Bản chất và mục đích của quy trình phân tích Các thể thức phân tích các cuộc khảo sát phân tích đợc định nghĩa nh là những quá trình đánh giá các thông tin tài chính đợc thực hiện qua mộ
Trang 1Phần nội dung
I Bản chất và mục đích của quy trình phân tích
Các thể thức phân tích (các cuộc khảo sát phân tích) đợc định nghĩa
nh là những quá trình đánh giá các thông tin tài chính đợc thực hiện qua mộtcuộc ngiên cứu các mối quan hệ đáng tin cậy giữa các dữ kiện có tính tàichính…gồm cả những quá trình so sánh các số tiền ghi sổ với những số ớctính của kiểm toán viên
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam thì các thể thức phân tích đợc ápdụng cho kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán các thông tin tài chính khác
và các dịch vụ có liên quan của công ty kiểm toán Đối với một số mục tiêukiểm toán nhất định hoặc các số d tài khoản nhỏ đôi khi chỉ thể thức thôicũng đủ để thu thập bằng chứng Tuy nhiên trong hầu hết các trờng hợp, việckết hợp tất cả các phơng pháp, kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán làcần thiết để bằng chứng kiểm toán có giá trị và đầy đủ
1 Bản chất
Phân tích là việc nghiên cứu các mối quan hệ sẵn có, các thay đổi của
số liệu, chứng từ về mặt tài chính liên quan đến báo cáo tài chính xem cóxảy ra đúng nh dự định hay ớc tính
Phân tích là quá trình đánh giá các thông tin tài chính đợc thực hiệnqua một cuộc nghiên cứu các mối quan hệ đáng tin cậy giữa các dữ kiện cótính tài chính và phi tài chính… gồm cả quá trình ghi sổ với những số ớc tínhcủa kiểm toán viên Phơng pháp phân tích đợc sử dụng troang cả ba giai
đoạn : Lập kế hoạch, thực hiện kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán
Quy trìnhphân tích bao gồm việc so sánh các thông tin tài chính, nh :
- So sánh thông tin tơng ứng trong kì này với các kì trớc
- So sánh giữa thực tế với kế hoặch của đơn vị
- So sánh giữa thực tế với ớc tính của kiểm toán viên
- So sánh giữa thực tế của đơn vị với các đơn vị cùng nghành cócùng quy mô hoạt động, hoặc với số liệu thống kê, định mức cùngnghành
Quy trình phân tích cũng bao gồm việc xem xét các mối quan hệ :
- Giữa các thông tin tài chính với nhau ( Ví dụ : mối quan hệ giữa lãigộp với doanh thu…)
- Giữa các thông tin tài chính với các thông tin phi tài chính ( Ví dụ :mối quan hệ giữa chi phí nhân công và số lợng nhân viên…)
Nghiên cứu số liệu về mặt tài chính với số liệu khác có liên quan,kiểm toán viên có thể sử dụng toàn bộ hoặc một số thể thức phân tích so
Trang 2sánh số liệu nói trên với điều kiện nếu đơn vị đợc kiểm toán có nhiều hoạt
độ áp dụng tuỳ thuộc vào sự xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên
Thông qua kết quả phân tích nếu phát hiện thấy có sự khác biệt lớn,nghiêm trọng kiểm toán viên phải điều tra làm rõ nguyên nhân và sử dụngcác phơng pháp kiểm toán khác để hỗ trợ bổ sung trớc khi kiểm toán viên đa
ra ý kiến nhận xét, kết luận của mình
Phân tích là một trong những phơng pháp kiểm toán hiện đại để thuthập bằng chứng kiểm toán không tốn thời gian nh phơng pháp khảo sát chitiết các nghiệp vụ do đó kiểm toán viên có thể áp dụng phơng pháp phân tíchnày trong quá trình kiểm toán, thu thập bằng chứng kiểm toán đến lập báocáo kiểm toán
- Quy trình phân tích để kiểm tra toàn bộ báo cáo tài chính trong khâusoát xét cuối cùng của cuộc kiểm toán
II Các loại kỹ thuật phân tích
Kỹ thuật phân tích đợc sử dụng để thu thập bằng chứng kiểm toán cóhiệu lực báo gồm 3 loại: kiểm tra tính hợp lý, phân tích xu hớng, phân tích tỷsuất Trong mỗi đối tợng kiểm toán, kiểm toán viên cần lựa chọn loại hìnhphân tích phù hợp Nhìn chung các loại hình phân tích áp dụng có hiệu quả
