1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sinh kế bền vững của người dân trong giai đoạn tái canh cà phê ở tây nguyên nghiên cứu tình huống tại tỉnh đắk lắk

88 102 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu bằng điều tra khảo sát thực tế dựa trên khung phân tích sinh kế nông thôn bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Vương Quốc Anh DFID, 2004 cho thấy sinh kế của các hộ dâ

Trang 1

CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

TRẦN THỊ CẨM NHUNG

SINH KẾ BỀN VỮNG CỦA NGƯỜI DÂN TRONG GIAI ĐOẠN

TÁI CANH CÀ PHÊ Ở TÂY NGUYÊN:

NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG TẠI TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

TP Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT

TRẦN THỊ CẨM NHUNG

SINH KẾ BỀN VỮNG CỦA NGƯỜI DÂN TRONG GIAI ĐOẠN

TÁI CANH CÀ PHÊ Ở TÂY NGUYÊN:

NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG TẠI TỈNH ĐẮK LẮK

Chuyên ngành: Chính sách công

Mã số: 60340402

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS ĐINH CÔNG KHẢI

TP Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu

sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn đầy đủ và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright hay Trường Đại học Kinh tế Tp.Hồ Chí Minh

Tp HCM, tháng 08 năm 2017

Tác giả

Trần Thị Cẩm Nhung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn đến TS Đinh Công Khải, người đã trực tiếp hướng dẫn và khích lệ tôi thực hiện đề tài này Nhờ sự hỗ trợ nhiệt tình với những kinh nghiệm quý báu của Thầy, tôi đã hoàn thành luận văn kể cả trong điều kiện khó khăn nhất

Thứ hai, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Quý Thầy, Cô tại Chương trình Giảng dạy Kinh

tế Fulbright đã trang bị cho tôi đầy đủ kiến thức thông qua các bài giảng vô cùng hữu ích

và thực tế tại Chương trình

Thứ ba, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Anh Trương Minh Hòa, Chị Phạm Hoàng Minh Ngọc

và các Anh/Chị tại Chương trình giảng dạy Kinh tế Fulbright đã hỗ trợ tôi về kỹ thuật cũng như các thủ tục hành chính trong quá trình thực hiện luận văn Xin đặc biệt gửi lời cảm ơn đến Thầy Trần Thanh Thái đã vô cùng nhiệt tình hỗ trợ tôi về tin học, chỉ dẫn nhiều công

cụ hữu ích trong quá trình trình bày luận văn

Thứ tư, tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các anh/chị, bạn bè đồng khóa MPP8, đã hỗ trợ động viên giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu

Thứ năm, tôi xin cảm ơn đến toàn thể các cán bộ khuyến nông tại các xã, phường được chọn để thực hiện khảo sát đã hỗ trợ giúp đỡ tôi trong quá trình tiếp xúc với các hộ dân Cuối cùng, tôi xin cảm ơn Gia đình đã tạo điều kiện tốt nhất để giúp tôi có thể hoàn thành khóa học tập trung tại Chương trình

Tp Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 08 năm 2017

Tác giả

Trần Thị Cẩm Nhung

Trang 5

TÓM TẮT

Cây cà phê là cây trồng chủ lực về kinh tế của các tỉnh Tây Nguyên Không chỉ chiếm gần 90% diện tích trồng trọt của cả nước, cây cà phê còn đem lại nguồn thu nhập chính và giúp cải thiện đời sống người dân nơi đây Theo thống kê chính thức từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk, đến năm 2020 sẽ có khoảng 15.71% diện tích cà phê sẽ bị già cỗi, và giảm 1/3 năng suất so với thời kỳ kinh doanh, đòi hỏi phải được thay thế Tuy nhiên, tái canh là một quá trình kéo dài, gây gián đoạn nguồn thu nhập, và ảnh hưởng trầm trọng đến sinh kế của các hộ dân, đặc biệt là các hộ độc canh cà phê Giải quyết bài toán sinh kế cho người dân trong thời gian tái canh sẽ thúc đẩy quá trình tái canh diễn ra nhanh chóng và thuận lợi hơn; giúp tình hình kinh tế- xã hội tiếp tục tăng trưởng bền vững trong tương lai Đồng thời, đây là một cơ hội tốt để ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và chuyển đổi giống cây mới một cách đồng bộ để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm

và khẳng định vị trí thương hiệu cà phê của tỉnh

Kết quả nghiên cứu bằng điều tra khảo sát thực tế dựa trên khung phân tích sinh kế nông thôn bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Vương Quốc Anh (DFID, 2004) cho thấy sinh kế của các hộ dân tái canh cà phê của tỉnh Đắk Lắk phải đối mặt với nhiều bối cảnh dễ gây tổn thương, xuất phát từ dịch bệnh, nguồn nước khan hiếm, hạn hán kéo dài và tình trạng biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng phức tạp Nguồn lao động tuy dồi dào nhưng kỹ năng lao động còn kém, trình độ học vấn thấp, chưa đầu tư đúng mực cho giáo dục Đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi quá trình tái canh là các hộ dân buộc phải luân canh cải tạo đất Đã có nhiều chính sách giúp cải thiện sinh kế trong thời gian tái canh tận dụng sự hỗ trợ từ các doanh nghiệp và các cấp chính quyền, đoàn thể gồm chính sách giống, kỹ thuật và tín dụng ưu đãi nhưng thực tế vẫn còn tồn tại nhiều bất cập Để đảm bảo nguồn sinh kế trong giai đoạn tái canh, cần phải điều chỉnh chính sách nhằm giảm tính dễ tổn thương của các

hộ dân, đồng thời duy trì hoặc bổ sung thêm nguồn sinh kế thay thế mới hiệu quả hơn Trên cơ sở tham vấn ý kiến của chính quyền và các chuyên gia trong các lĩnh vực chuyên môn, tác giả đề xuất các chính sách sau: (i) chính sách tài chính: cần có chính sách tín dụng

ưu đãi riêng cho nhóm đối tượng buộc phải luân canh cải tạo đất trước khi tái canh vườn cà phê; (ii) chính sách về giống: cơ chế quản lý nguồn giống hỗ trợ thận trọng hơn, chú trọng tập huấn nâng cao trình độ kỹ năng của các cơ sở ươm giống; (iii) tăng cường các kênh chia sẻ, phổ biến thông tin, giảm tình trạng bất cân xứng thông tin trong chương trình tín

Trang 6

dụng ưu đãi; và (iv) chính sách đào tạo nguồn nhân lực khuyến nông đến các thôn, buôn, tổ dân phố từ các cán bộ chính quyền đến các tổ chức đoàn thể phi lợi nhuận, (v) đầu tư phát triển các mô hình khuyến nông hiệu quả cao về kinh tế, tạo cơ hội để các hộ dân được nâng cao kỹ năng canh tác, trao đổi học hỏi kinh nghiệm trồng trọt

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC v

DANH MỤC HÌNH ix

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Bối cảnh và vấn đề chính sách 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.5 Bố cục luận văn 2

CHƯƠNG 2: KHUNG PHÂN TÍCH VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 4

2.1 Các khái niệm 4

2.2 Khung phân tích sinh kế 4

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước 9

2.3.1 Các nghiên cứu trong nước 9

2.3.2 Các nghiên cứu quốc tế 10

CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN SƠ LƯỢC VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 12

3.1 Địa bàn nghiên cứu 12

3.1.1 Điều kiện tự nhiên, xã hội 12

3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 13

3.2 Thiết kế nghiên cứu 14

3.2.1 Quy trình nghiên cứu 14

3.2.2 Thiết kế bảng hỏi 15

3.2.3 Cách thức và quy trình chọn mẫu khảo sát 15

CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TRONG DIỆN TÁI CANH CÀ PHÊ TRÊN ĐỊA BÀN TÂY NGUYÊN ĐẾN 2020 20

4.1 Nguồn lực tự nhiên 20

Trang 8

4.2 Nguồn lực con người 23

4.3 Nguồn lực xã hội: 25

4.4 Nguồn lực tài chính 27

4.5 Nguồn lực vật chất 27

4.6 Các chương trình hỗ trợ tái canh 29

4.7 Bối cảnh dễ tổn thương 35

4.8 Các chiến lược sinh kế 36

4.9 Kết quả sinh kế 37

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 39

5.1 Kết luận 39

5.2 Khuyến nghị chính sách 39

5.2.1 Về nhóm giải pháp chính sách tín dụng 40

5.2.2 Chính sách về giống 40

5.2.3 Chính sách hỗ trợ kỹ thuật 41

5.2.4 Công tác chia sẻ và phổ biến thông tin 41

5.2.5 Chính sách đào tạo nguồn nhân lực 41

5.3 Hạn chế của đề tài 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

PHỤ LỤC 44

Trang 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DFID Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh KHKT NLN Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp

NN & PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Hình 2.1: Quy trình nghiên cứu 14

