1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ CƯƠNG ôn tập môn TIỀN tệ

16 245 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 131,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỀ CƯƠNG MÔN TIỀN TỆ Câu 1:Trình bày bản chất và chức năng của tiền tệ? 1.1 Khái niệm: Tiền là 1loại hàng hóa đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho tất cả các loại hàng hóa để đo giá trị hàng hóa . Tiền là 1 loại hàng hóa đặc biệt đóng vai trò là vật ngang giá trung để đo giá trị của các hàng hoá là phương diện cần thiết để thực hiện mọi quan hệ trao đổi do vậy tiền có thể thỏa mãn nhu cầu sở hữu nó tương ứng vs số lượng giá trị mà người đó đã tích lũy được. Tất cả các phương tiện có thể đóng vai trò trung gian trao đổi, được nhiều người thừa nhận thì gọi là tiền. 1.2Bản chất và chức năng của tiền tệ : Bản chất của tiền tệ được thể hiện qua các chức năng của nó . Theo CácMác tiền tệ có 5 chức năng: • Thước đo giá trị.: Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá. Muốn đo lường giá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo lường giá trị hàng hoá không cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởng tượng. Sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hoá trong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định. Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hoá. Do đó, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá. Giá cả hàng hoá do các yếu tố sau đây quyết định: + Giá trị hàng hoá. + Giá trị của tiền. + ảnh hưởng của quan hệ cung cầu hàng hoá. Để làm chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ cũng phải được đo lường. Do đó, phải có đơn vị đo lường tiền tệ. Đơn vị đó là một trọng lượng nhất định của kim loại dùng làm tiền tệ. ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này có tên gọi khác nhau. Đơn vị tiền tệ và các phần chia nhỏ của nó là tiêu chuẩn giá cả. Tác dụng của tiền khi dùng làm tiêu chuẩn giá cả không giống với tác dụng của nó khi dùng làm thước đo giá trị. Là thước đo giá trị, tiền tệ đo lường giá trị của các hàng hoá khác; là tiêu chuẩn giá cả, tiền tệ đo lường bản thân kim loại dùng làm tiền tệ. Giá trị của hàng hoá tiền tệ thay đổi theo sự thay đổi của số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến chức năng tiêu chuẩn giá cả của nó, mặc dù giá trị của vàng thay đổi như thế nào. Ví dụ, một USD vẫn bằng 10 xen. Phương tiện lưu thông: Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hoá. Để làm chức năng lưu thông hàng hoá ta phải có tiền mặt. Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá.

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG MÔN TIỀN TỆ Câu 1:Trình bày bản chất và chức năng của tiền tệ?

1.1 Khái niệm:

- Tiền là 1loại hàng hóa đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho tất cả các loại hàng hóa để đo giá trị hàng hóa #

- Tiền là 1 loại hàng hóa đặc biệt đóng vai trò là vật ngang giá trung để đo giá trị của các hàng hoá # & là phương diện cần thiết để thực hiện mọi quan hệ trao đổi do vậy tiền có thể thỏa mãn nhu cầu sở hữu nó & tương ứng vs số lượng giá trị mà người đó

đã tích lũy được

- Tất cả các phương tiện có thể đóng vai trò trung gian trao đổi, được nhiều người thừa nhận thì gọi là tiền

1.2Bản chất và chức năng của tiền tệ :

Bản chất của tiền tệ được thể hiện qua các chức năng của nó Theo Các-Mác tiền tệ có 5 chức năng:

• Thước đo giá trị.: Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá

Muốn đo lường giá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ phải có giá trị Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng Để đo lường giá trị hàng hoá không cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởng tượng Sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hoá trong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hoá Do đó, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá Giá cả hàng hoá do các yếu tố sau đây quyết định:

+ Giá trị hàng hoá

+ Giá trị của tiền

+ ảnh hưởng của quan hệ cung - cầu hàng hoá

Để làm chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ cũng phải được đo lường

Do đó, phải có đơn vị đo lường tiền tệ Đơn vị đó là một trọng lượng nhất định của kim loại dùng làm tiền tệ ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này có tên gọi khác nhau Đơn vị tiền tệ

và các phần chia nhỏ của nó là tiêu chuẩn giá cả Tác dụng của tiền khi dùng làm tiêu chuẩn giá cả không giống với tác dụng của nó khi dùng làm thước đo giá trị Là thước