đối với các tài khoản trong báo cáo kết quả kinh doanh và các nghiệp vụ liênquan hơn là các tài khoản trong bảng cân đối kế toán Các tài khoản trongbáo cáo kết quả kinh doanh dễ dự đoán hơn, trong khi đó tài khoản trongbảng cân đối kế toán thờng kết hợp nhiều loại hình ngiệp vụ phức tạp
1 Kiểm tra tính hợp lý:
Kiểm tra tính hợp lý thờng bao gồm những so sánh cơ bản nh giữa sốliệu thực tế và số liệu kế hoạch, dự toán…Từ kết quả so sánh, việc điều tranhững sai khác lớn giữa số thực tế và số kế hoạch sẽ giúp kiểm toán viênphát hiện đợc những sai sót trong báo cáo tài chính hoặc các biến đọng lớntrong tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị
Trang 3Kỹ thuật nàý có thể bao gồm các so sánh sau:
+ So sánh giữa các chỉ tiêu của đơn vị và các chỉ tiêu bình quân trong ngành
Giả sử kiểm toán viên đang thực hiện 1 cuộc kiểm toán và thu thập
đ-ợc các thông tin sau về khách hàng và mức trung bình ngành kinh doanh cuảcông ty khách hàng
Nếu nhìn vào hai số tỷ lệ qua hai năm củakhách hàng thì thấy có vẻ ổn
định và không thấy có dấu hiệu gì cho thấy có khó khăn Tuy nhiên nếu sosánh với nghành thì tình hình của công ty bị xấu đi Vào năm 2000, công tythực hiện khá tốt so với ngành về cả hai tỷ lệ này Sang năm 2001, công tykhông đạt đợc mức của ngành nữa Dựa vào những thông tin nàý kiểm toánviên có thể nghĩ đến những tình huống xấu mà công ty khách hàng gặp phải
nh có thể bị mất thị trờng, cách định giá của công ty có thể mất tính cạnhtranh, công ty có thể có các chi phí bất thờng, hoặc có thể có hàng tồn kholỗi thời
Hiện nay các công ty kiểm toán có thể dễ dàng thu thập các thông tin
về một ngành kinh doanh nào đó qua các tạp chí chuyên ngành, niên giámthống kê, và đặc biệt là qua mạng Internet Các công ty sử dụng thông tinnàý nh một căn cứ của việc so sánh ngành trong các cuộc kiểm toán của họ
Những lợi ích quan trong nhất của quá trình so sánh ngành là nó nhmột sự giúp đỡ để hiểu rõ công việc kinh doanh của khách hàng và nh mộtdấu hiệu của khả năng thất bại về tài chính
Nhợc điểm chính khi sử dụng các tỷ số ngành để kiểm toán là sự khácnhau giữa bản chất của thông tin tài chính của khách hàng với bản chất củacác công ty dùng để tính toán kết quả của ngành Vì các dữ kiện của ngành
là các số bình quân chung nên các quá trình so sánh có thể không có ýnghĩa Thờng thì các mặt hàng kinh doanh của khách hàng không giống nhcác chuẩn mực của ngành Ngoài ra các công ty khác nhau theo phơng pháp
kế toán khác nhau và điều nàý ảnh hởng đến tính so sánh đợc của dữ kiện.Nếu hầu hết các công ty trong ngành sử dụng tính giá hàng tồn kho theoLIFO trong khi công ty khách hàng lại sử dụng theo FIFO hoặc các công tytrong ngành sử dụng phơng pháp khấu hao đều trong khi khách hàng lại sửdụng phơng pháp khấu hao giảm dần thì quá trình so sánh sẽ khoong còn ýnghĩa Điều nàý không có nghĩa là các quá trình so sánh ngành không đợcthực hiện Mà đó là một dấu hiệu của nhu cầu thận trọng khi diễn giải cáckết quả
+ So sánh số liệu của khách hàng và kết quả dự kiến của kiểm toán viên.
Đâý là hình thức so sánh dữ kiện của khách hàng với các kết quả dựkiến đợc sử dụng khi kiểm toán viên tính các số dự kiến đó để so sánh với sốthực tế Theo hình thức phân tích nàý, kiểm toán viên ớc tính số d của mộttài khoản nào đó bằng cách liên hệ nó với một vài tài khoản khác trên bảngcân đối tài sản hoặc trên báo cáo kết quả kinh doanh
Trang 4Thí dụ: việc tính giá trị dự kiến dựa trên các mối quan hệ giữa các tài
khoản là quá trình tính toán độc lập của phí tổn trả tiền lãi trên các phiếu nợdài hạn phải trả bằng cách nhân số d cuối kỳ hàng tháng trên các phiếu nàývới lãi suất bình quân hàng tháng
+ So sánh dữ kiện của khách hàng với các kết quả ớc tính, sử dụng dữ kiện phi tài chính.
