồm: hạn chế trong kinh nghiệm thưởng thức tác phẩm nghệ thuật, đặc biệt là khi đọc những tác phẩm không viết theo bút pháp hiện thực Bài Ðâythôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử (chương trình lớp 11), Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ (chương trình lớp 10) là những ví dụ điển hình Hạn chế về sựû hiểu biết xã hội, con người Người đọc sẽ không thể hiểu rõ câu thơ Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại/ Mảnh tình san sẻ tí con con nếu không hiểu biết về cuộc đời Hồ Xuân Hương:

- Một trong những đặc điểm của hoạt động tiếp nhận là người đọc sẽ đọc một cách hứng thú nếu người đọc tìm thấy trong tác phẩm mối liên hệ gần gũi với những vấn đề của chính bản thân và với thế giới mà họ đang sống Vì vậy trong quá trình đọc, người đọc phải nối kết một cách tích cực giữa thế giới trong tác phẩm và kinh nghiệm cá nhân

1.3 Những biện pháp giúp đỡ HS khắc phục khó khăn, kích thích tiếp nhận tác phẩm một cách tích cực :

Ðể giúp đỡ HS vượt qua những khó khăn trên, GV có thể sử dụng những cách thức sau:

- Cung cấp những thông tin cơ bản về tác giả hoặc những sự kiện lịch sử xã hội liên quan đến tác phẩm, hoàn cảnh lịch sử khi tác phẩm ra đời, những đặc điểm tư tưởng, quan điểm của tác giả khi viết tác phẩm

- Giải nghĩa từ cổ, từ khó hoặc hướng dẫn HS suy luận ý nghĩa của từ dựa vào ngữ cảnh cụ thể, rút ra chủ đề của tác phẩm dựa vào các chi tiết được miêu tả, thái độ tác giả khi tường thuật lại sự kiện, giọng điệu tác phẩm bằng cách xây dựng câu hỏi, giải nghĩa từ, phân tích cấu trúc ngữ pháp của câu, các thủ thuật đảo ngữ, điệp ngữ

- Giúp HS liên tưởng, tưởng tượng để hiểu rõ hơn cảnh vật, tính cách nhân vật được miêu tả bằng cách: đọc diễn cảm tác phẩm, mô tả lại ngôn ngữ, hành động của từng nhân vật bằng giọng đọc ( phân tích bằng giọng đọc), yêu cầu HS đặt mình vào vị trí của nhân vật và hình dung thái độ, cách phản ứng trước các sự kiện, gắn kinh nghiệm cá nhân HS với nội dung tác phẩm

KẾT LUẬN :

Bản chất giao tiếp, đối thoại của quá trình tiếp nhận văn học sẽ chi phối các phương pháp dạy học văn Phần sau sẽ trình bày cụ thể các phương pháp dạy học văn, các biện pháp hướng dẫn HS tiếp nhận tác phẩm một cách tích cực

Trang 4

Việc sử dụng phương pháp nào trong quá trình dạy học chịu sự chi phối của những yếu tố sau: Nội dung bài học, vị trí của bài học trong chương trình, lượng thời gian cho phép, trình độ HS, mục đích cần đạt được của bài học Ðây là những yếu tố mà người GV ần cân nhắc kĩ khi soạn bài.

1 PHƯƠNG PHÁP ÐỌC TÁC PHẨM:

1.1 Khái niệm:

Ðọc là phương pháp có tính đặc thù của giờ giảng văn Việc tiếp nhận tác phẩm phải bắt đầu từ việc đọc: đọc thành tiếng và không thành tiếïng Ngôn ngữ văn học là loại ngôîn ngữ đặc biệt, có năm đặûc tính: tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính biểu cảm và tính tạo hình Nhà văn có ý thức dùng vỏ âm thanh của từ, nhịp điệu của câu để diễn tả bức tranh đời sống và thái độ, tình cảm của mình với bức tranh đờìi sống đó Bằng ngôn ngữ tiểu thuyết, nhà văn có thể tác động trực tiếp đến tri giác, thính giác, xúc giác của người đọc, làm cho họ cảm giác được nhân vật một cách vật chất (M Gorki)