đo giá trị, tiền tệ đo lường giá trị của các hàng hoá khác; là tiêu chuẩn giá cả, tiền tệ đo lường bản thân kim loại dùng làm tiền tệ Giá trị của hàng hoá tiền tệ thay đổi theo sự thay đổi của số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó Giá trị hàng hoá tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến "chức năng" tiêu chuẩn giá cả của nó, mặc dù giá trị của vàng thay đổi như thế nào Ví dụ, một USD vẫn bằng 10 xen

* Phương tiện lưu thông: Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hoá Để làm chức năng lưu thông hàng hoá ta phải có tiền mặt Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá

Trang 2

Công thức lưu thông hàng hoá là: H- T - H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi

hàng hoá đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian và không gian Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảng kinh tế

Trong lưu thông, lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng thoi, bạc nén Dần

dần nó được thay thế bằng tiền đúc Trong quá trình lưu thông, tiền đúc bị hao mòn dần

và mất một phần giá trị của nó Nhưng nó vẫn được xã hội chấp nhận như tiền đúc đủ giá trị

Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của nó Sở dĩ có tình

trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò chốc lát Người ta đổi hàng lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ là dấu hiệu của giá trị và được công nhận trong phạm vi quốc gia

* Phương tiện cất trữ: Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông

đi vào cất trữ Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền vàng, bạc Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hoá nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông Ngược lại, nếu sản xuất giảm, lượng hàng hoá lại ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ

* Phương tiện thanh toán: Làm phương tiện thanh toán, tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đến trình độ nào đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu Trong hình thức giao dịch này trước tiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hoá Nhưng vì là mua bán chịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán

Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo khả năng trả nợ bằng cách thanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt Mặt khác, trong việc mua bán chịu người mua trở thành con nợ, người bán trở thành chủ nợ Khi hệ thống chủ nợ và con nợ phát triển rộng rãi, đến kỳ thanh toán, nếu một khâu nào đó không thanh toán được sẽ gây khó khăn cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh tế tăng lên

* Tiền tệ thế giới: Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm chức năng tiền tệ thế giới Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hình thái ban đầu của nó là vàng Trong chức năng này, vàng được dùng làm phương tiện mua bán hàng, phương tiện thanh toán quốc tế và biểu hiện của cải nói chung của xã hội

==> Tóm lại: 5 chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hoá quan hệ mật thiết với

Trang 3

nhau Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá

Câu 2:Trình bày khái niệm & nguyên nhân của lạm phát?

2.1 Khái niệm

- Lạm phát là sự tăng lên mức giá chung liên tục của nền kinh tế trong một giai đoạn nào đó Trong mỗi giai đoạn có thể có giá mặt hàng này tăng, mặt hàng kia giảm, nhưng nếu mức giá chung tăng, ta có lạm phát Nếu mức giá chung giảm, ta có giảm phát Để đo lường lạm phát, nguời ta có thể dùng hai chỉ số như sau:

+ Hệ số giảm phát GDP (GDP deflator) được tính trên cơ sở so sánh giá trị GDP tính theo giá hiện hành, và GDP tính theo giá kỳ trước Nghĩa là đo lường mức tăng và giảm giá trên tất cả các loại hàng hoá dịch vụ tính trong GDP

+ Chỉ số giá tiêu dùng hay chỉ số giá cả CPI: được tính theo bình quân gia quyền của một nhóm các hàng hoá thiết yếu, ở VN nhóm hàng lương thực, giá vàng, đô la có lẽ có trọng số lớn Chỉ số này khôngphản ánh sự biến động giá chung nhưng phản ánh biến động giá cả ảnh hưởng nhiều nhất đến đời sống, tiêu dùng

Khi nói tốc độ lạm phát, nguời ta cũng thường dùng chỉ số này Khi nền kinh tế có lạm phát, nếu không do nguyên nhân tác động từ nước ngoài, hay một thay đổi lớn về cung sản phẩm, thì nó thể hiện cầu hàng hoá lớn hơn cung hàng hoá Việc duy trì cầu hàng hoá lớn hơn cung hàng hoá