Giả sử trong cuộc kiểm toán ở một khách sạn, kiểm toán viên có thểxác định số lợng phòng, giá của mỗi phòng và hiệu suất phòng Với những
số liệu nàý việc xác định tổng doanh thu từ các phòng với doanh thu ghi sổ
là tơng đối dễ dàng Cách làm nàý đợc áp dụng tơng tự để tính những tàikhoản lơng trong các công ty ( tổng số giờ làm việc nhân với mức lơng) vàchi phí nguyên vật liệu trong khối lợng hàng bán ( khối lợng bán nhân vớichi phí nguyên vật liệu đơn vị)
Khi sử dụng các dữ kiện phi tài chính yêu cầu phải đặt ra là tính chínhxác của dữ kiện Trong thí dụ trên, mức doanh thu ớc tính về thu nhập củakhách sạn đợc dùng nh một bằng chứng kiểm toán sẽ không thích hợp trừkhi kiểm toán viên thoả mãn tính hợp lý của bảng tính về số lợng phòng, giácủa mỗi phòng và hiệu suất phòng Trong ba chỉ tiêu này, kiểm toán viên sẽkhó đánh giá tính chính xác của hiệu xuất phòng nhiều hơn là hai chỉ tiêukia
2 Phân tích xu hớng:
Phân tích xu hớng là sự phân tích những thay đổi theo thời gian của số
d tài khoản hay nghiệp vụ Phân tích xu hớng thờng đợc kiểm toán viên sửdụng qua so sánh thông tin tài chính kỳ này với thông tin tài chính kỳ trớchay so sánh thông tin tài chính giữa các tháng trong kỳ hoặc so sánh số d (sốphát sinh) của các tài khoản cần xem xét gia các kỳ, nhằm phát hiện nhữngbiến động bất thờng để tập trung kiểm tra xem xét
Trong phân tích xu hớng kiểm toán viên cần phải so sánh số liệu hiệntại với xu hớng biến động của nó qua các thời kì trớc đó xem liệu chúng cóhợp lý không Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ một khoản mục nào đó có thể phùhợp với xu hớng biến động nhng vẫn có sai sót trọng yếu Vì vậy, kiểm toánviên cần hiểu đợc các yếu tố tạo ra xu hớng của các số d tài khoản và loạihình nghiệp vụ Dựa trên sự hiểu biết này, ta tính toán đợc giá trị dự đoáncủa năm hiện tại dựa trên xu hớng năm trớc Theo cách này, có thể xác địng
đợc những thay đổi đáng kể của số d hiện tại kỳ này so với số d kỳ trớc Dự
đoán bao gồm từ những phép tính giản đơn với một biến số duy nhất dựa trên
xu hớng của dữ liệu năm cho tới những biện pháp phân tích phức tạp hơn sửdụng nhiêù biên số
Ví dụ: Có thể dự đoán doanh thu dựa trên xu hớng doanh thu hàng
năm trớc đây Lãi gộp dựa trên xu hớng của tổng hợp các sản phẩm bán ra.Phân tích về xu hớng lãi gộp hàng tháng không có tính hiệu quả trừ khi taphân tích theo sản phẩm hay theo nhóm dản phẩm Nếu không khó có thểxác định đợc một cách chi tiết sự thay đổi của tổng hợp các sản phẩm bán ra
và ảnh hởng của nó đối với lãi gộp để xác định các sai xót đang kể
Kiểm toán viên khi phân tích xu hớng có thể sử dụng một số so sánh sau:
+ So sánh tỷ lệ số d của năm hiện hành với xu hớng tỷ lệ tơng tự của các kỳ trớc.
Trang 5Giả sử tỷ lệ tổng số d hàng năm của công ty nằm trong khoảng từ 26%
đến 27% nhng trong năm hiện hành lại chỉ là 23% Sự sụt giảm của tổng số
d này khiến kiểm toán viên phải có sự suy đoán nhất định về những nguyênnhân của sự giảm sút Kiểm toán viên phải xem xét nguyên nhân giảmxuống của tỷ lệ tổng số d và xem nó có ảnh hởng đến quá trình thu thậpbằng chứng kiểm toán hay không
+ So sánh số d của năm hiện hành với những số d của các năm ớc
tr-Để thực hiện cuộc khảo sát này, kiểm toán viên ghi các số d kết quảcủa bang cân đối đã điều chỉnh vào bảng cân đối thử của năm hiện hành Khi
đó kiểm toán viên có thể so sánh kết quả số d của 2 năm để quyết định lànên chú ý nhiều hơn vào một tài khoản nào đó mà nó có số d biến động đángkể
Ví dụ: Nếu kiểm toán viên thấy rằng phí tổn về vật t tăng đáng kể, họ
sẽ quyết định liệu nguyên nhân đó là công ty sử dụng vật t tăng lên hay có sựsai số trong việc ghi sổ các nghiệp vụ nhập xuất vật t
+ So sánh các khoản mục chi tiết của số d năm nay với các năm trớc.
Nếu không có những biến động đáng kể trong các hoạt động của nămhiện hành thì phần lớn các khoản mục chi tiết cấu thành các số d tổng cộngtrên báo cáo tài chính sẽ giữ nguyên không thay đổi Bằng cách so sánh chitiết đối với các số d của kì hiện hành với chi tiết số d tơng tự của các kì trớc
sẽ có thể tách riêng thông tin cần kiểm tra thêm Quá trình so sánh có thểtheo các chi tiết hàng kỳ hoặc các chi tiết tại một thời điểm
Ví dụ: So sánh các chi tiết của nợ phải trả vào cuối năm hiện hành với
các chi tiết đó vào cuối năm trớc Từ các số chi tiết này, kiểm toán viên cóthể so sánh chi tiết các khoản phải trả của từng khách hàng mà đơn vị cóquan hệ làm ăn qua 2 năm do đó biết đợc xu hớng làm ăn của doanh nghiệp
+ So sánh dữ kiện của khách hàng với các kết quả ớc tính do khách hàng xác định.
