1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI GIẢNG văn học VIỆT NAM từ năm 1945 đến NAY

103 685 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chiến tranh không thể xem là một hoàn cảnh bình thờng của một đất nớc, nhất lại là cuộc chống chọi của một dân tộc nghèo nàn, lạc hậu, vừa thoát khỏi ách nô lệ 80 năm, với những kẻ thù b

Trang 1

VĂN HỌC VIỆT NAM

TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY

Dành cho sinh viên CĐ Sư phạm Văn – Sử

TÁC GIẢ: LƯƠNG HỒNG VĂN

Năm: 2016

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH

KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI

GIÁO TRÌNH

(Lưu hành nội bộ)

BÀI GIẢNG

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1945 -

1975 2

1.1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI LỊCH SỬ MỚI CỦA NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 3

1.2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NỀN VĂN HỌC, GIAI ĐOẠN 1945 - 1975 6

1.3 QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG, PHÁT TRIỂN VÀ THÀNH TỰU CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 16

CHƯƠNG II THƠ 1945 - 1975 28

2.1 CÁC CHẶNG ĐỜNG THƠ TỪ 1945 ĐẾN 1975 28

2.2 Những đặc điểm 37

2.3 Thơ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ (1965 - 1975) 41

2.2 NHỮNG KHUYNH HỚNG CHÍNH TRONG SỰ VẬN ĐỘNG CỦA THƠ GIAI ĐOẠN 1945 - 1975 48

CHƯƠNG III VĂN XUÔI 1945 1975 55

3.1 CÁC CHẶNG ĐỜNG PHÁT TRIỂN CỦA VĂN XUÔI 1945 ĐẾN 1975 55 3.2 DIỆN MẠO VÀ THÀNH TỰU CỦA CÁC THỂ VĂN XUÔI 1945 - 1975 70

CHƯƠNG IV KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM SAU 1975 74

4.1 Những chuyển biến của hoàn cảnh lịch sử- xã hội 74

4.2 NHÌN CHUNG VỀ TIẾN TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA VĂN HỌC TỪ SAU 1975 76

4.3 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ SAU 1975 ĐẾN NAY 81

CHƯƠNG V VĂN XUÔI SAU 1975 85

5.1 Văn xuôi từ năm 1975 - 1985 (chủ yếu tiểu thuyết) 85

5.2 Văn xuôi từ 1986- nay 86

CHƯƠNG VI THƠ VIỆT NAM SAU 1975 ĐẾN NAY- 91

6.1 Các chặng đường phát triển 91

6.2 Các khuynh hướng nổi bật 94

6.3 Sự biến đổi về thể loại 97

6.4 Những động hình ngôn ngữ mới trong thơ 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Trong chương trình đào tạo ngành Cao đẳng Văn – Sử phần văn học Việt Nam hiện đại được bố trí thành 2 học phần: Văn học Việt Nam hiện đại I (từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945) và Văn học Việt Nam hiện đại II (từ sau Cách mạng tháng Tám 1945) Giáo trình này được biên soạn theo chương trình phần II

Văn học sau năm 1945, đây là một thời kỳ văn học diễn ra nhiều biến đổi ở nhiều bình diện khác nhau tren một bối cảnh lịch sử đầy biến động Đây là một thời kỳ mới của nền văn học dân tộc với hai giai đoạn chính: từ năm 1945 đến

1975 và sau năm 1975

Trong qua trình biên soạn, tác giả đã theo sát chương trình môn học do Trường Đại học Quảng Bình ban hành Những vấn đề cơ bản nhất được trình bày ở dạng khái quát, tinh giản cho phù hợp với tính chất của một giáo trình đại cương

Do khả năng còn có hạn cho nên khó tránh khỏi những thiếu sót, rất mong đồng nghiệp và các bạn sinh viên góp ý để tác giả sửa chữa nâng cao chất lượng trong lần soạn sau

Trang 4

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1945 - 1975

Cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 đã mở ra trên đất nớc ta một thời kỳ lịch sử

mới: Thời kỳ độc lập tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội Cùng với sự kiện lịch sử

ấy, một nền văn học mới ra đời

Giai đoạn phát triển đầu tiên của nó với những đặc điểm riêng, những quy luật riêng, những thành tựu riêng, đã kết thúc vào năm 1975 cùng với cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài đúng ba thập kỷ

Từ 1975 đến nay, nền văn học đã bước sáng một giai đoạn mới trên một đất nớc hòa bình, thống nhất Tất nhiên nó sẽ mang những đặc điểm mới và phát triển theo những quy luật mới

Tuy nhiên, nền văn học từ bấy đến nay chỉ mới đang mở ra theo hớng mới, những khuynh hướng sáng tác cha định hình thật rõ nét, cha có những thành tựu có ý nghĩa cắm mốc Vả lại, thời gian cũng cha cho phép lùi xa (công cuộc đổi mới đất nớc và văn học chỉ mới thật sự bắt đầu từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI - 1986) để

có thể có cái nhìn tổng kết và những nhận định chắc chắn

1.1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI LỊCH SỬ MỚI CỦA NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

1.1.1 Sự lãnh đạo thống nhất, chặt chẽ, toàn diện của Đảng cộng sản

Xuất phát từ quan niệm văn học nghệ thuật là vũ khí đấu tranh cách mạng, ngay từ 1943 Đảng đã công bố bản Đề cương về văn hóa Việt Nam, phác thảo c-ơng lĩnh đầu tiên về văn hóa văn nghệ, đồng thời tập hợp một số văn nghệ sĩ tiến

bộ vào Hội văn hóa cứu quốc

Bản Đề cương ghi rõ “Cách mạng văn hóa muốn hoàn thành phải do Đảng Cộng

sản Đông Dơng lãnh đạo”, và nêu lên ba nguyên tắc vận động văn hóa mới: dân

tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa Đến tháng 6 năm 1945, trong không khí

chuẩn bị tổng khởi nghĩa, Hội văn hóa cứu quốc quyết định xuất bản tờ Tiền tuyến (sau đổi là Tiền phong), “Cơ quan vận động tân văn hóa” Hoạt động xung quanh

tờ báo này là những hội viên đầu tiên của văn hóa cứu quốc: Học Phi, Như Phong, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nam Cao, Nguyễn Đình Thi, Thép Mới… Từ lực lợng nòng cốt này, Hội sẽ mở rộng cánh cửa để thu hút đông đảo văn nghệ sĩ sau thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám Sự lãnh đạo của Đảng

đã chấm dứt tình trạng phân hóa phức tạp của nền văn học nớc ta dới ách thực dân Nhìn chung, trong thời Pháp thuộc, nền văn học trớc ta luôn luôn phân hóa thành hai bộ phận tồn tài song song, phân biệt với nhau bởi thái độ chính trị của những ngời cầm bút đối với chế độ thực dân: trực tiếp chống Pháp và không trực tiếp chống Pháp Bộ phận chống Pháp, hay bộ phận văn học cách mạng nói chung thuần nhất, đặc biệt là từ khi trở thành tiếng nói của giai cấp vô sản cách mạng Nhng bộ phận thứ hai - hoạt động hợp pháp - bao gồm nhiều xu hớng khác nhau,

có khi đối lập với nhau, một mặt phản ánh sự thức tỉnh ý thức cá nhân của giới nghệ sĩ, mặt khác phản ánh sự phân hóa về t tởng và tâm lý cũng nh về quan điểm thẩm mỹ của những cây bút t sản, tiểu t sản, tùy theo những diễn biến của cuộc đụng độ quyết liệt giữa hai lực lợng cách mạng và phản cách mạng Tình trạng đó

Trang 5

đợc đẩy đến mức độ có thể gọi là hết sức hỗ loạn trong những năm cuối cùng của chế độ thuộc địa dới ách hai tên đế quốc Pháp và Nhật (1940 - 1945)

Từ sau Cách mạng Tháng tám, chúng ta có một nền văn học hoàn toàn thống nhất: thống nhất về t tởng, tổng nhất về tổ chức, thống nhất về phơng pháp sáng tác, thống nhất về quan niệm nhà văn kiểu mới: nhà văn - chiến sĩ Sự thống nhất này

có cả một quá trình từ thấp đến cao, từ nông đến sâu, và không phải không có lúc trải qua những diễn biến phức tạp, nhất là khi cách mạng chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác với những yêu cầu chính trị mới, hoặc khi xuất hiện những biến động chính trị nào đấy, những luồng t tởng nào đấy, trong nớc hay ngoài nớc, đặc biệt là trong phe xã hội chủ nghĩa, dội mạnh vào đời sống văn học nớc ta Trong hoạt động văn nghệ, cố nhiên vấn đề xác định lập trờng t tởng là quan trọng

nhất Ngay từ 1948, bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam của

Trờng Chinh đọc lại Đại hội Văn hóa toàn quốc lần thứ hai đã xác định rõ: Văn

học nghệ thuật của nớc Việt Nam mới phải “Về xã hội, lấy giai cấp công nhân làm

gốc Về chính trị, lấy độc lập dân tộc, dân chủ nhân dân và chủ nghĩa xã hội làm gốc Về t tởng, lấy học thuyết duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm gốc Về sáng tác văn nghệ, lấy chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa làm gốc”

Đuờng lối chiến lợc là nh vậy, nhng ở mỗi giai đoạn cách mạng, yêu cầu cụ thể đặt

ra cho văn nghệ sĩ lại có mức độ khác nhau Chẳng hạn, sau Cách mạng tháng Tám

và trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Đảng chỉ nhấn mạnh lập trờng dân tộc, dân chủ nhân dân, lập trờng kháng chiến và yêu cầu văn nghệ sĩ sáng tác phục vụ cuộc chiến đấu theo ba phương châm: dân tộc, khoa học, đại chúng Nhng từ khi miền Bắc đợc giải phóng, bớc vào công cuộc xây dựng chue nghĩa xã hội, thì yêu cầu đối với ngời cầm bút lại phải đặt cao hơn: Yêu nớc lại phải gắn với yêu chủ nghĩa

xã hội, tác phẩm phải đạt tới tính Đảng và phải đợc sáng tác theo phơng pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa…

Để đạt tới sự thống nhất nói trên, Đảng đặt biệt quan tâm tới việc rèn luyện, bồi ỡng t tởng cho văn nghệ sĩ thông qua những cuộc đấu tranh tư tưởng, những cuộc

d-học tập chỉnh huấn và những đợt đi thực tế để “Cách mạng hóa tư tưởng, quần

chúng hóa sinh hoat” Và cứ sau mỗi đợt đi thực tế nh thế, nền văn học thờng gặt

hái đợc một loạt tác phẩm mới

1.1.2 Cuộc chuyển dịch lớn về môi trường hoạt động của văn học nghệ thuật

Một nguyên tắc sinh tử của văn học nghệ thuật là quan hệ của nó đối với đời sống hiện thực Nhng có hiện thực lớn và hiện thực nhỏ, có đời sống lớn và đời sống nhỏ hẹp Một cây bút đợc vào môi trờng nào của đời sống xã hội, điều ấy có ý nghĩa rất lớn quan trọng đối với tiền đồ và tầm cỡ của nó Ông cha ta ngày xa từng

phân biệt hai thứ văn nh hai cách trồng cây: “Một bên thì mở rộng cho cây hàng

trăm mẫu ruộng, tới cho cây bằng nớc sông Giang, sông Hoài, mong cho thân cây cao hàng trăm trợng (…) Một bên thì thả cho cây một nửa sọt đất, tới cho cây bằng nớc vũng, nớc khe Mong cho thân cây cao vừa gang tấc”

Trong lịch sử nớc ta thời trớc từng nổi lên những cơn bão táp dữ dội làm “thay đổi sơn hà”, cuốn dứt những “tấm thân chiếc lá” từ lầu son gác tía ném mạnh xuống cuộc sống bình dân Đấy là những cơ hội khiến cho một số văn nhân tài tử bỗng thay đổi hẳn môi trờng sống và viết, nhiều khi ngoài ý muốn của mình

Trang 6

Trong những tình huống ấy, nếu như cuối cùng họ chịu được thủy thổ mới, tiêu hóa được những dỡng chất mới, thì đấy là những trờng hợp mà thứ văn của bồn hoa chậu cảnh có thể trở thành cây cao bóng cả có khi che rợp cả một thời đại Trường hợp của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du là như thế

Nhng những cơn bão táp lịch sử trớc 1945 cha lần nào thay đổi đợc hẳn cơ cấu xã hội dựa trên áp bức bóc lột nhân dân lao động Vì thế nó chỉ có thể, một cách ngẫu nhiên, làm chuyển dịch môi trờng sống của một số cây bút quý tộc nào đấy mà thôi

Cuộc Cách mạng tháng Tám, đảo lộn xã hội tận gốc, lại có nhờ sự lãnh đạo của Đảng, đã tạo ra một cuộc chuyển dịch lớn về môi trờng sống và viết, không phải của dăm bẩy văn nghệ sĩ, mà hàng loạt nhà văn, nhà thơ từ môi trờng quẩn quảnh

chật hẹp của tầng lớp t sản, tiểu t sản thành thị Xuân Diệu gọi là cái “Ao Đời” đìu

hưu phẳng lặng - đến cuộc sống bát ngát và sôi động của hàng triệu nhân dân lao

động Có nghĩa không phải dăm ba cây, mà cả một vờn cây kiểng văn chơng đợc bứng trồng ra một vùng đất mới bao la…

Nhớ lại những ngày Cách mạng tháng Tám và thời gian đầu kháng chiến chống Pháp, cuộc “Chuyển dịch môi trờng” của các nhà văn diễn ra thật náo nhiệt và đông vui biết bao ! Trừ một số trờng hợp cá biệt, hầu hết mọi cây bút đều hăng hái

từ bỏ môi trờng chật hẹp để hòa mình vào đời sống đại chúng Nguyễn Huy Tởng trên đờng từ Hà Nội lên chiến khu, cảm thấy những ngày cuốn quanh ở thành thị

mấy lâu nay của mình là đáng xấu hổ, là “Sống một cuộc đời khốn nạn, không biết

đến sự đổi thay” Hoài Thanh từ Huế ra Bắc, tắm mình trong cái khí thế bừng bừng

sôi sục mà ông gọi là “Dân khí miền Trung”, tự thấy mình đã là nạn nhân và cũng

là tội nhân của thời đại cái tôi nhỏ bé tầm thờng:

“Trong bầu không khí mới của giang sơn (…) chúng tôi thấy rằng đời sống riêng

của cá nhân không có nghĩa gì trong đời sống bao la của đoàn thể” Riêng Nguyễn

Tuân thì từ xa đã luôn luôn nói đến chuyện lên đờng Nhng hồi ấy, Nguyễn lên ờng đâu phải để đi vào đời sống lớn của đất nớc, của nhân dân Đó chẳng qua

đ-những cuộc xê dịch ( phần lớn bằng tởng tởng) để mình lại tìm mình “ Ngoài cái

sống bên trong của mình, không còn biết gì khác nữa của ngoại cảnh” Nhng giờ

đây là một Nguyễn Tuân khác, quyết “lột xác” để toàn tâm đi theo cách mạng và kháng chiến Con đờng gian khổ nhng ông gọi là

“ Đờng vui” Vui vì đất nớc đã đợc độc lập tự do Vui vì đi cùng nhân dân, cùng

đoàn thể Vui vì đi công tác, nghĩa là thấy mình có ích cho đời Vui nhất là đi giữa biển ngời bao la mà tất cả bỗng trở thành đồng chí, cùng chia sẽ với nhau với tình cảm lớn, những ý nghĩa lớn, những lo âu lớn, những ớc mơ lớn, cùng hắm hở bắt tay vào những hành động lớn vì Tổ quốc, vì nhân dân…

1.1.3 Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vô cùng ác liệt kéo dài trong 30 năm

Ngày 19/8/1945, cách mạng vừa giành đợc chính quyền, ngày 2/9, Chủ tịch

Hồ Chí Minh vừa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại vờn hoa Ba Đình, thì chỉ ba tuần

lễ sau (ngày 23/9) giặc Pháp nấp sau lng quân đội Anh vào giải pháp hàng binh nhật, đã đánh chiếm Sài Gòn rồi mở rộng chiến sự ra các tỉnh Nam bộ và cả một vài tỉnh Nam Trung bộ

Trang 7

Nh vậy là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, nếu tính từ Nam bộ thì đã diễn ra ngay sau cuộc cách mạng tháng Tám

Hồi ấy từ Trung bộ đến Bắc bộ nổi lên một phong trào Nam tiến rầm rộ Thanh niên nam nữ tự trang bị quân trang vũ khí, nô nức xung vào những đoàn quân Nam

tiến đánh Pháp Nam Cao viết: “Cả dân tộc đã dồn cả vào một con đờng: ấy là con

đờng ra mặt trận, con đờng cứu nớc Con đờng vào nam…” (2)

Cho nên không phải đợi đến ngày toàn quốc kháng chiến (19/2/1946), đất nớc này mới sống trong không khí chiến tranh

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc nớc ta đợc giải phóng, bớc vào công cuộc khôi phục kinh tế và xã hội chủ nghĩa xã hội Tuy vậy, nửa nớc vẫn nằm trong tay giặc Vì thế, không thể có hòa bình thật sự trong lòng ngời dân miền Bắc Thơ Tố Hữu đã nói rõ tâm trạng ấy:

Có thể nào yên ? Miền Nam ơi máu chảy

Tám năm rồi Sáng dậy, giữa bình minh

Tim lại đau, nhức nhối nửa thân mình…

Tháng 8/1964, đế quốc Mỹ lại trắng trợn đa không quân ra đánh phá miền Bắc Thế là không còn phân biệt hậu phơng hay tiền tuyến, cả nớc đứng dậy trực tiếp đánh Mỹ cho đến thắng lợi hoàn toàn

Chiến tranh không thể xem là một hoàn cảnh bình thờng của một đất nớc, nhất lại

là cuộc chống chọi của một dân tộc nghèo nàn, lạc hậu, vừa thoát khỏi ách nô lệ 80 năm, với những kẻ thù bào loại lớn nhất, hùng mạnh và tàn bạo tất nhiên đã tác động sâu sắc, mạnh mẽ tới toàn bộ sinh hoạt vật chất và tinh thần của dân tộc, trong đó có văn học nghệ thuật

Không thể hiểu đợc những đặc điểm của nền văn học mới, trớc hết, trong giai đoạn đầu của nó (1945 - 1975), nếu không đặt nó vào điều kiện xã hội - lịch sử nói trên

1.2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NỀN VĂN HỌC, GIAI ĐOẠN 1945

ta gọi nhau là đồng bào, đồng chí Hai tiếng đồng chí đã tạo nên biết bao vần thơ từng lay động sâu sắc tâm hồn ta Bởi vì đó đâu phải là những danh từ trừu tợng

Đó là niềm giao cảm vĩ đại của cả một dân tộc trong tình Tổ quốc thiêng liêng, trong niềm kiêu hãnh của những ngời đã làm chủ đất nớc, có trong đầu lý tởng cách mạng - những con ngời mới của thời đại mới