Bảng 3.1: Diện tích cà phê và diện tích tái canh cà phê ở tỉnh Đắk Lắk 15

Bảng 3.2: Quy mô tái canh cây cà phê ở các huyện tỉnh Đắk Lắk 16

Bảng 3.3: Thống kê số mẫu điều tra 18

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1: Diện tích các nhóm đất trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 13

Hình 4.1: Tình hình sử dụng nước tưới ở các khu vực khảo sát 20

Hình 4.2: So sánh quy mô hộ gia đình và diện tích đất canh tác 23

Hình 4.3 : Vai trò của các nguồn thông tin 26

Hình 4.4: Tình trạng tiếp cận vốn vay của các hộ được khảo sát 27

Hình 4.5: Tình trạng sở hữu giấy tờ nhà đất 28

Hình 4.7: Nguyên nhân mua giống ngoài của các hộ dân được khảo sát 30

Hình 4.8: Lựa chọn sinh kế bổ sung 38

Trang 12

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Bối cảnh và vấn đề chính sách

Cà phê là một loại cây công nghiệp chính thức được du nhập vào Việt Nam kể từ năm

1857 dưới thời Pháp thuộc Vài thập niên trở lại đây, diện tích trồng cây cà phê đã có những bước tăng trưởng vượt bậc, và trở thành cây trồng chủ lực của các tỉnh Tây Nguyên, chiếm gần 90% diện tích trồng trọt của cả nước Mặc dù so với các nước, cà phê được du nhập vào nước ta khá muộn, nhưng ngành cà phê đã đạt được mức tăng trưởng kỉ lục, với năng suất gấp 2-3 lần so với các nước khác, và trở thành nước xuất khẩu cà phê Robusta lớn nhất thế giới Đồng thời, cà phê cũng đã trở thành cây trồng có kim ngạch xuất khẩu cao nhất , với giá trị xuất khẩu hàng năm lên đến hơn 3 tỷ USD

Có thể nói, cây cà phê gắn liền với đời sống của người dân Tây Nguyên, là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, đem lại nguồn thu nhập chính và giúp cải thiện đời sống người dân, giải quyết lao động cho đa số người dân trên địa bàn, đồng thời cũng là công cụ hỗ trợ hiệu quả giúp xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc

Tuy nhiên, ngành cà phê hiện đang phải đối mặt với nhiều khó khăn Diện tích vườn cà phê già cỗi đang làm giảm dần số lượng và chất lượng cà phê thu hoạch, đòi hỏi cần phải được tái canh Tái canh là cơ hội để chuyển đổi giống mới và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm góp phần tăng sức mạnh cạnh tranh của sản phẩm

cà phê trên thị trường thế giới Tuy nhiên, quy trình tái canh đòi hỏi thời gian luân canh kéo dài (có nơi từ 1-2 năm, thậm chí 3 năm), thời gian kiến thiết cơ bản (từ 1-2 năm),

khiến nguồn thu nhập bị gián đoạn, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế của các hộ nông dân,

đặc biệt là những hộ độc canh cà phê và chỉ có cà phê là nguồn thu nhập chính Bên cạnh

đó, tái canh cà phê còn là vấn đề lớn mang tính chất kỹ thuật phức tạp, nếu không được

thực hiện bài bản dễ thất bại, do đó, đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn, rủi ro cao Ngoài nguồn vốn tự có, người sản xuất phải vay vốn để làm đất, mua giống và phân bón, nhất là

phân hữu cơ Nhưng nếu không tái canh, cà phê già cõi sẽ cho năng suất giảm dần, chất lượng cà phê thấp, hạt nhỏ, không đảm bảo tiêu chuẩn thu mua đầu vào, và phải bán ra với giá thấp Nếu sự việc này diễn ra trên quy mô lớn, sẽ ảnh hưởng đến thương hiệu cà phê

Trang 13

của khu vực, ngành nông nghiệp sẽ bị suy giảm, tình hình kinh tế xã hội của các tỉnh trong khu vực cũng bị tác động nặng nề

Chính vì những yếu tố phức tạp như vậy, việc quy hoạch tái canh cần phải được sự quan tâm và phối hợp giải quyết của nhiều bên liên quan, từ các hộ gia đình, doanh nghiệp đến Nhà nước Giải quyết bài toán sinh kế cho người dân sẽ giúp thúc đẩy quá trình tái canh diễn ra nhanh chóng, thuận lợi; đồng thời giúp tiếp tục duy trì sinh kế bền vững trong tương lai Đây cũng là chủ đề được thảo luận nhiều, nhưng vẫn chưa có những nghiên cứu sâu nhằm đưa ra những chính sách hỗ trợ người dân thực hiện tái canh cây cà phê đạt được sinh kế bền vững trong tương lai Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài này để nghiên cứu

1.2 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá hiện trạng, hoạt động sinh kế của các hộ gia đình trong diện quy hoạch tái canh,

để từ đó đề xuất các chính sách nhằm hỗ trợ người dân thực hiện tái canh cây cà phê đạt được sinh kế bền vững trong tương lai

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Hoạt động sinh kế của người dân trong diện tái canh cây cà phê tỉnh Đắk Lắk như thế nào? Chính sách nào hỗ trợ người dân tái canh cây cà phê để tạo nên sinh kế bền vững trong tương lai?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề liên quan đến chiến lược sinh kế của các hộ gia đình thuộc diện phải tái canh cây cà phê tại các điểm nghiên cứu, có đủ các điều kiện sau:

Cà phê là nguồn thu nhập chính

Có vườn cà phê trên 20 năm tuổi hoặc dưới 20 năm tuổi nhưng năng suất bình quân nhiều năm liền thấp, dưới 1.5 tấn nhân/ha

Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện tại 4/15 huyện thành (gồm Tp.Buôn Ma Thuột, Cư Kuin, Cư M’Gar và Buôn Hồ.) (Xem Phụ lục 1)

1.5 Bố cục luận văn

Luận văn có kết cấu gồm 5 chương Chương 1: Giới thiệu bối cảnh và lý do nghiên cứu,

bao gồm các thông tin liên quan đến vấn đề chính sách, mục tiêu, câu hỏi, đối tượng và

Trang 14

phạm vi nghiên cứu Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, cung

cấp những định nghĩa và khung phân tích cơ bản về sinh kế từ những nghiên cứu trước

Chương 3: Tổng quan về chương trình tái canh cà phê ở tỉnh Đắk Lắk Chương 4: Thực

trạng sinh kế của người dân trong diện tái canh cà phê trên địa bàn Tây Nguyên đến năm

2020 Chương 5: Khuyến nghị chính sách và kết luận

Trang 15

CHƯƠNG 2: KHUNG PHÂN TÍCH VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU

TRƯỚC 2.1 Các khái niệm

Theo định nghĩa của Bộ phát triển Quốc tế Vương quốc Anh ( Department of International

Development- DFID, 2000) “Sinh kế bao gồm những năng lực, tài sản và các hoạt động cần thiết cho phương tiện sống Sinh kế bền vững là khi người dân có thể đối mặt và phục hồi được từ những căng thẳng và cú sốc của tự nhiên và xã hôi, và quan trọng hơn là người dân có thể duy trì và nâng cao năng lực và tài sản trong hiện tại và tương lại, trong khi đó không suy giảm các nền tảng nguồn lực tự nhiên của các thế hệ tiếp theo.”

Tái canh là một thuật ngữ thường dùng trong nông nghiệp diễn tả cách thức canh tác của

nông dân khi thay thế hoặc cải tạo cây trồng trong vườn bằng các biện pháp kỹ thuật khác nhau trên nền đất và cơ cấu cây trồng cũ Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tái canh hàm ý đến việc nhổ bỏ gốc cây trồng cũ, thay hoàn toàn bằng cây trồng mới Theo đó, trồng mới tức là việc nhổ bỏ hoàn toàn gốc cà phê cũ, và thay thế bằng cây giống mới Việc trồng mới đòi hỏi thời gian chăm sóc kéo dài, gồm 1-2 năm đầu chuẩn bị đất bằng cách nhổ bỏ toàn bộ thân rễ cây cũ, và luân canh bằng các loại hoa mầu ngắn ngày để hỗ trợ phục hồi dinh dưỡng cho đất, và thời gian kiến thiết cơ bản kéo dài khoảng 3 năm

2.2 Khung phân tích sinh kế

Tác giả sử dụng khung sinh kế nông thôn bền vững của DFID (2004) Đây là một khung phân tích hướng đến trọng tâm là con người, được thiết kế để hiểu rõ hơn về tính chất phức tạp của cái “nghèo” Khung phân tích trình bày những yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của con người bao gồm: 1) Bối cảnh dễ bị tổn thương; 2) Tài sản sinh kế; 3) Chính sách, thể chế, quá trình; 4) Chiến lược sinh kế; 5) Kết quả sinh kế, và mối quan hệ tương quan giữa chúng Khung phân tích cho thấy cách thức con người có thể phát triển các chiến lược sinh

kế thông qua việc kết hợp các nguồn lực sinh kế để tìm kiếm thu nhập trong những bối cảnh khác nhau Những nguồn lực này bao gồm: nguồn lực tự nhiên, kinh tế, con người, vật chất và xã hội Các chiến lược sinh kế có thể là: thâm canh, mở rộng sản xuất, hay di

cư sang vùng khác sinh sống

Khung phân tích sinh kế nông thôn bền vững tập trung vào giải quyết 3 vấn đề chính sau:

Trang 16

Tăng số ngày lao động và thu nhập cho người dân Giảm mức độ nghèo đói

Tăng sức khỏe và năng lực của người dân

Thích ứng sinh

kế, tính dễ bị tổn thương và khả năng phục hổi

Sự bền vững về mặt tài nguyên thiên nhiên

Kết quả sinh kế

Chiến lược sinh

kế

Chính sách tín dụng hỗ trợ tái canh; hỗ trợ giống, tập huấn

kỹ thuật

Chính sách, thể chế và quá trình

Hàm ý chính sách của việc ứng dụng các tiếp cận sinh kế bền vững là gì?