Hầu hết các công ty đều soạn thảo riêng cho mình dự toán các hoạt
đọng khác nhau và các dự toán về kết quả hoạt động tài chính Các dự toánnày chính là các ớc tính của khách hàng trong kỳ Kiểm toán viên có thểxem xét giữa các kết qủa thực tế với các kết quả ớc tính của khách hàng đểchỉ ra sai số tiềm ẩn Bất cứ khi nào kiểm toán viên sử dụng thủ tục phân tíchnày thì họ phải xem xét trên hai vấn đề Một là, kiểm toán viên phải đánh giáxem liệu các dự đoán có phải là các kể hoạch khả thi không Trong một số tổchức các dự toán đợc soạn thảo rất hời hợt nên các con số ớc tính không khảthi vi vậy nếu kiểm toán viên sử dụng những t liệu này làm bằng chứng kiểmtoán thì có ít giá trị Hai là, khả năng thông tin tài chính kỳ hiện hành đã bịcông ty thay đổi để phù hợp với dự toán
+ So sánh dữ kiện của khách hàng với các kết quả ớc tính của kiểm toán viên
Trong khi phân tích kiểm toán viên cần hiểu rõ các yếu tố tạo nên xuhớng cung nh đặc điểm của các chu trình nghiệp vụ và từ đó xây dựng nêncác phơng trình tuyến tính để đa ra các con số dự kiến và so sánh với số liệucủa công ty
3 Phân tích tỷ suất
Trang 6Phân tích tỷ suất là cách thức so sánh những số d tài khoản hoặcnhững loại hình nghiệp vụ Phân tích tỷ suất cũng giúp so sánh tính hợp lý vềtình hình tài chính của một công ty nào đó với một công ty khác trong cùngtập đoànhay với ngành đó Thông thờng phân tích cũng phải xem xét xu h-ớng của tỷ suất đó.
Phân tích tỷ suất giúp cho kiểm toán viên có thể so sánh hoạt độngcủa đơn vị ở kỳ này so với kỳ trớc bởi vì các tỷ suất này thờng tơng đối ổn
định giữa các kỳ và các niên độ Hơn na phân tích tỷ suất có thể dùng để sosánh tình hình tài chính của đơn vị với các đơn vị khác cùng ngành bởi vì cácmối quan hệ này thơng không có biến động quá lớn Khi sử dụng phân tích
tỷ suất kiểm toán viên có thể đánh giá đợc đợc sự ổn định của các tỷ suấttrong đơn vị Phân tích tỷ suất bao gồm việc phân tích các nhóm tỷ suất sau:
+ Tỷ suất khả năng thanh toán hiện thời:
Tổng tài sản lu động
Tỷ suất khả năng =
thanh toán hiện thời Tổng số nợ ngắn hạn
Đây là tỷ suất khả năng thanh toán thông dụng nhất
Tỷ suất này đo lờng khả năng thanh toán, nó đánh giá sự tơng quangiữa tài sản lu động và nợ ngắn hạn phải trả
Tài sản lu động là những tài sản có thể chuyển đổi thành tiền trongmột thời gian nhất định, thơng là một năm Tài sản lu động gồm: vốn bằngtiền, đầu t ngắn hạn, các khoản phải thu, ứng trớc trả trớc, hàng tồn kho
Tổng số nợ ngắn hạn là toàn bộ các khoản nợ dới 1năm kể từ ngày lậpbáo cáo tài chính gồm: vay ngắn hạn, nợ dài hạn đến hạn trả, phải trả nhàcung cấp, phải trả ngân sách, phải trả công nhân viên, phải trả nội bộ và cáckhoản phải trả phải nộp khác
Khi tỷ suất này bằng 1 nghĩa là tài sản lu động vừa đủ để thanh toáncác khoản nợ ngắn hạn.Để đảm bảo vốn vừa thanh toán đủ nợ ngắn hạn,vuad tiếp tục hoạt động đợc ty suất bằng 2 đợc coi là hợp lý nhất tỷ suất caohơn 2 có thể xem là đầu t thừa tài sản lu động
+ Tỷ suất khả năng thanh toán nhanh: đợc mô tả là khả năng thanhtoán tức thời với tiền và các phơng tiện có thể chuyển hoá ngay thành tiền
Vốn bằng tiền + Đầu t tài chính ngắn hạn +Khoản phảithu
Tỷ suất thanh =
toán nhanh Tổng nợ ngắn hạn
Tỷ suất này bằng một là thoả đáng, càng lớn hơn 1 thể hiện doanhnghiệp càng có khả năng thanh toán nhanh, nếu càng nhỏ thì daonh nghiệpcàng khó khăn trong thanh toán nợ ngắn hạn
+ Tỷ suất thanh toán dài hạn:
Tổng tài sản lu động
Tỷ suất khả năng =
thanh toán dài hạn Tổng số nợ phải trả
Tỷ suất này không những có ý nghĩa đối với việc đánh giá khả năngthanh toán mà còn có tác dụng xem xét khả năng tiếp tục hoạt động củadoanh nghiệp để có ý kiến nhận xét đúng đắn trong báo cáo kiểm toán Tỷsuất này càng lớn hơn 1 chứng tỏ doanh nghiệp càng có khả năng thanh toán.Ngợc lại, tỷ suất này càng nhỏ hơn 1 thì nguy cơ phá sản của doanh nghiệp
Trang 7càng lớn Khi tỷ suất này gần bằng không thì doing nghiệp bị phá sản, tức làkhông còn khả năng thanh toán.