Trang 8

Lòng yêu nớc, tinh thần dân tộc là truyền thống tinh thần vĩ đại nhất của dân tộc

Việt Nam, nói nh Hồ Chủ Tịch, là thứ của quý, mấy lâu nay phải “cất giấu kín đáo

trong rương, trong hòm”, nay nhờ Cách mạng đợc đem ta “trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê”

Lòng yêu nớc, tinh thần dân tộc, vì thế, là cái huyệt thần kinh nhạy cảm nhất của mỗi ngời Việt Nam Cách mạng ngày càng làm cho nó nhạy bén hơn bao giờ hết Vậy mà, liền ngay sau những ngày vui tháng Tám, giặc Pháp đã thô bạo đâm mạnh vào cái huyệt thần kinh ấy Ta hiểu vì sao cả nớc bật cả dậy, sẵn sàng tự tay đốt nhà, phá nhà để “tiêu thổ kháng chiến”, còn ở những nơi giặc cha đánh tới thì tự nguyện hiến cho cách mạng làm nơi trú quân, nơi đóng cơ quan Nhà nớc hoặc đón đồng bào “ tản c cũng là yêu nớc” từ cách thành thị tới… Thanh niên nam nữ thì tình nguyện vào bộ đội, vào du kích, đi thanh niên xung phong…sẵn sàng hiến dâng tuổi trẻ và tính mệnh cho Tổ quốc Lợi ích cho Tổ quốc đợc đặt trên hết Mà lợi ích Tổ quốc trớc hết là vấn đề chủ quyền trớc hết là vấn đề chủ quyền, là chế độ mới cần bảo vệ, là trớc hết vấn đề chủ quyền, là chế độ mới cần bảo vệ, là lợi ích chính trị của cả cộng đồng dân tộc Mọi lợi ích khác đều tạm thời phải gác lại, phải

hy sinh đi, trong đó có văn học nghệ thuật

Lúc đó, Đảng đề ra cho văn nghệ sĩ phải đứng trên lập trờng kháng chiến, phairt tuyên truyền chính trị, cổ vũ chiến đấu, mọi cây bút chân chính đều thấy là hết sức hợp lý, hợp tình, thậm chí là lẽ đơng nhiên

Họ sẵn sàng nhập cuộc với tinh thần ấy Nghĩa vụ công dân là cao cả nhất, là thiêng liêng nhất

Nói chung, nội dung tình cảm chủ yếu của thơ ca 1945 đến 1975 là những tình cảm công dân, tình cảm chính trị: tình yêu đất nớc, tình đồng chí, tình đồng bào, tình quân dân, tình với Đảng, với Bác Hồ, với miền Nam còn trong tay giặc hay với miền Bắc xã hội chủ nghĩa…Những tình cảm khác không phải không đợc nói đến, nhng đều phải đợc nâng lên cho thống nhất với tình cảm chính trị (tình yêu, tình

mẹ con, tình vợ chồng, tình bạn… đều phải nâng lên thành tình đồng chí), đều đợc phán xét, đánh giá theo tiêu chuẩn chính trị, đều đều phải có tác dụng tô đậm nguồn thơ lớn nuôi dỡng nền thi ca Việt Nam suốt ba thập kỷ mà Tố Hữu là lá cờ đầu

Con ngời trong đời sống cũng nh trong văn chơng đều đợc nhìn nhận và đánh giá chủ yếu ở phẩm chất chính trị Trớc hết phải xác định là ta hay địch, bạn hay thù Nếu là ta thì trình độ giác ngộ chính trị đến mức nào Ngời anh hùng hay con ngời mới có nghĩa là giác ngộ lý tởng chính trị ở mức cao nhất Trong truyện ngắn, tiểu thuyết, có một hình tợng trở thành một mô - tuýp phổ biến: nhân vật “ngời Đảng” (A Châu trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, anh Quyết trong Rừng xà nu của

Nguyên Ngọc, chị Ba Dơng trong Một chuyện chép ở bệnh viện của Bùi Đức

Ái…), đó là nhân vật cần thiết phải có mặt để nâng sự giác ngộ chính trị của ngời anh hùng lên trình độ cao nhất…

Trong phê bình văn học thì tiêu chuẩn chính trị muốn trở thành tiêu chuẩn giá trị cao nhất, nhiều nhà phê bình coi t tởng chính trị nh tiêu chí hàng đầu để đánh giá các tác phẩm văn học

Văn học phục vụ chính trị nên quá trình vận động phát triển hoàn toàn ăn nhịp với từng bớc đi của cách mạng theo sát từng nhiệm vụ chính trị của đất nớc: ca ngợi

Trang 9

cách mạng và cuộc sống mới (1945 - 1946), cỗ vũ kháng chiến, theo sát từng chiến dịch, biểu dơng kịp thời các chiến công, tuyên truyền thuế nông nghiệp, phục vụ cải cách ruộng đất (1946 - 1954), ca ngợi thành tựu khôi phục kinh tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (hợp tác hóa nông nghiệp, công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa), phục vụ cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam (1954 - 1964), cỗ vũ kháng chiến chống Mỹ của toàn quốc 1965 - 1975) Nhìn chung, Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội là đề tài bao quát toàn bộ nền văn học đất nớc ta từ Cách mạng tháng Tám đến 1975

Cố nhiên đối với một giai đoạn văn học phục vụ kháng chiến thì nhân vật trung tâm phải là ngời chiến sĩ trên mặt trận vũ trang và những lực lợng trực tiếp phục chiến trờng: bộ đội, giải phóng quân, dân quân du kích, thanh niên xung phong, giao liên, dân công hỏa tuyến… Đó là những con ngời đứng ở mũi nhọn nóng bỏng nhất trong cuộc chiến đấu vì lợi ích chính trị thiêng liêng của Tổ Quốc

1.2.2 Một giai đoạn văn học hớng về đại chúng, trớc hết là công nông binh

Trong kháng chiến, nói về cách viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt câu hỏi “Viết

cho ai ?”, và Người trả lời: “Viết cho đại đa số công nông binh (…) Để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình Để phục vụ quần chúng”

Cách mạng và kháng chiến phải dựa hẳn vào lực lợng công nông và trớc hết nhằm giải phóng công nông Cho nền văn học phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu tất phải hớng về công nông binh Đây là đối tợng phản ánh, là công chúng văn học, là lực l-ợng sáng tác Đó là phơng hớng cơ bản xác định nội dung và hình thức của văn học giai đoạn 1945 - 1975

Quan điểm văn nghệ này của Đảng cũng đợc nhà văn chấp nhận một cách đơng nhiên Bởi là những trí thức yêu nước, họ không hề không cảm phục nhân dân lao động và lực lợng chủ yếu làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám và sau đó gánh cả

cuộc kháng chiến trên đôi vai lực lỡng của mình Trong truyện Đôi mắt của Nam Cao, văn sĩ Độ đã “ ngã ngửa người ra” nh thế trớc vai trò vĩ đại của ngời nông

dân Không phải ngẫu nhiên mà tác phẩm này đã đợc coi là bản tuyên ngôn nghệ thuật chung cho cả một thế hệ cho nhà văn đi theo cách mạng Có thể nói, giác ngộ

về vai trò vĩ đại của nhân dân lao động, “quy phục” công nông một cách hoàn toàn

tự giác và đầy vui sớng là đặc điểm tâm lý chung của giới trí thức văn nghệ sĩ yêu nớc trớc thắng lợi của Cách mạng tháng Tám và cảnh tợng hùng tráng của chiến tranh nhân dân

Nguyễn Tuân, con người xa nay chỉ biết quý trọng bản thân mình, nay “kính

cẩn đối với hạt thóc” “quyến luyến đối với cây lúa”, và thấy mình chỉ nh một

ngọn cỏ, một cái lá”, bị cuốn theo chiều gió ào ạt của Cách mạng…Cho nên, được

đem nghệ thuật phục vụ chính trị, phục vụ công nông binh, dù chỉ làm “anh tuyên

truyền nhãi nhép’ (Nam Cao) nhng có ích cho kháng chiến, đấy là cả niềm vinh dự

lớn cho những Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Hoài Thanh, Nam Cao Họ sẵn sàng từ

bỏ sự nghiệp văn chơng cũ nh “những đứa con hoang”, thậm chí nh những “đứa con tội lội” để “lột xác” và làm lại cuộc đời nghệ thuật của mình Họ hăng hái đi

thực tế chiến đấu và sản xuất, sát cánh với công nông binh để “ cách mạng hóa t

t-ởng, quần chúng hóa sinh hoạt”

Từ khoảng 1952, khi chủ trơng phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất đợc tiến hành với những đợt chính huấn tập trung của văn nghệ sĩ về lập trờng

Trang 10

giai cấp thì tinh thần hớng về công nông lại càng sôi nổi hơn nữa Tình giai cấp ớng về ngời nghèo khổ là tình cảm đẹp nhất, cao cả nhất Con ngời trong sạch nhất, đáng tin cậy nhất và vì thế cũng đáng tự hào nhất là con ngời xuất thân từ bần

h-cố nông và giai cấp vô sản

T tởng nói trên, trong văn học, thờng đợc phát biểu qua các loại chủ đề, các dạng tình huống truyện và cách cấu tạo hình tợng sau đây:

- Diễn tả trực tiếp sự thức tỉnh đầy xúc động của ngời viết về vai trò vĩ đại của

quần chúng nhân dân trong cách mạng (Đờng vô Nam, Nhật ký ở rừng của Nam Cao, Rãnh cày nổi dậy của Mạnh Phú T, Dân khí miền Trung của Hoài Thanh, Một

bớc về Thanh của Hằng Phơng, Nhớ quê của Tô Hoài, ở chiến khu của Nguyễn

Huy Tởng…)

- Phê phán cái nhìn cố định kiến sai trái đối với quần chúng bằng cách hoặc đối lập những nhân vật có quan điểm khác nhau và về đề cao quan điểm đúng

(Đôi mắt của Nam Cao chẳng hạn), hoặc mô tả sự chuyển biến của một nhân vật

ngời dẫn truyện nào đấy, từ chổ hiểu saui và xem thờng quần chúng, đến chỗ hiểu đúng và khâm phục ( nhiều truyện ngắn của Nguyễn Khải, Nguyễn Kiên, Vũ Thị

Thờng, Bùi Hiển, Nguyễn Quang Sáng, tiêu biểu nhất là Mẫn và tôi của Phan Tứ,

Mãnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu, Tiếng đêm của Cao Tiến Lê )

Trực tiếp của mô tả quần chúng nh lực lợng chủ chốt của cách mạng và kháng chiến Cha bao giờ ngời ta thấy công nông binh nam và nữ, già và trẻ, thuộc các nghành, các giới, các binh chủng khác nhau có mặt đông đảo nh thế trong thế giới nghệ thuật văn cũng nh thơ trong giai đoạn văn học 1945 - 1975

Một điểm đáng chú ý có thể xem là độc đáo của văn học kháng chiến là có thiên ớng mô mô tả hình tợng những đám đôi sôi động của công nhân, nông dân, bộ đội,

h-dân công… đầy khí thế và sức mạnh (Kịch Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tởng, ký sự của Trần Đăng, Đuốc dân công tiếp vận của Nguyễn Tuân, Xung kích, Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, Con trâu của Nguyễn Văn Bổng, Vùng mỏ của Võ Huy Tâm,

Ngời ngời, lớp lớp của Trần Dần, Cửa biển của Nguyên Hồng, Bão biển của Chu

Văn, Dấu chân ngời lính của Nguyễn Minh Châu, Đêm liên hoan của Hoàng Cầm,

Nhớ của Hồng Nguyên, Bài ca vỡ đất của Hoàng Huy Thông, Ta đi tới, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên của Tố Hữu, Mặt đờng khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận, Đờng ra mặt trận của Chính Hữu…)

Từ sau chiến thắng của Điện Biên Phủ (1954) đặc biệt trong cao trào chống Mỹ cứu nớc (1965 - 1975), chủ đề ca ngợi quần chúng của công nông binh thờng đợc thể hiện tập trung ở những nhân vật có tầm khái quát lớn, kết tinh những phẩm

chất cao đẹp của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc (Rừng xà nu của Nguyên Ngọc, Ngời mẹ cầm súng, Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi, Đất,

Hòn, Đất của Anh Đức, Sống nh Anh của Trần Đình Vân, Vùng trời của Hữu Mai, Dấu chân ngời lính của Nguyễn Minh Châu…Sáng tháng Năm, Bác ơi! Theo chân Bác, Ngời con gái Việt Nam, Mẹ Tơm, Mẹ Suốt, Hãy nhớ lấy lời tôi…của Tố Hữu, Ngời đi tìm hình của nớc của Chế Lan Viên, Bài ca chim Chơ rao của Thu Bồn, Trờng ca Nguyễn Văn Trỗi của Lê Anh Xuân…)

Viết về quần chúng, không thể không gắn với công lao của cách mạng Một chủ đề phổ biến khác của văn học 1945 - 1975 là khẳng định sự đổi đời của nhân dân nhờ Cách mạng Ấy là sự đổi đời từ thân phận nô lê trở thành ngời làm chủ, ngời tự do

Trang 11

Ấy là sự phục sinh về tinh thần từ chỗ mê muội, thậm chí lạc đờng (do xã hội cũ hoặc tác động của địch) đến chỗ đợc giải phóng về t tởng, đợc thanh thoát về tâm

hồn (Làng, Vợ nhặt của Kim Lân, Trai làng quyền của Nguyễn Địch Dũng, Vợ

chồng A Phủ của Tô Hoài, Đứa con nuôi, Mùa lạc của Nguyễn Khải, Xòe của

Nguyễn Tuân, Anh Keng của Nguyễn Kiên, Bão biển của Chu Văn, tập truyện Anh

hùng chiến sĩ của nhiều tác giả v.v…)

Văn học chân chính không thể tạo ra đợc bằng sự áp đặt từ bên ngoài của một đờng lối văn nghệ nào, cũng không thể đợc tạo ra bằng sự gắng sức của ý chí đơn thuần

Đó là vấn đề tình cảm, cảm xúc, vấn đề cảm hứng nghệ thuật Đờng lối văn nghệ phục vụ chính trị, cỗ vũ chiến đấu hớng về công nông binh, do phù hợp với yêu cầu khác quan của lịch sử và phù hợp với bản chất yêu nớc của văn nghệ sĩ, với trình độ ý thức tâm lý của họ trong hoàn cảnh đặc biệt của hai cuộc kháng chiến, nên đã tạo ra đợc nguồn cảm hứng nghệ thuật thực sự của những ngời cầm bút Đại chúng công nông binh, nh đã nói, không phải chỉ là đối tợng phản ánh, ngợi ca

và công chúng của văn học mà là còn nguồn cung cấp lực lợng sáng tác cho họ Đảng rất chú ý phát động phong trào văn nghệ quần chúng để từ đấy phát hiện và bồi dỡng những cấy bút nỗi lên từ các phong trào ấy, đặt biệt là trong quân đội Từ Chính Hữu, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Nguyễn Đình Thi, Hữu Mai, Xuân Cang, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn… đến Đỗ Chu,

Lê Lựu, Vi Hồng, Y Phơng, Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh… đều xuất thân nh thế

Văn học viết cho đại chúng tất nhiên phải dễ hiểu và đợc quần chúng đông đảo a thích Lối viết gọi là “biểu tợng hai mặt” có ẩn dấu nhiều nghĩa hoặc nghĩa không

rõ ràng thờng bị “uốn nắn”, thậm chí bị coi là “có vấn đề” (tác phảm có tính Đảng chủ đề phải rõ ràng) cho nên tiểu thuyết chỉ viết về hiện thực dới hình thức của bản thân hiện thực Truyện ngời thật, việc thật chép theo lợi tự thuật của anh hùng, chiến sĩ thi đua, có một thời rất đợc khuyến khích và đánh giá cao(1) Thơ không vần của Nguyễn Đình Thi bị phê phán(2) Lối văn Nguyễn Tuân vị coi là thiếu trong sáng, Hoài Thanh phê phán hàng loạt những thứ “rơi rớt tiểu t sản” trong văn học kháng chiến mà ông cho là không hợp với tâm hồn lành mạnh của đại chúng công nông…(1)

Viết về đại chúng nên phải khai thác những cách thể hiện nghệ thuật quen thuộc với đại chúng Nhiều nhà thơ đã tìm về kho tàng văn học dân gian: Lu Trọng L, Trần Hữu Thung, khai thác thể hát dặm Nghệ Tĩnh; Thanh Tịnh soạn những bài đọc tấu phát huy điệu nói lối vui nhộn của hè chèo; Tố Hữu chú ý vận dụng các thể thơ quen thuộc với đại chúng nh lục bát, song thất lục bát, thất ngôn và các thủ pháp của dân ca…; Xuân Diệu ra sức học tập ca dao, dân ca, đề cao thơ của bần cố nông phát hiện trong cải cách ruộng đất, thơ của công nhân, thơ “Báng súng” của

bộ đội (Ca dao kháng chiến, Vè kháng chiến Bình Trị Thiên, Ca dao”Dặn con” Đọc một số thơ kháng chiến của công dân, Anh Thuấn và Cố Phơng… Ông viết:

“Muốn làm đợc thơ khá, thiết tởng nên bắt đầu làm đợc ca dao khá Vì thơ của ta phải hay trên cơ sở quần chúng (Phê binhd giới thiệu thơ…)(2)

1.2.3 Một giai đoạn văn học chủ được sáng tác theo khuỵnh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn

Trang 12

Trong 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc hướng về lý tưởng độc lập tự

do và chủ nghĩa xã hội, có thể nói cả dân tộc ta đã sống với tâm lý lãng mạn - một chủ nghĩa lãng mạn thấm nhuần tình thần lạc quan chiến thắng Không có lòng yêu nớc thiết tha và lòng tin chắc chắn ở tương lai tươi sáng thì làm sao có đủ sức mạnh tinh thần để vượt qua mọi thiếu thốn gian khổ, mọi thử thách nặng nề của chiến tranh:

Củ khoai, củ sắn thay cơm Khoai bùi trong dạ, sắn thơm trong lòng Hớp ngụm nước suối trong đỡ khát Trông trời cao mà mát tâm can…

(Tố Hữu)

Đấy là những năm tháng con ngời tuy đứng trong gian khổ tột cùng nhng tâm hồn lại sống trong niềm vui ấm áp của tình đồng chí, đồng bào, của tình dân nghĩa Đảng, và trong ánh sáng rực rỡ của lí tởng, của tơng lai

Chủ nghĩa lạc quan ấy tỏ ra rất vững chãi vì có cơ sở thực tế Bởi dân tộc ta vừa trải qua một quá khứ vô cùng khủng khiếp Chế độ thuộc địa của Pháp và phát xít Nhật hết sức tàn bạo đã dẫn tới nạn đói có tính hủy diệt; giết chết hơn hai triệu ng-

ời trong vòng ba tháng Đảng đã phát động cuộc Cách mạng tháng Tám, cứu dân tộc ta ra khỏi những ngày khủng khiếp đó mà nói nh Nam Cao “có lẽ đến năm

2000, con cháu chúng ta vẫn còn kể lại cho nhau nghe để rùng mình”(Đôi mắt) Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, tuy lực lợng địch ta hết sức chênh lệch, ta vẫn đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Sau chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ, miền Bắc đợc giải phóng, công cuộc khôi phục kinh tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội bớc đầu nhờ sk giúp đỡ của các nớc xã hội chue nghĩa, quả có làm cho đất nớc thay da đổi thịt

Ngày xa nhà tranh vách đất là hình ảnh tiêu biểu của làng quê ta:

Mái tranh ơi hỡi mái tranh

Trải bao mưa nắng mà thành quê hương

(Trần Đăng Khoa)

Giờ đây khắp nơi mọc lên nhà gạch (gọi là phong trào “ngói hóa”), tạo nên tứ thơ đầy tinh thần lãng mạn của Xuân Diệu: Ngói mới Không phải ngẩu nhiên mà Huy Cận, vốn xa là một hồn thơ ảo não nhất của phong trào “Thơ mới”, nay nhìn đâu cũng thấy Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nỡ hoa, Bài thơ cuộc đời… Còn ở Chế Lan Viên, ánh sáng và phù sa là hình ảnh đất nớc mà cũng là hình ảnh tâm hồn nhà thơ đực hồi sinh và thanh xuân hóa…

Nhìn sang các nớc bạn như: Liên Xô hay Trung Quốc … thì thấy thật đúng là những thiên đường đối với một đất nớc còn quá đỗi nghèo nàn và lạc hậu nh đất n-

ớc ta Đó là chủ nghĩa xã hội, tương lại chắc chắn sẽ thành hiện thực trên đất nước

mình (Với Lênin, Đờng sang nước bạn của Tố Hữu, Lại thấy thần tiên, Đất nở

hoa, của Huy cận, Năm mơi năm Liên bang Xô viết của Xuân Diệu…

Nhìn thực tế dới ánh sáng của một tơng lai như thế, tự nhiên thấy thực tế đẹp hơn, sáng hơn gấp ngàn lần:

Năm năm với bấy nhiêu ngày

Mà trông trời đất đổi thay đã nhiều…

Trang 13

Dân có ruộng dập dìu hợp tác

Lúa mợt đồng ấm áp làng quê

Chiêm mùa cờ đỏ ven đê

Sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn

Màu áo mới nâu nắng chói

Mái trừơng tươi roi rói ngỏi son

Đã nghe nước chảy lên non

Đã nghe đất chuyển thành con sông dài

Đã nghe gió ngày mai thổi lại

Đã nghe hồn thời đại bay cao

Núi rừng có điện thay sao

Nông thôn có máy làm trâu thay ngời…

Phải nói rằng những điều Tố Hữu diễn tả đều là sự thật cả Có điều sự thật ấy đã

đ-ợc nhân lên với kích thớc cao rộng, bát ngát của tơng lai mà nhà thơ gọi là “gió ngày mai” và “hồn thời đại” Và chủ nghĩa lạc quan cũng đợc nhân lên với kích th-

ớc ấy:

Xuân ơi xuân em mới đến dăm năm

Mà cuộc sống đã tng bừng ngày hội

(Tố Hữu)

Muôn trùm hạnh phúc dới trời xanh

Có lẽ lòng tôi cũng hóa thành Ngói mới

(Xuân Diệu)

Cảm hứng lãng mạn không chỉ sôi nổi trong thơ mà cả trong văn xuôi.Từ tiểu thuyết, truyện ngắn đến bút ký, tùy bút và kịch bản sân khấu đều rất giàu chất thơ lãng mạn Và nhìn chung, hớng vận động của cốt truyện, của mạch văn, của số phận nhân vật, của dòng cảm nghĩ của tác giả, hầu nh đều đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ gian khổ đến niềm vui, từ hiện tại đến tơng lai đầy hứa hẹn Niềm tin ở t-ơng lai và nguồn sức mạnh tin thần to lớn đã khiến dân tộc ta có thể vợt lên trên mọi thử thách, tạo nên những chiến công phi thờng:

Bao ngời máu đã ngập lng Dựa vào lý tưởng lại vùng đứng lên

(Lê Anh xuân)

Xẻ dọc Trờng Sơn đi cứu nớc

Mà lòng phơi phới dậy tơng lai

(Chính Hữu)

Đường ra trận mùa này đẹp lắm Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây

Trang 14

( Phạm Tiến Duật)

Ta qua sông qua suối

Ta qua núi qua đèo Lòng ta vui nh hội Như cờ bay gió reo

Ôi Tổ quốc, ta yêu nh máu thịt

Như mẹ cha ta, nh vợ như chồng

Ôi Tổ quốc, nếu cần ta chết

Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông…

(Chế Lan Viên)

Ra đời và phát triển trong không khí lịch sử đó, văn học giai đoạn 1945 - 1975 là văn học của những sự kiện lịch sử, của số phận toàn dân, của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Nhân vật trung tâm của nó là những con ngời đại diện cho giai cấp, dân tộc, thời đại, những con ngời sống chết với cộng đồng và kết tinh một cách chói lọi những phẩm chất cao quý của cộng đồng

Tố Hữu nhìn chị Trần Thị Lý không phải là một cá nhân mà là một con ngời của

dân tộc và nhân loại, với “trái tim vĩ đại” không phải “đập cho em” mà cho “lẽ

phải trên đời, cho quê hương em, cho Tổ quốc, loài ngời” Nhà thơ không gọi nhân

vật của mình là Trần Thị Lý mà là “ Người con gái Việt Nam” Ấy là thời mà cái cá

nhân, cái riêng t cơ hồ mất vị trí trong cảm quan thẩm mỹ -cái thời mà Chế Lan

Viên gọi là “Những năm toàn đất nớc có một tâm hồn, có chung khuôn mặt”, và nhà thơ cũng nhìn Tổ quốc mình không phải bằng con mắt cá nhân mà bằng “con

mắt Bạch Đằng, con mắt Đống Đa”, nghĩa là con mắt của lịch sử dân tộc, hay nói

nh Xuân Diệu về Tố Hữu: “Con mắt của lịch sử chấp nhận đôi mắt của anh”

Những anh Núp của Nguyên Ngọc, chị Út của Nguyễn Thi, ông Tám xẻo đước của Anh Đức, bà mẹ đào hầm của Dơng Hơng Ly…đâu phải là những cá nhân Đó là

Đất nước đứng lên, là những Người mẹ cầm súng, là sự vùng dậy của Đất, là sức

mạnh vô tận của Đất quê ta mênh mông… Còn Lê Anh Xuân thì hình dung anh

giải phóng quân hy sinh trên sân bay Tân Sơn Nhất nh một tợng đài hùng vĩ hiện lên trên cái nền bát ngát của không gian Tổ quốc và thời gian những thế kỷ Ngời chiến sĩ ấy là ai ? không cần biết Anh không để lại tên tuổi, địa chỉ gì hết Vì anh

Trang 15

là biểu tợng của giải phóng quân, hơn nữa là “Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ

”…

Các nhà lý luận thờng nói đến khoảng cách sử thì giữa nhà văn và nhân vật anh hùng Do khoảng cách ấy, giọng văn sử thi thờng trang nghiêm và thiên về ngợi ca với thái độ chiêm ngỡng đầy cảm phục, và ngôn ngữ, hình ảnh sử thi thiên về vẻ đẹp tráng lệ, hào hùng

Ấy là hình ảnh hùng vĩ của cụ Mết trong Rừng xà nu hô vang núi rừng Tây nguyên: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo”, “Đốt lửa lên! Đốt lửa lên”

Và cả làng Xô man ào ào rung động, lửa cháy khắp rừng…

Ấy là hình ảnh chị Út Tịch trong Người mẹ cầm súng “Bà Hồng ông Cống nắm tay

nhau đánh giặc mù trời”

Ấy là hình ảnh Trần Thị Lý trong thơ Tố Hữu:

Em là ai cô gái hay nàng tiên

Em có tuổi hay không có tuổi

Mái tóc em đây hay là mây là suối

Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông…

Ấy là hình ảnh tình yêu chiến thắng cái chết của Nguyễn Văn Trỗi trong thơ Lê Anh Xuân:

Bốn bên cái chết bủa vây

Chẳng cây, chẳng lá, chẳng mây, chẳng trời

Mà thơm hơn cả hoa tơi

Mà xanh hơn cả da trời đã xanh

Tình yêu vào khám tử hình

Chấn song sắt cũng trổ cành đơm hoa…

Nói nh thế văn học không có nghĩa là văn học giai đoạn 1945 - 1975 hoàn toàn không có giọng văn nào khác Đôi lúc cũng thấy có xen vào một vài chất giọng khác nh giọng đùa cợt, suồng sã, giọng châm biếm, mỉa mai hay bi quan, hoài nghi Những giọng điệu ấy nếu không ném vào nhân vật phản diện, nghĩa là dành cho địch, thì không bao giờ chiếm u thế và thờng bị phê bình, ngăn chặn Ngoài những sáng tác của nhóm Nhân Văn - Giai phẩm bị lên án gay gắt, có thể kể các

tác phẩm nh: Mở hầm của Nguyễn Dậu, Sơng tan của Hoàng Tiến, Phá vây của Phù Thăng, Đống rác cũ ( tập 1) của Nguyễn Công Hoan, Vào đời của Hà Minh

Tuấn, Cái gốc của Nguyễn Thành Long, Tình rừng, Tờ hoa của Nguyễn Tuân, Cửa

mở của Việt Phơng, Vòng trắng của Phạm Tiến Duật, Seo đất của Ngô Văn Phú vv…

Trong giai đoạn văn học này, khuynh hớng sử thi không chỉ thể hiện ở những thể hiện ở những thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn, ký sự, truyện ký hay những bản tr-ờng ca Nó chi phối cả đến những bài thơ ngắn, thậm chí nhiều bài tứ tuyệt:

Chống gậy lên non xen trận địa

Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây

Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu đẩu

Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy

(Hồ Chí Minh)

O du kích nhỏ giương cao súng

Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu

Trang 16

Ra thế !To gan hơn béo bụng

Anh hùng đâu cứ phải mày râu

(Tố Hữu)

Ba đặc điểm trên đây của văn học việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 có quan hệ mất thiết với nhau, là ba phơng diện không tách rời của gian đoạn văn học này

Quan hệ giữa ba đặc điểm có tính tất yếu, tính quy luật Văn học phục vụ chính trị,

cổ vũ chiến đấu, tất nhiên trớc hết nhằm tác động vào đại chúng công nông binh - lực lợng quyết định của cuộc khánh chiến Và để phản ánh, ca ngợi, cổ vũ cuộc chiến đấu vì độc lập tự do của cộng đồng một cách tự nhiên, phải tìm đến hớng sử thi và cảm hứng lãng mạn

Đặc điểm thứ ba thể hiện rõ thi pháp riêng, diện mạo riêng của giai đoạn văn học, nhng không tách rời hai đặc điểm trên mà nh hệ quả của chúng Vả lại, ngay cả đặc điểm một và hai đã bao hàm trong bản thân chúng không phải chỉ có khuynh hớng

t tởng mà còn là khuynh hớng thẩm mỹ và quan niệm nghệ thuật nữa

Và cả ba đặc điểm, xét đến cùng, đều bắt nguồn từ đờng lối văn nghệ của Đảng trong hoàn cảnh đặc biệt của ba mơi năm chiến tranh giải phóng dân tộc

Ba đặc điểm nói trên đã giúp phân biệt giai đoạn văn học (1945 - 1975) với các giai đoạn trớc và sau nó

Ngày 30 - 4 - 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kiến thúc thắng lợi, đất nớc hoàn toàn giải phóng Lịch sử bớc sang một kỷ nguyên mới: hòa bình, độc lập, tự

do trên toàn cõi Việt Nam thống nhất

Hoàn cảnh đất nớc thay đổi, nền văn học tất cũng phải đổi thay Nhng sự vận động của lịch sử vẫn có quán tính của nó - lịch sử xã hội là thế Lịch sử t tởng, lịch sử văn học nghệ thuật lại càng nh thế Cho nên phải đợi đến một thập kỷ sau ngày toàn thắng, với Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), đất nớc ta mới thật

sự bớc vào công cuộc đổi mới trên mọi lĩnh vực hoạt động, trong đó có văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật là một hình thái t tởng đặc thù Sau 1975, nhất là từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI, trên đất nớc ta xuất hiện những đổi thay lớn có tác động mạnh

mẽ tới sự đổi mới t tởng của toàn xã hội, trong đó có tầng lớp nhạy cảm nhất là văn nghệ sĩ

Đất nớc thoát khỏi chiến tranh, trở lại sinh hoạt thời bình, từ hoàn cảnh sống không bình thờng trở về cuộc sống bình thờng.Trong hoàn cảnh mới này, con ngời đợc quền sống với nhiều nhu cầu phong phú và phức tạp về vật chất và tinh thần Quan

hệ giữa nhiệm vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hởng thụ, giữa đời công và đời t, giữa cái chung và cái riêng…., so với thời chiến, tất nhiên phải đổi khác

Chế độ bao cấp về sản xuất và phân phối đợc bãi bỏ Cơ cấu kinh tế xây dựng trên năm thành phần, trong đó có kinh tế t nhân Chủ nghĩa bình quân bị phê phán Ng-

ời có chí làm giàu chính đáng đợc khuyến khích Đất nớc mở cửa, tiếp nhận giao lu với tất cả các nớc thuộc chế độ chính trị khác nhau về kinh tế, chính trị, văn hóa….Nền dân chủ đợc mở rộng Giới văn nghệ sĩ, nhờ thế, có sự thức tỉnh mạnh

mẽ về sâu sắc về ý thức cá nhân Mọi cây bút, mọi cái đầu đều muốn có những suy nghĩ riêng, t tởng riêng, tìm tòi riêng để có thể tham gia tích cực vào cuộc sống nh những sinh thể t duy (être pensant) chứ không phải là những con ngời thụ động

Trang 17

Trên cơ sở những chuyển biến t tởng ấy, nhiều khuynh hớng văn học mới hình thành Ngời ta nhìn nhận lại nhiều giá trị cũ, muốn đo đạc lại bằng những tiêu chí mới Ngời ta bàn bạc lại một số chân lý của thời qua:

Sau hơn mời năm đổi mới, nền văn học đã gặt hái đợc một số thành tựu, nhất là trong văn xuôi Nhng sự đánh giá cha nhất trí ở đây sự phân hóa về quan điểm diễn ra nhiều khi dữ dội, quyết liệt chung quanh cách hiểu và đánh giá một số hiện tợng văn học

1.3 QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG, PHÁT TRIỂN VÀ THÀNH TỰU CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

1.3.1 Điểm qua các chặng đờng lịch sử của văn học từ sau Cách mạng tháng Tám 1945

1.3.1.1 1945 - 1946: Văn học trong những ngày hội lớn của Cách mạng

a Cách mạng đúng là ngày hội lớn của quần chúng Ngày nay phải độc lại những

ghi chép của những ngời trong cuộc mới hình dung đợc cái không khí vui sớng đặc biệt của mọi tầng lớp nhân dân ta khi đất nớc vừa giành đợc độc lập

Tiêu biểu cho nền độc lập là lá cờ đỏ sao vàng Khắp nơi mọc lên cờ Tổ quốc ớng nhất, tự hào nhất là đợc chào cờ mỗi ngày Đây là một đoạn ghi chép về một buổi sáng ở thị xã Thanh Hóa:

S-“Sáng 29, tôi sắp sửa ra đi, bỗng nhiên một hồi còi vang động, tôi cha hiểu là còi

gì thì đã thấy mọi ngời cung kính giơ nắm tay chào, trong nhà cũng nh ngoài phố, già trẻ, giai gái quay về phía cột cờ, nét mặt nghiêm trang và đầy tin tởng”

Và đây là một buổi lễ chào cờ trên đồng nớc lụt: “Mỗi làng đã nhận đợc tờ giấy

mời tất cả các giới tới phủ để dự lễ chào cờ Riêng tôi, tôi đoán trớc rằng số ngời tới dự sẽ không đợc là bao Một ngày nớc dâng cao ngập nền nhà, ngời ta còn mê mải xúc thóc quây lên giờng, lên sập thì mấy ngời nghĩ tới các việc nhà họ có thể cho là xà xỉ (…) Nhng tôi đã nhầm Trên mặt nớc thẳng băng liên tiếp từ miền này sang miền khác mà trong đó các làng mạc chỉ còn là những chòm đảo xanh um, không biết bao nhiêu là những con thuyền quay mũi về một hớng Thuyền lớn, thuyền nhỏ chen chúc nhau, chiếc nào cũng rằm tới cạp vì chồng chất toàn ngời (…) Phía mũi mỗi thuyền, một lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới Cờ lớn, cờ nhỏ khuôn mẫu cha nhất định, tng bừng tô điểm cho cả một bầu trời”

Phải đặt mình trong không khí ấy mới hiểu đợc niềm vui đến cuống nhiệt của Tố Hữu trong những ngày Huế tháng Tám:

Gió gió ơi ! Hãy làm giông làm tố

Cuốn tung lên cờ đỏ máu thơm tơi

Vàng vàng bay, đẹp quá, sao sao ơn!

Ta ngã vật trong dòng ngời cuộn thác

Mới hiểu đợc vì sao Vũ Hoàng Chơng có thể sáng tạo đợc hình ảnh lá cờ rực sáng

nh thế trên bầu trời Hà Nội:

Rực rỡ sao vàng hoa vĩ đại

Năm cánh xèo trên năm cửa ô

Và Xuân Diệu viết cả một bản trờng ca sôi nổi về ngọn Quốc kỳ

Trong những ngày này, mọi trái tim, khối óc đều bị hút cả về một phía: Tổ quốc, dân tộc, nhân dân, đoàn thể, tình đồng chí, nghĩa đồng bào….Trong tâm trạng ấy

Trang 18

mọi cái gì thuộc về đời t, về gia đình đều bị coi là nhỏ mọn, là lạc hậu…Nhân cái Tết đầu tiên của nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Xuân Diệu viết bài ca ngợi

“Đồng bào ta đã biết khuynh hớng mạnh mẽ về đời sống toàn thể (…) đã mạnh dạn

bớc ra khỏi cái ngỡng cửa vui riêng thủ thỉ với nhà, để dự vào cái vui chung của

sự hội họp Ngời ta đã nhẹ bớt lòng đối với cái bàn thờ Tổ tiên, để nặng thêm lòng với bàn thờ Tổ quốc”

Tóm lại, không khí chung của đời sống cũng nh của văn học những ngày này hết sức tng bừng, náo nức, hồ hởi Đúng là không khí hội hè, hội cách mạng, hội quần chúng - tuy rằng, đời sống thực tế đầy khó khăn, nạn đói khủng khiếp còn ám ảnh, nhiều vùng nông thôn lại lâm vào cảnh lụt lội, giặc Pháp thì đánh chiếm Nam Bộ, bọn tàu tởng thì ùn ùn kéo vào từ biên giới phía Bắc

b Chủ đề bao trùm nền văn học trong buổi đầu dựng nớc này là ca ngợi Tổ quốc độc lập và quần chúng cách mạng, ngợi ca sinh hoạt cộng đồng và đời sống mới, bình dân học vụ, kêu gọi đoàn kết toàn dân, cổ vũ phong trào Nam tiến, biểu dơng những tấm gơng vì nớc quên nhà…Đội ngũ sáng tác là những cây bút cấp tiến nhất

mà nòng cốt là các Hội viên Hội văn hóa Cứu quốc Vì viết văn, làm thơ lúc này

tr-ớc hết là hởng ứng cách mạng, là tham gia tuyên truyền cách mạng, là tham gia tuyên truyền cách mạng Ngời viết thờng dùng những thể văn ngắn gọn, phục vụ kịp thời: thơ, truyện ngắn, bút ký, ký sự, tùy bút Có những ghi chép để lại giá trị t

liệu rất quý (Dân khí miền Trung của Hoài Thanh, Ký sự ở chiến khu của Nguyễn Huy Tởng, Rãnh cầy nổi dậy của Mạnh Phú T…) Xuân Diệu nổi lên nh một cây

bút đầy nhiệt huyết Ông viết đủ loại:Thơ, bút ký, tùy bút, kịch nói, nghị luận chính trị, phê bình văn học, văn châm biếm, thơ đã kịch…Đặng Thai Mai, Nguyễn Đình Thi, Nh Phong, Nguyễn Văn Ty…là những nhà lý luận, phê bình đầu tiên của nền văn học mới Các ông say mê viết những bài giải thích ba nguyên tắc vận động văn hóa mới: dân tộc, khoa học, đại chúng, đồng thời lấy đó làm tiêu chí để tổng kết,

phê bình, đánh giá thành tựu văn học buổi đầu (Văn nghệ với cuộc chiến đấu hiện

thời của dân tộc của Nguyễn Đình Thi, Phê bình tơng lai văn nghệ Việt Nam

(Tr-ơng Tửu) của Đặng Thai Mai, Xem kịch Bắc Sơn của Nguyễn Văn Ty…)

Hồi này, trong đời sống văn nghệ có một hiện tợng rất đặc biệt: kịch quần chúng rất phát triển, không phải ở các Thành phố với những bản kịch chuyên nghiệp của những Thế Lữ, Trần Huyền Trân, Sĩ Tiến… mà ở các vùng nông thôn có khi rất hẻo lánh Tất nhiên là kịch cơng, quần chúng tự biên tự diễn Đề tài đả kịch chế độ

cũ, ca ngợi đời sống mới, đánh Tây, bắt Việt gian, chế giễu hủ tục, cổ vũ bình dân học vụ….Giờ đây, kết thúc những cuộc mít tinh không phải là những đêm chèo

truyền thống mà là những đêm kịch: “Không khí nơi diễn kịch đầy ham mê nồng

nàn Công chúng đã từng mấy giờ đồng hồ liền để hoan hô, tung hô (…) Cuộc vui kết thúc, khi các tài tử bớc ra sân khấu đặt cao ngay góc ruộng, thì tiếng vỗ tay la lên bồng bột mà không cần phải khêu ngòi”

Tất nhiên kịch không có kịch bản, chẳng để lại gì trong đời sống văn học Thực ra đây không phải là chuyện nghệ thuật Đây là sức hấp dẫn của cách mạng, của đời sống mới, của sinh hoạt công cộng đối với quần chúng

Trong giới nghệ sĩ lúc này không phải không có băn khoăn gì về vấn đề mâu thuẫn giữa chính trị và văn nghệ, giữa tuyên truyền và nghệ thuật Nhng tinh thần và cách mạng, ý thức công dân át đi tất cả Tất nhiên, nói nh Nguyễn Đình Thi, nghệ sĩ bớc

Trang 19

đầu đi theo quần chúng, cha thể “ rung động đợc cái rung động của quần chúng”, nên trong nhiều vỡ kịch, nhiều bài hát còn phẳng phất hình ảnh chinh phu, tráng sĩ

và cha dứt đợc cái điệu “du dơng” của thời qua, lời lẽ còn “sặc mùi chi nam nhi” của văn chơng cổ(1) Gay gắt hơn, Xuân Diệu gọi thế là “hồn thơ trung cổ”, những

“rác bẩn” cách mạng cần đào thải(2)

Cả hai phía, những điệu cũ cha rũ bỏ hết và thái độ phe phán quá tả, đều là những bệnh ấu trĩ khó tránh khỏi trong buổi đầu của nền văn nghệ mới

1.2 1946 - 1954: Văn học thời kháng chiến chống Pháp

Ngày 19 - 12 - 1946, cuộc kháng chiến chống Pháp đợc phát động trong toàn quốc

a Không kể những cây bút đã tham gia văn học cứu quốc từ Cách mạng tháng Tám nay là nồng cốt của văn học kháng chiến, phần lớn giới trí thức văn nghệ sĩ từ

bỏ các thành phố địch chiếm đề ra vùng tự do

Thực ra, nhiều ngời trong số này, lúc đầu cũng cha biết mình có thể làm đợc gì trong hoàn cảnh chiến tranh Nhng Đảng rất có ý thức phát huy khả năng của họ vào hoạt động tuyên truyền kháng chiến, vì thế ngày từ đầu đã lo liên hệ, tập hợp,

tổ chức họ lại Từ đó đã hình thành từ Bắc vào Nam nhiều trung tâm tập kết văn nghệ sĩ Đông đảo nhất là ở Việt Bắc: Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tởng, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Nao Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Thế Lữ, Trần Đăng, Quang Dũng, Chính Hữu, Tô Ngọc Vân, Văn Cao…Thanh Nghệ Tĩnh thì có Hải Triều, Đặng Thai Mai, Chế Lan Viên, Bùi Hiển, Lu Trọng L, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Văn Tý….Quảng Nam - Đà Nẵng thì có Khơng Hữu Dụng,

Tế Hanh, Nam Trân, Trinh Đờng, Nguyễn Văn Bổng, Phan Huỳnh Điểu… Bình Định có Quách Tấn, Yến Lan, Trần Mai Ninh, Phạm Hổ, Nguyễn Đỗ Cung….Nam

Bộ có Nguyễn Bính, Đoàn Giỏi, Phạm Anh Tài, Lu Quý Kỳ, Bảo Định Giang, Huỳnh Văn Nghệ, Hoàng Văn Bổn, Hoàng Việt, Diệp Minh Châu…

Nói chung, đội ngũ nhà văn thời chống Pháp gồm hai loại: một là những ngời đã sáng tác và ít nhiều đã có tên tuổi từ trớc Cách mạng tháng Tám; hai là những thanh niên trí thức (học sinh, sinh viên) tham gia kháng chiến, rồi từ phong trào văn nghệ quần chúng mà đợc bồi dỡng trở thành nhà văn, nhà thơ

Tuy thuộc hai thế hệ cầm bút nhng họ đều là những trí thức tiêu t sản đợc đào tạo

từ thời pháp thuộc Đợc huy động vào công tác tuyên truyền kháng chiến, họ rất nhiệt tình, tự nguyện làm bất cứ việc gì miễn là có ích cho cuộc chiến đấu: viết báo, làm vè, ca dao, diễn kịch, nói chuyện thời sự,hò hát, đọc tấu, vẽ và triển lãm tranh tuyên truyền lu động… Với t cách ngời công dân đối với Tổ quốc, họ không

nề hà gì hết mà hoạt động tuyên truyền một cách hào hứng Nhng với t cách nghệ

sĩ, họ có coi đấy là nghệ thuật không, thì lại là chuyện khác Tuy nhiên đánh giặc là chuyện không phải cãi gì cả, mọi băn khoăn, thắc mắc họ sẵn sàng xếp lại hết, tạm thời dẹp đi hết

b Hoàn cảnh của cuộc kháng chiến chống Pháp đã đem đến cho văn học những đặc điểm sau đây:

- Hoạt động văn nghệ đặt lên hàng đầu nhiệm vụ tuyên truyền, thậm chí coi văn nghệ với tuyên truyền là một Cho nên hầu hết các nhà văn trong buổi đầu kháng chiến đều là những ngời soạn kịch, diễn kịch, sáng tác ca dao, hò vè, làm báo địa phơng… Vì đấy là hình thức tuyên truyền gọn nhẹ, mau le, không đòi hỏi công

Trang 20

phu nghệ thuật gì lắm mà rất muốn hút đại chúng công nông binh hồi ấy trình độ văn hóa còn thấp kém, thậm chí mù chữ

Trong quá trình phục vụ quần chúng, ngời cầm bút càng ngày càng hiểu quần chúng hơn, tích lũy đợc vốn sống nhiều hơn Trong khi đó, điều kiện in ấn xuất bản sách báo cũng ngày càng đợc tổ chức tốt hơn, vì thế hoạt động tuyên truyền ngày càng đợc nâng cao hơn về trình độ nghệ thuật Từ năm 1948, 1949, nhiều bài thơ, truyện ngắn, bút ký, ký sự có giá trị xuất hiện Từ đầu năm 1950, một số cây bút đã bắt đầu viết tiểu thuyết

- Văn học phục vụ kháng chiến, hớng về công nông binh, nên phơng châm dân tộc

và đại chúng đợc đặc biệt nhấn mạnh nh một quan niệm thẩm mỹ của thời đại Khái niệm dân tộc và đại chúng lúc này đợc hiểu một cách rất đơn giản và thiết thực, nghĩa là cốt sao động viên đợc chiến đấu, hình thức ngắn gọn, dễ hiểu, nghệ

thuật quen thuộc với đại chúng: “Những học thuyết cao siêu, những luận đề huyền

diệu và lý luận tinh vi đành phải gác lại để chú ý đến những vấn đề thực hành, thiết cận” (Đặng Thai Mai) Những ngời cầm bút vì thế đều hăng hái học hỏi, vận

dụng các hình thức nghệ thuật dân gian: miền Bắc khai thác dân ca, chèo, Nghệ Tĩnh vận dụng thể hát dặm, khu Năm diễn tuồng và phát hành bài chòi, Nam Bộ soạn truyện thơ để diễn xớng theo lối “nói thơ” Lục Vân Tiên…

- Khuynh hớng viết “ngời thực việc thực” đợc đề cao Vì nhiều cây bút đi từ viết báo, viết ký đến viết văn Mặt khác những tấm gơng anh hùng chiến sĩ chói lọi quá,

mà ngời viết thì tự thấy nhỏ bé quá nên chỉ mong ghi chép cho đúng, không cần ởng tợng h cấu gì thêm Vì thế bộ truyện anh hùng chiến sĩ đợc viết trong dịp Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc (1952) đã đợc nhận giải thởng văn học ngoại hạng,

t-và theo Vũ Đức Phúc “có lẽ cha có tác phẩm nào đợc hoan nghênh đến nh vậy

trong thời kháng chiến” mặc dầu về mặt nghệ thuật “không đáng giá là bao”

Văn học kháng chiến từ 1946 đến 1954 trong quá trình vận động, phát triển có những chuyến biến gì đáng ghi nhận ? Có lẽ thời điểm 1950, 1951 có thể xem là một cái vạch ranh giới, tuy không nổi rõ, nhng có thật, phân chia hai chặng đờng phát triển của văn học kháng chiến Trớc ranh giới đó, về lập trờng chính trị, cuộc kháng chiến chỉ yêu cầu ngời cầm bút tán thành đánh giặc và sáng tác phục vụ cuộc chiến đấu, còn về quan điểm nghệ thuật thì chỉ nhấn mạnh tinh thần dân tộc

và đại chúng hiểu theo nghĩa rộng rãi nhất Bản báo cáo Chủ nghĩa Mác và vấn đề

văn hóa Việt Nam của Trờng Chinh phát biểu từ 1948, tuy có đề cập đến chủ nghĩa

Mác - Lê nin, đến tính giai cấp và phơng pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa,

nhng giới văn nghệ sĩ phần lớn chỉ hiểu lơ mơ Đào Xuân Quý nhớ lại “lúc ấy nghe

báo cáo xong, tôi cha hiểu gì lắm Vấn đề lại quá mới mẻ” Cuộc tranh luận giữa

Trờng Chinh và Tô Ngọc Vân về tuyên truyền và nghệ thuật tuy có lúc diễn ra khá sôi nổi, nhng tác động của nó đối với đa số văn nghệ sĩ cha có ghì thật sâu sắc Tuy nhiên tuyên truyền chiến đấu là yêu cầu cấp bách của cuộc kháng chiến Nhận thức

đó át đi mọi băn khoăn, thắc mắc

Nhng từ 1950, 1951 về sau, tình hình có khác Biên giới Việt Trung đợc giải phóng, mở thông sang phe xã hội chủ nghĩa, sách vở lý luận của Liên Xô, Trung Quốc bắt đầu đến tay các nhà văn Đảng ra công khai, sự lãnh đạo chặt chẽ hơn Tiếp đó là chính huấn tập trung chuẩn bị phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất Giờ đây yêu cầu đặt ra đối với con ngời cầm bút là phải đứng vững trên

Trang 21

lập trờng giai cấp, thanh toán triệt để t tởng thực dân đế quốc, phong kiến, t sản,

tiểu t sản Nguyễn Tuân viết trong bản kiểm thảo của mình: “ Vang bóng một thời

của tôi tiêu biểu đầy đủ cho t tởng phong kiến, địa chủ quan liêu”, “tang chứng đầu tiên về tội lỗi đầu tiên của tôi đối với dân tộc, với cách mạng”, “ nay tôi đứng trên lập trờng nghệ thuật vị nhân sinh, đứng trên lập trờng nghệ thuật cách mạng sáng tác vì lợi ích công nông”

Đấy là lý do giải thích vì sao trớc cái thời điểm kia, trong sáng tác của những Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên, Hữu Loan, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Cầm, Quang

Dũng, Văn Cao….thờng tồn tại những cái mà hồi đó Hoài Thanh gọi là những “rơi

rớt tiểu t sản” Tập phê bình, tiểu luận Nói chuyện thơ kháng chiến của Hoài Thanh

xuất bản 1950 có thể coi là bản tổng kết về những “rơi rớt” kia sẽ đợc thanh toán

trong chặng đờng tiếp theo của văn học kháng chiến

1.3 1954 - 1964: Văn học phục vụ hai nhiệm vụ chiến lợc: xây dựng chủ nghĩa

xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nớc

a Với chiến dịch Điện Biên Phủ, cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc thắng lợi Tinh thần tự hào và niềm vui chiến thắng là nguồn cảm hứng của một loạt bài

thơ lớn của Tố Hữu tràn đầy khí thế hào hùng: Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Ta đi

tới, Việt Bắc Nguyễn Đình Thi kết thúc bài thơ Đất nớc của mình cũng bằng cảm

hứng ấy “Nớc Việt Nam từ máu lửa, Rũ bùn đứng dậy, sáng lòa” Về văn xuôi thì

Đất nớc đứng lên của Nguyên Ngọc, Vợt Côn Đảo của Phụng Quán, Một chuyện chép ở bệnh viện của Bùi Đức Ái, Cao điểm cuối cùng của Hữu Mai… có thể xem

là những gặt hái sớm nhất của giai đoạn văn học mới

Nhng trên miền Bắc, hòa bình đã đợc lập lại, công cuộc khôi phục kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội bắt đầu Hoàn cảnh đất nớc đã thay đổi - dù chỉ mới một nửa - thì văn nghệ cũng phải đặt ra cho mình những yêu cầu mới

Giữa lúc đó thì ở trong nớc và ngoài nớc xảy ra những sự kiện chính trị có tác động lớn tới t tởng văn nghệ sĩ: Sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức đ-

ợc phát hiện Những biến động ở Ba Lan, Hungari Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XX phê phán t tởng sùng bái cá nhân Xtalin…T tởng bi quan, hoàn nghi nảy sinh trong giới cầm bút Trong tinh hình ấy, nhóm Nhân văn - Giai phẩm ra đời ( 1956) Đây là một nhóm văn nghệ sĩ lấy từ Nhân văn và mấy tập Giai phẩm làm cơ quan ngôn luận Họ muốn xem xét lại đờng lối lãnh đạo văn nghệ của Đảng, đòi chính trị không đợc can thiệp sâu vào văn nghệ Họ phê phán nền chuyên chính vô sản và chế độ dân chủ cách mạng… Viết văn, làm thơ, họ thờng dùng lối biểu tợng hai mặt và giọng mĩa mai, chấm biếm…

Đảng đã tiến hành một cuộc đấu tranh quyết liệt chống lại nhóm Nhân văn - Giai phẩm (1956, 1957), và đến đầu năm 1958, tổ chức một đợt chỉnh huấn lớn cho văn

nghệ sĩ Đảng nhận định: “Số đông văn nghệ sĩ tập trung ở Hà Nội, mấy năm nay

đã xa rời thực tế lao động và sinh hoạt của quần chúng công nông binh, lại rất ít học tập chính trị (…) ranh giới địch và ta có lúc bị lu mờ, tình trạng mất cảnh giác

là phổ biến Đồng thời t tởng cá nhân chủ nghĩa, tự mãn, kiêu ngạo, hiếu danh, tham tiền, t tởng an nhàn, hởng lạc ngày càng nảy nở”(1)

Sau cuộc chỉnh huấn, các nhà văn đợc đa đi thực tế, ngời lên Điện Biên, Tây Bắc, ngời ra vùng mỏ Quảng Ninh, ngời đi vào phong trào hợp tác hóa nông nghiệp…

Kết quả của cuộc đi thực tế này là một loạt tác phẩm ra đời: Nguyễn Tuân có Sông

Trang 22

Đà, Nguyễn Huy Tởng có bốn năm sau, Nguyễn Khải có Mùa lạc, Võ Huy Tâm có Những ngời thợ mỏ, Đào Vũ có Cái sân gạch, Vụ lúa chiêm, Xuân Diệu có Riêng chung, Huy Cận có Trời mỗi ngày một sáng, Đất nở hoa…

Đợt đi thực tế này và kết quả của nó đã tạo ra từ đây một nề nếp đi và viết của văn nghệ sĩ

Nhng đất nớc còn bị chia cắt, miền Nam vẫn trong tay giặc Nhiệm vụ giải phóng dân tộc vẫn phải tiếp tục Nỗi đau chia cắt đất nớc và khát vọng giải phóng miền Nam là nguồn cảm hứng của nhiều trang văn, nhiều bài thơ đặc sắc của Tố Hữu, Nguyễn Bính, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Tuân, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng…

b Nhìn chung văn học Việt Nam từ 1954 - 1964 có những đặc điểm sau đây:

- Qua cuộc đấu tranh chống Nhân văn - Giai phẩm, nền văn học càng đợc nâng cao hơn nữa về tính t tởng, tính chiến đấu và nhiệm vụ phục vụ chính trị Tất nhiên, giờ đây yêu cầu phục vụ chính trị có nội dung khác: Ca ngợi công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc vã cổ vũ cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam

- Văn học đợc chỉ đạo chặt chẽ bởi một nền lý luận Mác - xít xây dựng trên các nghị quyết của Đảng về văn hoá văn nghệ, trên những bài phát biểu của Hồ Chí Minh, Trờng Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Tố Hữu…, trên những công trình của một đội ngũ các nhà văn lý luận, phê bình hình thành ngày càng đông từ sau vụ Nhân văn và trên những sách vở lý luận của Liên Xô, Trung Quốc đợc dịch và giới thiệu ngày một nhiều hơn Giờ đây, yêu cầu đặt ra đối với văn học nghệ thuật là phải nêu cao tính Đảng và phải sáng tác theo phơng pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, mà nhiệm vụ cốt yếu là khẳng định con ngời mới, con ngời xã hội chủ nghĩa, nhân văn điển hình là thời đại cách mạng vô sản

- Trong điều kiện miền Bắc đợc giải phóng, Đảng chủ trơng đẩy mạnh cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, trong đó cách mạng t tởng và văn hoá có trách nhiệm đi đầu Thực hiện cuộc cách mạng này, một yêu cầu đặt ra là phải xây dựng một nền văn học xã hội chủ nghĩa phát triển toàn diện, có quy mô lớn với phẩm chất nghệ thuật cao Phấn đấu theo phơng ấy, nền văn học có sự mở rộng rõ rệt về đề tài, có

sự phát triển khá cân đối trên hầu hết các thể loại Nhiều nhà văn ôm ấp những ý

đồ lớn Nhiều tác phẩm dài hơn, nhiều bộ tiểu thuyết đồ sộ lần lợt ra đời

1.4 1964 - 1975: Văn học trong cao trào chống Mỹ cứu nớc

Ngày 5 - 8 - 1964, giặc Mỹ đem tàu chiến và không quân ra đánh phá miền Bắc

n-ớc ta Từ 1965, cuộc kháng chiến chống Mỹ bùng nổ trong cả nn-ớc

a Trong những ngày này, lịch sử đợc chứng kiến một cuộc ra quân đồng loạt cha từng có của giới văn nghệ sĩ Một cuộc ứng chiếm kịp thời dờng nh cũng nổ song cùng một lúc với pháo binh, không quân, hải quân, mà không phải bằng hình thức văn nghệ quần chúng thô sơ nh hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp Đây là đội quân văn nghệ tinh nhuệ đã đợc rèn luyện qua hai thập kỷ Còn nguồn cảm hứng thì đã đợc hun đúc từ hàng nghìn năm lịch sử chống giặc ngoại xâm Cha bao giờ truyền thống yêu nớc, tinh thần dân tộc đợc khai thác một cách sâu sắc và đầy ý

nghĩa nh thế để tăng cờng sức mạnh chiến đấu Tố Hữu viết: “Bốn mơi thế kỷ cùng

ra trận”

Hầu nh mọi thể loại đều ra quân Nhng nhạy bén nhất, mau lẹ nhất vẫn là ký và thơ Không phải chỉ Nguyễn Tuân, mà các nhà tiểu thuyết, các nhà thơ nh Tô Hoài,

Trang 23

Bùi Hiển, Nguyễn Khải, Chế Lan Viên, Xuân Diệu… cũng viết ký Ký có lúc đợc coi là thể tài quan trọng nhất, sáng giá nhất

Còn thơ thì các thế hệ đều có mặt và có đóng góp dồi dào Nhng đáng chú ý là sự xuất hiện của một thế hệ mới: những nhà thơ trực tiếp cầm súng Họ không phải là

những dân cày mặc áo lính năm xa nh trong những bài Cá nớc, Đồng chí, Nhớ

của Tố Hữu, Chính Hữu, Hồng Nguyên….mà là những học sinh, sinh viên cầm súng và làm thơ Họ tạo ra một tiếng thơ rất mới mẻ: trẻ trung, tơi nhộn, thông minh, rất có ý thức về nhiệm vụ lịch sử của mình, đồng thời cũng rất có ý thức về tiếng thơ riêng của thế hệ mình Họ là những Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Mỹ, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ…Họ đã tạo ra một giọng thơ riêng rất đặc trng cho tâm hồn của lính thời chống Mỹ

Một đặc điểm của văn học thời chống Mỹ là có sự phát triển song song của văn học hai miền Nam Bắc Đặc điểm này không phải trớc kia không có Từ đầu những năm 60, miền Bắc đã đợc đọc những vần thơ đầy xúc động của Ngọc Anh, Giang Nam, Thanh Hải…từ miền Nam gửi ra Nhng từ 1965, trong cao trào cả nớc ra trận, sự nghiệp đồng văn nghệ giữa hai miền Nam Bắc mới thật sự sôi nổi Đó là vì miền Bắc đã chi viện vào Nam, liền sau phong trào đồng khởi (1960), một loạt cây bút tài năng: Nguyễn Thi (Nguyễn Ngọc Tấn), Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc), Lê Anh Xuân (Ca Lê Hiến), Dơng Hơng Ly (Bùi Minh Quốc), Phan Tứ (Lê Khâm), Trần Hiếu Minh ( Trần Văn Bổng), Anh Đức (Bùi Đức Ái), Nguyễn Sáng (Nguyễn Quang Sáng)…

b Nhìn chung văn học trong cao trào chống Mỹ có những đặc trng cơ bản sau đây: Toàn bộ nền văn học từ Bắc chí Nam đợc huy động tổng lực vào cuộc chiến đấu

Đề tài tập trung: chống Mỹ Chủ đề tập trung: ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng

Cảm hứng sử thi đợc phát huy hơn bao giờ hết Lời văn là lời truyền hịch Ngôn từ sang sảng Hình ảnh chói lọi Giọng điệu hùng hồn

Cuộc đụng đô lịch sử với tên đế quốc lớn nhất, hùng mạnh và hiện đại nhất trên thế giới đã đa dân tộc và nghệ sĩ lên đỉnh cao của lịch sử dân tộc và thời đại Từ thế đứng đó, tầm mắt nhà văn, nhà thơ muốn bao quát cả chiều dài của lịch sử bốn nghìn năm, từ Thạch Sanh, Thánh Gióng, đến Đình, Lý, Trần, Lê, và chiều rộng bát ngát của thời đại

Kết hợp với truyền thống dân tộc và tinh thần thời đại, ấy là tầm vóc cái tôi trữ tình phong trào và t thế nhân vật anh hùng trong truyện ký thời chống Mỹ

I.3.2 Đánh giá trên nét lớn thành tựu của văn học Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945

1 Những thành tựu lớn và một số hạn chế của văn học giai đoạn 1945 - 1975

a Trớc hết phải khẳng định, văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ lịch sử của mình Ấy là nhiệm vụ cổ vũ cho cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc Nói đến chiến thắng vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của dân tộc, không thể không nói đến công lao to lớn của văn học nghệ thuật, với những vần thơ đã đốt lên và nuôi dỡng ngọn lửa lý tởng để con ngời có thể vợt lên mọi thử thách ác liệt, với những áng văn có sức thôi thúc nh tiếng kèn trận, nh lời truyền hịch…Cha bao giờ sức mạnh chiến đấu của văn chơng lại đợc

Trang 24

phát huy mạnh mẽ nh thế Đúng nh nhận định của Ban chấp hành Trung ơng tại

Đại hội Đảng lần thứ t: Văn học 1945 - 1975 “xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên

phong của những nền văn học nghệ thuật chống đế quốc trong thời đại ngày nay”

b Một đóng góp cũng hết sức to lớn của nền văn học 1945 -1975 là đã đào tạo ra đợc một đội ngũ nhà văn rất đông đảo, bao gồm nhiều thế hệ: thế hệ “tiền chiến” đ-

ợc cải tạo, thế hệ thời chống Pháp, thế hệ sau chiến thắng Điện Biên Phủ và thế hệ thời chống Mỹ đợc phát hiện và bồi dỡng từ phong trào văn học quần chúng, đặc biệt là trong quân đội

Ba mơi năm chiến tranh giải phóng dân tộc vô cùng gian khổ và ác liệt đã đem đến cho họ biết bao trải nghiệm vô giá, có thể coi là một tiềm lực hết sức hùng hậu để

có thể sáng tạo lâu dài

C.Trên tiến trình vận động và phát triển của lịch sử văn học dân tộc, văn học 1945

- 1975 đã tiếp nối và phát huy mạnh mẽ những truyền thống t tởng lớn của văn học qua hàng nghìn năm dựng nớc và giữ nớc, đặc biệt là truyền thống yêu nớc và chủ nghĩa anh hùng

Dân tộc vừa giành đợc độc lập, tự do sau hơn 80 năm nô lệ, nên yêu nớc trớc hết gắn với niềm tự hào đợc làm chủ giang sơn, Tổ quốc của mình Nhìn đất nớc với tinh thần ấy, đất nớc càng tơi đẹp bội phần Cách mạng dân tộc dân chủ và lý tởng chủ nghĩa lại đem đến cho các nhà văn quan niệm đất nớc nhân dân Đất nớc đợc nhân dân xây dựng và bảo vệ bằng mồ hôi, nớc mắt và máu của mình qua trờng kỳ lịch sử Đó là chủ đề của hàng loạt bài thơ và nhiều trang truyện viết về đất nớc trong giai đoạn văn học này

Đất nớc bị xâm lợc, tất nhiên yêu nớc phải thể hiện ở hành động chiến đấu hy sinh,

ở chủ nghĩa anh hùng Cuộc chiến tranh nhân dân đợc phát huy cao độ đã tạo nên trên đất nớc này một chủ nghĩa anh hùng phổ biến trong toàn dân - ấy là cái thời

“ra ngõ gặp anh hùng” - cho nên ngời đàn bà con mọn cũng hăng hái cầm súng, những em nhỏ cũng muốn lập chiến công, những mẹ già cũng tham gia chiến đấu

Cả nớc trở thành chiến sĩ

Thâm nhập vào thực tế đó để thẩu hiểu cả phản ánh, ngời cầm bút trong giai đoạn văn học này cũng thật sự là những chiến sĩ, những anh hùng Trong nhiều trờng hợp, họ không phải chỉ là những nhà văn - chiến sĩ mà thực sự là những ngời cầm

súng Nam Cao nói: “ Sống đã rồi hãy viết”,biết bao cây bút đã ngã xuống giữa

chiến trờng nh những ngời cầm súng dũng cảm nhất: Trần Đăng, Nam Cao, Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân, Nguyễn Mỹ, Dơng Thị Xuân Quý … Chính vì thế mà ngòi bút của họ đã thực sự là những cây súng

Một trong những truyền thống của văn học dân tộc ta là chủ nghĩa nhân đạo Chủ nghĩa nhân đạo truyền thống thể hiện chủ yếu là ở lòng thơng ngời nghèo khổ, bất hạnh, ở sự phát hiện nơi những con ngời “tầm thờng” ấy những đức tính cao quý ,

ở sự đấu tranh cho quyền sống, quyền hởng hạnh phúc của họ, chống lại những thể lực thống trị độc ác

Văn học 1945 - 1975 đã đem đến cho nội dung nhân đạo nói trên những khía cạnh mới: hớng hẳn về nhân dân lao động, thể hiện những nỗi bất hạnh của họ trong xã hội cũ theo quan điểm giai cấp, phát hiện ở họ khả năng cách mạng, phẩm chất anh hùng Mặt khác đề cao lao động Lao động cũng là một biểu hiện của chũ nghĩa

Trang 25

anh hùng trên mặt trận sản xuất và xây dựng đất nớc Lao động trở thành đối tợng thẩm mỹ của nền văn học mới

Trong chiến tranh, chủ nghĩa nhân đạo trớc hết cũng phải phát huy tính chiến đấu

Nó đốt lên ngọn lửa căm thù đối với bọn cớp nớc Ta hiểu vì sao Chế Lan Viên đã

viết những vần thơ thật dữ dội để Hoan hô cái hầm chông mà ông gọi là “Cái hầm

chông nhân đạo”

Văn học chiến tranh không tránh khỏi tinh thần khắc khổ Ngời cầm bút không thể nói nhiều đến yêu cầu hởng thụ, hởng lạc, đến hạnh phúc cá nhân Đây là những năm tháng mà hạnh phúc phải định nghĩa bằng sự hy sinh - lời định nghĩa nhiều

khi phải viết bằng máu và nớc mắt (Bài thơ về hạnh phúc của Bùi Minh Quốc)

Tuy vậy, văn học giai đoạn này không phải hoàn toàn không nói đến tình yêu và hạnh phúc, có điều tình yêu phải gắn với tình bạn chiến đâu, với tình đồng chí, tình

Tổ quốc

d Văn học giai đoạn 1945 - 1975 đã đạt tới nhiều thành tựu về nghệ thuật trên các thể loại khác nhau

Từ 1945 đến 1975, văn học Việt Nam ngày càng phát triển cân đối toàn diện hơn

về mặt thể loại sáng tác, nhất là khi miền Bắc đợc giải phóng (1954) Từ 1960, có thể nói, nền văn học ta hầu nh không thiếu một thể văn nào: truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết bộ ba, bộ bốn; các loại ký: ký sự, truyện ký, bút ký, nhật ký, tuỳ bút; các loại thơ: thơ trử tình, thơ trào phúng, truyện thơ, trờng ca…với đủ các thể

từ tứ tuyệt, trờng thiên, lục bát, song thất lục bát, thất ngôn, thơ tự do, đến trữ tình chính luận với những dòng thơ có khi mở rộng tới hơn hai mơi âm tiết…Kịch bản sân khấu cũng đủ loại Ngoài ra cũng coa kịch bản phim nữa Tất nhiên do hoàn cảnh lịch sử, cũng có những thể văn bị teo đi, nh thể phóng sự thể văn trào phúng kiểu Nguyễn Công Hoan…

Nhng thành tựu của văn học nghệ thuật không quyết định ở hình thức thể loại hay

ng tác phẩm hầu hết chỉ có giá trị tuyên truyền nhất thời tuy cực kỳ quan trọng Từ khoảng 1958 đến 1964 có sự phát triển phong phú và tơng đối đồng bộ về thể loại văn học, nhng giá trị hơn cả vẫn là thơ, truyện ngắn, truyện vừa, bút ký, tuỳ buta Đây là thời kỳ hồi sinh mạnh mẽ của hàng loạt nhà thơ “tiền chiến” ( Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tế Hạnh…).Văn xuôi phát triển mạnh với những cây bút thuộc các thế hệ khác nhau nh: Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tởng, Kim Lân, Bùi Hiển, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Thế Phơng, Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải, Hữu Mai, Lê Khâm, Nguyễn Kiên, Đào Vũ, Vũ Thị Thờng…

Từ 1965 đến 1975, một cao trào sáng tạo phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ trong cả nớc đợc phát động Trong số các nhà thơ lớp trớc nổi trội lên Tố Hữu, Chế

Trang 26

Lan Viên Đây là thời kỳ ra đời hàng loạt nhà thơ trẻ có giọng điệu riêng của một thế hệ mới: Thu Bồn, Lê Anh Xuân, Bùi Minh Quốc, Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh, Nguyễn Khoa Điềm, Lu Quang Vũ, Nguyễn Mỹ, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Vũ Quần Phơng, Nguyễn Đức Mậu, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ, Trần Đăng Khoa, Hữu Thỉnh, Ý Nhi… Về văn xuôi, nổi trội hơn cả trong thời gian này là Nguyễn Khải, Chu Văn, Nguyễn Minh Châu, Đỗ Chu, Nguyên Ngọc (Nguyễn Trung Thành), Nguyễn Thi, Phan Tứ, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức…

Từ khoảng đầu những năm 60 trở đi, ngời ta thấy xuất hiện một số bộ tiểu

thuyết nhiều tập: Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, Cửa biển của Nguyễn Hồng, Những

ngời thợ mỏ của Võ Huy Tâm, Bão biển của Chu Văn, Vùng trời của Hữu Mai…

Những bộ tiểu thuyết này đã dựng nên đợc những bức tranh hoành tráng về lịch sử cách mạng Việt Nam Nhìn chung, không có tác phẩm nào đạt tới chất lợng nghệ thuật cao Đồ sộ hơn cả là bộ tiểu thuyết bốn tập Cửa biển của Nguyên Hồng Kịch nói từ 1945 đến 1975 càng ngày càng trởng thành và phát triển Đáng chú ý hơn cả

là tác phẩm của Nguyễn Huy Tởng, Học Phi, Đào Hồng Cầm, Nguyễn Vũ, Xuân Trình, Tất Đạt… Nhìn chung, thành tựu của kịch nói cha phong phú và cũng cha đạt đợc chất lợng cao

Nói đến các thể loại văn học hiện đại không thể không kể đến lý luận phê bình Ngành văn học này phát triển mạnh từ khoảng trớc sau 1960 trở đi Lý luận văn học Mác-xít đợc giới thiệu tơng đối có hệ thống Phê bình văn học xét về số l-ợng, thành tựu không nhỏ, nhng chất lợng nói chung cha cao Có giá trị hơn cả là một số công trình thiên về bình văn, giảng văn hoặc phân tích, miêu tả phong cách nghệ thuật của nhà văn một cách tinh tế, tài hoa

đ Sau Cách mạng tháng Tám, Đảng rất chú ý đến việc thực hiện chính sách dân tộc trong lĩnh vực văn hoá Đi đôi với việc su tầm, khảo cứu, phiên dịch để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá, văn nghệ truyền thống của các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam (lần đầu tiên độc giã rộng rãi đợc biết đến những thiên sử thi kiệt tác của dân tộc Ê đê (Đam San), của dân tộc Gai rai (Xinh Nhã), của dân tộc Mờng (Đẻ đất, đẻ nớc), những truyện thơ cảm động của ngời Thái (Xống chụ xôn xao - Tiễn dặn ngời yêu), của ngời Tày (Khảm hải - Vợt biển…), Đảng rất chú ý đến việc phát hiện và bồi dỡng những cây bút của các dân tộc ít ngời: Bàn Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn, Vi Hồng, Y Phơng…

e Văn học giai đoạn 1945 - 1975, bên cạnh những thành tựu to lớn cũng có một số hạn chế

- Nhiều tác phẩm thể hiện con ngời và cuộc sống một cách đơn giản, xuôi chiều, phiến diện Nhợc điểm này khó tránh khỏi đối với một nền văn học phục vụ kháng chiến Để động viên chiến đấu, tất nhiên phải nói nhiều đến thuận lợi hơn là khó khăn, đến chiến thắng hơn là thất bại, đến thành tích hơn là tổn thất, đến cái vui hơn là nỗi đau cái buồn, đến hy sinh hơn là hởng thụ Trớc sự sống còn của Tổ quốc và sự đối đầu quyết liệt giữa ta và địch, con ngời tất nhiên phải đợc thể hiện

và đánh giá chủ yếu ở thái độ chính trị, ở t cách công dân, các phơng diện khác không thể đi sâu Trong hoàn cảnh đó những hiện tợng tiêu cực nội bộ cũng không nên đề cập đến nhiều Thêm vào đó, nhận thức ấu trĩ của nhiều cay bút về quan điểm giai cấp khiến sự thể hiện con ngời càng giản đơn, sơ lợc: ngời anh hùng

Trang 27

không thể có tâm lý phức tạp, con ngời chỉ có tính giai cấp không thể có tính nhân loại phổ biến…

- Yêu cầu về phẩm chất nghệ thuật của tác phẩm nhiều khi cũng phải nhân nhợng; cá tính, phong cách riêng của nhà văn cha đợc phát huy mạnh mẽ Văn học phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu tất nhiên phải sáng tác kịp thời, nhiều khi không thể chờ đợi có cảm hứng và nói chung nhà văn không có điều kiện để hoàn toàn chọn lựa đề tài phù hợp với t tởng riêng, sở trờng và vốn sống riêng của mình Điều đó không thể không hạn chế cá tính sáng tạo của nhà văn và phẩm chất nghệ thuật của tác phẩm (cố nhiên sáng tác kịp thời vẫn có thể đạt đợc giá trị nghệ thuật cao nếu đầy đủ cảm hứng và đề tài phù hợp với sở trờng của ngời cầm bút)

Ngoài ra, quan niệm hời hớt và sự vận dụng máy móc phơng pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa của một số cây bút, biến nó thành một hệ thống ớc lệ, công thức và phi ngã cũng có ảnh hởng không nhỏ tới sự phát huy cá tính sáng tạo và phong cách riêng của nhà văn

Những hạn chế trên đây do hoàn cảnh chiến tranh cũng có, do nhận thức ẩu trĩ của lãnh đạo văn nghệ, của giới sáng tác và lý luận phê bình cũng có Ngoài ra còn do những luồng ảnh hởng tiêu cực của t tởng văn nghệ lệch lạch du nhập từ bên ngoài Tuy nhiên, văn học nghệ thuật, do đặc trng và vì lợi ích của bản thân nó, luôn luôn phải gắn với cuộc sống Cuộc sống sinh động, đa dạng, nhiều chiều tác động tới

nó, đã giúp nhà văn, nhiều khi, một cách hồn nhiên, khắc phục đợc những nhợc

điểm nói trên ở những mức độ khác nhau

Phải đặt trong hoàn cảnh ấy mới hiểu đợc giá trị những thành tựu nó đạt đợc, không chỉ bằng tâm huyết mà còn bằng xơng máu của ngời cầm bút

50 năm phát triển, nền văn học mới đã từng bớc xây dựng đợc một đội ngũ nhà văn hùng hậu, giàu trải nghiệm và tài năng, một công chúng đông đảo cha từng có trong lịch sử, trình độ văn hoá, thẩm mỹ ngayg càng đợc nâng cao, một hệ thống thể loại sáng tác tơng đối toàn diện và cân đối, và trên mỗi thể loại đều ghi nhận đ-

ợc nhngc tác giả, tác phẩm xuất sắc, nhất là về thơ và truyện ký… Đội ngũ phê bình tuy không mạnh lắm, nhng cũng có một số tài năng

Từ 1975, nhất là từ 1986 đến nay, cùng với đất nớc, nền văn học bớc vào công cuộc đổi mới Yêu cầu hiện đại hoá và dân tộc hoá đặt ra bức thiết trên một tầm cao mới

Đất nớc mở cửa với các nền văn hoá trên thế giới Đấy là một điều kiện thuận lợi

để nền văn học ta có thể thu hút những tinh hoa thế giới, tiến lên nhịp bớc với những nền văn học hiện đại nhất cửa nhân loại

Trang 28

Tuy nhiên, mọi ý đồ hiện đại hoá chỉ có đạt tới thành công khi dựa chắc trên cơ sở truyền thống

Về mặt này, chúng ta đã có những bài học quý báu của ông cha: dù phải chịu áp lực ghê gớm đến thế nào của những “đế quốc văn hoá” lớn, quốc gia Đại Việt cuối cùng cũng có nền văn học riêng bằng tiếng bản địa với những kiệt tác bất hủ Bản lĩnh ấy, xét đến cùng là do truyền thống tinh thần mạnh mẽ, sâu sắc, đợc bồi đắp lâu đời của ngời Việt: lòng yêu nớc, tinh thần dân tộc Nhờ đó, dân tộc ta mới có thể tồn tại và phát triển, dù luôn luôn phải chống chọi với những tên xâm lợc vào loại hùng mạnh nhất thế giới

Truyền thống ấy càng đợc phát huy mạnh mẽ qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đợc phản ánh sâu sắc trong nền văn học mới nửa thế kỷ qua

Với truyền thống ấy, dân tộc ta chắc chắn sẽ xây dựng thành công trong thế kỷ mới một nền văn học vừa tiên tiến, hiện đại vừa giàu bản sắc dân tộc

Trang 29

CHƯƠNG II THƠ 1945 - 1975

2.1 CÁC CHẶNG ĐỜNG THƠ TỪ 1945 ĐẾN 1975

1 1945 - 1954: Những năm đầu cách mạng và trong kháng chiến chống Pháp

Cách mạng, rồi tiếp đó là cuộc kháng chiến chống Pháp đã khơi nguồi cho những cảm hứng rất mới trong thơ, làm đổi thay cả diện mạo và đặc điểm của nền thơ

1.1.Quá trình phát triển của thơ 1945 - 1954

Trong hơn một năm đầu cách mạng, thơ ca tràn đầy cảm hứng lãng mạn công dân,

say sa ngợi ca cuộc hồi sinh của đất nớc và niềm vui sớng trong độc lập tự do -

Huế tháng Tám của Tố Hữu, Tình sông núi của Trần Mai Ninh, Ngọn quốc kì của

Xuân Diệu…, là những thi phẩm tiêu biểu đã ghi lại không khí lịch sử và trạng thái tinh thần của thời đại Từ cuối 1946, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã lan rộng ra toàn quốc, thơ cũng nhanh chóng hớng đến những hình ảnh, sự việc và con ngời kháng chiến Trong mấy năm đầu của cuộc kháng chiến, thơ là thể loại nổi trội và phong phú hơn cả; cũng nh mọi lĩnh vực hoạt động văn hoá tinh thần khác thơ đã đợc huy động vào cuộc chiến đấu của dân tộc, trở thành một vũ khí lợi hại, đồng thời cũng là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của

con ngời Việt Nam kháng chiến Nhà phê bình Hoài Thanh, trong cuốn Nói

chuyện thơ kháng chiến (1952) đã nhận xét: “Con ngời kháng chiến lo lắng hồi

hộp, chờ đợi hi vọng, phấn khởi, sống dồn trong một hai năm nhiều hơn trong những cuộc sống nhạt kéo dài trong hàng thế kỷ Do đó cần phải có thơ Các nhà thơ, làm thơ, anh cán bộ chính trị, anh quân sự, anh công an, anh bình dân học vụ, anh thôn tin, anh đội viên binh nhì, anh hoả thực, các chị phụ nữ, các em thiếu nhi, hết tảy đều làm thơ”

Chỉ trong môt thời gian ngắn tới năm 1948 trong thơ kháng chiến đã xuất hiện

không ít thi phẩm tiêu biểu của thơ kháng chiến: Cảnh khuya, Nguyên tiêu, Báo

tiệp của Hồ Chí Minh, Tây tiến của Quang Dũng, Bên kia sống Đuống của Hoàng

Cầm, Đồng Chí của Chính Hữu, Cá nớc và Phá Đờng của Tố Hữu, Lên Cấm Sơn

của Thôi Hữu…

Bớc vào cuộc kháng chiến, cảm hứng lãng mạn trong thơ hơn một năm đầu cách mạng đợc tiếp nối bằng cảm hứng lãng mạn anh hùng của những con ngời đi vào cuộc chiến đấu với tinh thần “Chiến trờng đi chẳng tiếc đời xanh” (Quang Dũng) Hớng khai thác cảm hứng lãng mạn anh hùng đã tìm thấy đại biểu xuất sắc nhất là Quang Dũng Quang Dũng có một hơi thơ vừa cổ kính vừa hiện đại, một bút pháp

vừa táo bạo, tung hoành, vừa kinh tế, tài hoa, trong đó Tây tiến đợc xem là thi

phẩm độc đáo, toàn bích hiếm có của nền thơ kháng chiến

Thơ Nguyễn Đình Thi trong những năm đầu kháng chiến là một hiện tợng đáng chú ý, mở ra một hớng tìm tòi cách tân cho thơ Đề cao vai trò của cảm xúc và coi trọng hình ảnh trong thơ, Nguyễn Đình Thi hớng tới biểu hiện thứ nhạc bên trong, không phải nhạc điệu của chữ và lời mà là thứ nhịp điệu của tình ý và hình ảnh, có thể vang lên ở cả những khoảng trống giữa các chữ

Trang 30

Ý thức tìm tòi tiếng nói nghệ thuật mới của thời đại có nhiều biến động dữ dội cùng với quan niệm thơ nh trên tất yếu sẽ dẫn Nguyễn Đình Thi đến thứ thơ hớng nội và lối thơ tự do không vần hoặc rất ít vần

Các bài thơ đợc viết trong khoảng những năm 1948 - 1949 của Nguyễn Đình Thi

(Sáng mát trong nh sáng năm xa, Đêm mít tinh, Chia tay, Không nói, Đờng núi…)

đã minh chứng cho quan niệm và hớng tìm tòi của tác giả Sự tìm tòi của Nguyễn Đình Thi đã có tác dụng thúc đẩy xu hớng tự do hoá hình thức thơ và sự phát triển của thơ tự do, thơ không vần trong giai đoạn sau của nền thơ Việt Nam hiện đại Trong cuộc thảo luận về thơ do Hội Văn nghệ Việt Nam tổ chức ở Việt Bắc năm

1949, thơ Nguyễn Đình Thi đã đợc đem ra phân tích, phê bình Hầu hết các ý kiến đều phê phán gay gắt thơ Nguyễn Đình Thi, chí ít thì hoài nghi xu hướng tìm tòi của tác giả, bởi vì nó đi ngợc với phương châm đại chúng hoá của nền văn nghệ,

nó xa lạ với đại chúng, nói nhiều tâm sự riêng, khó hiểu, lại không có vần, quần chúng không thể tiếp nhận đợc Cách nhìn ấy đối với thơ Nguyễn Đình Thi cũng

nh đối với một số hiện tượng tìm tòi khác trong thơ hồi đầu kháng chiến là một hạn chế rất đáng tiếc

Đại chúng hoá là xu hớng mà nhiều nhà thơ đã tìm đến ngay từ những năm đầu của cuộc kháng chiến và nó sớm trở thành khuynh hớng chủ đạo trong thơ ca giai đoạn này Tố Hữu là một trong những ngời mở đầu cho xu hớng này bằng một loạt bài thơ đợc viết ngay sau chiến thắng Việt Bắc cuối năm 1947 và liên tiếp trong vài

năm sau đó, những bài Cá nước, Phá đường, Bầm ơi, Voi, Bà mẹ Việt Bắc… của

ông đã đem đến cho thơ ca kháng chiến một mạch thơ thật bình dị, hồn nhiên, trong sáng, với tiếng nói và hình ảnh chân thực của quần chúng kháng chiến không cần tô vẽ hay mỹ lệ hoá, rất gần gũi với tiếng thơ hồn nhiên của tác giả quần chúng Không chỉ biến đổi về ngôn ngữ, giọng điệu, cách nói mà Tố Hữu còn tìm đến một tâm thế trữ tình mới hớng vào khẳng định, ngợi ca nhân vật quần chúng

bằng cách sáng tạo kiểu trữ tình nhập vai hoặc để “cái tôi” nhà thơ lùi lại phía sau

làm nổi bật hình ảnh quần chúng

Xu hớng đại chúng hoá đã thu hút nhiều cây bút thuộc nhiều thế hệ khác nhau, từ các nhà thơ của phong trào Thơ Mới đến các tác giả trởng thành từ phong trào quần chúng Thành tựu của thơ kháng chiến những năm đầu theo hớng này còn có

thể kể nhiều trờng hợp nữa: Lên Cấm Sơn của Thôi Hữu, Bài ca vỡ đất và Bao giờ

trở lại của Hoàng Trung Thông, Viếng bạn (vẫn đợc coi là của Hoàng

Lộc)…Riêng Hoàng Cầm với Bên kia sông Ngày về đến Đồng chí và những bài

thơ tiếp theo cũng là một trờng hợp rất tiêu biểu cho sự chuyển biến theo hớng đa thơ trở về với đời sống của quần chúng kháng chiến, tìm chất thơ trong cái bình dị, bình thờng

Phong trào sáng tác thơ, ca dao, hò, vè của quần chúng tiếp tục phát triển sôi nổi và rộng khắp: Thơ báng súng của bộ đội, thơ ca trên báo tờng, báo liếp, báo tay của các cơ quan, đơn vị, câu hò tiếp vận của dân công, ca dao phát động quần chúng của nông dân trong đấu tranh giảm tô cải cách ruộng đất…Các nhà thơ lớp trớc cách mạng cũng chuyển hẳn sang viết những bài thơ cũng học theo lối thơ đại

chúng: Xuân Diệu có Bà cụ mù loà, Tặng làng còng và tập Mẹ con đợc viết trong thời gian đi tham gia phát động quần chúng Ở Thanh Hoá, Chế Lan Viên viết Bữa

cơm thờng trong bản nhỏ, Nhớ lấy để trả thù, Nguyễn Bính ở Nam Bộ có hai bài

Trang 31

thơ dài Đồng Tháp Mời và Ông lão mài gơm, Tế Hanh kể chuyện Ngời đàn bà

Ninh Thuận….Với các nhà thơ trởng thành từ phong trào quần chúng hoặc hoạt

động ở cơ sở thì ngay từ đầu họ đã tìm đợc tiếng nói trữ tình của quần chúng và đóng góp cho thơ kháng chiến nhiều tác phẩm tiêu biểu: Hoàng Trung Thông với

tập Quê hơng chiến đấu, Trần Hữu Thung có Thăm lúa, Minh Huệ với bài Đêm

nay Bác không ngủ, Hông Nguyên với Nhớ, Hồ Vy có Lời quê… Các nhà thơ dân

tộc thiếu số nh Nông Quốc Chấn, Bàn Tài Đoàn, đã đem đến cho thơ kháng chiến tiếng thơ độc đáo, hồn nhiên, mang bản sắc dân tộc mình…Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và Hội nghị Giơnevơ thành công, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, thổi vào trong thơ luồng cảm hứng sử thi hào hùng với lòng tự hào dân tộc và niềm vui chiến thắng đồng thời cũng thúc đẩy các nhà thơ sáng tạo những bài thơ theo hớng khái quát, tổng hợp, nhìn lại cả chặng đờng

kháng chiến và suy ngẫm về dân tộc, về lịch sử cách mạng: Hoan hô chiến sĩ Điện

Biên, Ta đi tới, Việt Bắc của Tố Hữu, Quê hơng Việt Bắc và Đất nớc của Nguyễn

Đình Thi Xu hớng này sẽ còn đợc tiếp tục phát triển trong thơ những năm sau

cuộc kháng chiến chống Pháp

1.2 Những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của thơ (1945 - 1954)

a Lòng yêu nớc và tinh cảm bao trùm và sâu rộng nhất, nó gắn bó mọi con ngời Việt Nam trong một khối thống nhất của tình đồng bào đã có từ ngàn xa, nay lại càng thắm thiết hơn trong cách mạng và kháng chiến Trong thơ, tình cảm ấy đợc thể hiện cụ thể thành muôn nghìn trạng thái Đó là tình cảm thiết tha và nỗi nhớ da diết về một quê hơng Kinh Bắc trù phú tơi đẹp đang bị giày xéo dới gót giày của

quân xâm lợc (Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm), hay một “Xứ Đoài mây trắng

lắm” (Mắt của Sơn Tây của Quang Dũng), mùa thu Hà Nội với hơng cốm mới và

“những phố dài xao xác hơi may” trong thơ Nguyễn Đình Thi, mảnh đất miền Đông trong thơ Xuân Miễn, Đồng Tháp Mời trong thơ Nguyễn Bính…Đó là tình cảm gắn bó tiền tuyến với hậu phơng, quân với dân nh cá với nớc đã đợc nói lên rất chân thực và cảm động trong thơ Hoàng Trung Thông (Bao giờ trở lại), Hồng Nguyên (Nhớ), trong một Lời quê chân chất của Hồ Vy, nó cũng thấm sâu vào tình

mẹ con của những ngời mẹ nông dân với đứa con về quốc dân (Bầm ơi, Bà Bủ của

Tố Hữu), và nổi nhớ thơng mong đợi của ngời vợ với ngời chồng đi chiến đấu (Thăm lúa của Trần Hữu Thung) Đó là nghĩa tình gắn bó và lòng biết ơn sâu nặng của ngời cán bộ kháng chiến với đồng bào Việt Bắc qua bao năm tháng cùng chia

sẽ đắng cay ngọt bùi, là tình đoàn kết miền ngợc với miền xuôi, là lòng kính yêu

vô vàn của nhân dân chiến sĩ với vị lãnh tụ của dân tộc mà gần gũi: “Ngời là Cha,

là Bác, là Anh”.Lòng yêu nớc đi với lòng căm thù quân giặc cớp nớc, ý chí chiến đấu và chủ nghĩa anh hùng, trong cuộc kháng chiến, tinh thần lạc quan, vợt lên mọi gian khổ, hi sinh, là niềm tin vào chiến thắng Lòng yêu nớc còn thể hiện trong một biểu hiện không thể thiếu, đó là tinh thần tự hào dân tộc luôn gắn với ý thức làm chủ của nhân dân Đã không ít lần trong thơ ca kháng chiến vang lên những lời

khẳng định đầy tự hào: “ Trời xanh đây là của chúng ta, Núi rừng đây là của

chúng ta” (Nguyễn Đình Thi), “Của tra trời đất, đêm nay, Núi kia, Đồi nọ, Sông nay của ta’ “Mây của ta, trời thắm của ta” (Tố Hữu)

Trang 32

b Thơ hớng vào thể hiện tình cảm quần chúng nhân dân qua hình tợng cái “tôi”

trữ tình quần chúng và các nhân vật trữ tình Cách mạng không chỉ giải phóng cho

đông đảo quần chúng nhân dân mà phải dựa hẳn vào lợc lợng quần chúng, phát huy sức mạng vĩ đại và tiềm năng cách mạng của quần chúng để thực hiện đợc sự nghiệp lớn lao Trong thơ kháng chiến, hình ảnh con ngời quần chúng đã xuất hiện ngay từ buổi đầu và ngày càng đông đảo, đa dạng, chân thực, làm biến đổi hẳn các dạng thức của cái “tôi” trữ tình và nhân vật trữ tình

Một trong những thành tựu quan trọng nhất của Thơ Mới 1932 - 1945 là việc sáng

tạo hình tợng cái “tôi” trữ tình cá nhân, đại diện và ngời phát ngôn đầy đủ cho ý

thức cá nhân, và con ngời cá nhân - cá thể của thời đại Đến thơ kháng chiến, để thể hiện trực tiếp con ngời quần chúng, các nhà thơ đã sáng tạo

hình tợng cái “tôi” trữ tình quần chúng và đó là dạng hình thức phổ biến và tiêu biểu nhất của cái “tôi”

trữ tình trong thơ thời kỳ này Với các cây bút từ trong phong trào quần chúng thì

lẽ tự nhiên tiếng nói trữ tình của họ đã là tự biểu hiện của quần chúng đợc chọn lọc

và nâng cao Còn với các nhà thơ chuyên nghiệp, để nói đợc tiếng nói, tâm tình, ý

nghĩ của quần chúng, nhiều ngời đã tìm đến phơng thức trữ tình “nhập vai” quần chúng Đó là các cách mà Tố Hữu đã sử dụng rất thành công trong Phá đờng, Bầm

ơi, Hồng Nguyên trong Nhớ, Hoàng Trung Thông trong Bài ca vỡ đất Cũng có

những trờng hợp mà chủ yếu là chặng đờng đầu của thơ kháng chiến, cái “tôi” tác

giả vẫn xuất hiện trong bài thơ, nhng chỉ nh một đờng viền hay cái nền để làm nổi

bật hình ảnh quần chúng ở trung tâm chú ý của bài thơ (Cá nớc, lên Tây Bắc của

Tố Hữu, Lên Cấm Sơn của Thôi Hữu, Ngời đàn bà Ninh Thuận của Tế Hanh) Cái

“tôi” tác giả ở đây không nhằm tự biểu hiện mình mà chủ yếu là để hớng tới nhân

vật quần chúng, biểu hiện lòng yêu mến, cảm phục hay ngợi ca những con ngời ấy Nhân vận quần chúng trong thơ kháng chiến là một thế giới nhân vật phong phú, thuộc nhiều tầng lớp, lứa tuổi, địa phơng, dân tộc với nhiều nét phẩm chất, vẻ đẹp, đợc thể hiện trong nhiều tình huống, hoàn cảnh Nhng tiêu biểu là nổi bật nhất là hình ảnh những ngời mẹ, ngời phụ nữ và anh bộ đội Vệ quốc dân

Nhân vật trữ tình quần chúng đợc hiện ra ở cuộc đời thực của họ, trong lao động và chiến đấu, trong sinh hoạt hàng ngày và trong đời sống tập thể, trong hành động,việc làm và trong suy nghĩ, tình cảm Thơ kháng chiến chú ý thể hiện nhận thức chính trị, ý thức về vai trò và sức mạnh của tầng lớp, thế hệ mình ở các nhân vật quần chúng Không ít bài thơ đợc mở đầu bằng cách tự xng danh, tự giới thiệu của nhân vật quần chúng với lòng tự hào, tự tin mà trớc kia mà cha thể có:

Em là con gái Bắc Giang

Rét thì mặc rét nớc làng em lo

(Phá đờng - Tố Hữu)

Chúng ta đoàn áo vải

Sống cuộc đời rừng núi bấy nay

(Bài ca vỡ đất - Hoàng Trung Thông)

Lũ chúng ta

Trang 33

Bọn người tứ xứ

Gặp nhau hồi chưa biết chữ

Quen nhau từ buổi một, hai

(Nhớ - Hồng Nguyên)

Không xa rời bản chất trữ tình của thể loại, thơ đặc biết chú trọng biểu hiện vẻ đẹp tâm hồn, tình cảm, các mối quan hệ giàu nghĩa tình của con ngời quần chúng nh: tình quê hơng, nghĩa đồng bào, tình đồng chí đồng đội, tình quân dân…Con ngời kháng chiến đợc thể hiện trong các mối quan hệ xã hội chủ yếu chứ không phải trong các quan hệ riêng t, gia đình Nếu có nói đến những quan hệ và tình cảm này thì cũng là để làm cụ thể hoá sâu sắc thêm cho những tình cảm xã hội, quan hệ cộng đồng Không gian, môi trờng để con ngời hiện diện và tự bộc lộ thờng phải là không gian rộng lớn của quê hơng, đất nước, của những nẻo đờng kháng chiến, của núi rừng và chiến khu, những không gian công cộng

c Thơ kháng chiến đã tạo nện sự thay đổi về quan niệm thẩm mĩ và

chất liệu thi ca

Cách mạng và kháng chiến đa thơ trở về với hiện thực đời sống của đất nớc và nhân dân, giúp các nhà thơ tìm thấy chất thơ trong cuộc sống hàng ngày, trong sinh hoạt, lao động và đấu tranh của quần chúng Nhà thơ của thời đại mới trớc hết cũng là một công dân, một cán bộ, hay chiến sĩ, sống với cuộc đời thực, với mọi gian khổ, buồn vui, lo lắng hi vọng của con ngời kháng chiến, cùng với đông đảo mọi ngời Đời sống nh vậy đã tác động và làm biến đổi cách nhìn, cách nghĩ, điệu cảm xúc của ngời làm thơ Khi Tố Hữu cảm nhận đợc cái vị đậm đà trong cuộc gặp

gỡ tình cờ của ngời cán bộ với anh Vệ quốc quân trên đèo Nhe có: “Bóng tre trim mát rợi”, khi chính hữu nói lên một cách thấm thía cái đẹp của tình đồng đội qua

sự sẽ chia những gian lao, thiếu then rất thực: “Áo anh rách vai, Quần tôi có vài mảnh vá…”, thì chính là các nhà thơ đã tìm thấy chất thơ trong cái bình dị, hàng ngày, gần gũi của đời sống kháng chiến, của con ngời quần chúng Phơng châm dân tộc, hiện thực và nhân dân của nền văn nghệ càng thúc đẩy hớng đi này trong thơ Nếu nh ở một số bài thơ trong thời kỳ đầu kháng chiến, các nhà thơ còn chú trọng khai thác chất thơ trong những cái khác thờng, phi thờng theo cảm hứng lãng mạn, thì hầu nh phơng hớng tìm kiếm và phát hiện cái đẹp và chất thơ trong phần lớn thơ ca kháng chiến lại là trong cái bình thờng, giản dị, tự nhiên của đời sống kháng chiến Thơ kháng chiến đã đa sự đổi thay Thơ kháng chiến đã đa đến sự đổi thay quan trọng về quan niệm thẩm mĩ, về cái đẹp trong thơ

Tự sự thay đổi trong quan niệm thẩm mĩ đã đa đến sự biến đổi mạnh mẽ về chất liệu thi ca Thơ Mới 1932 - 1945 cũng đã từng tạo nên hệ thống thi liệu mới so với thơ truyền thống Thoát khỏi những quy phạm, ớc lệ quen thuộc trong kho thi liệu, văn liệu của thơ văn cổ Trung Hoa, Thơ Mới giải phóng tình cảm, cảm xúc, đa các trạng thái phức tạp, tinh vi hoặc mơ hồ của nội cảm thành chất liệu quan trọng bậc nhất của thơ ca Nhng chất liệu ấy đã không đủ cho thơ để diễn tả đời sống cách mạng và kháng chiến với những biến động dữ dội của xã hội và các quan hệ phong phú, những tình cảm rộng mở hớng ra bên ngoài của con ngời kháng chiến Thơ kháng chiến đã tìm đến những chất liệu giàu tính hiện thực trong đời sống hàng ngày của các tầng lớp nhân dân, và cùng với điều đó còn có những sự kiện chính trị, quân sự, những câu chuyện cảm động, những tấm gơng cao đẹp trong cuộc

Trang 34

chiến đấu Hầu nh bài thơ nào cũng đợc đan dệt nên những bằng những chi tiết, hình ảnh, sự việc của đời sống hiện thực, vì thế, trong thơ kháng chiến có sự gia tăng đáng kể của chất tự sự và thành phần miêu tả, kể chuyện xuất hiện khá phổ biến ở những mức độ khác nhau Lối thơ kể chuyện đợc sự dụng khá rộng rãi, kể

cả trong những bài thơ ngắn và nhất là những bài thơ dài gần với truyện thơ hay

tr-ờng ca Có Thể kể những ví dụ quen thuộc: Kể chuyện Vũ Lăng (Anh Thơ), Ngời

đàn bà Ninh Thuận (Tế Hanh), Từ đêm 19 (Khơng Hữu Dung)

d Về hình thức thể loại, thơ kháng chiến sử dụng phổ biến các thể thơ có nguồn

gốc dân gian, dân tộc, đồng thời phát triển thể thơ tự do và lối thơ hợp thể

Theo hớng dân tộc và đại chúng, thơ đã tìm về với các thể thơ quen thuộc của dân gian và dân tộc, nh lục bát, bốn tiếng, năm tiếng Lục bát trong giai đoạn này nghiêng về phía ca dao hơn là kế tục truyền thống của lục bát cổ điển hay Thơ Mới Tố Hữu là nhà thơ vận dụng thành thục thể lục bát ca dao (Bầm ơi, Bà Bủ, Phá đờng), đạt đến đỉnh cao là bài Việt Bắc, trong đó chất dân gian đã kết hợp với chất cổ điển Phong vị ca giao không chỉ bộc lộ ở thể thơ, mà còn hiện ra trong lối

so sánh, ví von, những cách diễn đạt và cách xây dựng hình ảnh Còn Trần Hữu Thung, Minh Huệ, Lu Trọng L thì khai thác để hát giậm Nghệ Tĩnh trong những bài thơ tiêu biểu của mỗi ngời

Thơ tự do đã đợc thể nghiệm trong phong trào Thơ Mới, nhng còn ít mà cha có mấy bài thành công thực sự Đến thơ kháng chiến, thể thơ tự do đã xuất hiện khá phổ biến và có nhiều thành công, làm cho thể thơ này trở nên quen thuộc với quần chúng Không kể những trờng hợp nh thơ Nguyễn Đình Thi ở giai đoạn đầu và thơ Chính Hữu đã sử dụng thể thơ tự do một cách rộng rãi, thì phổ biến ở nhiều tác giả

là cách sử dụng xen kẽ những đoạn thơ tự do với những đoạn thơ cách luật (thờng

là thơ lục bát), tạo nên những bài thơ hợp thể và cách này hầu nh chỉ thấy trong thơ kháng chiến, đến các giai đoạn sau ít thấy

e.Cùng với sự biến đổi văn bản về nội dung t tởng, cảm xúc thì ngôn ngữ thơ kháng chiến tất yếu cũng có những biến đổi mạnh mẽ với ngôn ngữ thơ thời kỳ tr-

ớc cách mạng Xu hớng chung là đa ngôn ngữ thơ phát triển về phía hiện thực đời sống, trớc hết là đời sống lao động, đấu tranh của quần chúng nhân dân, về gần với tiếng nói hàng ngày, tự nhiên, bình dị, sinh động Có thể bắt gặp khá phổ biến trong thơ những từ ngữ, cách nói mang tính khẩu ngữ của quần chúng Từ những

so sánh, theo lối ví von của ca giao: “Ma phùn ớt áo từ thân, Ma bao nhiêu hạt

th-ơng bầm bấy nhiêu” (Tố Hữu), đến những lời chất phác, thật thà của ngời dân quên

miền Trung: “Thơng anh, nỏ có - cầu anh mạnh, anh nện thằng Tây bể sọ dừa” (Hồ Vy, “Độc lập nhớ rẽ viền chơi ví chắc” (Hồng Nguyên) Từ địa phơng đợc đa

vào thơ khá rộng rãi và nhiều trờng hợp đã góp phần tạo nên chất liệu hiện thực với sắc thái riêng độc đáo của bài thơ

Ngoài từ ngữ sinh hoạt, các từ thuộc lĩnh vực chính trị, quân sự cũng có mặt ở không ít bài thơ, điều này phản ánh sự tham gia tích cực và tâm lý hào hứng của quần chúng với đời sống chính trị, quân sự Một đặc điểm của ngôn ngữ thơ kháng chiến là việc sử dụng rộng rãi địa danh Trong thơ Việt Nam, cha bao giờ địa danh của mọi vùng, miền lại xuất hiện nhiều và rất phổ biến ở thời kỳ này, them chí nó dày đặc trong một bài hay một câu thơ, vậy mà hầu nh không có trờng hợp nào gây

ra sự phản cảm cho ngời đọc Bởi đằng sau những địa danh ấy là một vùng đất đai,

Trang 35

xứ sở của Tố quốc, là sự chất chứa những vẻ đẹp, những đau thơng, cả những kỷ niệm và lòng yêu mến của con ngời Có lẽ Quang Dũng và Tố Hữu là hai tác giả tiêu biểu nhất cho việc sử dụng thành công cho việc địa danh trong thơ

2 Thơ trong mười năm hoà bình sau cuộc kháng chiến chống Pháp

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, hoà bình lập lại, miền Bắc đợc giải phóng đồng thời nhân dân cả nớc ta phải tiến hành cuộc đấu tranh giành thống nhất Tổ quốc Thơ trong khoảng mời năm, từ 1955 đến 1964, đã có bớc phát triển mới, phong phú, đa dạng và vững chắc, trên cơ sở những thành tựu và phơng hớng

mà thơ ca kháng chiến trớc đó đạt đợc

2.1 Nhìn chung về sự phát triển và thành tựu của thơ 1955 - 1964

Trong những năm đầu hoà bình, thơ ca tập trung thể hiện niềm vui và niềm tự hào lớn lao về chiến thắng và hoà bình Bên cạnh việc tái hiện những kỷ niệm còn tơi nguyên về kháng chiến, nhiều tác giả đã sáng tác những bài thơ có tính khái quát rộng lớn hơn để nhìn lại suy ngẫm về cách mạng và kháng chiến, về những chặng đờng đã đi qua của lịch sử dân tộc Tố Hữu sau Ta đi tới và Việt Bắc viết năm

1954, lại tiếp tục hớng ấy với Xa…, nay Quang vinh Tổ quốc chúng ta (1955), Nguyễn Đình Thi hoàn thành bài Đất nớc, Trần Dần có bài thơ dài Cách mạng tháng Tám, Văn Cao viết một trờng ca quy mô về Hải Phòng qua những biến thiên của lịch sử và xã hội - Những ngời trên cửa biển (1956)

Công cuộc khôi phục lại đất nớc sau chiến tranh và xây dựng cuộc sống mới đã mở

ra những đề tài và nguồn cảm hứng mới cho thơ: Cảm hứng về sự hồi sinh của đất nớc gắn liền với cảm hứng về lao động xây dựng, về niềm vui và niềm tự hào của con ngời lao động làm chủ Từ giữa những năm 1958, theo chủ trơng của Đảng, văn nghệ sĩ lại đợc tạo điều kiện để thâm nhập thực tế, đến với cuộc sống lao động

và đấu tranh của nhân dân, nhất là ở những nơi mũi nhọn, tiêu biểu cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Huy Cận về với những ngời thợ mỏ ở Quảng Ninh và đã tìm đợc một nguôn mạch mới dồi dào cho thơ mình, ông đã cho in liên

tiếp các tập thơ: Trời mỗi ngày lại sáng (1959), Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc

đời (1963) Xuân Diệu sau khi đã giải quyết đợc sự hoà hợp riêng chung của (tập

thơ Riêng chung - 1960) thì hăng hái cổ vũ và thể nghiệm phơng hớng mở rộng

cánh cửa cho cuộc sống lao động vào thơ, để thơ đi vào cuộc sống Chỉ qua tên bài

thơ và địa danh đợc ghi lại trong tập Một khối hồng (1964), Hai đợt sóng (1967)

của ông, ta cũng thấy Xuân Diệu hăng hái và không mệt mỏi đến với vùng nhiều địa phương, đã đưa vào thơ mình vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước mà còn cả hình ảnh những người lao động và công việc lao động với nhiều gian lao, vất vả, nặng nhọc

Đến với vùng mỏ Quảng Ninh, Huy Cận còn gặp đợc biển và những ngời lao động trên biển, một đề tài dễ bắt nhạy với cảm hứng vũ trụ và xúc cảm về không gian

vốn rất quen thuộc trong thơ ông Các bài Ma xuân trên biển, Đoàn thuyền đánh

cá vẫn đợc xem là những bài thơ chứng tỏ hồn thơ Huy cận đạt đợc độ chín trong

chặn đờng mới trong thơ mình, tìm đợc hài hoà giữa thiên nhiên, vũ trụ với con

ng-ời và xã hội

Trong các tập Đất nở hoa, Bài thơ cuộc đời, Huy Cận tiếp tục khai thác cảm hứng

về thiên nhiên và lao động với những hình ảnh quen thuộc của sông nớc, đồng bãi,

làng xóm, với những công việc lao động bình thờng của Những bạn chài hạ thuyền

Trang 36

xuống nớc, Bài hát của tám chàng thợ mộc, hay cảm xúc khoan khoái nhẹ nhàng

của ngời nông dân trong buổi cày với trở về với xóm nhỏ…

Với Hoàng Trung Thông, chất thơ khoẻ khoắn ở nhà thơ này vốn đã gắn bó chặt chẽ với những con ngời lao động và chiến đấu ngay từ khởi đầu con đờng thơ, thì

nay trong các tập thơ Đờng chúng ta đi, Những cánh buồm, hình ảnh cuộc sống lao

động và con ngời lao động vẫn tiếp tục ở vị trí trung tâm trong thế giới thơ của ông, nhng đã đợc mở rộng và làm cho phong phú thêm với những hình ảnh và cảm xúc vừa cụ thể, hiện thực, vừa thêm chất thơ mộng, suy tởng

Thể hiện sự hồi sinh của đất nớc, khẳng định cuộc sống mới và lý tởng xã hội chủ nghĩa, thơ còn đề cập và giải đáp một vấn đề trọng yếu trong trong đời sống t tởng tinh thần của xã hội đơng thời, vấn đề mối quan hệ riên - chung, con đờng đi từ cái riêng đi đến hoà nhập với cái chung Nếu nh trớc đó, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, vấn đề cái riên hầu nh không đợc đặt ra, bởi vì con ngời cá nhân hoà tan trong cuộc cộng đồng, hiện diện trong tập thể, thì nay trong đời sống hoà bình, cuộc sống riêng cần và có thể trở lại nh một nhu cầu tất yếu của mỗi ngời Nhng xây dựng chủ nghĩa xã hội lại đòi hỏi phải giải quyết mối quan hệ riêng chung, cá nhân và tập thể, mỗi ngời và mọi ngời Trong thơ, vấn đề ấy đã đợc nhiều nhà thơ

đề cập nh một chủ đề quan trọng, bức thiết, chi phối mọi quan hệ xã hội và tình cảm, cảm xúc của con ngời Các nhà thơ từ phong trào Thơ Mới đến với thơ cách mạng đã giải đáp vấn đề riêng chung bằng những trải nghiệm qua chính những

con đờng đi của cuộc đời và thơ minh, con đờng “Từ chân trời của một ngời đến

chân trời của mọi ngời” (Paul EEluard) Xuân Diệu đặt cho một tập thơ quan

trọng, đánh dấu bớc ngoặt phát triển của thơ mình, cái tên Riêng chung (1960)

Trong tập thơ, qua những kỷ niệm thắm thiết của lòng mình, Xuân Diệu thể hiện

sự gắn bó, lòng biết ơn với đất nớc và cách mạng, cảm nhận đợc sự đổi thay lớn lao trong tình cảm, cản xúc của minh do cách mạng đem lại, để dứt khoát hơn với những ám ảnh của quá khứ, để càng gắn bó tâm hồn mình với đất nớc, nhân dân và cuộc sống hiện đại Qua những hình ảnh giọt lệ mà nhận ra sự đổi thay sâu sắc

trong tâm hồn, cách sống, điệu cảm xúc của mình: “Xa lệ sát ta oán hận đất trời”,

“Trái đất ba phần t nớc mắt, Đi nh giọt lệ giữa không trung”, con nay thì “Giọt

n-ớc mắt ta chan chứa tình ngời (Lệ)

Tập thơ Ánh sáng và Phù sa (1960) của Chế Lan Viên tập trung thể hiện hành trình

t tởng và tâm hồn của một nghệ sĩ, một hồn thơ “từ thung lũng đau thơng ra cánh

đồng vui” nh chính lời của tác giả Trớc Cách mạng tháng Tám, Chế Lan Viên đã

lạc qua xã vào cõi thần bí và siêu hình, nên coi đờng trở về với cuộc sống thực trên mặt đất, với đất nớc và nhân dân của nhà thơ này là con đờng dài với trải qua nhiều

trăn trở, day dứt, tự phủ định để vợt lên mình, nh Chế Lan Viên tự nhận thấy: “Đi

xa về hoá chậm, Biết bao nhiêu khê” Ánh sáng và phù sa thể hiện trung thực cuộc

đấu tranh nội tâm thầm lặng mà quyết liệt để vợt lên và chiến thắng nỗi cô đơn, buồn thơng, những t tởng siêu hình về bản thể, những ý nghĩa bi quan trớc bệnh tật Trong những cuộc đầu tranh này, nhà thơ đã giành đợc chiến thắng, không chỉ bởi nghị lực và ý chí của mình, mà còn vì đã tìm đợc điểm tựa cho niềm tin và sức mạnh, cũng đồng thời cái đích hớng tới của thơ mình, đó là ánh sáng của lý tởng

cách mạng và phù sa của đời sống nhân dân “Ánh sáng rọi soi tôi và phù sa bồi

Trang 37

đắp tôi Ánh sáng tinh thần và phù sa vật chất của lý tởng tôi” (Chế Lan Viên - Lời chú thích cho tựa đề cho tập thơ)

Vấn để riêng - chung cũng là một chủ đề quan trọng trong tập thơ Gió lộng (1961)

của Tố Hữu Đối với các nhà thơ cách mạng này, ngay từ buổi đầu của con đờng thơ mà con đờng thơ và con đờng cách mạng, vấn đề riêng - chung đã đợc giải

pháp rất rõ ràng: “Tôi buộc lòng tôi với mọi ngời… Tôi đã là con của vạn nhà….” (Từ ấy) Đến tập thơ Gió lộng, Tố Hữu nhìn nhận sự thống nhất riêng chung nh là

lẽ sống của con ngời cách mạng, hơn thế nữa còn là quy luật tất yếu của sự sống,

của đời sống nhân gian (Tiếng ru) Nhà thơ cũng thể hiện cụ thể sự thống nhất

riêng chung qua những kỉ niệm, những trải nghiệm trong cuộc đời cách mạng của mình (Mẹ Tơm), hay trong cách cảm nhận về cuộc sống mới hôm nay (Bài ca mùa xuân 1961)

Một đề tài lớn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà thơ và đã tạo đợc nhiều bài thơ đặc sắc trong thơ giai đoạn này, tác động sâu xa đến tình cảm và t tởng của đông đảo nhân dân, đó là tình cảm với miền Nam và khát vọng thống nhất đất nớc Tình cảm quê hơng, đất nớc vẫn là nguồn mạch dồi dào tạo cảm hứng cho thơ ca Việt Nam ở nhiều thời đại, mà gần nhất là thơ kháng chiến chống Pháp Từ cuối năm

1954, đất nớc tạm thời bị chia cắt, tình cảm dân tộc đặt trớc cảnh ngộ ngang trái

ấy, đợc dồn vào nỗi nhớ thơng hớng về miền Nam của Tổ quốc và bật lên thành ý chí, khát vọng, niềm tin vào cuộc đấu tranh cho thống nhất đất nớc

Trong những năm đầu, khi đất nớc mới bị chia cắt, thơ thờng tái hiện hình ảnh quê hơng miền Nam và những con ngời ở nơi đó, qua những kỉ niệm của tuổi thơ hay trong kháng chiến chống Pháp Các nhà thơ quê ở phía Nam vĩ tuyến 17 (Tố Hữu, Xuân Diệu, Tế Hanh, Hoàng Tố Nguyên, Ca Lê Hiến…) và những ngời từng gắn

bó với miền Nam trong cuộc kháng chiến (Nguyễn Bính) có thuận lợi và dễ thành công trong hớng khai thác này Tố Hữu nhớ về quê hơng xứ Huế trong những kỉ

niệm tuổi thơ với nét buồn hiu hắt thấm cả vào trong không gian mây gió” “Mây

núi hiu hiu, chiều lặng lặng, ma nguồn gió biển, nắng xa khơi” (Quê mẹ) Xuân

Diệu nhớ một vờn xoài tuổi nhỏ và nhớ nhất là con sông nhỏ Gò Bối quê mà đầy

nắng gió Phơng Nam (Nhớ quê Nam) Còn Tế Hanh thì vẫn đợc gọi là nhà thơ của

quê hơng miền Nam, nhà thơ của đấu tranh thống nhất, với một loạt tập thơ tập

trung vào chủ đề này: Lòng miền Nam(1956), Gửi miền Bắc (1958), Tiếng sóng (1960), Hai nửa yêu thơng (1962) Tế Hanh viết về con sông quê hơng đã gắn bó

với kỉ niệm tuổi thơ, về em Ái, chị Duyên và bao nhiêu con ngời lao động bình dị

ở một vùng quê ven biển miền Nam trong thời kì kháng chiến, hay về Cái going

đầu làng, nhận ra dáng hình quê hơng qua gơng mặt của ngời thơng (Mặt quê ơng)… Nhà thơ diễn tả rất đúng tâm trạng khắc khoải “ngày Bắc đêm Nam” của

h-những ngời con Miền Nam tập kết trên Bắc (Chiêm bao) Còn Nguyễn Bính Gửi

ngời vợ miền Nam nỗi nhớ thơng da diết mà hằng đêm trực cháy lên trong lòng với

bầu trời sao: Trời còn có bữa sao quên mọc, Anh chẳng đêm nào chẳng nhớ em”

(Đêm sao sáng) Con sông Bến Hải với cầu Hiền Lơng và bãi biễn Cửa Tùng, một

vùng đất hiền hoà và đẹp, bị biến thành giới tuyến ngăn cách đất nớc thành hai miền Nam Bắc một thời, cũng đã trở thành đề tài đợc nói đến không ít lần trong thơ hồi này Đứng trên bờ Bắc con sông ấy, phóng tầm mắt nhìn về phơng nam, nhìn ra biển rộng, càng thấm thía cái phi lí của sự chia cắt đất nớc, nỗi nhớ về

Trang 38

những nơi chốn từng thân thuộc với mình ở bên kia giới tuyến đã trở thành niềm đau xót, uất nghẹn trong lòng Lu Trọng L:

Trời trong hay trời động

Con chim con cá cũng thẳng cánh thẳng vi

Sao đến chỗ ni

Trớc mắt tôi nh có hào sâu ngăn lại

Đất Việt Nam, ngời Việt Nam không bớc tới

Mắt mãi nhìn mòn hết nữa con ngời

Thân đứng đây, thân chết nữ con ngời

Lời tôi nói lời tôi nghe, dứt đoạn

Các nhà thơ Thanh Hải, Giang Nam là những cán bộ cách mạng ở lại hoạt động trong vùng chính quyền Sài Gòn kiểm soát, đã ghi lại những hình ảnh đau thơng,

sự hi sinh anh dũng của những ngời cách mạng và đồng bào miền Nam, đồng thời thể hiện niềm tin vào cuộc đấu tranh và tấm lòng của nhân dân và hớng về cách

mạng, hớng về miền Bắc (Mồ anh hoa nở, Cháu nhớ Bác Hồ của Thanh Hải, Lá th

Thành phố, Quê hơng của Giang Nam) Đặc biệt, năm 1958 của chị Trần Thị Lý

là Ngời con gái Việt Nam, “ ngời con gái anh hùng” Trần Nguyên thấy Em là tất

cả quê hơng

Dòng thơ về đấu tranh thống nhất đã tiếp nối khơi sâu nguồn mạch tình cảm dân tộc vốn là một truyền thống lớn của thơ ca Việt Nam, của thời kỳ kháng chiến chống Pháp trớc đó Thơ đã góp phần khắc sâu trọng nhận thức và tình cảm của mỗi ngời Việt Nam một chân lí lớn: nớc Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một

và thống nhất Tổ quốc là khát vọng sâu xa, cháy bỏng của dân tộc Mạch tình cảm

ấy sẽ đợc tiếp tục và phát triển cao rộng hơn nữa trong thơ thời kỳ cả nớc kháng chiến chống Mỹ

2.2 Những đặc điểm

a Sự mở rộng các đề tài, chủ đề và cảm hứng trong thơ đi liền với sự phát triển

thoe hớng đa dạng và thống nhất của cái “tôi” trữ tình

Ở phần trên, khi tìm hiểu sự phát triển của thơ giai đoạn 1955 - 1964, chúng ta đã nói đến sự mở rộng các đề tài, chủ đề và cảm hứng trong thơ, bám sát và đáp ứng những nhu cầu đã trở nên đa dạng và cao hơn trớc trong đời sống tinh thần, tình cảm của con ngời ở thời kì sau chiến tranh và bớc vào xây dựng cuộc sống mới Cùng với cảm hứng về cuộc sống mới, về sự hồi sinh của đất nớc, về miền Nam và đấu tranh thống nhất, thơ cũng đã khai thác cảm hứng lịch sử, mà chủ yêu là về cuộc kháng chiến chống Pháp và lịch sử đấu tranh cách mạng Kháng chiến và cách mạng đợc trân trọng nh những giá trị tinh thần quý báu, những kỉ niệm đầy ân

Trang 39

tình và còn là ánh sáng tiếp tục rọi chiếu con đờng đi tới Đó là cảm nhận thống nhất của các nhà thơ cũng nh toàn xã hội lúc ấy Chế Lan Viên viết:

Ôi kháng chiến mời năm qua nh ngọn lửa

Nghìn năm sau còn đủ sức soi đờng

(Tiếng hát con tàu)

Còn Tố Hữu viết bài thơ còn bài thơ diễn ca lịch sử Ba mơi đời ta có Đảng với

cảm hứng ôn lại quá khứ cách mạng để thể hiện lòng biết ơn với Đảng và khẳng định con đờng cách mạng tiếp tục đi tới Đối sánh quá khứ lịch sử đau thơng với hiện tại tơi sáng là cách suy nghĩ và xây dựng từ thơ khá quen thuộc trong nhiều

bài thơ của nhiều tác giả: Hai hình ngời gỗ, Các vị La Hán chúa Tây Phơng và nhiều bài thơ khác của Huy Cận, Lại về tỉnh nhỏ của Yến Lan, Ba mơi năm đời ta

có Đảng và Bài ca mùa xuân 1961 của Tố Hữu, Lệ của Xuân Diệu….Cách cảm

nhận về quá khứ lịch sử nh trên tuy có ý nghĩa tích cực, nhng không tránh khỏi sự phiến diện một chiều khi rơi vào công thức

Cái “tôi” trữ tình trong thơ gian đoạn này, so với thơ thời kỳ kháng chiến chống

Pháp đã có sự mở rộng và phát triển đáng kể, mang tính đa dạng và thống nhất mà nền tảng t tởng của nó là sự thống nhất riêng - chung Một trong những dấu hiệu rõ

ràng nhất của sự mở rộng và phát triển ấy là sự hiện diện trở lại của cái “tôi” riêng

t, trong dạng thức chủ thể tác giả hay nhân vật trữ tình mang bản sắc cá nhân và

tình cảm riêng t Trong thơ kháng chiến chống Pháp nổi bật lên là cái “tôi” quần chúng, nói tiếng nói chung của giai cấp, tầng lớp, của đại chúng Cái “tôi” trữ tình

tác giả hoặc là hoà tan vào cái chung bằng cách nhập vai nhân vật quần chúng, hoặc nếu có hiện diện thì cũng là để nói về ngời khác, hớng về đại chúng, chứ không phải nói về mình Trong thơ từ sau 1954, cái “tôi” riêng của các giả đã dần xuất hiện trở lại và cùng với nó, xu thế trữ tình hớng nội đã tăng lên Vẫn chủ yếu

đề cập đến những vấn đề và tình cảm mang ý nghĩa chung, nh khẳng định cuộc sống mới, tình cảm với miền Nam và có ý chí thống nhất Tổ quốc, nhng trong nhiều trờng hợp, các tác giả đã tiếp cận và cảm nhận những cái chung ấy từ những

cách nhìn, sự trải nghiệm hay kỷ niệm, ấn tợng riêng của mình, gắn với cái “tôi”

của chủ thể trữ tình Những tình cảm chung, chân lý chung của đời sống nhờ thế

mà có thêm sức thuyết phục, cảm hoá mọi ngời

Viết về tình cảm với miền Nam, nhiều nhà thơ đã đem vào đó một phần cái “tôi” riêng của mình với những kỉ niệm tuổi thơ, những ấn tợng riêng về quê hơng, gia đình, nỗi nhớ thơng với những ngời thân còn ở bên kia giới tuyến Còn Chế Lan Viên nhớ đến Gốc nhãn cao trong vờn mẹ để mong mỏi có một ngày “Chắp đờng Nam Bắc con thăm mẹ, Hái một chùm ngon dâng mẹ ăn”

Trong hoàn cảnh hoà bình, cuộc sống bình thờng trở lại bên cạnh những cái chung, cái phần xã hội, con ngời còn đợc trả về với cái riêng, nảy sinh những nhu cầu, khát vọng của cá nhân, đó cũng là điều hoàn toàn chính đáng Bởi thế cái “tôi” riêng t đã có mặt trở lại trong thơ, mà trớc hết là ở những đề tài về tình yêu và hạnh phúc, tình gia đình, nỗi buồn và niềm vui mang tính cá nhân Trong thơ kháng chiến chống Pháp, thơ tình đích thực hầu nh vắng bóng Điều đó cũng dễ hiểu, bởi trong hoàn cảnh chiến tranh và khi con ngời cá nhân đã hoà tan trong cộng đồng thì hiển nhiên không có mảnh đất cho thơ tình nảy nở, bởi vì thơ tình thực sự phải

là tiếng nói trực tiếp của cái “tôi” riêng t cá thể, tự ý thức sâu sắc về nhu cầu, khát

Trang 40

vọng hạnh phúc Trong thơ kháng chiến, tình yêu chỉ đợc đề cập khi nó làm sâu sắc thêm cho tình cảm với đất nớc và tinh thần chiến đấu (Nhớ, Bài thơ viết cạnh đồ Tây của Nguyễn Đình Thi) Sau 1954, tình yêu lứa đôi đã dần trở lại thành một thi

đề quen thuộc và không thể thiếu trong thơ, đáp ứng mọi nhu cầu thiết yếu của công chúng, đặt biệt là tuổi trẻ Xuân Diệu, từng đợc coi là thi sĩ của tình yêu và tuổi trẻ, nay lại có thể khai thác mọi tâm trạng và cung bậc của tình yêu lứa đôi trong thơ mình, nó trở thành một mảnh thơ không thể thiếu trong các tập thơ của ông kể từ Riêng chung (1960) trở đi Tế Hanh rất thành công trong đề tài về miền Nam và đấu tranh thống nhất đất nớc, nhng cũng còn viết rất hay về tình yêu trong

xa cách nhớ thơng (Vờn xa, Bài thơ tình viết ở Hàng Châu, Cơn bão) Cây bút nữ rất trẻ Xuân Quỳnh mới đợc vào làng thơ đầu những năm 60 đã tự khẳng định và đợc chú ý bởi một tiếng nói mạnh bạo tự nhiên và nồng nàn trong tình yêu (Chồi biếc, Thuyền và biển)

Cái “tôi” riêng t xuất hiện trở lại trong thơ, nhng không phải là cái “tôi” cá nhân,

cá thể của Thơ Mới không tìm đợc mối liên hệ với xã hội và những ngời khác, nên luôn cảm thấy bơ vơ, cô đơn giữa cõi đời và trong vũ trụ: “Một chiếc linh hồn nhỏ, Mang mang thiên cổ sâu” (Huy Cận) “Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề” (Xuân Diệu) Cái “tôi riêng t trong thơ sau 1954 luôn đợc đặt trong mối quan hệ thống nhất với

xã hội, với đời sống chung của đất nớc, nhân dân dù mối quan hệ này có thể đợc thể hiện trực tiếp hay không thì nó vẫn nằm sâu trong ý thức của nhà thơ

Bên cạnh sự xuất hiện trở lại của cái “tôi” riêng t, thơ trong giai đoạn này còn hớng tới sáng tạo hình tợng cái “tôi” trữ tình trong dạng khái quát, đại diện cho cộng đồng dân tộc, đất nớc, cách mạng, cái “tôi” sử thi Cái “tôi” trong dạng thức này thờng xuất hiện ở những bài thơ có tính khái quát, tổng hợ về đất nớc hay một chặng đờng lịch sử của dân tộc, của cách mạng nh: Cách mạng tháng Tám của Trần Dần, Quang vinh Tổ quốc chúng ta, Bài ca mùa xuân 1961 của Tố Hữu, ở đâu, ở đâu? ở đất anh hùng của Chế Lan Viên Cái “tôi” sử thi này là sự tiếp nối một hớng đã đợc mở ra trong thơ giai đoạn 1945 - 1954, nhng đợc gia tăng sức khái quát và chú trọng khắc hoạ t thế, tầm vóc của đất nớc, của cách mạng trong t-ơng quan với thời đại và lịch sử Tố Hữu tự hào hình dung t thế của đất nớc:

Chào 61, đỉnh cao muôn trợng

Ta đứng đây mắt nhìn bốn hớng

Trông lại ngàn xa, trông tới mai sau

Trông Bắc, trông Nam, trông cả địa cầu

(Bài ca mùa xuân 1961)

Cái “tôi” Sử thi sẽ đợc tiếp tục phát triển và thành hình tợng bao trùm trong thơ thời kỳ chống Mỹ cứu nớc

b Những phong cách riêng đã xuất hiện và đợc khẳng định, làm phong phú và đa dạng cho tiếng nói chung và diện mạo của nền thơ

Trong giai đoạn 1945 - 1954, khi đời sống cá nhân, cái “tôi” riêng phải hoà tan trong cái chung của cộng đồng, thì tiếng nói riêng, phong cách cá nhân trong nghệ thuật cha thể đợc coi trọng và có điều kiện phát triển Sau 1954, cuộc sống hoà bình trở lại và với sự phát triển trở lại và với sự phát triển của xã hội, con ngời với

t cách cá nhân, với cuộc sống riêng không thể không đợc tính đến Tơng ứng với

Ngày đăng: 09/11/2017, 10:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w