Ðọc là một trong những hình thức giảng dạy tác phẩm một cách trực quan, tác động đến trí tưởng tượng, cảm xúc của người nghe, làm sống dậy những ngôn từ chết, làm cho người nghe nhìn thấy cái

đã nghe được

Quá trình phân tích tác phẩm gắn liềìn với quá trình GV và HS cùng đọc tác phẩm Trong thực tế, do hạn chế thời gian nên một số GV chỉ chú trọng phân tích tác phẩm không đầu tư thời gian đúng mức cho việc đọc Phân tích tác phẩm theo kiểu ấy là phân tích chay, làm giảm hiệu quả thẩm mĩ cũng nhưhiệu quả giáo dục của việc dạy học văn

1.2 Mục đích của việc đọc tác phẩm:

Ðọc tác phẩm sẽ tạo ra bầìu không khí thuận lợi cho việc tiếïp nhận tác phẩm, lôi cuốn HS tham gia vào diễn biến của các sự kiện trong tác phẩm, kích thích sự hứng thú khám phá tác phẩm

Giúp HS cảm nhận rõ hơn nội dung tác phẩm, hình dung ra tính cách, tình cảm, suy nghĩ của nhân vật

và thái độ của tác giả đối với các sự kiện được miêu tả qua thái độ, nét mặt, giọng của người đọc.Rèn luyện cho HS sự nhạy cảm với ngôn ngữ, giúp HS nhận biết được sự giàu có, tinh tế của tiếng Việt, rèn luyện năng lực nói và đọc: cách phát âm, ngắt giọng, nhấn trọng âm

Tóm lại, phương pháp này nhằm rèn luyện cách đọc tích cực, nhận biết cái hay cái đẹp của tác phẩm nằm trong chương trình, ngoài chương trình Mục tiêu của việc dạy văn không chỉ là giúp HS hiểu và

có kiến thức về các tác phẩm nằm trong chương trình, rèn luyện năng lực thẩm mỹ, giáo dục tư tưởng

mà còn là rèn luyện cho HS cách đọc, cách tiếp nhận tác phẩm tích cực

- Anh (chị) hiểu như thế nào là cách đọc tích cực?

1.3 Hai hình thức đọc cơ bản:

1.3.1 Ðọc diễn cảm tác phẩm (đọc thành tiếng):

Ðọc diễn cảm là cách thức sử dụng mọi sắc thái tình cảm của giọng đọc (ngữ điệu): vui, buồn, mỉa mai, phê phán cách nhấn trọng âm, ngắt giọng, độ nhanh chậm, cao thấp của giọng đọc để miêu tả

Trang 5

lại nội dung tác phẩm cũng như thái độ của nhà văn với nhân vật Ngữ điệu của người đọc không chỉ giúp người nghe hiểu nhân vật nói gì mà còn hình dung rõ nhân vật nói như thếï nào.

Nếu điều kiện cho phép, GV có thể cho HS nghe bài thơ sẽ học qua giọng ngâm của các nghệ sĩ thu trong băng cassette

Với các đoạn đối thoại trong truyện ngắn, tiểu thuyết người đọc phải lột tả tính cách từng nhân vật Với các trích đoạn kịch, GV nên phân vai cho HS đọc tại lớp Ðể gợi ý cách đọc cho HS trước khi đọc,

GV có thể nêu vài nhận xét vắn tắt về tính cách của từng nhân vật

Ðọc diễn cảm tác phẩm có thể tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau, kết hợp việc đọc của GV và HS: đọc đầu giờ, đọc trong quá trình phân tích (đọc đoạn nào phân tích đoạn đó), đọc khi kết thúc bàigiảng Với những tác phẩm dài, nếu thời gian không cho phép, chỉ nên đọc những đoạn quan trọng, phần còn lại GV tóm tắt ý chính

Trong quá trình đọc, GV hướng dẫn HS chú ý và gạch dưới những hình ảnh, từ ngữ tiêu biểu, được lặplại nhiều lần trong tác phẩm, những thủ pháp nghệ thuật được sử dụng, cách gieo vần, ngắt nhịp làm tiền đề cho quá trình phân tích tác phẩm

- Tác dụng của các hình thức đọc đầu giờ, đọc trong quá trình phân tích, đọc khi kết thúc bài giảng là gì?

1.3.2.Hướng dẫn học sinh đọc tác phẩm ở nhà:

Ðể khắc phục sự hạn chế về thời gian trên lớp và để kích thích HS học tập một cách tích cực GV nên yêu cầu HS đọc tác phẩm ở nhà và làm bài tập Nếu HS hoàn thành bài tập, GV nên chấm điểm và coi

đó là một trong những con điểm chính thức thay thế cho điểm kiểm tra miệng hoặc kiểm tra 15 phút

GV có thể xây dựng hai loại bài tập sau cho HS đọc và chuẩn bị bài ở nhà :

a/ Soạn bài:

Trong SGK, cuối mỗi tác phẩm đều có phần Hướng dẫn học bài Dựa vào phần này GV có thể biên soạn lại các câu hỏi hoặc chọn lọc vài câu hỏi tiêu biểu cho HS đọc và soạn bài ở nhà Mục đích của loại bài tập này là giúp HS bước đầu nắm được những nội dung chính của tác phẩm, trên cơ sở đó rènluyện kĩ năng phân tác phẩm Ðể chuẩn bị cho việc học tác phẩm trên lớp và để việc soạn bài ở nhà thật sự có hiệu quả GV nên xây dựng câu hỏi về những vấn đề sau:

- Câu hỏi về bố cục tác phẩm

- Câu hỏi yêu cầu rút ra ý chính của từng đoạn

- Câu hỏi xoay quanh nhân vật chính của tác phẩm

- Câu hỏi yêu cầu liệt kê những biện pháp nghệ thuật chủ yếu được sử dụng trong tác phẩm.Lưu ý: không nên đưa ra những yêu cầu quá cao với HS như: Tìm tứ thơ của bài thơ, Hồ Xuân Hương được coi là có công lớn trong việc cải tạo, Việt hóa thể thơ Ðường luật theo hướng dân gian hóa về nội dung, về ngôn ngữ Em hãy qua nội dung và nghệ thuật của bài thơ để chứng minh cho nhận định trên

Trang 6

Ví dụ: Bài tập cho tác phẩm Ðôi mắt:

1 Tác phẩm được chia làm 3 đoạn Em hãy tóm tắt nội dung đoạn đầu (Từ đầu đến mặc vội vào để

4 Trong đoạn cuối tác giả miêu tả cảnh gì?Cảnh này nói lên điều gì về cách sống của Hoàng?

5 Tìm những chi tiết thể hiện những điểm giống và khác nhau giữa hai nhân vật Hoàng và Ðộ Theo

em, Ðộ có thái độ như thế nào đối với Hoàng?

- Anh (chị) hãy nhận xét đặc điểm của các câu hỏi trên

- Tại sao đối với loại bài tập này, GV không nên nêu những câu hỏi quá khó?

b/ Bài tập sáng tạo:

Bên cạnh những câu hỏi soạn bài như trên, tùy theo nội dung bài học, GV có thể yêu cầu HS tìm tranhảnh, vật thể minh họa cho bài học: bức ảnh (tranh) cây liễu, lầu Hoàng hạc, ảnh tác giả, quả cau, miếng trầu, chiếc lá bàng đang chuyển hóa màu sắc từ xanh sang đỏ

Với những lớp có trình độ khá, giỏi, thay vì nêu những câu hỏi soạn bài như trên GV có thể nêu nhữngbài tập sáng tạo như:

- Yêu cầu HS đóng vai người kể chuyện để sáng tạo lời nói, ý nghĩ nhân vật theo quan điểm của mình

- Ví dụ: Nếu em là tác giả thì em sẽ để cho nhân vật nói gì, suy nghĩ gì, hành động như thế nào trong hoàn cảnh đó ?

- Yêu cầu HS đặt lại tên tác phẩm, viết tiếp hoặc viết lại đoạn cuối của câu chuyện

Ví dụ: Em có cảm thấy thỏa mãn với cách kết thúc truyện Hai đứa trẻ (Chữ người tử tù) hay không?

Em thử hình dung xem số phận các nhân vật sau đó sẽ như thế nào (Viên quản ngục, thầy thơ lại, Huấn Cao, chị em Liên )

- Yêu cầu HS đặt mình vào vị trí nhân vật và hình dung thái độ, phản ứng của mình trước các sự kiện.Ví dụ: Nếu em là nhân vật A, em sẽ hành động, phản ứng như thế nào trong hoàn cảnh đó?

- Yêu cầu HS diễn tả lại hành động, tâm trạng nhân vật, ngâm thơ, đọc diễn cảm đoạn thơ, văn,

vẽ lại bức tranh mà tác giả đã miêu tả trong tác phẩm theo tưởng tượng của bản thân Ví dụ: Em hãy diễn tả lại hành động của ông Phán mọc sừng khi đưa tang hoặc: Bằng trí tưởng tượng của mình em hãy viết một đoạn văn mười lăm dòng về cảnh núi Dục Thúy (Câu hỏi của GS Nguyễn Ðình Chú cho bài Dục Thúy Sơn - Sách Văn học 10, tập 1)

Trang 7

- Chia HS thành nhiều nhóm, yêu cầu mỗi nhóm chuẩn bị một nội dung nào đó của tác phẩm để thuyết trình trên lớp trong giờ học tới.

- Mục đích của loại bài tập sáng tạo là gì?

3 Xây dựng một bài tập sáng tạo cho truyện ngắn Ðời thừa của Nam Cao

2 PHƯƠNG PHÁP DIỄN GIẢNG:

2.1 Khái niệm :

Diễn giảng là phương pháp trình bày, thông báo có hệ thống một vấn đề mới cho HS, HS tiếp thu kiến thức sau đó tái hiện lại kiến thức đó Ðây phương pháp dạy học cổ xưa nhất Ở Việt Nam, cho đến nay, phương pháp này vẫn được sử dụng chủ yếu trong dạy học, nhất là dạy các môn khoa học xã hội

PP này có những ưu điểm sau:

- Giúp HS nắm được kiến thức một cách có hệ thống, tiết kiệm thời gian

- Không đòi hỏi những phương tiện dạy học đặc biệt

- GV không tốn nhiều công sức cho việc chuẩn bị bài

Nhược điểm của PP này là:

- HS sẽ thụ động, không phát huy được tính tích cực, khả năng chú ý sẽ giảm sút nếu GV diễn giảng trong một thời gian dài (theo nghiên cứu của một số nhà tâm lý học, sau 20 phút, sức chú ý của người học sẽ bị giảm sút)

- Tiến trình học thật sự ít khi xảy ra, HS dễ trở thành người dự giờ, người đứng ngoài tiến trình học tập HS có thể hiểu bài nhưng không nhớ lâu, nhớ kĩ kiến thức

Trong thực tế, hầu GV đều sử dụng lối diễn giảng truyền thống, nhiều khi GV chỉ sử dụng một mình phương pháp này trong tiết dạy

Theo cách này giờ dạy sẽ có cấu trúc sau:

- Bài học trong SGK

- GV tóm tắt SGK, ghi lại trên bảng

- HS ghi lại bài trên bảng

Trang 8

Như vậy, trong một tiết học, GV mất rất nhiều thời gian cho việc ghi bảng, HS mất rất nhiều thời gian cho việc ghi lại nội dung bài học - cái đã có sẵn trong SGK Kết quả là HS trở nên thụ động, không có thói quen sử dụng SGK, GV không còn thời gian cho HS để rèn luyện kĩ năng, làm bài tập Xem mô hình sau (hình 2.1)

Ðể khắc phục những nhược điểm trên, có thể dùng cách diễn giảng tích cực Vậy thế nào là diễn giảng tích cực? Diễn giảng tích cực là GV không độc diễn mà kết hợp sử dụng các PP sau để giúp HS nắm được kiến thức một cách chủ động:

- Ðàm thoại

- Xen kẽ kể chuyện (chuyện cuộc đời nhà văn, hoàn cảnh tác phẩm ra đời, chuyện vui văn học )

- Cho HS làm bài tập thực hành

- Hướng dẫn HS nghiên cứu SGK

Xem mô hình sau (hình 2.2):

2.2 Cấu trúc của phương pháp diễn giảng:

Gồm 3 bước: Giới thiệu bài mới, hướng dẫn HS khám phá kiến thức, kết luận

BƯỚC 1: GIỚI THIỆU BÀI MỚI:

Ðây là bước mở đầu một bài học, một tiết học, do đó, lời giới thiệu bài mới phải được trình bày bằng những lời lẽ ngắn gọn, có hình ảnh nhằm gây sự chú ý của HS, tạo tâm thế tích cực, thoải mái cho việctiếp thu bài mới HS chỉ có thể tiếp thu tốt bài học nếu không bị những ức chế về tâm lý Trong phần này, GV nên kết hợp giới thiệu ngắn gọn mục đích và bố cục của bài giảng (bài gồm mấy phần, tiêu đề mỗi phần)

Có nhiều cách để giới thiệu bài mới:

- Giới thiệu trực tiếp nội dung bài học

- Mở đầu bằng cách gợi lại những kiến thức về những tác giả, tác phẩm, về một vấn đề đã học, từ

đó liên hệ với kiến thức mới Ví dụ: Khi dạy bài Ðôi mắt ở lớp 12, giáo viên có thể gợi lại những điều học sinh đã biết về Nam Cao qua hai tác phẩm đã học ở lớp 11

- So sánh những điểm giống nhau và khác nhau giữa tác giả, tác phẩm học sinh đã học với tác giả, tác phẩm mới Ví dụ: Khi dạy Ðây mùa thu tới của Xuân Diệu, giáo viên có thể so sánh với Thu vịnh của Nguyễn Khuyến

- Ðặt câu hỏi về tựa đề tác phẩm, nêu lên một vài hình ảnh nổi bật hoặc những từ ngữ đặc biệt trong tác phẩm sau đó yêu cầu HS nêu cảm nhận ban đầu về nội dung tác phẩm thông qua những từ ngữ, hình ảnh tiêu biểu đó Cũng có khi câu hỏi được đặt ra không cần câu trả lời mà chỉ nhằm mục đích tạo tâm thế tích cực cho việc tiếp thu bài mới Ví dụ: Khi dạy bài Tràng giang, GV có thể đặt câu

Trang 9

hỏi: Qua những hình ảnh buồn điệp điệp, gió đìu hiu, bến cô liêu trong bài thơ sắp học em có suy nghĩ gì về nội dung bài thơ?.

- Mở đầöu bằng một sự kiện thời sự

- Giới thiệu một bức tranh, ảnh, hiện vật có liên quan đến nội dung bài giảng Ví dụ: giới thiệu bức ảnh lầu Hoàng Hạc, quả cau, miếng trầu, bức ảnh thôn Vĩ Dạ

- Kể một câu chuyện liên quan đến nội dung bài học

- Mở đầu bằng cách yêu cầu HS trình bày bài tập đã giao từ buổi học trước

- Mở đầu bằng việc nêu nhận xét nhận xét, đánh giá của các nhà phê bình về tác giả, tác phẩm sẽ học

BƯỚC 2: HƯỚNG DẪN HS KHÁM PHÁ KIẾN THỨC MỚI:

Mỗi bài học cần được phân chia thành nhiều luận điểm (nhiều đơn vị kiến thức) Mỗi luận điểm nên được trình bày theo một trong những cách sau:

* CÁCH 1: Con đường diễn dịch

Mô hình: Khái niệm - thí dụ - khái niệm:

- Bước 1: GV trình bày khái niệm, định nghĩa

- Bước 2: Chứng minh khái niệm bằng một vài ví dụ cụ thể, bằng hình ảnh, mô hình kết hợp hướng dẫn HS phân tích ví dụ làm sáng tỏ khái niệm

- Bước 3: Nhắc lại khái niệm nhưng bằng những từ khác hoặc yêu cầu HS rút ra khái niệm từ sự hiểu biết của bản thân

* CÁCH 2: Con đường quy nạp

Mô hình: Thí dụ - khái niệm - thí dụ:

- Bước 1: Nêu một vài ví dụ kết hợp hướng dẫn HS giải thích, phân tích ví dụ

- Bước 2: Dựa trên sự phân tích các ví dụ đã nêu GV nêu lên khái niệm, định nghĩa hoặc yêu cầu HSnêu lên khái niệm, định nghĩa

- Bước 3: GV hoặc HS nêu thí dụ khác, yêu cầu HS phân tích thí dụ để làm sáng tỏ khái niệm.Cách dạy này đòi hỏi GV phải có khả năng điều khiển tốt lớp học, khả năng ứng xử nhạy bén, định hướng được những câu trả lời của HS vào vấn đề cần dạy

Trong quy nạp và diễn dịch có 3 cách thức:

a/ Quy nạp (hoặc diễn dịch) từng phần

b/ Quy nạp (hoặc diễn dịch) phát triển

c/ Quy nạp (hoặc diễn dịch) song song - đối chiếu (hình 2.3 và 2.4)

Trang 10

- Giữa hai hình thức diễn giảng quy nạp và diễn dịch, hình thức nào giúp học sinh tiếp nhận kiến thức

dễ hơn, tích cực hơn?Vì sao?

Các ví dụ về cách dạy theo con đường quy nạp và diễn dịch:

1/ Dạy một khái niệm lí luận văn học:

Khái niệm chủ thể trữ tình (bài Thơ và tác phẩm thơ - Văn học 11) Khi đọc một bài thơ, trước mắt chúng ta không chỉ xuất hiện những cảnh thiên nhiên, cảnh sinh hoạt, những con người, sự kiện mà còn nói lên hình tượng một ai đó đang ngắm, nhìn, đang rung động, suy tưởng về chúng, về cuộc sống nói chung Hình tượng ấy là chủ thể trữ tình có thể được dạy theo cách sau:

BƯỚC 1: GV yêu cầu học sinh nêu một đoạn thơ bất kỳ, hoặc GV hướng dẫn HS phân tích đoạn thơ sau bằng các câu hỏi:

Ðêm mưa làm nhớ không gian

Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la

Tai nương nước giọt mái nhà

Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn

1 Ðoạn thơ miêu tả cảnh gì? Cảnh hiện lên như thế nào? Có cụ thể không?

2 Em hãy tìm những từ ngữ thể hiện hình ảnh của tác giả Phân tích những từ ngữ đó

3 Ðoạn thơ thể hiện tâm trạng gì của tác giả?

Kết hợp phân tích các từ nhớ, lòng run, tai nương, nghe trời, nghe ta để làm rõ khái niệm hình tượng một ai đó đang ngắm, nhìn, đang rung động, suy tưởng

Nêu một ví dụ khác, có thể là một bài thơ HS đã học (bài Tự tình chẳng hạn), hướng dẫn HS phân tíchtâm trạng của tác giả trong một đêm khuya, trước thiên nhiên rộng lớn để tiếp tục làm rõ hơn khái niệm trên

BƯỚC 2: Yêu cầu HS không nhìn sách giáo khoa, trả lời câu hỏi Từ sự phân tích những ví dụ trên, em hiểu thế nào là chủ thể trữ tình ?

BƯỚC 3: Nêu một đoạn thơ, yêu cầu HS phân tích, làm rõ hình tượng một ai đó đang ngắm, nhìn, đang rung động, suy tưởng trong đoạn thơ

2/ Dạy một khái niệm Tiếng Việt:

Khái niệm hoán dụ (bài Các biện pháp tu từ từ vựng - Tiếng Việt 10): Hoán dụ là lấy từ ngữ chỉ sự vật

B dùng để chỉ sự vật A, không phải vì B giống A mà vì A và B thường gần nhau, đi đôi với nhau trong thực tế Hoán dụ dựa vào liên tưởng tiếp cận

Trang 11

BƯỚC 1: GV ghi bảng 2 ví dụ:

1/ Thuyền về có nhớ bến chăng

Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

(Ca dao)

2/ Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,

Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên

(Chinh phụ ngâm)

Yêu cầu HS trả lời câu hỏi:

1/ Trong VD 1 tác giả đã dùng biện pháp tu từ gì?Vì sao em nhận diện được biện pháp tu từ đó (Âøn

dụ - HS đã học trong tiết trước)

2/ Trong VD 2, từ được gạch dưới được dùng để chỉ đối tượng nào?Giữa khách má hồng và đối tượng

đó có mối quan hệ gì?

BƯỚC 2: Kết hợp câu trả lời của HS, GV giảng:

- Trong VD 1, người bình dân dùng sự vật B (thuyền, bến) để chỉ sự vật A (người đi, kẻ ở) vì A giống B cùng có đặc điểm di chuyển hoặc cố định Ðó là biện phép ẩn dụ dựa vào hoạt động liên tưởng tươngđồng

- Ở VD 2, đối tượng B (khách má hồng) được dùng để chỉ đối tượng A (người phụ nữ) không phải vì A giống B mà vì A và B gần nhau, đi đôi với nhau trong thực tế (người phụ nữ thường có má hồng).BƯỚC 3: Nêu câu hỏi Từ sự phân tích các ví dụ trên, em hiểu thế nào là hoán dụ?

3/ Dạy một khái niệm Làm văn:

Khái niệm Kết cấu của đoạn văn nghị luận (Bài Cách làm bàivăn nghị luận - Tiếng Việt Lớp 10): Nói đếnkết cấu của đoạn là nói đễn cách sắp xếp câu ở trong đoạn Thông thường đoạn có một câu diễn đạt ýchính và nhiều câu diễn đạt ý phụ Câu diễn đạt ý chính gọi là câu chủ đề của đoạn Ðoạn văn nào cũng có chủ đề, hoặc được viết rs, hoặc được hiểu ngầm Ðoạn không có chủ đề là đoạn thiếu mạnh lạc, đoạn không thành đoạn có thể được dạy theo cách sau:

BƯỚC 1: GV yêu cầu một HS đọc khái niệm đoạn trong SGK, GV ghi những ý chính lên bảng

BƯỚC 2: - Ðọc ví dụ 1 trong SGK, phân tích câu chủ đề và cách câu phụ

- Ðọc ví dụ 2, nêu câu hỏi: Ðoạn này nói về cái gì? Câu chủ đề là câu nào?Các câu còn lại có vai trò gì?

- Ðọc ví dụ 3: nêu câu hỏi: Ðoạn này nói về cái gì? Câu chủ đề là câu nào? Các câu còn lại có vai trò gì?

Trang 12

BƯỚC 3: Nêu câu hỏi: Câu chủ đề có thể nằm ở những vị trí nào trong đoạn văn?Theo em hiểu: thế nào là câu chủ đề?

* Một số điểm cần lưu ý khi dạy kiến thức mới:

1 Kiến thức phải được trình bày với những luận điểm, luận cứ rõ ràng Với mỗi luận điểm, luận cứ phải nêu dẫn chứng chứng minh Sau khi trình bày xong mỗi luận điểm phải tóm tắt, nhấn mạnh ý chính (còn gọi là bước sơ kết)

2 Kiến thức của mỗi bài học gồm 2 phần: lí thuyết và kĩ năng Vì thế, sau mỗi đơn vị kiến thức mới, cần cho HS thực hành ngay kiến thức vừa học (thí nghiệm, làm bài tập ) Quá trình thực hành trên lớp là rất quan trọng vì nó tạo điều kiện cho SV hiểu lý thuyết, khái niệm qua những tình huống cụ thểchứ không hiểu suông đồng thời đảm bảo điều kiện cho HS có thể độc lập thực hành, làm bài tập trong bước tiếp theo Các bài tập trên lớp có thể tiến hành theo hai hình thức: nhóm hoặc cá nhân Sau đó, sửa bài, nhận xét những sai sót Ðảm bảo cho tất cả các học sinh đều có cơ hội thực hành Sau mỗi tiết học cần giao bài tập cho HS tiếp tục thực hành ở nhà

3 Không nên trình bày kiến thức theo lối ăn sẵn (GV giải thích, chúng minh, làm từ A-Z, HS chỉ việc nghe, ghi chép) mà cần rèn luyện cho HS kĩ năng phân tích, so sánh, tổng hợp bằng cách: nêu ra những hiện tượng, sự kiện, số liệu yêu cầu HS phân tích, so sánh những điểm giống nhau, khác nhau,

- Sau khi thảo luận xong, đại diện từng nhóm HS sẽ trình bày cách giải quyết của mình, các nhóm kháctheo dõi, thảo luận

- Trong khi HS thảo luận nhóm, GV phải đi đến các nhóm, quan sát, giúp đỡ SV khi cần thiết

- HS Việt Nam thường rất nhát, ngại trả lời trước đám đông Do vậy, GV nên khuyến khích HS bằng những động viên, lời khen Ðồng thời yêu cầu đặt câu hỏi về những vấn đề mà HS chưa nắm vững

4 Ngôn ngữ diễn giảng ngắn gọn, dễ hiểu, giàu hình ảnh nhưng không khoa trương Ngữ điệu lời giảng phong phú, thể hiện cảm xúc, phù hợp với nội dung bài giảng Phát âm không chuẩn, viết câu đúng ngữ pháp, chính tả, không dùng nhiều từ trùng lặp, nhiều thì, là, mà Phong cách diễn giảng phải nhiệt tình, hướng đến người nghe

5 Không diễn giảng liên tục trong suốt giờ học mà phải kết hợp với những phương pháp khác như đọc diễn cảm tác phẩm, đàm thoại, sử dụng biểu bảng Thay đổi hình thức diễn giảng từ diễn dịch sang quy nạp

BƯỚC 3: KẾT LUẬN:

Trang 13

Trong phần kết luận (hay còn gọi là tổng kết) GV phải tóm tắt các vấn đề đã trình bày trong bài giảng Kết luận đã nêu phải là câu trả lời đầy đủ, thuyết phục cho những câu hỏi, những vấn đề đã nêu ra trong phần đầu bài giảng Bài học có thể được kết luận bằng một trong những cách sau:

- GV tóm tắt, nhấn mạnh những luận điểm chủ yếu

- Cho HS ứng dụng lý thuyết, làm một bài tập nhỏ ngay trên lớp Ðây là cách tổng kết tích cực, cho phép giáo viên kiểm tra được khả năng tiếp thu, mức độ hiểu bài của học sinh Giao bài tập cho HS làm ở nhà

- Yêu cầu HS trả lời một vài câu hỏi về những nội dung quan trọng của bài học

Tóm lại: một bài diễn giảng tốt phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

- Bài giảng được phân chia thành các luận điểm, luận cứ rõ ràng Mỗi luận điểm, luận cứ được làm sáng tỏ bằng các ví dụ, dẫn chứng cụ thể Sau khi trình bày xong mỗi luận điểm phải tóm tắt, nhấn mạnh ý chính

- GV không độc diễn một mình trong suốt giờ học mà huy động được sự tham gia tích cực của HS bằng những câu hỏi, tình huống, bài tập phát huy năng lực tư duy của SV

- Ngôn ngữ ngắn gọn, dễ hiểu, ngữ điệu lời giảng phong phú, thể hiện cảm xúc, phù hợp với nội dung bài giảng Tốc độ nói vừa phải, âm lượng giọng nói đủ lớn để tất cả các HS đều có thể nghe được

- Phát âm chuẩn, viết đúng ngữ pháp, chính tả, không dùng nhiều từ trùng lặp

- Thường xuyên thay đổi hình thức diễn giảng

Muốn vậy, người GV trước khi lên lớp không chỉ biết rõ mình sẽ DẠY CÁI GÌ (nội dung bài giảng) mà còn là DẠY NHƯ THẾ NÀO (sử dụng phương pháp nào, tổ chức lớp học ra sao, GV và HS sẽ làm gì) Ðiều này đòi hỏi người GV trước khi lên lớp phải chuẩn bị kĩ giáo án

BÀI TẬP:

1/ Sử dụng diễn giảng tích cực soạn bài Mời trầu (Văn học 10)

2/ Trình bày cách diễn giảng quy nạp cho khái niệm Câu đơn đặc biệt (Tiếng Việt 10)

Nội dung cốt lõi của PP này là việc xây dựng câu hỏi Câu hỏi phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

Ngày đăng: 04/05/2016, 13:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w