Theo đó, sinh kế được hiểu đơn giản là phương tiện đảm bảo đời sống của con người, có thể được xem xét ở các mức độ khác nhau, trong đó phổ biến nhất là sinh kế quy mô hộ gia đình

Hình 2.1: Khung phân tích sinh kế bền vững

(Nguồn: DFID, 2004 đã được tác giả dịch và diễn giải lại)

Trang 17

Trong khung phân tích sinh kế bền vững, việc phân tích sinh kế dựa trên mối liên hệ của các nhóm yếu tố sau:

Bối cảnh dễ tổn thương

Bối cảnh dễ tổn thương mô tả môi trường bên ngoài và những bất lợi mà ở đó con người ít

có khả năng để đối phó Xu hướng quan trọng cũng như là các cú sốc và yếu tố mùa vụ, điều mà con người vốn không thể kiểm soát được, có ảnh hưởng rất lớn đến sinh kế của họ

và khả năng gia tăng tài sản Tuy nhiên, không phải tất cả các xu hướng và yếu tố thời vụ đều phải được cân nhắc ở khía cạnh tiêu cực

Sự dễ tổn thương nảy sinh khi con người phải đối mặt với những nguy hiểm hoặc cú sốc

mà không có khả năng phản ứng một cách hiệu quả Sự khác biệt giữa rủi ro và tính dễ bị tổn thương là về mức độ tương thích mang tính quyết định dối với việc đánh giá các nguyên nhân dẫn đến sự nghèo túng Rủi ro là khả năng xảy ra cú sốc (bên ngoài) và áp lực cộng với mức độ nghiêm trọng tiềm tàng, trong khi đó tính dễ tổn thương là mức độ phơi nhiễm với rũi ro (chất độc hại, cú sốc) và sự không chắc chắn, và khả năng của hộ gia đình hoặc các cá nhân trong việc phòng ngừa, làm giảm bớt hoặc xử lý rủi ro

Tài sản sinh kế

Vì phương pháp tiếp cận sinh kế được xem là tiên quyết với mọi người, phương pháp này tìm kiếm đạt được sự hiểu biết chính xác và thực tế về tiềm lực của con người (sau đây gọi là “tài sản” hoặc “vốn”) Quan trọng phải phân tích cách thức con người có thể cố gắng để chuyển đổi những tiềm lực này thành những kết quả sinh kế tích cực Vì vậy, khung phân tích sinh kế bền vững xác định 5 loại tài sản hoặc vốn mà sinh kế được xây dựng nên, bao gồm vốn con người, vốn xã hội, vốn tự nhiên, vốn vật chất và vốn tài chính

Nguồn vốn con người bao gồm khả năng, kỹ năng, kiến thức làm việc và sức khỏe để giúp

con người theo đuổi những chiến lược sinh kế khác nhau nhằm đạt được kết quả sinh kế hay mục tiêu sinh kế của họ Với mỗi hộ gia đình vốn nhân lực biểu hiện ở trên khía cạnh lượng và chất về lực lượng lao động ở trong gia đình đó Vốn nhân lực là điều kiện cần để

có thể sử dụng và phát huy hiệu quả bốn loại vốn khác

Trang 18

Nguồn vốn xã hội là một loại tài sản sinh kế, dưới dạng những mối quan hệ xã hội chính

thể hoặc phi chính thể mà qua đó người dân có thể tạo ra cơ hội và thu được lợi ích trong quá trình thực thi sinh kế Nguồn lực xã hội có thể là các mối quan hệ xã hội, các hiệp hội, các tổ chức liên kết, các hợp tác xã

Nguồn vốn tự nhiên là các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất đai, nguồn nước, khí hậu,

rừng, hệ động vật, thực vật,… mà con người có được hay có thể tiếp cận được nhằm phục

vụ cho các hoạt động và mục tiêu sinh kế của họ Nguồn vốn tự nhiên thể hiện khả năng sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên để tạo ra thu nhập, phục vụ cho các mục tiêu sinh

kế của họ Đây có thể làm khả năng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng cuộc sống của con người từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên Nguồn vốn tự nhiên thể hiện quy

mô và chất lượng đất đai, quy mô và chất lượng nguồn nước, quy mô và chất lượng các nguồn tài nguyên khoáng sản, quy mô và chất lượng tài nguyên thủy sản và nguồn không khí Đây là những yếu tố tự nhiên mà con người có thể sử dụng để tiến hành các hoạt động sinh kế và những yếu tố tự nhiên này có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của con người

Nguồn vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản và hàng hóa vật chất nhằm hỗ trợ việc

thực hiện các hoạt động sinh kế Nguồn vốn vật chất thể hiện ở cả cấp cơ sở, cộng đồng hay cấp hộ gia đình Trên góc độ cộng đồng, đó chính là cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ cho sinh kế của cộng đồng hay cá nhân gồm hệ thống điện, đường, trường trạm, hệ thống cấp nước và vệ sinh môi trường, hệ thống tưới tiêu và hệ thống chợ Đây là phần vốn vật chất

hỗ trợ cho hoạt động sinh kế phát huy hiệu quả Ở góc độ hộ gia đình, vốn vật chất là trang thiết bị sản xuất như máy móc, dụng cụ sản xuất, nhà xưởng hay các tài sản nhằm phục vụ nhu cầu cuộc sống hàng ngày như nhà cửa và thiết bị sinh hoạt gia đình

Nguồn vốn tài chính là các nguồn tài chính mà người ta sử dụng nhằm đạt được các mục

tiêu trong sinh kế Các nguồn đó bao gồm tiền tiết kiệm, tiền mặt, nguồn thu nhập định kỳ

và khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng chính thức và phi chính thức như từ người thân hay từ các tổ chức tín dụng khác nhau

Các chính sách, thể chế và quá trình chuyển đổi

Tầm quan trọng của chính sách, thể chế và quá trình chuyển đỏi không thể không được nhấn mạnh, bởi vì chúng thể hiện ở tất cả mọi cấp độ, từ hộ gia đình đến các đấu trường

Trang 19

quốc tế, và ở tất cả các lĩnh vực, từ khu vực tư đến khu vực công Những yếu tố này quyết định một cách hiệu quả việc tiếp cận đối với những loại vốn khác nhau, với những chiến lược sinh kế và đối với các tổ chức ra quyết định và các nguồn ảnh hưởng khác, điều kiện trao đổi giữa những loại vốn khác nhau và suất sịnh lợi cho bất kỳ chiến lược sinh kế sẵn

có Chính sách, thể chế và quá trình chuyển đổi có ảnh hưởng trực tiếp đến thời tiết mà con người có thể đạt được cảm giác hòa nhập cộng đồng và thoải mái Bởi vì văn hóa được tính đến trong lĩnh vực này nên những yếu tố này cũng góp phần giải thích cho những sự khác biệt không thể giải thích khác theo cách mọi thứ đã được sắp xếp sẵn trong các xã hội khác nhau (DFID,1999)

Chính sách, thể chế và quá trình chuyển đổi có thể quyết định cách tiếp cận đến tài sản và ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định North (1990) là người đưa ra định nghĩa đầu tiên về thể chế Theo đó, thể chế là những quy tắc của trò chơi trong xã hội, để điều chỉnh những hành vi giao dịch giữa con người với nhau North (1990) cũng nhấn mạnh mối quan hệ giữa thể chế và tổ chức khi chỉ ra rằng: nếu thể chế là quy tắc của trò chơi thì tổ chức là những người chơi có liên quan Tổ chức sẽ cung cấp một cấu trúc, mô hình cơ bản cho các giao dịch giữa con người với nhau