ở một mức độ vừa phải, do đó, lạm phát ở mức vừa phải, là cần thiết để kích thích sản xuất, giúp cho việc tiêu thụ hàng hoá tốt hơn, và tạo lợi nhuận cần thiết cho các DN đầu tư nâng cao công nghệ, mở rộng sản xuất Nếu nền kinh tế sa vào giảm phát, nghĩa là sẽ bị thừa cung, thừa ứ hàng hoá, gây ra tình trạng đình đốn, thua lỗ ở các doanh nghiệp Đó là tác dụng của lạm phát Tất nhiên lạm phát quá cao thì lại là một vấn đề

2.2 Nguyên nhân lạm phát

- Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm phát, trong đó "lạm phát do cầu kéo" và

"lạm phát do chi phí đẩy" được coi là hai thủ phạm chính

- Cân đối thu chi là điều không thể tránh khỏi khi xảy ra lạm phát

+ Lạm phát do cầu kéo :Nhiều người có trong tay một khoản tiền lớn và họ sẵn sàng chi trả cho một hàng hoá hay dịch vụ với mức giá cao hơn bình thường Khi nhu cầu về một mặt hàng tăng lên sẽ kéo theo sự tăng lên về giá cả của mặt hàng đó Giá cả của các mặt hàng khác cũng theo

đó leo thang, dẫn đến sự tăng giá của hầu hết các loại hàng hoá trên thị trường Lạm phát do sự tăng lên về cầu được gọi là “lạm phát do cầu kéo”, nghĩa là cầu về một hàng hoá hay dịch vụ ngày càng kéo giá cả của hàng hoá hay dịch vụ đó lên mức cao hơn Các nhà khoa học mô tả tình trạng lạm phát này là”quá nhiều tiền đuổi theo quá ít hàng hoá”

+ Lạm phát do chi phí đẩy : Chi phí của các doanh nghiệp bao gồm tiền lương, giá cả nguyên liệu đầu vào, máy móc, chi phí bảo hiểm cho công nhân, thuế Khi giá cả của một hoặc vài yếu

tố này tăng lên thì tổng chi phí sản xuất của các xí nghiệp chắc chắn cũng tăng lên Các xí nghiệp

vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá thành sản phẩm Mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng tăng

+ Lạm phát do cơ cấu :Ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công danh nghĩa cho người lao động Ngành kinh doanh không hiệu quả, vì thế, không thể không tăng tiền công cho người lao động trong ngành mình Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận, ngành kinh doanh kém hiệu quả sẽ tăng giá thành sản phẩm Lạm phát nảy sinh từ đó

+ Lạm phát do cầu thay đổi : Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về một mặt hàng khác lại tăng lên Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính

Trang 4

chất cứng nhắc phía dưới (chỉ có thể tăng mà không thể giảm), thì mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá Kết quả là mức giá chung tăng lên, dẫn đến lạm phát

+ Lạm phát do xuất khẩu : Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặc sản phẩm được huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm khiến tổng cung thấp hơn tổng cầu Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng + Lạm phát do nhập khẩu :

- Khi giá hàng hoá nhập khẩu tăng thì giá bán sản phẩm đó trong nước cũng tăng Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên

- Khi lạm phát xảy ra, giá trị của đồng tiền sụt giảm - Lạm phát tiền tệ Cung tiền tăng (chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại tệ; hay chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước) khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát

Câu 3:Tác hại và lợi ích của lạm phát đối với kinh tế xã hội?

3.2 Tác hại

-lạm phát có tác động rất # nhau đối vs sự phát triển của nền KTXH

- lạm phát có thể dự tính được:

+ lạm phát ảnh hưởng trực tiếp đến người giữ tiền,khi lạm phát tăng lãi suất thực tế giảm thậm chí =0 or âm

+ lạm phát gây tác động tới hệ thống thuế

+lạm phát làm bóp méo thông tin

- lạm phát không thể dự tính được

+ lạm phát tạo nên sự bất ổn cho môi trường KTXH gssy khó khăn cho việc xác định mức sinh lời chính xác của các khoản đầu tư

+ về mặt XH gây ảnh hưởng tiêu cực đối vs XH

+ lạm phát làm phân phối lại thu nhập quốc dân & của cải XH

- lãi xuất tăng lên

+ ảnh hưởng cán cân thanh toán quốc tế

+ ảnh hưởng tới tỷ lệ thất nghiệp

3.2 Lơil ích:

Lạm phát ở mức độ vừa phải cũng có cái lợi, đó là nó góp phần phân phối lại thu nhập trong xã hội, giữa những người thừa tiền và những người có hàng hoá cần thanh lý Sau khi lạm phát kết thúc thì tiền sẽ phân phối đều hơn, ít trường hợp người này wá nhiều tiền còn người kia wá nhiều hàng nhưng lại thiếu vốn

Câu 4: trình bày các biện pháp kiềm chế lạm phát ổn định lưu thông tiền tệ?

Những biện pháp ổn định tiền tệ và kiềm chế lạm phát

Khi lạm phát đã xảy ra nặng nề và nghiêm trọng thì chính phủ của các nước phải tìm cách để chống lại lạm phát nhằm hồi phục sức mua của đồng tiền Nói như vậy có nghĩa là việc tghực hiện các biện pháp ổn định tiền tệ và kiềm chế lạm phát sẽ trở thành một trong những chính sách lớn trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi nước

Trang 5

Ổn định tiền tệ nói chung và kiềm chế lạm phát nói riêng là việc nhà nước áp dụng các biện pháp

về kinh tế, tài chính, kỹ thuật để ổn định sức mua của đồng tiền tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh

tế phát triển

Trong thời kỳ các nước công nghiệp phát triển gắn với chế độ bản vị vàng, ổn định tiền tệ là áp dụng các biện pháp để khôi phục lại quan hệ bình thường giữa tiền giấy so với vàng Với mục tiêu đó, các nước đã từng áp dụng các biện pháp cải thiện như:

-Biện pháp loại bỏ tiền giấy không khả hoán (Annulation)

-Biện pháp khôi phục (Restoration)

-Biện pháp phá giá tiền tệ (Devaluation)

Trong thời đại hiện nay, trên danh nghĩa pháp lý, vàng không còn là cơ sở của lưu thông tiền tệ, không còn là cơ sở bảo đảm trực tiếp cho tiền giấy lưu thông trong nước nữa thì các biện pháp ổn định và kiềm chế lạm phát đã có sự thay đổi quan trọng Ổn định tiền tệ ngày nay là ổn định sức mua của tiền giấy trên cơ sở ngăn chặn leo thang của giá cả hàng hóa bằng các giải quyết các vấn

đề của mối quan hệ giữa tiền và hàng Nhưng dù có áp dụng biện pháp gì đi nữa thì các mục tiêu

cơ bản vẫn phải đạt được, nếu không thì chính sách tiền tệ và kiềm chế lạm phát sẽ không có đầy

đủ ý nghĩa của nó Những mục tiêu đó là ổn định sức mua của đồng tiền, ổn định giá cả, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm…Như vậy việc áp dụng các biện pháp đó có thể bao gồm các biện pháp có tính chất chiến lược cùng các biện pháp cấp bách trước

* Những biện pháp cơ bản chiến lược có thể bao gồm những biện pháp như:

-Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế-xã hội đúng đắn:

Ở Việt Nam, kể từ khi đẩy mạnh phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, chuyển đổi

cơ chế quản lý từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có điều tiết, đã có tác dụng rất to lớn

-Điều chỉnh cơ cấu kinh tế, phát triển ngành mũi nhọn:

Ổn định cơ cấu kinh tế nhằm đáp ứng được nhu cầu cơ bản về đời sống và việc làm của người lao động, do đó tùy hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia mà có những chiến lược điều chỉnh cơ cấu kinh tế khác nhau Ở Việt Nam cơ cấu kinh tế được điều chỉnh theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa, trước mắt nông-lâm-ngư nghiệp vẫn giữ vị trí quan trọng, phát triển mạnh mẽ các ngành dịch vụ (ngân hàng-bưu điện-du lịch…)