+ Số vòng thu hồi nợ: thể hiện số vòng thu hồi nợ trong một liên độ,
có nghĩa là số d nợ khách hàng thu đợc vào quỹ mấy lần Số vòng thu hồi nợcàng nhiều, thơi gian thu hồi nợ càng ngắn
Doanh thu ròng (thuần)
phải thu bình quân 2
+ Số vòng luân chuyển hàng tồn kho:
Một vòng luân chuyển hàng hoá đợc tính từ lúc xuất tiền mua hàngcho đến khi bán hàng thu lại tiền Số vòng luân chuyển hàng tồn kho chobiết mỗi năm hàng hoá luân chuyển đợc mấy lần Số vòng luân chuyển càngnhiều, thời gian luân chuyển một vòng càng ngắn
Giá vốn hàng bán
Số vòng luân chuyển =
hàng tồn kho Số d tồn kho bình quân
Trang 8Nếu lấy một năm là 365 ngày thì:
365 ngày
Thời gian luân chuyển =
1 vòng hàng tồn kho Số vòng luân chuyển hàng tồn kho
. Nhóm tỷ suất khả năng sinh lời:
+ Tỷ suất khả năng sinh lời của tài sản: dùng để đo lờng tiền lãi domột đồng tài sản mang lại
Lãi kinh doanh trớc thuế + Chi phí tiền lãi
Tỷ suất khả năng =
sinh lời của tài sản Tổng giá trị tài sản bình quân
Do tổng tài sản đợc tài trợ từ cả nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốnvay nên chi phí tiền lãi phải đợc cộng vào lãi kinh doanh của donah nghiệp
để tính tỷ suất này
+Tỷ suất hiệu quả kinh doanh:cho biết cứ một đòng doanh thu thuầnmang lại bao nhiêu tiền lãi cho doanh nghiệp
Tổng lãi kinh doanh trớc thuế
Tỷ suất hiệu quả kinh doanh =
Tổng doanh thu bán hàng năm
Để đánh giá tỷ suất này, ngoaì việc so sánh giữa các năm hoặc tỷ suất
dự kiến nhằm thấy rõ chất lợng và xu hớng phát triển của doanh nghiệp,kiểm toán viên còn phải xem xét tính chất ngành nghề kinh doanh mà doanhnghiệp đang hoạt động
. Nhóm tỷ suất về cấu trúc tài chính:
Thông qua nhóm tỷ suất này ngoài việc phân tích sự bất thờng kiểmtoán viên còn có thể nhìn nhận những khó khăn tài chính mà doanh nghiệpphải đơng đầu và có thể dẫn dắt các nhà quản lý đến sai phạm Đồng thờikiểm toán viên có thể xem xét thêm khả năng tiếp tục hoạt động của đơn vị
+ Tỷ suất đầu t : dùng để đánh giá năng lực hiện có của doanh nghiệp,
đánh giá trình độ trang bị máy móc, thiết bị cơ sở vật chất kỹ thuật
Tài sản cố định và đầu t dài hạn
Tỷ suất đầu t =
Tổng tài sản
Tỷ suất này luôn nhỏ hơn một và mức độ cao thấp của nó tuỳ thuộctheo doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nào
Thông thờng tỷ suất này đợc coi là hợp lý trong từng ngành nếu:
- Công nghiệp thăm dò và khai tác dầu khí: tỷ suất này khá cao vàokhoảng 0.9 ( 90% tổng tài sản)
- Công nghiệp luyện kim: khoảng 0.7 ( 70% tổng tài sản)
- Công nghiệp chế biến thực phẩm: khoảng 0.1 đến 0.3
Trang 9Nguồn vốn chủ sở hữu
Tỷ suất tài trợ = = 1- tỷ suất nợ
Tổng nguồn vốn
Tỷ suất tài trợ phản ánh khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và mức
độ độc lập của doanh nghiệp đối với các chủ nợ hoặc những khó khăn tàichính mà doanh nghiệp phải đơng đầu Tỷ suất tài trợ càng lớn chứng tỏdoanh nghiệp có nhiêu vốn tự có và hoạt động chủ yếu dựa trên vốn chủ sởhữu, không phải lo lắng nhiều trong việc vay và trả nợ
+Tỷ suất khả năng thanh toán lãi vay:
Lợi tức thuần từ hoạt động kinh doanh
Tỷ suất khả năng =
thanh toán lãi vay Chi phí lãi vay
Kiểm toán viên có thể so sánh tỷ suất này giữa các kỳ hoặc với tỷ suấttrung bình của ngành
Trong ba loại hình phân tích trên, kiểm tra tính hợp lý kết hợp các dữliệu hoạt động, dữ liệu tài chính và kiểm tra sự tơng ứng giữa hai loại dữ liệunày Do mức độ chính xác hay tính tin cậy của bằng chứng thu thập đợc nênkiểm tra tính hợp lý đợc xem là quan trong nhất Phân tích tỷ suất đợc dựatrên mối quan hệ gia các báo cáo khác nhau có mối liên hệ liên quan nênviệc phân tích tỷ suất cũng cung cấp những bằng chứng có giá trị Phân tích
xu hớng đợc xem là kỹ thuật cung cấp dữ liêu có độ tin cậy thấp hơn 2 kỹthuật trên, tuy nhiên nó lại hỗ trợ rất nhiêu trong việc xác định các vùng rủiro
III quy trình phân tích trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.