Chiến lược sinh kế

Chiến lược sinh kế bao gồm đa đạng các hoạt động và chuỗi các hoạt động hay lựa chọn của con người để đạt được mục tiêu sinh kế của họ Có thể hiểu chiến lược sinh kế như một quá trình động trong đó người ta có thể kết hợp các hoạt động để thỏa mãn nhu cầu khác nhau ở những mốc thời điểm khác nhau Những thành viên khác trong hộ gia đình có thể sống và làm việc ở những nơi khác nhau, tạm thời hoặc lâu dài (DFID, 2001)

Chiến lược sinh kế trực tiếp phụ thuộc vào trạng thái tài sản và chính sách, thế chế, quá trình Vì vậy những người nghèo phải cạnh tranh với nhau và chiến lược sinh kế của một

hộ gia đình này có thể có ảnh hưởng (tích cực hoặc tiêu cực) đến chiến lược sinh kế của hộ gia đình khác

Kết quả sinh kế

Kết quả sinh kế là mong muốn của các hộ dân đạt được thông qua chiến lược sinh kế Mọi người mong muốn tăng thu nhập, tăng cường phúc lợi, giảm tính dễ bị tổn thương, và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên Muốn vậy người dân cần xây dựng chiến lược sinh

Trang 20

kế dựa vào khả năng tiếp cận các loại nguồn lực tại địa phương và các chính sách hiện hành của các cấp chính quyền trong nỗ lực giảm nghèo của người dân Sự ảnh hưởng của 5 loại nguồn vốn tiếp cận tác động đến kết quả sinh kế của người dân

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước

2.3.1 Các nghiên cứu trong nước

Nguyễn Thị Minh Phương (2011) khi nghiên cứu sinh kế của đồng bào dân tộc Ê đê tại xã

Eabar, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk đã sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững DFID

1999, kết hợp mô hình SWOT để tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức,

từ đó phát hiện ra những nhân tố đặc trưng để giúp cải thiện chiến lược sinh kế, giảm nghèo cho đồng bào dân tộc Ê đê ở tỉnh Đắk Lắk Tác giả cũng thực hiện điều tra bằng bảng câu hỏi với 65 mẫu quan sát trên địa bàn xã, phân tích năm loại tài sản sinh kế, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế theo SLA để đưa ra các khuyến nghị chính sách

Hà Mỹ Trang (2016) nghiên cứu về sinh kế cho hộ dân tộc Khmer nghèo tại xã Hoà Lạc và xã Vĩnh Hải, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng Đề tài sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững của Bộ phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) để phân tích năm yếu tố của nguồn vốn sinh kế nhằm đánh giá những rào cản trong việc cải thiện sinh kế của các hộ dân tộc Khmer nghèo Nghiên cứu đã chỉ ra được các rào cản và khó khăn hiện tại của các

hộ dân tộc Khmer và tư đó đề xuất giải pháp, trong đó tập trung vào: (i) công tác đào tạo nghề, (ii) giải quyết việc làm, và (iii) phát triển giáo dục trong đó chú trọng tuyên truyền giáo dục ý thức người dân Tuy nhiên, hạn chế của đề tài là tỷ lệ hộ khảo sát chỉ chiếm chưa đến 2% tổng hộ trong số 5300 hộ

Nghiên cứu của Đinh Thị Tiếu Oanh (2017) về xây dựng mô hình nâng cao thu nhập của người nông dân thông qua liên kết tổ chức ứng dụng đồng bộ các kỹ thuật tái canh cây cà phê tăng hiệu quả kinh tế tại tỉnh Đắk Lắk, trong đó xác định ba yếu tố ảnh hưởng chính đến việc tái canh cà phê, gồm: chất lượng đất (hàm lượng dinh dưỡng, độ ẩm của đất, tuyến trùng và nấm gây hại trong đất), kỹ thuật canh tác, chất lượng giống Dự án cũng tiến hành nghiên cứu tính hiệu quả của các mô hình tái canh đang phổ biến hiện nay ở các nông

hộ cá thể trong vùng nghiên cứu trên tổng diện tích 30 ha, bao gồm: mô hình tái canh theo kiểu cuốn chiếu, mô hình tái canh trồng khắc phục (tái canh các cây xấu trên vườn đã tái canh chưa hiệu quả hoặc các cây giống xấu trên vườn đang sản xuất kinh doanh kém hiệu

Trang 21

quả), mô hình tái canh cà phê có trồng xen cây ăn quả, và mô hình tái canh hoàn toàn ở hai công ty với quy mô 20 ha Dự án chỉ ra rằng việc ứng dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật

về giống, canh tác và bảo vệ thực vật đem lại hiệu quả cao và bền vững Tuy nhiên, dự án chưa so sánh được hiệu quả về mặt kinh tế giữa các mô hình, chưa đưa ra được khuyến cáo

cụ thể về mô hình tái canh hiệu quả nhất, để có những khuyến nghị, định hướng rõ ràng cho các nông hộ

2.3.2 Các nghiên cứu quốc tế

Allison và Horemans (2006) trình bày cách thức và những nguyên tắc trong phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững được đưa vào trong chương trình phát triển và các lựa chọn

chính sách của chương trình “Sinh kế bền vững của ngành đánh bắt cá ở Tây Phi” Tác giả

cho rằng khung phân tích sinh kế nông thôn bền vững là công cụ phù hợp giúp hiểu rõ về các hệ thống quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và cho thấy một góc nhìn tổng quan, đa chiều về tính bền vững của ngành đánh bắt cá hiện hữu, cho phép xác định được những động lực thúc đẩy cũng như cản trở đến việc cải thiện các tài sản sinh kế, và hoạt động sinh

kế Đồng thời cũng chỉ ra những can thiệp có thể giúp cải thiện tài sản sinh kế (Xem thêm phụ lục 3)

Nghiên cứu của Tổ chức sáng kiến bền vững (2013) được tiến hành tại Uganda về phát triển cà phê bền vững đã chỉ ra rằng thu nhập của các nông hộ có thể tăng gấp đôi nếu các nông hộ trồng cà phê có thể ứng dụng những phương pháp canh tác bền vững hơn Ngoài

ra, các doanh nghiệp cũng được khuyến khích tham gia vào quá trình đầu tư và trồng trọt

để giúp các nông hộ tối đa hóa được năng suất,đồng thời đảm bảo vấn đề tăng trưởng bền vững Khuyến khích hỗ trợ dưới hình thức phân phối cây giống để giảm chi phí và thiệt hại

do các vấn đề về cấy ghép, đồng thời định hướng được chất lượng sản phẩm đầu ra

Bacon (2008) đã chỉ ra rằng mặc dù những nông hộ trồng cà phê với quy mô nhỏ tham gia vào các tổ chức cà phê có chứng nhận được cải thiện sinh kế một cách tích cực hơn nhờ tiếp cận được mức giá đầu ra tốt hơn, hỗ trợ về tài chính, về kỹ thuật, và các cơ hội đào tạo nâng cao trình độ học vấn ; nhưng mức cải thiện không đáng kể, sinh kế của phần lớn các nông hộ này vẫn rất phức tạp, và kém bền vững; điều kiện sống của phần lớn vẫn dưới mức tối thiểu ở một số chỉ số phát triển con người theo Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ Nghiên cứu cũng chỉ ra nhiều bối cảnh dễ tổn thương như chi phí đầu tư tăng lên nhiều,

Trang 22

trong khi giá bán đầu ra được cải thiện không tương xứng, giá cả biến động mạnh, thiếu nhân công, thiếu vốn đầu tư, đất bị thoái hóa, rửa trôi do thiếu kiến thức canh tác bền vững, trình độ văn hóa thấp, bất bình đẳng giới Nghiên cứu cũng đề xuất nên tăng cường hoạt động của tổ chức chứng nhận cà phê, các hợp tác xã ở cấp làng xã, kết nối trực tiếp với thị trường đầu ra nhằm giảm bớt tác nhân trung gian trong chuỗi giá trị; đề cao vai trò của mô hình kinh doanh có trách nhiệm với cộng đồng và mạng lưới các tổ chức phi chính phủ

Từ các nghiên cứu đi trước, việc sử dụng khung phân tích sinh kế nông thôn bền vững của DFID (2004) là phù hợp để phân tích hiện trạng tái canh của các nông hộ trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Các giải pháp từ các nghiên cứu đi trước sẽ được dùng làm điểm tham chiếu, và được xem xét trong bối cảnh cụ thể của đề tài, nhằm giúp đề tài có cơ sở đề ra những khuyến nghị phù hợp Đồng thời, tác giả cũng tập trung phân tích những chính sách cụ thể hiện hữu có liên quan đến sinh kế của các hộ dân thuộc phạm vi nghiên cứu nhằm hiểu rõ những khó khăn, thách thức đang đối mặt với thực trạng tái canh trên địa bàn

Trang 23

CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN SƠ LƯỢC VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ THIẾT KẾ

NGHIÊN CỨU 3.1 Địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên, xã hội

Đắk Lắk có diện tích tự nhiên 13.125,37 km2, dân số hơn 1,8 triệu người, gồm 47 dân tộc anh em sinh sống, là thủ phủ của Tây Nguyên Phía Bắc Đắk Lắk giáp với tỉnh Gia Lai, phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Tây giáp với Campuchia với đường biên giới dài hơn

70 km, phía Tây Nam giáp tỉnh Đắk Nông, phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa Khí hậu tỉnh Đắk Lắk vừa mang tính chất khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm, vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô nóng phù hợp để trồng và chăm sóc cây cà phê Khí hậu chia thành hai mùa rõ rệt là mùa khô (từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau) và mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10), lượng mua trung bình hằng năm từ 1.600-2.000 mm, tập trung chủ yếu vào mùa mưa, nhiệt độ trung bình năm của tỉnh 22-230C

Địa hình tỉnh Đắk Lắk có sự xen kẽ giữa các địa hình thung lũng, cao nguyên xen giữa núi cao và núi cao trung bình, có hướng thấp dần từ Đông Nam sang Tây Bắc, độ cao trung bình từ 500-800m so với mặt nước biển Với nhiều khu vực núi cao, dễ gây ra hiện tượng sạc lỡ đất và nguy cơ đối mặt với hạn hán cao hơn

Mật độ dân số khoảng 140,7 người/km2 (so với cả nước là 274 người/km2) Mặc dù trong

5 tỉnh Tây Nguyên, Đắk Lắk là tỉnh có dân số đông nhất và mật độ dân số cao nhất, nhưng đây vẫn là vùng đất rộng, dân cư còn thưa thớt Tỉnh có 15 đơn vị hành chính, gồm: Thành phố Buôn Ma Thuột, Thị xã Buôn Hồ và 13 huyện: Buôn Đôn, Cư Kuin, Cư M’Gar, Ea H’leo, Ea Kar, Ea Súp, Krông Bông, Krông Búk, Krông Pắk, Lắk, M’Drắk, Krông Ana, Krông Năng Dân cư thưa thớt đi kèm với địa hình đồi núi hiểm trở là một trở ngại trong phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo của tỉnh

Đắk Lắk là một trong những tỉnh có nguồn lao động lớn nhất vùng Tây Nguyên là một động lực để phát triển kinh tế của tỉnh, là nguồn nhân lực thích hợp cho nông nghiệp vốn thâm dụng lao động Đắk Lắk cũng có cơ cấu dân số trẻ hơn so với cả nước Dân số trong

độ tuổi lao động (từ 15 tuổi trở lên) hiện có đến 1.092 nghìn người, chiếm tới 60% tổng dân số của tỉnh Trong đó, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chỉ chiếm khoảng 15.5% trong tổng số lao động, cho thấy chất lượng nguồn nhân lực còn rất thấp

Trang 24

3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên

Đắk Lắk có diện tích tự nhiên 13.125,37 km2, chủ yếu là đất đỏ bazan rất thuận lợi để phát triển cây công nghiệp đặc biệt là cây cà phê Tỉnh có 8 nhóm đất chính (Phụ lục 2), trong

đó hai nhóm đất chủ yếu là đất đỏ vàng (chiếm đến trên 70% diện tích đất tự nhiên của tỉnh), đây cũng là loại đất tốt nhất trong các loại đất đồi núi của nước ta về thành phần hóa học, cấu trúc vật lý, tầng đất dày và mịn thích hợp với nhiều loại cây trồng có giá trị kinh

tế cao như cà phê, cao su, tiêu, chè, cây ăn quả và cả các loại cây hoa màu lượng thực, cây công nghiệp ngắn ngày

Hình 3.1: Diện tích các nhóm đất trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

ĐVT: %

Nguồn: Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 2015

Đắk Lắk có tài nguyên nước đa dạng, cung cấp nước cho sinh hoạt, nông nghiệp và sản xuất của tỉnh với hai hệ thống sông chính là sông Sêrêpốk và lưu vực sông Ba Hệ thống sông Sêrêpốk chảy theo hướng Tây Bắc đổ vào sông Mê Kông, với chiều dài chảy qua địa bàn tỉnh 341 km, tổng diện tích lưu vực là 30.100 km2 Hệ thống lưu vực sông Ba có diện tích lưu vực 13.900 km2.Ngoài ra, nguồn tài nguyên nước ở Đắk Lắk còn được bổ sung bởi gần 500 hồ tự nhiên và nhân tạo, độ sâu từ vài mét đến 25 mét và gần 1.000 con suối với tổng diện tích tự nhiên đến 23.5 ha

Đất phù sa Đất lầy và than bùn Đất xám bạc màu Đất đen

Đất đỏ vàng Đất mùn vàng đỏ trên núi Đất mùn trên núi cao Đất thung lũng Đất xói mòn trơ sỏi đá

Trang 25

Diện tích rừng của Đắk Lắk tuy lớn nhưng độ che phủ của rừng rất thấp là một trở ngại trong việc giữ nguồn nước phục vụ nông nghiệp và sản xuất của tỉnh Diện tích rừng của tỉnh 507.274 ha, độ che phủ của rừng (tính cả cây cao su) là 39,3%

Hệ thống thủy lợi đa dạng, được quan tâm đàu tư để bảo đảm cung cấp nước cho 76% diện tích cây trồng trong đó có cà phê Đến nay, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk có 617 công trình thủy lợi các loại, trong đó có khoảng 489 hồ chứa, 69 đập dâng, 01 đê bao và một số trạm bơm tưới Tổng dung tích trữ nước từ các công trình thủy lợi khoảng gần 421 triệu

m3 (chưa kể hồ Ea Súp)

3.2 Thiết kế nghiên cứu

3.2.1 Quy trình nghiên cứu

Quy trình nghiên cứu gồm các bước và được trình bày như sơ đồ 2.1 dưới đây:

Hình 2.1: Quy trình nghiên cứu

Nguồn: Tác giả tự thiết kế

Xác định vấn đề chính sách Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi

các bên liên quan

Trang 26

3.2.2 Thiết kế bảng hỏi

Bảng câu hỏi gồm nhiều phần với hai loại câu hỏi: (i) dạng câu hỏi đóng với phương án cho sẵn dựa vào quan sát thực tế và thông tin thứ cấp có liên quan; và (ii) dạng câu hỏi mở thu thập thông tin chia sẻ thêm của hộ dân gia đình về các vấn đề liên quan đến sinh kế trong chương trình tái canh cây cà phê, cũng như các chính sách của Nhà nước và địa phương trong việc hỗ trợ sinh kế người hộ, đảm bảo đáp ứng sinh kế bền vững Nội dung phỏng vấn dựa vào khung sinh kế bền vững của Ian Sconnes (1998) kết hợp với DFID (2004) và bảng câu hỏi khảo sát được tham khảo từ các nghiên cứu trước (Xem phụ lục 8)

3.2.3 Cách thức và quy trình chọn mẫu khảo sát

Nghiên cứu thực hiện khảo sát tại 4/15 huyện, thị trấn thuộc tỉnh Đắk Lắk gồm Tp Buôn

Ma Thuột, Cư Mgar, Buôn Hồ, Cư Kuin 4 huyện thành được chọn dựa trên tổng diện tích trồng cà phê và tổng diện tích tái canh theo kế hoạch tái canh cà phê trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2014-2020 theo Quyết định số 54/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đắk Lắk ngày 06/01/2014 về việc phê duyệt kế hoạch tái canh cà phê trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2013-2020, gồm huyện thành có tổng diện tích cà phê và diện tích tái canh cà phê lớn nhất

Bảng 3.1: Diện tích cà phê và diện tích tái canh cà phê ở tỉnh Đắk Lắk

STT Đơn vị Tổng diện tích

cà phê (ha)

Tổng diện tích tái canh (từ 2014-2020)

So với tổng diện tích (%)

Trang 27

STT Đơn vị Tổng diện tích

cà phê (ha)

Tổng diện tích tái canh (từ 2014-2020)

So với tổng diện tích (%)

Nguồn: Niên giám thống kế tỉnh Đắk Lắk, 2015

Theo kế hoạch chi tiết điều chỉnh, bổ sung tái canh cà phê giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn tỉnh, toàn tỉnh Đắk Lắk có khoảng 24.911 nông hộ thuộc diện quy hoạch tái canh Quy

mô tái canh ở các huyện thành trong kế hoạch khảo sát được thể hiện chi tiết ở bảng số liệu sau đây:

Bảng 3.2: Quy mô tái canh cây cà phê ở các huyện tỉnh Đắk Lắk

số hộ

Số hộ thuộc quy hoạch tái canh 1

Mật độ dân số (Người/k m2)

Tỷ lệ diện tích đất sx nông nghiệp

%

Số hộ nghèo

Diện tích trồng cà phê (ha)

canh cà phê giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

Trang 28

STT Đơn vị Tổng

số hộ

Số hộ thuộc quy hoạch tái canh 1

Mật độ dân số (Người/k m2)

Tỷ lệ diện tích đất sx nông nghiệp

%

Số hộ nghèo

Diện tích trồng cà phê (ha)

Trang 29

STT Đơn vị Tổng

số hộ

Số hộ thuộc quy hoạch tái canh 1

Mật độ dân số (Người/k m2)

Tỷ lệ diện tích đất sx nông nghiệp

%

Số hộ nghèo

Diện tích trồng cà phê (ha)

15.588

Nguồn: Niên giám thống kê của các huyện thành tương ứng, 2015

Tương ứng, những xã được lựa chọn để thực hiện khảo sát là những xã có tỷ lệ nông hộ thuộc diện quy hoạch cần phải tái canh lớn so với địa bàn huyện thành được khảo sát Mỗi

xã, tác giả chọn ngẫu nhiên 2-3 buôn (hoặc thôn, TDP) có số hộ đăng ký tái canh lớn, mỗi buôn (thôn, hoặc TDP) thực hiện khảo sát khoảng 2-3 hộ dân

Bảng 3.3: Thống kê số mẫu điều tra

Địa bàn

Dân tộc Số hộ nghèo Diện tích đất canh

tác bình quân (ha) Kinh Ê đê Hộ nghèo Hộ cận nghèo

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Tổng mẫu khảo sát là 81 mẫu, trong đó có 3 hộ nghèo và 3 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ lần lượt là 4.08% Khảo sát được thực hiện tại 4/15 huyện có diện tích canh tác cà phê cao nhất và đồng thời cũng có diện tích cà phê già cỗi lớn nhất Diện tích đất canh tác bình quân của

81 hộ được khảo sát là 1.35 ha/hộ, cao hơn so với một số nghiên cứu khác (0.7ha/hộ), tuy nhiên vẫn phù hợp với thực tế

Tỷ lệ hộ có chủ hộ là người Kinh chiếm 53% số lượng mẫu khảo sát, tỷ lệ diện tích canh tác bình quân của các hộ này là 1.71ha/hộ Trong khi đó, tỷ lệ diện tích canh tác bình quân của các hộ có chủ hộ là người dân tộc Ê đê chỉ là 0.94ha/hộ, các hộ nghèo và cận nghèo

Trang 30

cũng rơi vào nhóm hộ này Ở mỗi điểm nghiên cứu, tác giả chọn ngẫu nhiên từ 12-15 quan sát, riêng với huyện Cưm Gar do tỷ lệ diện tích trồng cà phê và diện tích cần tái canh cao gấp 2.5-3 lần so với 3 huyện thành còn lại nên số quan sát được chọn cao hơn tương ứng gấp 3 lần

3.2.4 Cách thu thập dữ liệu khảo sát

Đối với hộ gia đình: người khảo sát phỏng vấn trực tiếp từng câu hỏi trong bảng khảo sát

Câu trả lời được ghi lại vào phiếu điều tra Thời gian phỏng vấn mỗi hộ từ 20 phút đến 30 phút

Đối với Sở, ban, ngành và các đơn vị liên quan: phỏng vấn trực tiếp tại trụ sở làm việc

với các câu hỏi mở Nội dung phỏng vấn liên quan đến chương trình tái canh cây cà phê, những bất cập tồn tại trong chương trình này và các kế hoạch sắp tới để giải quyết những bất cập và những chính sách hỗ trợ nào được triển khai để đảm bảo sinh kế bền vững cho các hộ nông dân thực hiện chương trình tái canh

Ngoài ra, nghiên cứu còn thu thập thêm các thông tin thứ cấp khác được thu thập từ niên giám thông kê tỉnh Đắk Lắk qua các năm; các báo cáo tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Đắk Lắk; báo cáo đánh giá về thực hiện chương trình tái canh cây cà phê; các chương trình hỗ trợ người nông dân của địa phương Ngoài ra, các nghiên cứu trước cũng

là nguồn thông tin thứ cấp được chọn lọc và sử dụng trong nghiên cứu này

Trang 31

CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN TRONG DIỆN TÁI

CANH CÀ PHÊ TRÊN ĐỊA BÀN TÂY NGUYÊN ĐẾN 2020

Phần lớn các hộ dân đều sử dụng nước giếng là chủ yếu 55.6% số hộ sử dụng nước giếng

là nguồn nước chính phục vụ cho tưới tiêu, trong đó chỉ có 2 hộ có trang bị hệ thống nước tưới nhỏ giọt do nguồn nước thiếu hụt nghiêm trọng, không đủ phục vụ sản xuất

Hình 4.1: Tình hình sử dụng nước tưới ở các khu vực khảo sát

Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra

Trang 32

Nguồn nước là một yếu tố quan trọng đối với sự phát triển của cây trồng, đặc biệt là cà phê Tuy nhiên, từ tháng 12-2015 đến tháng 02-2016, lượng mưa trên toàn tỉnh giảm khoảng 40% so với cùng kỳ nên mực nước ở hầu hết các hồ chưa xuống thấp hơn mức trung bình nhiều năm từ 15-35% (một số khu vực xuống thấp hơn từ 40-60%), trên 35% số sông, suối và 40% số hồ nhỏ kiệt nước, gần 300 hồ ở Đắk Lắk đã cạn nước Điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống của nhân dân, nhất là ở những vùng chưa

có công trình thủy lợi hoặc chỉ có công trình thủy lợi nhỏ chưa chủ động được nguồn nước Tình trạng thiếu nước trầm trọng ở nhiều khu vực trong Tỉnh gây thiệt hại đến 30-50% sản lượng so với mọi năm, có nơi vườn cà phê khô héo toàn bộ, mất trắng 100% sản lượng Tuy nhiên, thiệt hại rõ rệt nhất ở các hộ dân có diện tích cà phê già cỗi, trên 20 năm tuổi, sản lượng xuống thấp dưới mức 1,5 tấn cà phê nhân/ ha và khó có thể phục hồi để tiếp tục sinh trưởng Vì vậy, việc thay thế cây trồng cũ là một lựa chọn bắt buộc để duy trì sinh kế

Đất đai

Mặc dù, chất lượng đất ở trên địa bàn còn khá tốt, nhưng đã có dấu hiệu thoái hóa nhiều, nguyên nhân chủ yếu do việc sử dụng phân bón hóa học bừa bãi, và chưa đầu tư chăm dưỡng đúng phương pháp Để duy trì chất lượng đất ổn định, cần phải tuân thủ quy trình chăm sóc đất, bổ sung chất dinh dưỡng bị thiếu hụt theo định kì Một số diện tích đất có xu hướng bị nhiễm tuyến trùng, nấm hại gây khó khăn cho quá trình tái canh cây cà phê, cần phải được tiến hành xử lý đất cẩn trọng trước khi trồng mới (Xem thêm Quy trình tái canh

ở Phụ lục 10)

Kết quả khảo sát cho thấy, chỉ có 13 hộ thực hiện luân canh cải tạo đất trên 31 hộ sở hữu đất có chất lượng xấu và trung bình, 2 hộ không luân canh mà trồng lại luôn sau khi làm đất mặc dù đất xấu đều có kết quả tái canh thất bại, cây chết nhiều, phải trồng dặm lại liên tục nhiều năm Các hộ dân vì mục đích sinh kế, đã tiến hành trồng lại gốc mới ngay sau khi nhổ bỏ cây trồng cũ, tỷ lệ thành công chưa thể dự báo chính xác, vì thường phải sang năm thứ 3 khi cây cà phê đủ tuổi trưởng thành, bắt đầu cho năng suất ổn định thì mới có thể kết luận được, tuy nhiên, tỷ lệ cây chết hằng năm rơi vào khoảng 20% (cao hơn nhiều so với định mức 5%), buộc phải trồng dặm bổ sung liên tục nhiều năm liền, gây tốn chi phí và thời gian chăm sóc kéo dài Một số hộ khác do đất quá xấu nên mặc dù có luân canh từ 1-2 năm trước khi trồng mới, nhưng vẫn tái canh thất bại Như vậy, chất lượng đất là một nguyên nhân rất quan trọng ảnh hưởng đến sinh kế của các hộ dân trong thời gian tái canh,

Trang 33

bởi vì nó quyết định tổng thời gian tối thiểu cần thiết đề tái kiến thiết lại vườn cây trồng Hay nói cách khác, các hộ phải kéo dài thời gian luân canh là đối tượng bị ảnh hưởng nặng

nề nhất của việc tái canh

Hộp 4.1 Chia sẻ của hộ dân

Nguồn: Ghi nhận từ kết quả điều tra Khí hậu

Ngoài đất đai và nguồn nước thì nhiệt độ cũng là một nhân tố không kém phần quan trọng Nhiệt độ trung bình của tỉnh ngày càng tăng cao, theo chiều hướng phức tạp, và có xu hướng khắc nghiệt hơn gây khó khăn cho việc trồng trọt Kết quả khảo sát cho thấy dù đủ nước tưới nhưng sản lượng vẫn hao hụt so với các năm trước đó từ 10-30% (mất mùa liên tiếp trong 2 năm: 2014-2015 và 2015-2016) cũng do nhiệt độ tăng cao, và hạn hán kéo dài Đơn cử như thời tiết đầu năm 2017 vừa qua, thông thường sau khi kết thúc thu hoạch vào tháng 12 (2016), thời tiết sẽ ấm, có nắng nóng, nhiệt độ cao vào ban ngày; tuy nhiên, khí hậu 3 tháng đầu năm lại ẩm thấp, mưa phùn rải rác, thiếu nắng Hệ quả là cà phê sau khi thu hoạch được phơi không đủ nắng, chất lượng kém; bên cạnh đó, mưa phùn rải rác, lại khiến nhiều vườn cà phê bung hoa sớm, khi cây chưa dung nạp đủ chất dinh dưỡng để phục hồi cho vụ mùa kế tiếp; do vậy, dự báo, vụ mùa năm 2016-2017 sẽ còn thiệt hại lớn hơn Nếu thời tiết tiếp tục duy trì mức độ thay đổi như vậy, cây cà phê sẽ không còn là cây trồng phù hợp như trước nữa, tất yếu việc tái canh sẽ không đem lại hiệu quả cao như mong đợi

Tóm lại, nguồn vốn tự nhiên đối với hộ trồng cà phê chủ yếu là đất đai, nguồn nước và khí hậu Tuy nhiên, các yếu tố này tại địa phương đang nảy sinh nhiều rủi ro đến sinh kế của người dân, và khiến cho hiệu quả kinh tế từ việc trồng cây cà phê ngày càng suy giảm Rõ ràng là nếu tái canh mà giữ nguyên mô hình độc canh cà phê sẽ khó tạo được nguồn sinh

kế bền vững, do vậy các hộ cần phải đa dạng hóa nguồn sinh kế bằng các loại cây trồng có

Điển hình như hộ của ông Y’ Tlắc, buôn Pốk A, huyện Cư Mgar, đã bắt đầu thực hiện trồng lại vườn cà phê diện tích 5 sào từ năm 2010, nhưng liên tục thất bại, cây cà phê bắt đầu vào năm thứ 2 có dấu hiệu vàng úa, sinh trưởng kém, mặc dù trước đó, gia đình ông vẫn tiến hành trồng luân canh 1 năm trồng ngô, 1 năm trồng lạc Hiện nay, vườn cà phê sau khi đã tái canh lần hai, đang bước vào năm thu hoạch thứ 3 nhưng chỉ cho năng suất chưa được 2 tạ/ha

Trang 34

hiệu quả kinh tế khác Các cây trồng xen canh phù hợp được khuyến cáo là những cây trồng có thể chịu hạn tốt, thích hợp với kiểu thời tiết khắc nghiệt như sầu riêng, bơ…

4.2 Nguồn lực con người

Quy mô hộ gia đình

Số thành viên của hộ gia đình dao động từ 1-11 người, phổ biến là từ 4-5 thành viên Hộ gia đình là người Kinh thường chỉ có 2 thế hệ trong một gia đình; trong khi đó các hộ gia đình người Ê đê thường có đến 3-4 thế hệ, con cái sau khi lập gia đình có xu hướng không tách khẩu và sống chung với ba mẹ, tạo thành nhiều gia đình nhỏ trong một hộ, các hộ dân

tộc cũng có xu hướng chỉ cho con học đến hết lớp 9

Hình 4.2: So sánh quy mô hộ gia đình và diện tích đất canh tác

Kết quả khảo sát cho thấy 20.3% hộ gia đình có từ 7 thành viên trở lên, trong đó 18.5% số

hộ gồm từ 3 thế hệ ông bà, cha mẹ, con cái trong một gia đình Điều này cho thấy nguồn lực lao động của hộ tương đối dồi dào, có thể hỗ trợ cho việc chăm sóc và sản xuất cà phê Ngoài ra, các hộ dân tộc Ê đê có cấu trúc gia đình khá phức tạp Trước đây, theo chế độ mẫu hệ, thì con trai thường ở rể; hiện nay con trai, con gái sau khi kết hôn đều có thể ở

Trang 35

đất canh tác của gia đình cũng bị chia nhỏ ra, dù không thể hiện trên giấy tờ, nhưng trên thực tế đã được chia nhỏ cho các con Điều này gây khó khăn cho việc tìm kiếm sự đồng thuận trong các vấn đề chung như vay vốn, hay quyết định đầu tư chuyển đổi sinh kế

Trình độ giáo dục

Điều đáng nói là các hộ gia đình này vẫn chưa ý thức được tầm quan trọng của việc đi học, nên hầu như con cái chỉ học đến hết lớp 9 thì nghỉ, sau đó đi làm nông Do vậy, hầu như đều khá thụ động trong việc tìm kiếm những cơ hội phát triển nguồn sinh kế mới, khó tránh khỏi xu hướng đám đông Chỉ có những hộ gia đình kiểu mẫu hạt nhân thì con cái được đi học đầy đủ hơn, nên sau khi học xong, đa phần có công việc ổn định, làm nông chỉ

là công việc phụ để bổ sung thêm thu nhập Điều này cho thấy giải quyết việc làm vẫn là vấn đề nóng, cần được quan tâm nhiều hơn Đa phần các hộ đồng bào đều có tình trạng thừa lao động, làm nông là chính nhưng vẫn phải đi làm thuê ngoài để kiếm thêm thu nhập, các công việc phổ biến là phụ hồ, làm cỏ, phụ thu hoạch… Tuy nhiên, những công việc này thường không ổn định, nhưng phân tích trên cũng cho thấy khả năng tìm thu nhập thay thế từ những nguồn sinh kế khác của các hộ đồng bào cũng rất hạn chế do thiếu trình độ học vấn và kỹ năng lao động

26% số hộ được hỏi rơi vào tình trạng thiếu lao động đều là hộ người Kinh Những hộ có chủ hộ là nữ, cũng thiếu lao động trầm trọng, phụ thuộc nhiều vào lao động bên ngoài, nên chi phí lao động của các hộ này cao hơn nhiều so với các hộ khác

Tình trạng sức khỏe và bảo hiểm y tế

Có 91% các hộ cho rằng các thành viên trong hộ có sức khỏe tốt, chỉ có 9% số hộ có thành viên trong gia đình hay bị ốm đau, bệnh tật, hoặc mất khả năng lao động, trong đó có 1 hộ cận nghèo

Hộp 4.2 Chia sẻ của hộ dân về lí do chưa mua BHYT

Nguồn: Ghi nhận từ kết quả điều tra

Theo ông Y Lâm Ê ban, mặc dù có mẹ già hay đau ốm bệnh tật và cũng biết đến lợi ích của bảo hiểm, nhưng chi phí để mua bảo hiểm khá cao nên gia đình ông vẫn chưa thu xếp để mua được Vì mẹ già hay ốm nên vợ ông phải ở nhà chăm lo gia đình, cả hộ gồm

5 người đều trông chờ vào thu nhập của một mình ông

Trang 36

Bảo hiểm y tế đã được quan tâm nhiều hơn, đa phần các hộ đều có bảo hiểm y tế đầy đủ (đến 83%) Tuy nhiên, trong 9% hộ hay bị ảnh hưởng bởi bệnh tật của người thân trong gia

đình, chỉ có một nửa có trang bị bảo hiểm y tế đầy đủ

Kỹ năng làm việc

Có 65% số hộ được hỏi có tham gia tập huấn, các hộ tham gia tập huấn đều đánh giá các buổi tập huấn là hữu ích, cập nhật nhiều thông tin mới nhất về các căn bệnh của cây trồng, hướng dẫn cách xử lý nhanh kịp thời các bệnh mới, giới thiệu nhiều mô hình khuyến nông hiệu quả nhưng đến gần 1/3 trong số đó cho rằng ứng dụng không nhiều trong thực tế do chi phí đầu tư lớn

Công tác tập huấn kỹ năng tái canh được các cấp chính quyền địa phương khá xem trọng, hằng năm trung bình có từ 2-3 đợt tập huấn được tổ chức theo quy mô xã, phường Các cán

bộ kỹ sư nông nghiệp trực thuộc UBND xã phường cũng theo dõi sát sao hoạt động của bà con nông dân, kịp thời phản ảnh những dịch bệnh, và yêu cầu hỗ trợ kỹ thuật lên các cấp cao hơn để giải quyết nhanh gọn, hạn chế lây lan trên bình diện rộng Ngoài ra, UBND tỉnh cũng thỉnh thoảng tổ chức những buổi tập huấn trao đổi kinh nghiệm giữa các xã phường,

tổ chức công tác thăm quan, học tập cho cán bộ chuyên môn và bà con nông dân tại các mô hình tái canh cũng như ghép cải tạo thành công trong nội bộ tỉnh

Nhìn chung, nguồn lực lao động của hộ tương đối dồi dào, nhưng trình độ học vấn của một số hộ tương đối thấp, các lớp tập huấn và nâng cao kỹ năng trồng trọt cũng được địa phương đặc biệt quan tâm

4.3 Nguồn lực xã hội:

Kết quả điều tra cho thấy thông tin truyền miệng thông qua người cùng thôn/buôn được phổ biến rộng nhất, trong đó nổi bật nhất là về các vấn đề có liên quan đến kỹ thuật canh tác và các chương trình hỗ trợ, vay vốn Có đến 65% số hộ được phỏng vấn có tham gia các buổi tập huấn do UBND phối hợp với các tổ chức, đoàn thể tổ chức, trong đó 60% là các hộ đồng bào Phần lớn các hộ đồng bào không tham gia tập huấn được là do bận, trong khi đó các hộ người kinh không tham gia tập huấn là do không được thông báo Thông tin tập huấn được xã thông báo cho các trưởng buôn/thôn, sau đó các trưởng buôn/thôn phổ

Trang 37

biến lại cho các hộ dân trên địa bàn Điều này cho thấy, các hộ đồng bào tiếp nhận thông

tin truyền miệng trong cộng đồng nơi sinh sống tốt hơn so với các hộ người Kinh

Hình 4.3 : Vai trò của các nguồn thông tin

Tổ chức liên kết sản xuất

Kết quả khảo sát cũng cho thấy việc tham gia vào các chương trình cà phê bền vững vẫn chưa được quan tâm nhiều, chỉ có khoảng 28% số hộ được phỏng vấn có tham gia Việc tổ chức, liên kết sản xuất còn rời rạc-nhỏ lẻ, chưa có các tổ chức liên kết giữa nông dân với các doanh nghiệp, liên kết với các tổ chức thu mua hoặc bao tiêu sản phẩm, người dân chủ yếu tự sản xuất và bán sản phẩm tự do cho các đại lý thu mua, giá cả phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường tiêu thụ Bên cạnh đó, các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp trên địa bàn cũng chưa giúp người dân thu hoạch sản phẩm tập trung, hỗ trợ khâu chế biến, sân bãi hoặc phơi sấy kịp thời, dẫn đến sản phẩm ít nhiều bị ảnh hưởng đến chất lượng, giảm giá trị xuất khẩu

Tóm lại, mạng lưới mà hộ dân cập nhật thông tin chủ yếu phụ thuộc theo buôn/thôn và đã đạt được một số hiệu quả Tuy nhiên, việc liên kết sản xuất giữa người dân với doanh nghiệp vẫn còn yếu kém, chưa thực sự hỗ trợ người dân trong việc ổn định đầu ra của sản phẩm

Kỹ thuật tái canh

Việc làm Vay vốn

Người cùng thôn/buôn TV/ đài phát thanh Các tổ chức đoàn thể

Họ hàng

Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra

Trang 38

4.4 Nguồn lực tài chính

Nhu cầu vay vốn của các nông hộ rất lớn, đến 75% số hộ thiếu vốn kinh doanh Phần lớn các hộ đã thực hiện tái canh từ 1-3 năm đều có vay dưới hình thức đầu tư phát triển nông nghiệp, chỉ 1% tương đương 1 hộ trên 81 hộ được khảo sát đã tiếp cận được nguồn vốn vay tái canh

Hình 4.4: Tình trạng tiếp cận vốn vay của các hộ được khảo sát

4.5 Nguồn lực vật chất

Theo kết quả điều tra hộ gia đình của Đề tài TN3/X12 thuộc Chương trình KHCN trọng điểm cấp nhà nước “ Khoa học và Công nghệ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội vùng Tây Nguyên”, do Viện Kinh tế Việt Nam, Viện Hàn lâm KHXHVN chủ trì, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk có 42% hộ dân khảo sát có đất nông nghiệp trồng cây cà phê, và diện tích đất nông nghiệp bình quân 1 hộ có gần 7.300 m2

Kết quả điều tra hộ gia đình của Đề tài TN3/X12 trên 5 tỉnh Tây Nguyên cho thấy có mối quan hệ tương quan giữa quy mô đất nông nghiệp sử dụng và mức sống của hộ gia đình (%), kết quả này cũng phù hợp với kết quả mà tác giả thu được từ khảo sát thực tế

Những hộ nghèo, và cận nghèo có diện tích đất nông nghiệp vào khoảng 4-5 sào đổi lại, đặc biệt những hộ nghèo không có đất canh tác, hoặc chỉ có 1-2 sào khá phổ biến Với diện

Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra

Trang 39

tích đất canh tác manh mún như vậy, các hộ này không thể là đối tượng có nhiều ảnh hưởng đến chương trình tái canh của tỉnh Mặt khác, với diện tích canh tác nhỏ như vậy, nguồn thu từ cây cà phê cũng không thể là nguồn thu nhập chính của hộ; tuy nhiên, chi phí

để thực hiện tái canh vẫn khá nặng nề với các hộ này 97% số hộ có trang bị đầy đủ các công cụ lao động thiết yếu như máy bơm, hệ thống ống tưới, sân phơi và kho trữ 51% số

hộ có giếng khoan phục vụ riêng cho vườn cà phê

Đa phần các hộ đều có giấy tờ đất đai sở hữu hợp pháp và đầy đủ (80%) Diện tích đất canh tác bình quân của 81 hộ được khảo sát là 1.35 ha/ hộ Tỷ lệ diện tích canh tác bình quân của các hộ có chủ hộ người Kinh là 1.71ha/hộ Trong khi đó, tỷ lệ diện tích canh tác bình quân của các hộ có chủ hộ là người dân tộc Ê đê chỉ là 0.94 ha/hộ, các hộ nghèo và cận nghèo cũng rơi vào nhóm hộ này

Hình 4.5: Tình trạng sở hữu giấy tờ nhà đất

Nguồn: Ghi nhận từ kết quả khảo sát Dẫu vậy, 100% hộ Ê Đê được điều tra đều có giấy tờ sở hữu đất đai đầy đủ Tuy nhiên, như đã đề cập ở phần vốn con người, đa phần các hộ này đều gồm nhiều nhánh gia đình nhỏ bên trong, nên diện tích đất canh tác bình quân thực tế trên mỗi lao động rất thấp Việc phân nhỏ diện tích đất như vậy khiến cho quá trình tái canh càng khó khăn, do khó tập trung được sự thống nhất và phân bổ chi phí trong nội bộ hộ gia đình

Trang 40

4.6 Các chương trình hỗ trợ tái canh

Hiện tại trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ tái canh, dưới đa dạng các hình thức như hỗ trợ vốn, giống và kỹ thuật để khắc phục những khó khăn mà các

hộ dân thường gặp phải Kết quả khảo sát ghi nhận những khó khăn phổ biến của các hộ dân cũng cho thấy, vốn hiện đang là vấn đề nghiêm trọng nhất quyết định lựa chọn tái canh của các hộ gia đình (75% số hộ gặp khó khăn về vốn), kế đến là kỹ thuật (35%), nước và lao động … (Minh họa bởi Hình 4.6)

Hình 4.6: Những khó khăn mà các hộ tái canh thường gặp phải

*Các chương trình hỗ trợ hạt giống cà phê tái canh

Nếu không tính đến chi phí cho phân bón, thì chi phí giống là chi phí chiếm tỷ lệ lớn trong tổng kinh phí đối với các hộ dân cần phải thực hiện tái canh (Xem Phụ lục 8) Do vậy, hỗ trợ giống đã giải quyết được một phần khó khăn lớn về tài chính đối với các hộ này

Chính quyền các cấp cũng rất chú trọng đến việc liên kết doanh nghiệp trong quá trình hỗ trợ bà con nông dân thực hiện tái canh Cụ thể, hằng năm Hiệp hội cà phê ca cao Việt Nam

có hỗ trợ giống cho nông dân thực hiện tái canh, bao giao về Sở Nông nghiệp các tỉnh, sau

đó, Sở phân phối lại cho các huyện, xã Hiệp hội Cà phê -Ca cao Việt Nam hỗ trợ cho tỉnh

từ 2012 đến nay 4.754 kg hạt giống cà phê TRS1, và 109.400 cây giống Tổng công ty Cà phê Việt Nam phối hợp các Sở Nông nghiệp và PTNT có tái canh cà phê tại Tây Nguyên, giới thiệu mô hình, kỹ thuật đã áp dụng, hình thức quản lý chất lượng cây giống, biện pháp

Ngày đăng: 03/01/2019, 00:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w