Trang 6

Cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ tạo cho nền kinh tế phát triển mạnh và chắc chắn Ngoài ra, còn phát triển ngành kinh tế mũi nhọn xuất khẩu, bởi vì trong điều kiện mở rộng giao lưu kinh tế quốc tế thì hoạt động ngoại thương nói chung và xuất khẩu nói riêng có vị trí quan trọng, nó vừa tạo ra nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia vừa tác động đến các hoạt động của các ngành kinh tế khác, ổn định lưu thông tiền tệ trong nước

-Nâng cao hiệu lực của bộ máy quản lý Nhà nước:

Vai trò của Nhà nước đối với quản lý kinh tế rất to lớn Nhà nước là nguời duy nhất đảm bảo tính công bằng và ổn định kinh tế, đồng thời Nhà nước có thể tác động thúc đẩy hiệu quả và tăng trưởng kinh tế

Bằng các công cụ về pháp luật, tài chính, giá cả, tiền tệ…đã tác động đến mọi mặt hoạt động của nền kinh tế xã hội, do đó việc nâng cao hiệu lực của bộ máy quản lý Nhà nước được coi như là biện pháp mang tính chiến lược để ổn định tiền tệ, tinh giảm biên chế, kiệm toàn bộ máy quản lý hành chính

Những biện pháp cấp bách trước mắt

Biện pháp cấp bách trước mắt để ổn định tiền tệ và chống lại lạm phát được thực hiện trong hoàn cảnh lạm phát xảy ra nghiêm trọng, cơn sốt lạm phát cao thì có tác dụng nhưng chóng hơn Những biện pháp như vậy được gọi là biện pháp tình thế để đối phó với thực trạng báo động của tình hình tiền tệ, giá cả

-Biện pháp tiền tệ tín dụng: Xuất phát từ quan điểm cho rằng lạm phát bao giờ cũng là hiện tượng của tiền tệ, năm biện pháp ổn định tiền tệ và chống lạm phát phải bắt đầu từ lĩnh vực tiền tệ-tín dụng:

• Quản lý chặt chẽ việc cung ứng tiền

• Quản lý và hạn chế thật mạnh khả năng “tạo tiền” của ngân hàng thương thương mại bằng cách tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, xiết chặt tín dụng

• Nâng cao lãi suất tín dụng để thu hút tiền mặt trong nền kinh tế-xã hội, làm giảm lượng tiền cung ứng, mặt khác, nâng cao lãi suất tín dụng cũng làm giảm khả năng mở rộng tín dụng của ngân hàng thương mại

• Trường hợp cần thiết có thể áp dụng biện pháp cải cách tiền tệ, phát hành tiền mới thu hồi tiền cũ, lập lại trật tự trong lưu thông tiền tệ

-Biện pháp với tài chính ngân sách: áp dụng biện pháp về tài chính ngân sách có ý nghĩa quan trọng và then chốt, bởi vì người ta đều đồng ý rằng sau khủng hoảng của hệ thống tài chính Nhà

Trang 7

Nước, ngân sách bị thâm hụt là nguyên nhân chính của lạm phát, do đó nếu dập tắt được nguyên nhân này thì tiền tệ sẽ ổn định, lạm phát được kiểm soát

• Trước hết phải tìm cách để giảm dần bội chi tiền tạo thăng bằng thu chi ngân sách bằng cách tiết kiệm chi, nhất là những khoản chi cho bộ máy quản lý hành chính, những khoản chi chưa thật cấp thiết cũng cần phải cắt bớt hoặc giảm thiểu để làm giảm sự căng thẳng của ngân sách

• Tăng cường bồi dưỡng và mở rộng các khoản thu từ nền kinh tế, chống thất thu thuế, đồng thời phải thực hiện thu đúng, thu đủ, công bằng để không gây ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và đời sống

• Sử dụng tín dụng nhà nước bằng cách vay trong nước và nước ngoài

• Trong nước phát hành trái khoán Nhà nước ngắn hạn, trung và dài hạn như tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ…Tăng các khoản vay và viện trợ từ bên ngoài với các điều kiện

ưu đãi

-Ngăn chặn sự leo thang của giá cả: Sự leo thang của giá cả do tác động bởi nhiều yếu tố như sản xuất xuất kém, cung cầu hàng hóa trên thị trường mất cân đối làm giá cả hàng hóa bị đẩy lên cao, cũng có thể do lượng tiền cung ứng tăng cao hơn tố độ tăng của sản xuất, ngoài ra còn có yếu tố tâm lý, đầu cơ…

Việc áp dụng các biện pháp để ngăn chặn sự leo thang của giá cả trước hết cần phải giải quyết ở khâu lưu thông phân phối như thực hiện mậu dịch tự do, nới lỏng hàng rào thuế quan để đẩy mạnh xuất nhập khẩu hàng hóa

Có thể can thiệp bằng vàng và ngoại tệ bằng cách bán ra để ổn định giá vàng, giá ngoại tệ, từ đó tạo tâm lý ổn địn giá cả các loại mặt hàng khác Mặt khác, quản lý thị trường tốt, chống buôn lậu, chống độc quyền, tranh mua tranh bán…

*Những phương thức chống lạm phát ở các nước phát triển

Ở các nước phát triển, người ta thường đeo đuổi việc thực hiện một chính sách kinh tế vĩ mô nào

đó mà việc thực hiện một chính sách như vậy thường cũng sinh ra lạm phát

Trước hết đó là giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, giải quyết nạn thất nghiệp Các nhà nghiên cứu kinh tế ở Mỹ và các nước tư bản phát triển đã thống nhất rằng khi chính phủ muốn thực hiện chỉ tiêu công ăn việc làm cao (thất nghiệp giảm) có thể dẫn đến lạm phát Kế đến phải nói đến thâm hụt ngân sách, hầu như ai cũng thừa nhận giảm thâm hụt ngân sách và lạm phát là bạn đồng hành với nhau Tuy vậy, nếu thâm hụt ngân sách được trang trãi bằng các khoản

Trang 8

vay của Chính phủ (bán trái khoán) thì nó sẽ không gây lạm phát Thâm hụt ngân sách chỉ gây ra lạm phát khi nó được bù đắp bằng việc phát hành tiền

Việc lựa chọn phương thức chống lạm phát ở các nước không hoàn toàn giống nhau, ngay cả ở một nước, trong những thời kỳ khác nhau người ta cũng áp dụng những phương thức khác nhau Nhìn chung, có hai loại phương thức dưới đây:

-Phương thức “hạn chế tiền tệ”-kiểm soát chặt chẽ lượng tiền cung ứng: phương thức này xuất phát từ luận điểm của Friedman cho rằng sự tăng trưởng kinh tế ổn định và có hiệu quả chỉ có thể dựa trên sự kiểm sóat chặt chẽ khối lượng tiền tệ phát hành trong lưu thông, nghĩa là kiểm soát sự cung ứng tiền tệ kết hợp với chính sách kiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng dài hạn

Phương thức hạn chế tiền tệ được áp dụng ở Mỹ trong nhiều thập niên và tỏ ra có hiệu quả, vì vậy nó được nhiều nước thừa nhận như là phương thức chủ yếu để ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát

-Phương thức “nới lỏng tiền tệ”-lấy lạm phát trị lạm phát: phương thức này dựa trên quan điểm của Keynes cho rằng một nền kinh tế tăng trưởng và có hiệu quả là giải quyết đầy đủ công ăn việc làm Muốn vậy phải kích cầu bằng các chính sách vĩ mô của nhà nước Trong đó, việc nới lỏng tiền tệ, mở rộng việc cung ứng tiền tệ sẽ kích thích mặt cầu, giải quyết được nạn thất

nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, từ đó lạm phát sẽ được kiểm soát

Theo quan điểm này, người ta coi lạm phát và chống lạm phát như một quá trình liên tục, nghĩa

là vừa chống lạm phát lại vừa thực hiện chính sách tiền tệ lạm phát Phương thức này đựoc thừa nhận ở Mỹ vào những thập niên 40, 50, 60 sau đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nước Nam Mỹ, Argentina, Peru, Brazil, Bolivia có tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ bình quân hàng năm lên đến trên dưới 300%, các nước khác như Urugoay, Mexico có tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ bình quân hàng năm khoảng trên dưới 60% là một trong những bằng chứng vêf thực hiện quan điểm nói trên

phát sinh & còn trong thời

Câu5 : trình bày định nghĩa và phân loại ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là loai hình ngân hàng trung gian hoạt động vì mục đích lợi nhuận

thông qua việc kinh doanh các lhoản vốn ngắn hạn là chủ yếu

Mặc dù chỉ có 1biên giới rất mong manh giữa ngân hàng thương mại với các ngân hàng trung gian khác, người ta vẫn tách ngân hàng thương mại ra một nhóm riêng vì những lý do đặc biệt của nó