Công việc kiểm toán đợc thực hiện cho mọi loại hình doanh nghiệp dù
là quy mô lớn hay nhỏ, loại hình kinh doanh giản đơn hay phức tạp Đối vớimỗi nội dung kiểm toán khác nhau thì trình tự kiểm toán cũng khác nhau,nhng thông thờng mọi cuộc kiểm toán đều đợc tiến hành qua 3 bớc: Lập kếhoạch, thực hiện và kết thúc kiểm toán
Lập kế hoạch là giai đoạn đầu tiên của cuộc kiểm toán nó quyết địnhtính khả thi của cuộc kiểm toán, theo chuẩn mực kiểm toán đợc thừa nhậnrộng rãi thì khi thực hiện một cuộc kiểm toán kiểm toán viên phải lập kếhoạch kiểm toán để công việc kiểm toán tiến hành có hiệu quả, đúng thờigian
Nh vậy lập kế hoạch kiểm toán là nguyên tắc đòi hỏi các kiểm toánviên phải tuân theo, việc lập kế hoạch kiểm toán có thể đem lại các ý nghĩaquan trọng sau đây :
- Giúp kiểm toán viên thu thập bằng chứng kiểm toán một cách đầy
đủ và có giá trị, từ đó có thể đa ra kết luận chính xác về báo cáo tàichính của doanh nghiệp, tiết kiệm đợc chi phí kiểm toán, nâng caohiệu quả công việc kiểm toán
- Tăng cờng sự hợp tác giữa các kiểm toán viên, kiểm toán viên vớicác bộ phận liên quan nh hệ thống kiểm soát nội bộ, các chuyêngia t vấn Theo đó công việc kiểm toán sẽ đợc tiến hành một cáchkhoa học tránh đợc sự trồng chéo, giảm thiểu chi phí và tăng tínhcạnh tranh của công ty kiểm toán
Trang 10- Kế hoạch kiểm toán là căn cứ để tránh bất đồng với khách hàng.Trên cơ sở kế hoạch kiểm toán đã lập công ty kiểm toán và kháchhàng thống nhất về nội dung, chi phí, thời gian và trách nhiệmpháp lý của mỗi bên Tránh đợc bất đồng với khách hàng sẽ giữ đ-
ợc mối quan hệ tốt với khách hàng và do đó tạo điều kiện thuận lợicho cuộc kiểm toán, nâng cao uy tín của công ty kiểm toán Ngoài
ra, việc lập kế hoạch kiểm toán sẽ là cơ sở để kiểm tra, giám sáttiến độ và chất lợng công việc kiểm toán đã và đang thực hiện
- Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán càng có ý nghĩa hơn đối vớinhững khách hàng lần đầu đợc kiểm toán bởi công ty Trong trờnghợp này kiểm toán viên phải mở rộng quy trình lập kế hoạch kiểmtoán để hiểu biết rõ hơn về đơn vị của khách hàng Ngoài ra để việclập kế hoạch có hiệu quả thì yêu cầu kế hoạch phải gắn liền vớiviệc xây dựng các mục tiêu kiểm toán để tận dụng đợc những điềukiện thuận lợi và nguồn lực sẵn có nhằm sử dụng có hiệu quảnguồn lực đó Việc lập kế hoạch hpải triển khai các chiến lợc hỗtrợ cho các chủ trơng, biên pháp và chơng trình bảo đảm tốt nhấtcho các hoạt động tiến hành thơng xuyên và thúc đẩy cho quá trìnhkiểm toán đạt đợc các mục tiêu tơng lai
Trang 111 Các bớc lập kế hạch kiểm toán
Khái quát các bớc lập kế hoạch kiểm toán
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán một trong những thủ tục đợc
sử dụng và sử dụng có hiệu quả nhất là “thủ tục phân tích” hay “thể thứcphân tích”
Các thủ tục phân tích trong giai đoạn này giúp cho công ty kiểm toán
đánh giá tính khả thi của cuộc kiểm toán, nhất là đối với những khách hàngmới mà công ty cha có nhiều thông tin về họ
2 Thủ tục phân tích trong các bớc của giai đoạn lập
kế hoạch.
