1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bài tập Văn học Việt Nam sau 1945

8 2,5K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 70 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuộc CMT8 thành công và tiếp theo đó là hai cuộc kháng chiến đã đem lại những biến đổi sâu sắc và toàn diện cho nền thơ ca Việt Nam.Các nhà văn nhà thơ giường như “lột xác”, đã có sự thay đổi sự rõ rệt, họ đi từ“ thung lũng đau thương ra cách đồng vui” (Chế Lan Viên), “Từ chân trời của một người đến chân trời của mọi người”. Nhìn chung, thơ sau cách mạng là thơ của niềm vui của những con người chiến thắng vững bước đi tới tương lai.

Trang 1

A Đặt vấn đề

Cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945 đã mở ra một kỉ nguyên mới trong lịch sử dân tộc, đồng thời cũng tạo ra bước ngoặt trong nền văn học Việt Nam, đã đem lại sự biến đổi toàn diện và sâu sắc cho nền thơ Việt Nam Song để đánh giá một thời kì văn học với 50 năm phát triển và hiện vẫn đang tiếp diễn là một công việc to lớn và thật không dễ dàng gì Một trong những khó khăn của việc đánh giá đó là chúng ta chưa có một khoảng cách cần thiết để nhìn nhận và tiếp cận với văn học một cách khách quan, toàn diện trong sự tương quan nhiều mặt

Trong những năm gần đây, việc nhìn nhận đánh giá nền văn học mới từ sau Cách mạng tháng 8( CMT8) đã trở thành một vấn đề mang tính thời sự, gây nhiều cuộc thảo luận, tranh luận ở cả giới nghiên cứu, phê bình lẫn giới sáng tác Và một trong cuộc thảo luận về thơ đầu những năm 90, đã có ý kiến cho rằng: “Thơ Việt Nam từ sau năm 1945 chỉ là sự nối dài của thi pháp thơ mới” Quan niệm này chưa thật sự thoả đáng, cần phải xem xét lại Tuy vậy, quan điểm này cũng có ít nhiều cơ sở: số là sự khác biệt giữa thơ mới và thơ cũ nằm trong sự khác biệt giữa thi pháp hiện đại và thi pháp trung đại - còn sự khác biệt giữa hình thức nghệ thuật của thơ trước và sau CMT8 dù sao cũng là trong khuân khổ và trên tinh thần thi pháp hiện đại, vẫn là câu thơ mới Nhưng xét trong hệ thống nghệ thuật, thơ sau CMT8 năm 1945 là câu thơ mới, nhưng từ đó mà cho rằng, thơ sau năm 1945 chỉ là sự nối dài của thơ mới, thì là có sự lẫn lộn, đánh đồng giữa câu thơ, dòng thơ là yếu tố đơn thuần hình thức

và trung tính, với hình thức nghệ thuật là một hệ thống nghệ thuật được quy định bởi chính nội dung Mà xét về hình thức nghệ thuật, thì ngay những năm đầu cánh mạng, đã có sự khác biệt và phát triển so với thơ mới Chỉ lấy lục bát, thì lục bát Nguyễn Duy cũng khác xa với lục bát của Lửa thiêng…không thể phủ nhân là ngay từ đầu các bài thơ của Trần Mai Ninh (Nhớ máu, Tình sông núi), của Hồng Nguyên (Nhớ), của Trần Huyền Trân (Hải phòng 19-11-1946) rồi của Nguyễn Đình Thi, của Chính Hữu, của Chế Lan Viên, Phạm Tiến Duật…của một loạt nếu không muốn nói là của tất cả các nhà thơ khác, kể cả Tố Hữu vốn được coi là nhà thơ cổ điển của thơ ca cách mạng cũng đã khác xa với Thơ mới về hình thức thể hiện So với thơ mới, tỉ lệ thơ tự do tăng gấp nhiều lần, các từ sinh hoạt, khẩu ngữ, hình ảnh sinh hoạt, yếu tố dân gian, yếu tố kể, chất văn xuôi, chất trí tuệ, tất cả cộng lại tạo nên âm hưởng và giọng điệu riêng, khác nhiều so với thơ mới