Trang 9

+ tổng tài sản Có của ngân hàng thương mại luôn là khối lượng lớn nhất trong toàn bộ hệ thống ngân hàng

+ khối lượng séc hay tài khoản tiền gửi không kỳ hạn mà nó có thể tạo ra cũng là bộ phận quan trọng trong tổng cung tièn tệ M1 của nền kinh tế

Phân loại ngân hàng thương mại

Về mặt sở hữu: Ngân hàng thương mại có thể tồn tại ở nhiều dạng sở hữu khác nhau

Ngân hàng thương mại quốc doanh

Ngân hàng thương mại tư nhân

Ngân hàng thương mại cổ phần

Ngân hàng thương mại liên doanh hoặc chi nhánh ngân hàng thương mại nước ngoài

Câu 6 trình bày chức năng của ngân hàng thương mại

Chức năng trung gian tín dụng

Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay

Chức năng trung gian thanh toán

Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc

độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế

Chức năng tạo tiền

Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân NHTM Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các

Trang 10

NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán.Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội

Câu 7: Trình bày nghiệp vụ NHTM và trong các nghiệp vụ của NHTM thì nghiệp vụ nào quan trọng nhất?

9.1 Nghiệp vụ NHTM:

*Báng tổng kết tài sản của NHTM

- V iệc nghiên cứu các nghiệp cơ bản của 1 NHTM thực chất là việc xác định nội dung các khoản mục thuộc bảng tổng kết tài sản

- Bảng tổng kết tài sản gồm 2 phần :

+ Tài sản nợ

+ Tài sản có

- Tài sản nợ phản ánh nguồn vốn hoạt động của NHTM, bao gồm những khoản mà NH

nợ thị trường và vốn của ngân hàng Các khoản nợ thị trường được biểu hiện thông qua những khoản vốn mà dân chúng gửi vào NHTM or NHTM đi vay các chủ thể trong nền kinh tế như cá nhân hộ gia đình, doanh nghiệp nước ngoài các trung gian tài chính # ,Ngân hàng Trung ương…

- Tài sản có phản ánh việc sử dụng vốn của NHTM hay những khoản mà thị trường nợ NHTM Đó là những khoản mà ngân hàng cho thị trường vay hay đầu tư vào thị trường mỗi khoản ngân hàng cho vay ra hay đầu tư vào chứng khoán có giá đều được ghi vào bên có của bảng tổng kết tài sản làm tăng tài sản có của ngân hàng

- Tính chất quan trọng của bảng tổng kết tài sản là tổng số tiền bên tài sản có phải bằng tổng số tiền bên tài sản nợ

Tổng tài sản Có = Tổng tài sản Nợ + Vốn

*Nghiệp vụ bên nợ

- nghiệp vụ thuộc tài sản Nợ phản ánh nguồn vốn của ngân hàng Trong vòng 3 thập niên kể từ sau cuộc suy thoái kinh tế năm 1930, phần lớn các nghiệp vụ NHTM trên thế giới đều quan tâm nhiều nhất đến tài sản Có, tức là kế hoạch và thức đầu tư các nguồn vốn đã có Từ những năm

1960 trở đi, các NHTM lại chú ý quản lý tài sản Nợ nhiều hơn

Cho đến thập niên 1990, tài sản Nợ của NHTM trên khắp thế giới vẫn tập trung vào 3 nhóm phổ biến đó là:

- Vốn tiền gửi :

+ Tiền gửi không kì hạn : Đây là khoản tiền mà doanh nghiệp or cá nhân gửi vào ngân hàng để ngân hàng thực hiện chức năng thanh toán, tức là người gửi có thể rút bất cứ lúc nào họ muốn Nó tạo ra khả năng tiện lợi giúp khách hang không phải

Ngày đăng: 23/04/2016, 18:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w