Quy trình kiểm toán bắt đầu khi kiểm toán viên và công ty kiểm toánthu nhận một khách hàng, thu nhận khách hàng là một quá trình gồm hai bớc:
- Có sự liên lạc giữa kiểm toán viên và khách hàng tiềm năng
- Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán đối với khách hàng này,còn đối với khách hàng hiện tại thì kiểm toán viên quyết định xem
có tiếp tục kiểm toán hay không
Khi đánh giá khả năng chấp nhận hay tiếp tục kiểm toán, kiểm toánviên phải xem xét liệu việc chấp nhận hay tiếp tục kiểm toán có làm tăng rủi
ro cho hoạt động của kiểm toán viên hay làm hại đến uy tín của công tykiểm toán Để làm đợc điều đó kiểm toán viên cần phải thu thập nhữngthông tin có liên quan nh chất lợng hệ thống kiểm soát nội bộ của doanhnghiệp, tính liêm chính và phong cách làm việc của ban quan trị, các thôngtin từ kiểm toán viên tiền nhiệm… Kiểm toán viên phải biết đa các thông tin
đó vào hệ thống thông tin chung, phân tích mối tơng quan giữa các thông tin
đó để xác định quy mô, tính phức tạp của cuộc kiểm toán và khả năng chấpnhận kiểm toán với giá phí tơng ứng
Việc chấp nhận kiểm toán có thể đa đến một cuộc kiểm toán thànhcông hoặc thất bại vì vậy vệc phân tích thông tin một cách cẩn then sẽ giúpcho kiểm toán viên và công ty kiểm toán có những kết luận đúng đắn
Trong giai đoạn lập kế hoạch, quy trình phân tích đánh giá tổng quátgiúp cho kiểm toán viên nhìn nhận doanh nghiệp một cách toàn diện và xác
Liên hệ với khách hàng và đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán
Lập th hẹn kiểm toán trong trờng hợp chấp nhận kiểm toán
Lập kế hoạch tổng quát (kế hoạch
chiến lợc) Lập kế hoạch chi tiết Thiết kế chơng trình kiểm toán
Trang 12định tính bất thờng một cách nhanh chóng để định hớng và xác định phạm vikiểm tra, rút ngắn thời gian kiểm toán Kỹ thuật phân tích còn giúp kiểmtoán viên xác định nhanh chóng khu vực có thể có sai sót để làm trọng tâmcho cuộc kiểm toán Các thông tin thu đợc do áp dụng quy trình phân tíchcòn giúp kiểm toán viên quyết định nội dung, thời gian và phạm vi sử dụngcác phơng pháp kiểm toán khác.
ở giai đoạn lập kế hoạch, sau khi đã thu thập đầy đủ các thông tin cơ
sở và thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng, kiểm toán viên tiến hànhcác thủ tục phân tích đối với các thông tin đã thu thập để hoõ trợ cho việc lập
kế hoạch về bản chất thời gian và thủ tục kiểm toán sẽ đợc sử dụng trong giai
đoạn sau Các thủ tục phân tích sử dụng cho việc lập kế hoạch kiểm toánnhằm vào các mục tiêu sau đây :
- Thu thập hiểu biết về nội dung các báo cáo tài chính và những biến đổi quan trọng về kế toán và hoạt đọng kinh doanh của khách hàng vừa mới diễn ra kể từ lần kiểm toán trớc.
- Tăng cờng sự hiểu biết của kiểm toán viên về hoạt động kinh doanh của khách hàng và giúp kiểm toán viên xác định các vấn
đề nghi vấn về khả năng hoạt động liên tục của công ty khách hàng.
Hiểu đợc công việc kinh doanh của khách hàng
Kiểm toán viên xem kiến thức và kinh nghiệm thu thập đợc về công tykhách hàng trong những năm trớc nh một điểm khởi đầu để lập kế hoạch chocuộc kiểm tra năm hiện hành Bằng cách tiến hành các thể thức phân tích màqua đó các thông tin cha đợc kiểm toán nổi rõ Những biến động này có thể
đại diện cho những xu hớng quan trọng hoặc các hiện tợng đặc biệt mà tất cả
đều có ảnh hởng đến việc lập kế hoạch kiểm toán
Thí dụ: một sự sụt giảm về các tỷ lệ tổng số d qua thời gian có thể chỉ
rõ rằng cạnh tranh đang tăng lên trong khu vực thị trờng của công ty, và nhucầu cần phải xem xét kỹ lỡng hơn cách định giá hàng tồn kho khi kiểm toán.Tơng tự, một sự tăng lên về số d của tài sản cố định có thể chỉ rõ rằng cómột sự mua đáng kể cần phải đợc xem xét lại
Đánh giá khả năng công ty tiếp tục là một doanh nghiệp hoạt động phát đạt
Các thể thức phân tích thờng có tác dụng nh một dấu hiệu của việc làcông ty khách hàng đang đứng trớc những khó khăn khắc nghiệt về mặt tàichính Khả năng thiếu hụt mặt tài chính phải đợc kiểm toán viên xem xéttrong quá trình đánh giá các rủi ro liên hệ với kiểm toán cũng nh liên hệ vớigiả định doanh nghiệp hoạt động phát đạt của Ban quản trị khi soạn thảo cácbáo cáo tài chính Một số thể thức phân tích nhất định có thể rất hữu ích choviệc xem xét sau này
Thí dụ: nếu tỷ lệ nợ dài hạn so với tổng giá trị tài sản ròng cao hơn