Trang 2

Có thể nói nhìn một cách bao quát diện mạo của văn học Việt Nam sau CMT8 có thể thấy sự biến đổi toàn diện từ mối quan hệ văn học với đời sống, nhà văn và công chúng, đến các quan niệm nghệ thuật, các thể tài, thể loại và thi pháp chứ nó không phải chỉ đơn thuần là

sự nối dài của Thi pháp thơ mới Và để hiểu sâu sắc được điều đó chúng ta đi vào tìm hiểu sự đổi mới của thi pháp thơ từ sau năm 1945 trên 3 phương diện:

1 Việc đưa thơ trở về với hiện thực đời sống rộng lớn và ngày càng đa chiều đã tạo nên sự đổi mới và mở rộng chất liệu thi ca ngày càng đa dạng và phong phú mà chưa một giai đoạn thơ nào trong quá khứ đạt tới được

2 Ngôn ngữ và giọng điệu là những yếu tố có sự biến đổi rất rõ rệt trong thơ từ sau

1945 Cảm hứng và chất liệu thơ đã thay đổi thì cũng đòi hỏi một trường ngữ mới, phù hợp với cảm xúc mới Xu hướng chung của sự tổ chức ngôn ngữ thơ hiện đại là chuyển từ điệu ngâm sang điệu nói

3 Tự do hoá là xu hướng vận động chính trong sự phát triển hình thức thơ

B.Nội Dung

Cuộc CMT8 thành công và tiếp theo đó là hai cuộc kháng chiến đã đem lại những biến đổi sâu sắc và toàn diện cho nền thơ ca Việt Nam.Các nhà văn nhà thơ giường như “lột xác”,

đã có sự thay đổi sự rõ rệt, họ đi từ“ thung lũng đau thương ra cách đồng vui” (Chế Lan Viên), “Từ chân trời của một người đến chân trời của mọi người” Nhìn chung, thơ sau cách mạng là thơ của niềm vui của những con người chiến thắng vững bước đi tới tương lai

Thơ mới trước đây không phải là không có lòng lạc quan yêu đời, nhưng phải chờ đến sau cách mạng, nhất là sau chiến thắng Điện Biên Phủ, tinh thần lạc quan càng thấm nhuần vào văn thơ và mang một chất lượng mới Lạc quan cách mạng là phẩm chất của những con người nhận chân được quy luật phát triển xã hội, tin tưởng vào chính nghĩa cách mạng, vào khả năng vô cùng vô tận của quần chúng một khi đã được khơi dậy Câu thơ mang niềm tin thanh thản của những con người hoà nhịp cùng bước đi của lịch sử, trong cuộc hành trình đi đến độc lập tự do, giành lấy quyền sống, làm chủ cuộc đời mình, không còn triền miên trong

Trang 3

nỗi buồn vô cớ, có thể chưa có đủ chiều sâu tâm tình, nhưng lại có được chiều kính của tình người, hơi ấm của niềm tin toả sáng của lí tưởng của lẽ sống cao đẹp

Có thể dễ dàng nhận ra những biến đổi về nội dung , về khuynh hướng tư tưởng và phương diện đổi mới thi pháp thơ sau cách mạng tháng tám năm 1945, mặc dù thơ Việt Nam trải qua nhiều chặng đường và con đường vận động của nó không phải là không có những trồi sụt thăng trầm, nhưng xu hướng vận động thì khá nhất quán Do vậy việc cho rằng thơ sau cách mạng chỉ là sự nối dài của thi pháp là chưa thoả đáng Mà thơ sau cách mạng có sự phát triển, sự đổi mới một cách toàn diện sâu sắc mà thơ ca trước đó chưa đạt được

Trước hết, thơ sau cách mạng đã có sự đổi mới là việc thơ trở về với hiện thực đời sống lớn và ngày càng đa chiều đã tạo nên sự đổi mới và mở rộng chất liệu thi ca ngày càng đa dạng và phong phú mà chưa một giai đoạn thơ nào trong quá khứ có thể đạt tới được Nhà thơ Xuân Diệu nhận định: “Ta thấy chưa bao giờ thơ Việt Nam lại có một sức ôm lấy thực tại như bây giờ: Nói vỡ đất trên rừng, nói đánh cá dưới biển, nói quốc than bốc vác trồng cây chèo

đò, nói băng đèo vượt núi, nói đi học, nói ngày tết nấu bánh chưng”, “kháng chiến in rất sâu vào trong thơ, và những thơ hay cùng giữ lại mãi mãi những dấu tích trăm mặt của cuộc kháng chiến ” (Mười lăm năm thơ Việt Nam dân chủ cộng hoà) Xu hướng tăng cường chất liệu hiện thực đời sống đã khởi đầu từ thơ kháng chiến chống Pháp, đã tiếp tục được trong thơ sau 1954 và càng được đẩy mạnh trong thơ kháng chiếnn chống Mỹ

Nhìn chung chất liệu hiện thực đưa vào thơ không chỉ ngày càng đa dạng phong phú hơn mà còn được chọn lọc, nâng cao bằng sự phát hiện những ý nghĩa sâu sắc, giá trị độc đáo

và điển hình của mỗi chi tiết, hình ảnh Đồng thời, đó cũng là quá trình khắc phục dần hiện tượng đưa hiện thực đời sống đưa vào thơ một cách xô bồ thiếu chọn lọc, ngoại giới lấn át nội tâm, biểu hiện của một quan niệm thiên lệch: Sùng bái hiện thực khách quan mà coi nhẹ vai trò của chủ quan trong sáng tạo nghệ thuật

Chất liệu thơ thời kì này ngày càng được mở rộng và đào sâu, hướng tới sự hoà nhập, chuyển hoá giữa nội tâm và ngoại giới Trong thơ kháng chiến chống Pháp chủ yếu là chất liệu của đời sống chiến đấu, lao động sinh hoạt cộng đồng của quần chúng được đưa vào thơ một cách trực tiếp trong dáng vẻ tự nhiên sinh động (Phá đường của Tố Hữu, Bức tranh sinh hoạt của Minh Tiệp, Nhớ của Hồng Nguyên….) Như vậy, chất liệu hiện thực luôn gắn

Trang 4

bó với tâm hồn, cảm xúc của cái tôi trữ tình, ngoại cảnh thống nhất với nội tâm Khi đó, thơ là

sự mở rộng tâm hồn ra ngoại giới và cũng là âm vang của đời sống vào trong lòng nhà thơ

Chất liệu thơ đã được mở rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống từ thực tiễn cánh mạng đến sinh hoạt hàng ngày, đến cả đời sống, tư tưởng, những vấn đề chính trị, và từ sau 1975 còn là đời sống thế sự với bao vấn đề và số phận của con người, là đời sống cá nhân với mọi khuất khúc, với thế giới tâm linh, vô thức được mở ra trong chiều sâu vô tận của nó Sự biến đổi về thi liệu đã tạo sự thay đổi về thế giới hình ảnh của thơ sau 1945 Nếu như ở trong những năm đầu, có sự lấn át của hình ảnh thực và chủ yếu là ngoại cảnh, thì sau đó thơ đã tìm đến nhiều loại hình ảnh khác, gia tăng sức mạnh của liên tưởng, tưởng tượng, tạo nên những hình ảnh biểu tượng mới mẻ

Thơ sau cách mạnh khác với Thơ mới chứ không phải là sự nối dài của Thơ mới đó là: Thơ mới lấy tự biểu hiện, lấy độc thoại làm chủ, còn ở thơ sau cách mạnh lấy con người, sự việc từ bên ngoài dội vào nội tâm mà thành cảm hứng, nên vần nên điệu Bao nhiêu người và việc cứ tràn vào trong thơ ca:

Rồi anh kể tôi nghe

Chuyện chợ Đồn, chợ Rã…

(Cá nước) Đêm nay trên sàn

Bập bùng ngọn lửa

Má kể nguồn cơn

chuyện nhà chuyện cửa

(Bà mẹ Việt Bắc-Tố Hữu)

“Chuyện nhà-chuyện cửa” đâu chỉ là chuyện riêng của bà mẹ Việt Bắc, mà là chuyện kháng chiến, chuyện số phận chung của các bà mẹ của người dân vùng tạm chiến

Trang 5

Thi liệu thay đổi : Cái thi vị cái đẹp không còn là độc quyền của tâm hồn, của nội tâm,

mà được hình thành từ đời sống mọi mặt bên trong cũng như bên ngoài, từ bên ngoài mà dội vào đời sống bên trong Từ nay thơ thấy cần phải kể, có điều kể mà không rơi vào kể lể Yếu

tố tự sự không chỉ có ở những bài thơ kể chuyện, mà tồn tại phổ biến rộng rãi hơn trong hầu hết thơ ca kháng chiến ở các chi tiết miêu tả cảnh vật và sự việc hoạt động Trong thơ những năm sau kháng chiến Pháp và nhất là trong thơ những năm đầu kháng chiến chống Mỹ, yếu tố

tự sự tiếp tục có vị trí đáng kể, nhưng cách khai thác và xử lí chất liệu hiện thực ở nhiều trường hợp đã nhuần nhuyễn hơn, có sức khái quát nghệ thuật cao, đạt được sự hoà hợp tự sự với trữ tình, suy tưởng với triết lí

Vì thơ sau 1945 là hướng ngoại, là kể, và kể về nhân dân, đất nước với những con người, những hành động, những sự việc có hành động có tầm vóc lịch sử lớn lao và vì trữ tình cá nhân đã nhường chỗ cho trữ tình công dân, nên thơ cũng mang âm hưởng dáng vóc sử thi, là cái mà Thơ mới ít khi đạt tới Từ hướng nội sang hướng ngoại, từ lắng nghe mình chuyển sang lắng nghe cuộc sống bên ngoài, thơ cách mạng cũng tự nhiên chuyển từ điệu ngâm sang điệu nói, ít ra sự xen kẽ giữa ngâm và nói là một hiện tượng phổ biến

Xưa nay tôi hát mà bây giờ tôi học nói Chỉ nói thôi mới nói hết được đời (Chế Lan Viên)

Nếu Thơ mới có rất ít thơ tự do, thì thơ tự do lại chiếm tỉ lệ cao trong thơ sau cách mạng, được báo trước từ các bài thơ đầu tiên như Nhớ Máu của Trần Mai Ninh, Nhớ của Hồng Nguyên, Hải Phòng 19-11-1946 của Trần Huyền Trân

Từ hướng nội chuyển sang hướng ngoại sẽ kéo theo một loạt đặc điểm thi pháp khác

về giọng điệu chất văn xuôi, hình tượng, ngôn ngữ, vừa hiện đại, trí tuệ hơn, vừa tiếp thu văn học dân gian, ca dao truyền thống…cần có sự khảo sát riêng

Như vậy, xét trong hệ thống nghệ thuật, thơ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 là câu thơ mới, nhưng từ đó mà cho rằng, thơ sau năm 1945 chỉ là sự nối dài của thơ mới, thì là có

sự lẫn lộn, đánh đồng giữa câu thơ, dòng thơ là yếu tố đơn thuần hình thức và trung tính, với hình thức nghệ thuật là một hệ thống nghệ thuật được quy định bởi chính nội dung Mà xét về

Trang 6

hình thức nghệ thuật, thì ngay những năm đầu cánh mạng, đã có sự khác biệt và phát triển so với Thơ mới Chỉ lấy lục bát, thì lục bát Nguyễn Duy cũng khác xa với lục bát của Lửa thiêng…không thể phủ nhận là ngay từ đầu các bài thơ của Trần Mai Ninh (Nhớ máu, Tình sông núi), của Hồng Nguyên (Nhớ), của Trần Huyền Trân (Hải phòng 19-11-1946) rồi của Nguyễn Đình Thi, của Chính Hữu, của Chế Lan Viên, Phạm Tiến Duật…của một loạt nếu không muốn nói là của tất cả các nhà thơ khác, kể cả Tố Hữu vốn được coi là nhà thơ cổ điển của thơ ca cách mạng cũng đã khác xa với Thơ mới về hình thức thể hiện So với thơ mới, tỉ

lệ thơ tự do tăng gấp nhiều lần, các từ sinh hoạt, khẩu ngữ, hình ảnh sinh hoạt, yếu tố dân gian, yếu tố kể, chất văn xuôi, chất trí tuệ, tất cả cộng lại tạo nên âm hưởng và giọng điệu riêng, khác nhiều so với thơ mới

Từ sự phân tích trên ta thấy ý kiến cho rằng thơ sau năm 1945 chỉ là sự nối dài của thi pháp Thơ mới là không thoả đáng

Sự đổi mới thi pháp thơ từ sau tháng Tám - 1945, còn là sự đổi mới về ngôn ngữ và giọng điệu, nó là yếu tố có sự biến đổi rất rõ rệt trong thơ từ sau năm 1945 Cảm hứng và chất liệu thơ đã thay đổi thì cũng đòi hỏi một trường ngôn ngữ mới, phù hợp với cảm xúc mới Xu hướng chung của sự tổ chức ngôn ngữ thơ hiện đại là chuyển từ điệu ngâm sang điệu nói Câu thơ, điệu nói đã xuất hiện từ Tú Xương đến Thơ mới đã trở nên khá phổ biến Nhưng phải đến thơ sau năm 1945 thì thơ điệu nói mới thật sự gần với tiếng nói của đời sống hàng ngày và rất

đa dạng về giọng điệu Ngay sau cách mạng tháng Tám - 1945 và những năm đầu kháng chiến chống Pháp, một lớp nhà thơ mới đã có ý thức tìm một tiếng nói mới cho thơ ca thời đại mình, vượt ra khỏi từ trường ngôn ngữ và giọng điệu của Thơ mới Những hướng tìm tòi của họ có thể khác nhau, nhưng đều có chung một ý hướng cách tân cho thơ Trần Mai Ninh phóng khoáng và mềm mại trong “Tình sông núi”, táo bạo và đầy ấn tượng trong “Nhớ máu” Quang Dũng tài hoa tinh tế trong một điệu thơ, vừa có hơi hướng cổ điển, lại vừa mới mẻ hiện đại… Một trong những cách thức tạo điệu nói là đưa khẩu ngữ và đối thoại vào thơ Chưa bao giờ trong thơ lại có thể dung nạp nhiều khẩu ngữ, phương ngữ, địa danh và lời đối thoại như trong thơ thời kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ

Nếu như Thơ mới vẫn nghiêng về giọng than và đến một lúc nào đó sẽ trở nên đơn điệu Huy Cận có giọng điệu “mang mang thiên cổ sầu”, Chế Lan Viên thì không dừng lại ở lời than mà cất lên tiếng kêu đau đớn, còn Thâm Tâm, Trần Huyền Trân thì có giọng cảm khái

Trang 7

bi phẫn Còn thơ sau cách mạng tháng Tám - 1945, được đặt trở lại giữa đời sống đang diễn ra bao nhiêu biến động, đật lên nhưng nhịp khác thường, con người phải sống với bao nhiêu tâm trạng và cảm xúc mới lạ Thơ vì thế cũng phải tìm nhiều giọng điệu và nhịp điệu mới Trong

sự đa dạng về giọng điệu ấy, vẫn có thể nhận ra hai xu hướng chính, đó là giọng tâm tình trò chuyện và giọng kêu gọi khẳng định Sau năm 1975, nhất là từ giữa những năm 1980, thơ đã dần có sự chuyển giọng rõ rệt Các nhà thơ đều muốn tìm cho mình một giọng điệu phù hợp với thời của mình “Xưa tôi hát giọng cao, giờ tôi hát giọng trầm” (Chế Lan Viên)

Sự đổi mới thi pháp từ sau cách mạng tháng Tám - 1945, khác với Thơ mới, đó là sự tự do hoá là xu hướng vận động chính, trong sự phát triển hình thức thơ Cùng với xu hướng tìm về hình thức nghệ thuật dân gian dân tộc, thì xu hướng tự do hoá hình thức thơ là một hướng tìm tòi phát triển rất quan trọng về phương diện hình thức nghệ thuật của thơ sau năm 1945 Thơ cách mạng từ sau năm 1945, đứng trước yêu cầu mở rộng khả năng phản ánh va phạm vi ôm chứa hiện thực rộng lớn, phong phú của đời sống cách mạng và kháng chiến nên đã thúc đẩy mạnh mẽ xu hướng tự do hoá hình thức thơ Tự do hoá hình thức thơ được thể hiện ở những cấp đọ khác nhau: dòng thơ và bài thơ, thể thơ

Về thể thơ, ngoài những thể có nguồn gốc dân gian và dân tộc, các thể thơ tứ tuyệt, 7 tiếng, 8 tiếng, thơ tự do đã được sử dụng rộng rãi và có nhiều thành công Việc tự do hoá thể thơ được thể hiện ở những cấp độ khác nhau: dòng thơ, bài thơ và thể thơ Và cuối cùng xu hướng tự do thể hiện ở cấp độ cao nhất là thể thơ

Thơ giai đoạn sau năm 1945 sử dụng nhiều thể thơ đã sẵn có trong thơ ca dân gian, thơ cổ điển và thơ mới đều có những biến đổi ở mức độ ít nhiều Thơ lục bát vẫn tỏ rõ sức sống bền bỉ của một thể thơ thuần tuý dân tộc, có khả năng thích ứng với nhiều đối tượng và nội dung, bởi bí quyết sinh tồn của nó nằm ngay trong những đặc điểm về âm thanh và hình vị của tiếng Việt Thơ lục bát hiện đại trong tay Tố Hữu, Nguyễn Duy và nhiều nhà thơ khác đã thực sự làm mới lại mang nhiều sắc thái và giọng điệu mà trước kia chưa thể có hay chưa rõ nét Thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh, Chế Lan Viên… mỗi người mỗi vẻ nhưng đều có những sáng tạo hiện đại trong ngôn ngữ, hình ảnh, cấu trúc, dòng thơ và bài thơ, tuy vậy vẫn không đoạn tuyệt với tính chất cổ điển truyền thống Thơ tự do, có vần, không vần hoặc rất ít vần, nếu như vào hồi đầu kháng chiến chống Pháp còn bị phê phán là thiếu tính đại chúng, thì từ sau năm 1945 đã dần dần trở thành quen thuộc trong sự tiếp nhận của công chúng và đã có

Trang 8

những nhà thơ sáng tác chủ yếu bằng thể thơ này Sự mở rộng dung lượng hiện thực, gia tăng chất tự sự đã làm xuất hiện nhiều bài thơ kể chuyện và cả những truyện thơ Đặc biệt, sự phát triển của thể trường ca là một minh chứng cho sự mở rộng dung lượng hiện thực và xu hướng

tự do hoá hình thức thơ trong giai đoạn này Ngay năm sau cách mạng tháng Tám - 1945 đã xuất hiện hai trường ca trữ tình - chính luận của Xuân Diệu, mà tác giả gọi là tráng khúc

Như vậy, từ những phân tích và chứng minh như trên, đã cho ta thấy thơ sau năm 1945

đã có sự biến đổi sâu sắc và toàn diện, chứ không chỉ là sự nối dài của thi pháp Thơ mới

C Kết Luận.

Nền thơ cách mạng từ sau năm 1945 đã phát triển và trưởng thành trong sự gắn bó mật thiết với các chặng đường cách mạng, đặc biệt là với hai cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc ta Thơ ca đã biểu hiện được vẻ đẹp tâm hồn, tình cảm và những khát vọng tinh thần lớn lao của con người Việt Nam, in đậm nét nhiều hình ảnh chân thực và cao đẹp về cuộc sống chiến đấu, lao động, sinh hoạt của nhân dân, vẻ đẹp gần gũi của quê hương, đất nước Thơ từ sau cách mạng dù đã có nhiều đổi mới về nội dung tư tưởng cảm xúc và hình thức nghệ thuật, nhưng không hề đứt đoạn với nền thơ dân tộc, từ ca dao, thơ cổ điển trung đại đến thơ mới, đó

là sự tiếp tục của tiến trình hiện đại hoá thơ ca dân tộc Nhưng không có nghĩa đơn thuần chỉ

là sự nối dài Mà đây có thể coi là một trong những giai đoạn phát triển mạnh mẽ và phong phú của thơ Việt Nam , vừa tạo được cái nền vững chắc của phong trào thơ, lại có được sự kết tinh ở nhiều tác giả có phong cách nghệ thuật rõ nét độc đáo

Ngày đăng: 18/04/2016, 22:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w