Tổ chức bữa ăn cho trẻ tại nhà trẻ đáp ứng nhu cầu năng lượng tại trường 708 - 826 Kcal/ ngày, ăn đủ các chất dinh dưỡng của trẻ trong thời gian 10 - 12 tiếng mẹ đi làm xa, trẻ được cô g
Trang 1trẻ 18 - 36 tháng”
A Phần mở đầu
Ngày nay, trong công cuộc xây dựng đất nước nói chung và xây dựng chiến lược con người nói riêng Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Sự quan tâm đó đã từng bước được thể chế hoá bằng các văn bản pháp luật, các chỉ thị, các quy định và các quy ước rất cụ thể:
Luật GD - 2005 của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng
định “Giáo dục mầm non (GDMN) có nhà trẻ và mẫu giáo là cấp học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân GDMN thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi”
Chính vì lẽ đó mà xã hội quan tâm chăm sóc trẻ về mọi mặt để đứa trẻ có một nhân cách tốt, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, hồn nhiên, cơ thể phát triển hài hoà cân đối, đặc biệt là lứa tuổi trẻ nhà trẻ Trẻ khỏe mạnh và thông minh là niềm hạnh phúc của gia đình là sự phồn vinh của đất nước Muốn trẻ khoẻ mạnh và thông minh thì vấn đề dinh dưỡng phải hợp lý, chăm sóc nuôi dưỡng phải có khoa học đây là một việc làm không thể thiếu được, là trách nhiệm của gia đình, cộng
đồng và toàn xã hội Nếu trẻ bị suy dinh dưỡng thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển
về thể lực và trí tuệ Thiếu dinh dưỡng trẻ sẻ trở thành một gánh nặng của mỗi gia
đình, của toàn xã hội, ảnh hưởng đến nguồn nhân lực trong tương lai của đất nước Vì vậy vấn đề chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ở trong trường Mầm non là một vấn đề hết sức quan trọng Muốn tạo được thế hệ trẻ có sức khoẻ tốt, đáp ứng với thời đại khoa học hiện đại thì chúng ta phải chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tốt, trẻ sẽ khoẻ mạnh
và thông minh phát triển toàn diện về mọi mặt
Trường Mầm non là nơi là nơi tập trung đông trẻ, bản thân trẻ còn non nớt, chưa chủ động, ý thức được đầy đủ về giáo dục dinh dưỡng Mặc dầu là trường trọng điểm có chất lượng cao về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ nhưng vẫn còn tỷ lệ trẻ bị suy dinh dưỡng, mặc dù nhà trường cũng như các giáo viên đã rất chú trọng đến bữa ăn cho trẻ, luôn đảm bảo cung cấp đầy đủ năng lượng theo nhu
Trang 2trẻ 18 - 36 tháng”
cầu cơ thể trẻ và các chất dinh dưỡng luôn theo tỷ lệ cân đối hợp lý Công tác tuyên truyền giáo dục các bậc cha mẹ đã được thực hiện tương đối có hiệu quả Tuy nhiên, trong các bữa ăn ở lớp có nhiều trẻ vẫn còn có cảm giác chán ăn, thích
ăn thức ăn này, không thích ăn thức ăn kia Mặt khác, một số giáo viên kiến thức
về dinh dưỡng, kỹ năng tổ chức bữa ăn cho trẻ còn hạn chế
Là một giáo viên trực tiếp đứng lớp lứa tuổi nhà trẻ 18 - 36 tháng, tôi luôn xem công tác nưôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng đối với bản thân Nên đứng trước những vấn đề trên, bản thân tôi thực sự băn khoăn, trăn trở làm sao trong các bữa ăn hàng ngày của trẻ ở lớp trẻ ăn không kiêng khem, trẻ ăn hết suất của mình một cách ngon lành, không gượng ép Do
vậy tôi đã mạnh dạn chọn đề tài "Một số biện pháp nâng cao chất lượng tổ chức bữa ăn cho trẻ 18 - 36 tháng" làm sáng kiến cải tiến kỹ thuật năm học 2009-
2010
B phần Nội dung:
1- Cơ sở khoa học:
Từ ngày xưa, con người đã biết mối quan hệ giữa ăn uống và sức khoẻ Con người là một thực thể sống, nhưng sự sống không thể tồn tại được nếu con người không được ăn và uống
Danh y Việt Nam, Tuệ Tĩnh (Thế kỷ XIV) đã từng nói: “Thức ăn là thuốc, thuốc là thức ăn., khoa học dinh dưỡng cho chúng ta biết: Thức ăn, cỏc chất dinh dưỡng làm vật liệu xõy dựng cơ thể con người Cỏc vật liệu này phải thường xuyờn được đổi mới và thay thế thụng qua quỏ trỡnh hấp thụ và chuyển hoỏ cỏc chất trong cơ thể Ngược lại, khi cơ thể khụng được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng sẽ khụng thể phỏt triển bỡnh thường và đú là nguyờn nhõn gõy ra bệnh tật như: Suy dinh dưỡng, cũi xương, thiếu mỏu do thiếu sắt
Theo nghiên cứu của Viện dinh dưỡng thì ăn uống có sự ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ của trẻ Trẻ được nuụi dưỡng tốt, ăn uống đầy đủ thỡ da dẻ hồng
Trang 3trẻ 18 - 36 tháng”
hào, thịt chắc nịch và cõn nặng đảm bảo Sự ăn uống khụng điều độ sẽ ảnh hưởng đến sự tiờu hoỏ của trẻ Nếu cho trẻ ăn uống khụng khoa học, khụng cú giờ giấc, thỡ thường gõy ra rối loạn tiờu hoỏ và trẻ cú thể mắc một số bệnh như tiờu chãy, cũi xương, khụ mắt do thiếu VitaminA…
Như vậy, vấn đề ăn uống đối với trẻ Mầm non đó được quan tõm từ rất sớm Tuy nhiờn, cỏc tỏc giả mới chỉ quan tõm đến ảnh hưởng của sự ăn uống về sức khoẻ và bệnh tật của trẻ Đồng thời cỏc tỏc giả cũng cho rằng: để cú cơ thể phỏt triển tốt, trỏnh được bệnh tật thỡ cần phải đảm bảo một chế độ ăn uống khoa học, hợp lý và vệ sinh, thức ăn cú hỡnh thức đẹp, mựi vị hấp dẫn thỡ sẽ gõy cảm giỏc thốm ăn của trẻ Mọi khẩu phần giành cho trẻ em thỡ phải cho ăn cựng một lỳc để trẻ quen ăn hết khẩu phần của trẻ
Mọi sự đổi mới trong cấu tạo cơ thể con người, nguồn năng lượng cho cơ thể hoạt động, sinh trưởng và phát triển đều lấy từ các chất dinh dưỡng khác nhau do thức ăn cung cấp qua khẩu phần ăn hằng ngày Do đó, trong đời sống con người, dinh dưỡng chiếm một vị trí quan trọng đặc biệt Chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng quyết định đến sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể
Tình trạng dinh dưỡng tốt của con người phụ thuộc vào khẩu phần dinh dưỡng thích hợp, phụ thuộc vào kiến thức ăn uống khoa học các thói quen của mỗi người Vì vậy muốn khoẻ mạnh cần được ăn uống hợp lý và đảm bảo vệ sinh
Do đó bữa ăn đối với con người rất quan trọng Nếu chúng ta ăn mà không biết mình đang ăn gì thì rất là nguy hiểm Vì vậy việc tổ chức bữa ăn tại trường Mầm non vô cùng quan trọng đối với cơ thể trẻ em
Tổ chức bữa ăn cho trẻ tại nhà trẻ đáp ứng nhu cầu năng lượng tại trường
708 - 826 Kcal/ ngày, ăn đủ các chất dinh dưỡng của trẻ trong thời gian 10 - 12 tiếng mẹ đi làm xa, trẻ được cô giáo chăm sóc nuôi dưỡng tại trường
Trẻ được ăn uống đầy đủ, vui chơi phù hợp với lứa tuổi, được chăm sóc giấc ngủ, kích thích trẻ phát triển thông qua giáo dục, trên cơ sở đó phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần, góp phần nâng cao lượng chăm sóc sức khoẻ
Trang 4trẻ 18 - 36 tháng”
Tổ chức ăn tại nhà trẻ, góp phần giáo dục vệ sinh, dinh dưỡng, giúp trẻ rèn luyện kỹ năng thực hành, tự phục vụ thông qua các bữa ăn và các hoạt động trong ngày
Tổ chức bữa ăn tại nhà trẻ, đảm bảo được chế độ ăn của trẻ, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm (VS - ATTP)
2- Cơ sở thực tiễn:
Chuyên đề "Nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh ATTP"
được ngành triển khai trong nhiều năm qua Trường MN Hoa Mai đã quán triệt và bồi dưỡng chuyên đề đến tận đội ngũ Trong năm học 2009- 2010 Trường Mầm non Hoa Mai cũng đã chú trọng nhiều đến chuyên đề vệ sinh an toàn thực phẩm
và đã phổ biến cụ thể đến từng giáo viên
Là một giáo viên trực tiếp đứng lớp lứa tuổi nhà trẻ 18 - 36 tháng, qua quá trình thực hiện tôi thấy có những thuận lợi, khó khăn sau:
1- Thuận lợi:
- Năm học 2009 - 2010 được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Phòng Giáo dục - Đào tạo Lệ Thủy, của BGH nhà trường về thực hiện chuyên đề VS - ATTP, bản thân tôi cũng được tham gia bồi dưỡng chuyên đề ở cụm và ở trường, tôi đã tiếp thu và làm kinh nghiệm cho mình trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ
- Nhà trường tạo mọi điều kiện nâng cao kiến thức, phương pháp tổ chức bữa ăn cho trẻ và đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị đầy đủ
- Đa số phụ huynh có nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của bữa ăn cho trẻ hàng ngày đầy đủ các chất dinh dưỡng nên đã đóng góp tiền ăn cho trẻ phù hợp với giá cả thị trường hiện nay
- Bản thân tôi được sự kiểm tra dự giờ thường xuyên của hội đồng chuyên môn nhà trường, được dự giờ kiến tập, thao giảng Từ đó đã tích luỹ được một số kinh nghiệm trong việc tổ chức bữa ăn cho trẻ Mặt khác, bản thân vốn yêu nghề mến trẻ, có nhiều kinh nghiệm trong việc chăm sóc giáo dục trẻ và thấy được tầm quan trọng của dinh dưỡng đối với sức khoẻ trẻ tại trường là vô cùng quan trọng
2- Khó khăn:
Trang 5trẻ 18 - 36 tháng”
- Cơ sở vật chất của nhà trường còn thiếu như: Phòng ăn cho trẻ chưa có, còn ăn chung ở trong lớp học, diện tích của phòng học còn nhỏ nên việc bố trí nơi
ăn của trẻ chưa được rộng rải, còn chật hẹp
- Kiến thức và kỹ năng thực hành của các giáo viên trong lớp còn hạn chế
- Nhận thức của phụ huynh trong việc tổ chức bữa ăn cho trẻ chưa cao, chưa biết kết hợp với cô giáo để chăm sóc bữa ăn cho trẻ được tốt
- Trong năm học 2009 - 2010 này tôi được phân công dạy lớp 18 - 36 tháng Qua đợt cân đo đầu năm lớp tôi vẫn còn có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao chiếm 10%
Tỷ lệ suy dinh dưỡng đó một phần phụ thuộc vào chế độ ăn của trẻ, nhưng mặt khác cũng phụ thuộc vào cách tổ chức bữa ăn cho trẻ hàng ngày tại trường
3- Điều tra thực tiển:
- Vào đầu năm học 2009 - 2010 qua cân đo theo dõi sức khoẻ của trẻ bằng biểu đồ phát triển lần 1 tháng 9 năm 2009 cho thấy tỷ lệ cân nặng của trẻ ở lớp tôi
đạt sức khỏe bình thường là 90%, trẻ suy dinh dưỡng vừa là 10% Chiều cao trẻ
đạt 93,33%, trẻ thấp độ còi 1 chiếm 6,67%
- Đa số trẻ còn nhỏ chưa tự phục vụ cho mình trong các bữa ăn hàng ngày
mà còn phụ thuộc vào sự chăm sóc của cô giáo
- Một số giáo viên trong lớp mới chuyển từ mẫu giáo xuống nhà trẻ nên khâu tổ chức hướng dẫn các kỹ năng chăm sóc nuôi dưỡng, tổ chức bữa ăn cho trẻ còn nhiều lúng túng
Với những kết quả trên, bản thân tôi luôn băn khoăn suy nghĩ, tìm tòi ra một số biện pháp phù hợp để từng bước nhằm nâng cao chất lượng tổ chức bữa ăn cho trẻ 18 - 36 tháng tại trường Mầm non
3 Biện pháp thực hiện:
3 1- Luôn tự học tập, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng thực hành về dinh dưỡng và tổ chức bữa ăn cho trẻ 18 - 36 tháng một cách khoa học và hợp lý:
Trang 6trẻ 18 - 36 tháng”
- Luôn học tập và nghiên cứu các văn bản, Chỉ thị và Nghị quyết của cấp trên đề ra về vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) như: Công văn số 9252/BGDĐT ngày 3/8/2008 về việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong các cơ sở giáo dục Công văn số 969/UBND-YT ngày 25/12/2008 của Huyện Lệ Thủy
về việc tăng cường đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Công văn số 661 về việc
đảm bảo về vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống các dịch bệnh về mùa hè và
“Quy chế Nuôi dạy trẻ” để có kế hoạch chăm sóc trẻ tốt hơn
- Tham gia tốt các cuộc tập huấn chuyên môn do phòng, cụm liên trường và nhà trường tổ chức Trong đó chú trọng vấn đề kiến thức dinh dưỡng, kỹ năng thực hành khâu vệ sinh ăn uống cho trẻ và tổ chức bữa ăn cho trẻ phải khoa học và hợp
lý
- Thường xuyên tìm tòi sách báo, nghiên cứu và tìm hiểu thêm về vai trò tầm quan trọng của các chất dinh dưỡng đối với cơ thể trẻ lứa tuổi 18 - 36 tháng
- Tham gia tốt các đợt thao giảng dự giờ bạn đồng nghiệp để học hỏi thêm kinh nghiệm về tổ chức bữa ăn cho bản thân
- Thường xuyên tổ chức bữa ăn cho trẻ theo đúng quy trình của độ tuổi 18 -
36 tháng
3.2 Tham mưu với nhà trường mua sắm đầy đủ cơ sở vật chất
- Tôi đã tích cực tham mưu với nhà trường để mua sắm đầy đủ đồ dùng phục vụ cho bữa ăn của trẻ như: Bát, thìa bằng in óc, bàn nghế đúng quy cách, soong nồi đựng cơm, canh, thức ăn mặn riêng, dĩa đựng cơm rơi, khăn, tạp dề, khẩu trang, mũ đủ cho cô
- Kết hợp với nhà bếp, tham mưu với nhà trường tu sửa lại hệ thống bếp ga,
hệ thống nước, các đồ dùng như: Dao, thớt, thau, chậu, rá nhựa, cối xay thịt
3.3 Cho trẻ làm quen với các nhóm thực phẩm và giáo dục trẻ biết về tầm quan trọng của các chất dinh dưỡng của các nhóm thực phẩm đó đối với cơ thể trẻ
Trang 7trẻ 18 - 36 tháng”
- Việc cho trẻ làm quen với các nhóm thực phẩm giàu chất dinh dưỡng rất cần thiết đối với cơ thể trẻ Khi trẻ đã làm quen và biết được tầm quan trọng của các chất dinh dưỡng đó đối với cơ thể thì trẻ sẻ hứng thú và thích tìm hiểu về các thực phẩm đó Vì vậy tôi đã chú trọng đến việc xây dựng môi trường giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm ở trong lớp như: Tìm kiếm các loại tranh
ảnh về các loại thực phẩm có nguồn gốc từ động vật, thực vật; Tranh chuyện về bữa ăn của bé, bữa ăn gia đình Sưu tầm, sáng tác các bài thơ, câu đố, trò chơi về các món ăn, các loại thực phẩm, các bài hát, bài đồng dao Làm thêm các đồ dùng,
đồ chơi ở các góc như: Đồ chơi về rau, củ, quả, tranh lô tô dinh dưỡng
3.4 Tích cực lồng ghép vào các hoạt động trong ngày và trong các bữa
ăn:
+ Lồng ghép vào các hoạt động học tập:
- Có thể lồng ghép dinh dưỡng thông qua việc cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh, thông qua hoạt động tạo hình, âm nhạc, thông qua việc cho trẻ làm quen với văn hoc
- Thông qua các hoạt động đó trẻ sẽ biết được tên gọi, các chất dinh dưỡng
và tác dụng của các thực phẩm chẳng hạn như: Trong hoạt động làm quen với môi
trường xung quanh qua đề tài “Làm quen với một số động vật nuôi trong gia
đình” "Làm quen với một số loại quả" thì trẻ sẻ biết được các động vật, các loại
quả đó cung cấp nhiều chất đạm, Vitamin giúp cho cơ thể khỏe mạnh như thế nào
- Trong hoạt động tạo hình trẻ được làm quen với các loại quả qua: Xâu vòng quả, các con vật, xếp các loại quả, nặn các loại quả Thông qua đó cô giáo
đã giáo dục cho trẻ biết được các chất dinh dưỡng Thông qua các bài thơ, câu chuyện, bài hát trẻ cũng biết được về các thực tế và các chất dinh dưỡng của các loại thực phẩm đó
- Mặt khác thông qua các hoạt động đó còn giúp trẻ nhận biết các loại thức
ăn có sẵn ở địa phương, giúp trẻ biết lợi ích thức ăn đối với sức khỏe của cơ thể, biết một số bệnh liên quan đến ăn uống
+ Thông qua các bữa ăn hàng ngày:
Trang 8trẻ 18 - 36 tháng”
- Trong các bữa ăn cô giới thiệu cho trẻ biết món ăn và các chất dinh dưỡng
mà trẻ sẽ được ăn trong món ăn, các món ăn đó được chế biến là nhờ bàn tay khéo léo của các cô nhà bếp bằng việc phối hợp các loại thực phẩm giàu chất dinh dưỡng tạo sự hứng thú cho trẻ khi ăn, đặc biệt là các món ăn mới, động viên trẻ ăn ngon, ăn hết suất không kén chọn, kiêng khem mà phải ăn các thức ăn do cô nhà bếp chế biến theo thực đơn quy định các chất dinh dưỡng phù hợp lứa tuổi
- Giáo dục trẻ có nề nếp ăn uống sạch sẽ, văn minh, lịch sự như: Rửa tay sạch trước khi ăn, biết mời cô và các bạn ăn cơm, ngồi ngay ngắn trước khi ăn, không co chân lên ghế trong khi ăn, ăn uống từ tốn, ăn chậm nhai kĩ, không ngậm cơm, biết lấy tay che miệng, quay chổ khác khi hắt xì hơi, không để thức ăn rơi vãi ra sàn nhà hoặc bàn, không bốc cơm, thức ăn hoặc xúc thức ăn từ bát này sang bát khác tránh mất vệ sinh
- Giáo dục trẻ biết ăn uống đúng cách để có lợi cho sức khỏe như: Ăn chín, uống sôi, ăn sạch, uống sạch, ăn chậm nhai kĩ, ăn nhiều loại thức ăn khác nhau, ăn uống giúp cho cơ thể khỏe mạnh, thông minh, chống lớn mới ngoan và học giỏi
- Cô cần đi đến từng trẻ động viên, nhắc nhỡ, đút cơm, cháo cho những trẻ
ăn chậm, trẻ mới ốm dậy, trẻ mới đi học để tạo cho trẻ tâm thế thoải mái trong khi
ăn, giúp trẻ ăn ngon miệng hết khẩu phần ăn của trẻ
+Thông qua hoạt động vui chơi:
- Thông qua hoạt động vui chơi cũng có thể lòng ghép được chuyên đề dinh dưỡng chẳng hạn: Thông qua giờ hoạt động góc thì ở đó trẻ được chơi nhiều trò
chơi mà nổi bật là trò chơi “Chơi với búp bê” trong trò chơi đó trẻ được chơi nấu
ăn, cho búp bê ăn, chơi với các loại quả, con vật Thông qua các trò chơi đó trẻ sẽ biết sử dụng đồ dùng phục vụ việc ăn uống, tạo ra một số thức ăn, nước uống đơn giản, hình thành ở trẻ thói quen ăn uống tốt và giúp trẻ có thói quen vệ sinh, hành
vi văn minh, lao động tự phục vụ ở trẻ, giáo dục trẻ tinh thần tập thể, đoàn kế giúp
đỡ lẫn nhau trong mọi hoạt động, hình thành kĩ năng sống cho trẻ
+ Các thời điểm khác trong ngày:
Trang 9trẻ 18 - 36 tháng”
Qua các thời điểm như: Giờ đón trẻ, trả trẻ, tổ chức cho trẻ xem các loại tranh ảnh, chơi lô tô về các món ăn, các loại thực phẩm, kể tên về các món ăn trẻ
được ăn ở gia đình
3.5 Phối hợp chặt chẽ với nhà bếp và các nhóm lớp để lựa chọn thực phẩm hợp lý với trẻ
- Hằng ngày trong bữa ăn của trẻ tôi luôn để ý đến những món ăn và những món ăn đó có đảm bảo năng lượng phù hợp với trẻ nhà trẻ tại trường đạt: 708 - 826 Kcal/ ngày và đầy đủ các chất dinh dướng như: Prôtêin là 13%, Lipít là 35%, Gluxít là 50% không Mặt khác tôi còn tham khảo, trao đổi với các nhóm, lớp xem những món ăn đó như thế nào có phù hợp với trẻ hay không
Nếu những món ăn đó không phù hợp và chưa đảm bảo được năng lượng thì tôi sẽ trao đổi với nhà bếp, BGH nhà trường để lựa chọn thực phẩm phù hợp và cùng với nhà bếp nghiên cứu để xây dựng thực đơn hàng tuần, hàng tháng phù hợp với trẻ hơn, với điều kiện thực tế các thực phẩm sẵn có ở địa phương
3.6 Phải nắm được quy trình của việc tổ chức một bữa ăn cho trẻ: Thông thường tổ chức bữa ăn cho trẻ được tiến hành 3 bước:
a- Trước khi ăn:
- Cô cần làm tốt khâu chuẩn bị đồ dùng phương tiện, vệ sinh cho cô và trẻ
Đồ dùng phương tiện phải đầy đủ sạch sẽ như bát thìa được nhúng nước sôi, số thìa phải dư so với số trẻ, dĩa để thức ăn và cơm rơi, dĩa để khăn, khăn đã được giặt sạch, bàn ghế sạch sẽ được sắp xếp sẵn và thuận tiện khi chăm sóc, nước được rót ra ở cốc khi trẻ ăn xong để trẻ uống, bố trí nơi ăn của trẻ phải rộng rãi thoáng mát, thức ăn phải dược dựng trong dụng cụ sạch có nắp đậy kín
- Trước khi ăn cô và trẻ phải vệ sinh sạch sẽ như: Rửa tay, lau mặt theo
đúng quy trình, cho trẻ đi tiểu tiện Cô rửa tay sạch, đầu tóc, áo quần sạch sẽ gọn gàng, đeo khẩu trang, mang tạp dề để đảm bảo an toàn vệ sinh
b- Trong khi ăn:
- Trẻ ngồi ngay ngắn ở bàn ăn
Trang 10trẻ 18 - 36 tháng”
- Cô giới thiệu giờ ăn đã đến rồi và nhắc nhở trẻ ngồi ngay ngắn nghiêm túc, không co chân lên ghế, không xô đẫy bàn ghế
- Cô chia đều cơm thức ăn mặn ra bát chia xong cô trộn đều thức ăn với cơm bưng về cho trẻ
- Cô giới thiệu tên các món ăn và chất dinh dưỡng của các món ăn đó
- Cô nhắc trẻ mời cô, mời cac bạn cùng ăn cơm, sau đó cô mời các cháu ăn cơm trẻ mới được ăn
- Trong khi trẻ ăn cô cần bao quát hết trẻ, chú ý nhắc nhở động viên trẻ ăn không để cơm rơi vãi không nói chuyện riêng không được xúc cơm và thức ăn sang bát của bạn, nhắc trẻ ăn uống từ tốn, ăn chậm nhai kỷ, ăn các thức ăn do cô nhà bếp chế biến theo thực đơn hàng ngày mới đảm bảo đủ các chất dinh dưỡng
- Trẻ ăn xong bát thứ nhất cô tiếp tục chia bát thứ hai chan canh cho trẻ c- Sau khi ăn:
- Trẻ ăn xong nhắc trẻ đưa bát cất vào chậu, cô lau miệng, lau tay cho trẻ và cho trẻ uống nước súc miệng sạch sẽ, đi vệ sinh vào chuẩn bị nằm ngủ
- Cô thu dọn bàn, cơm rơi vãi trên bàn, không hắt cơm xuống sàn nhà, lau bàn bằng khăn ướt, giặt sạch và phơi khô Quét sạch thức ăn, cơm rơi dưới sàn nhà Lau sạch sàn nhà sau mỗi bữa ăn
- Rửa bát thìa, soong nồi bằng nước rữa bát và nước sạch, tráng lại ít nhất hai lần bằng nước sạch Phơi nắng bát thìa riêng của lớp Sau khi phơi khô đậy kĩ cất ở nơi quy định và chỉ dùng các dụng cụ trên khi chia thức ăn cho trẻ
3.7- Làm tốt công tác tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh:
Công tác tuyên truyền phối kết hợp giữa nhà trường với gia đình và cộng
đồng xã hội là việc làm không thể thiếu được ở trường Mầm non nói chung và Trường Mầm non Hoa Mai nói riêng Vì vậy lớp đã chuẩn bị trước nội dung tuyên truyền sau:
- Nuôi con bằng sữa mẹ
- Theo dõi sức khoẻ trẻ bằng biểu đồ phát triển