bình thờng đợc kết hợp với một tỷ lệ dới mức trung bình của lợi nhuận sovới tổng số tài sản, thì có thể chỉ ra mức rủi ro tơng đối cao của sự thiếu hụttài chính Những điều kiện đó không chỉ có ảnh hởng đến kế hoạch kiểmtoán, mà còn có thể chỉ rõ là có những nghi ngờ đáng kể về khả năng công
ty tiếp tục là doanh nghiệp hoạt động làm ăn phát đạt, điều này sẽ yêu cầumột báo cáo có bổ sung
- Đánh giá sự hiện diện các sai số có thể có trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Những chênh lệch đáng kể ngoài dự kiến giữa số liệu tài chính cha
đ-ợc kiểm toán ở năm hiện hành với số liệu khác đđ-ợc dùng so sánh thờng đđ-ợcxem nh những dao động bất thờng Những dao động bất thờng xảy ra khi
Trang 13những chênh lệch đáng kể không đợc dự kiến nhng lại tồn tại, hoặc khinhững chênh lệch đáng kể có đợc dự kiến nhng lại không xảy ra Trong cảhai trờng hợp, một trong những lý do khả dĩ đối với một dao động bất thờng
là sự hiện diện của một sai số về kế toán hoặc sai quy tắc
Thí dụ: khi so sánh tỷ lệ của mức dự phòng khoản phải thu khó đòi
với tổng các khoản phải thu, với tỷ lệ đó của năm trớc, giả sử tỷ lệ này đãgiảm đi trong khi cùng lúc đó, hệ số quay vòng các khoản phải thu cũnggiảm đi Tổng hợp hai mảng thông tin này sẽ chỉ rõ khả năng báo cáo dớimức dự phòng Khía cạnh này của các thể thức phân tích thờng đợc gọi là sựquan tâm có định hớng vì nó dẫn đến các thể thức chi tiết hơn trong các lĩnhvực kiểm toán đặc thù mà ở đó có thể tìm thấy các sai số hoặc sai quy tắc
- Giảm bớt các cuộc khảo sát chi tiết.
Khi một thể thức phân tích không làm bật lên các dao động bất thờngthì có nghĩa là khả năng của sai số hoặc sai quy tắc trọng yếu rất nhỏ Trongtrờng hợp đó, thể thức phân tích cấu thành bằng chứng thật sự để chứngminh cho sự trình bày trung thực của các số d các tài khoản liên quan, vàviệc tiến hành khảo sát chi tiết các tài khoản này có thể giảm bớt
Thí dụ: nếu các thể thức phân tích dẫn đến kết quả là số d của một tài
khoản nhỏ, thí dụ nh phí bảo hiểm cha đợc hởng là thích hợp thì không cầnkhảo sát chi tiết nữa
Trong các trờng hợp khác, một số thể thức kiểm toán nhất định có thể
đợc loại trừ, quy mô mẫu có thể giảm bớt, hoặc thời hạn của các thể thức cóthể đợc kéo dài hơn kể từ ngày lập bảng cân đối tài sản
Các thể thức phân tích thờng không tốn kém nh các cuộc khảo sát chitiết Do đó, hầu hết các kiểm toán viên thay thế các khảo sát chi tiết bằngcác thể thức phân tích bất cứ khi nào có thể làm đợc Để minh hoạ, sẽ rẻ hơnrất nhiều khi tính và xem xét lại doanh thu và các tỷ lệ các khoản phải thuthay vì xác minh từng khoản phải thu Nếu có thể giảm bớt hoặc thay thế sựxác minh bằng các thể thức phân tích, thì chi phí sẽ tiết kiệm đáng kể
Mức độ mà các thể thức phân tích có thể cung cấp bằng chứng chínhthức, hữu ích phụ thuộc vào tính đáng tin cậy của chúng trong các tìnhhuống đó Đối với một số mục đích kiểm toán và trong một số trờng hợp,chúng có thể là những thể thức hiệu quả nhất để vận dụng Những mục tiêunày có thể gồm sự xếp loại đúng đắn các nghiệp vụ kinh tế , tính đầy đủ củaviệc ghi sổ nghiệp vụ kinh tế, và tính chính xác của các phán xét và ớc tínhcủa Ban quản trị trong một số lĩnh vực nhất định, nh dự phòng các khoảnphải thu khó đòi Đối với các mục tiêu kiểm toán và ở những tình huốngkhác, tốt nhất là xem các thể thức phân tích nh sự quan tâm có định hớng, vàkhông nên dựa vào đó để thu thập bằng chứng chính thức Thí dụ nh trờnghợp xác định khi nào các thể thức phân tích là hiệu quả
Nh vậy qua việc thực hiện các thủ tục phân tích trong giai đoạn lập kếhoạch kiểm toán, kiểm toán viên có thể xác định nội dung cơ bản của cuộckiểm toán Báo cáo tài chính Mức độ phạm vi và thời gian áp dụng các thủtục phân tích thay đổi tuỳ thuộc vào quy mô và tính phức tạp trong hoạt độngkinh daonh của khách hàng
Việc xây dung các thủ tục phân tích bao hàm một số bớc đặc thùnhxác định mục tiêu, thiết kế các cuộc khảo sát, tiến hành khảo sát, phân tíchkết quả và đa ra kết luận
Các thủ tục kiểm toán viên sử dụng bao gồm hai loại cơ bản:
- Phân tích ngang (phân tích xu hớng): là việc phân tích dựa trên cơ
sở so sánh các trị số của cùng một chỉ tiêu trên báo cáo tài chính.Các chỉ tiêu phân tích đợc sử dụng ngang bao gồm: