Trong kho tàng văn học Việt Nam Truyện Kiều vốn được coi là tập đại thành về ngôn ngữ. Đọc Truyện Kiều, chúng ta thấy Nguyễn Du sử dụng khá nhiều ngôn ngữ dân gian, trong đó có thành ngữ. Thành ngữ được Nguyễn Du sử dụng rải rác khắp tác phẩm, trong cả ngôn ngữ trực tiếp, nửa trực tiếp, ngôn ngữ tự sự của tác giả. Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết này, người viết chỉ đi vào khảo sát việc sử dụng thành ngữ trong ngôn ngữ xung quanh mối quan hệ của Thúy Kiều và Thúc Sinh.
Trang 1Trong kho tàng văn học Việt Nam Truyện Kiều vốn được coi là tập đại thành
về ngôn ngữ Đọc Truyện Kiều, chúng ta thấy Nguyễn Du sử dụng khá nhiều ngôn ngữ dân gian, trong đó có thành ngữ Thành ngữ được Nguyễn Du sử dụng rải rác khắp tác phẩm, trong cả ngôn ngữ trực tiếp, nửa trực tiếp, ngôn ngữ tự sự của tác giả Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết này, người viết chỉ đi vào khảo sát việc sử dụng thành ngữ trong ngôn ngữ xung quanh mối quan hệ của Thúy Kiều và Thúc Sinh
1 Quy mô số lượng thành ngữ trong ngôn ngữ xung quanh mối quan hệ giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh.
Trong đoạn nói về mối quan hệ giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh, ngôn ngữ trực tiếp, nửa trực tiếp, ngôn ngữ tự sự của tác giả được sử dụng đan xen và cùng phục
vụ cho mục đích thể hiện chân dung nhân vật một cách trọn vẹn Nếu như ngôn ngữ trực tiếp (độc thoại và đối thoại) giúp ta phát hiện ra tính cách, thế giới nội tâm nhân vật thì ngôn ngữ nửa trực tiếp (ngôn ngữ tác giả mang giọng điệu nội tâm nhân vật) lại giúp ta thấy được cảm xúc, suy tư của nhân vật Đồng thời, nỗi niềm, tâm trạng của nhân vật cũng được thể hiện qua ngôn ngữ tự sự của tác giả
Trong đoạn xoay quanh mối quan hệ giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh, Nguyễn
Du đã xây dựng nhiều loại hình nhân vật khác nhau và tùy thuộc vào vai trò của từng nhân vật trong việc thúc đẩy quá trình phát triển của cốt truyện mà mức độ ngôn ngữ khác nhau Cụ thể như sau:
Bảng số 1:
Số lượng câu (Độc thoại và đối thoại)
Số lần Loại hình nhân
vật
Trang 2
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng một số lượng thành ngữ lớn.Trong số 794 câu nói về mối quan hệ giữa Thúy Kiều và Kim Trọng có sử dụng 91 thành ngữ (chiếm 11,6%), cụ thể như sau:
Bảng 2: Ngôn ngữ đối thoại
STT Nhân vật Số câu đối thoại Số lần Số thành ngữ
Bảng 3: Ngôn ngữ độc thoại
STT Nhân vật Số câu độc thoại Số lần Số thành ngữ
Trong 794 câu xung quanh mối quan hệ giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh, số câu
tự sự của tác giả và ngôn ngữ nửa trực tiếp là 448 câu (chiếm 56,4% ), trong đó số thành ngữ được sử dụng là 36 (chiếm 8%)
Từ lâu thành ngữ đã được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống và trong sáng tác văn học của cha ông ta Trong tác phẩm truyện Nôm, với việc sử dụng nhiều hình thức ngôn ngữ (ngôn ngữ trực tiếp, ngôn ngữ tự sự của tác giả, ngôn ngữ nửa trực tiếp), nhiều loại hình nhân vật (nhân vật trung tâm, nhân vật chính, nhân vật phụ), nhiều tình huống giao tiếp, với nhiều phương thức biểu đạt phong phú…đã mang lại cho truyện Nôm khả năng tiếp nhận và thể hiện thành ngữ trong ngôn ngữ của đời sống một cách dễ dàng hơn Thành ngữ với phương thức cấu tạo đặc biệt của
Trang 3mình đã đi vào Truyện Kiều với mục đích tu từ, biểu cảm và cụ thể hóa nội tâm nhân vật
Thông qua bảng khảo sát trên cho thấy, trong ngôn ngữ nửa trực tiếp và ngôn ngữ tự sự của tác giả, thành ngữ có mặt rải rác ở hầu hết trong các trạng huống của đoạn truyện Trong ngôn ngữ trực tiếp, hầu hết các nhân vật đều sử dụng thành ngữ trong ngôn ngữ trực tiếp (trừ ông thầy bói) Tuy nhiên trong số 8 nhân vật, chỉ có 3 nhân vật (Thúc Sinh, Thúy Kiều, Hoạn Thư) là có ngôn ngữ độc thoại và đây cũng
là những nhân vật có tần suất sử dụng thành ngữ cao nhất Có thể thấy đây là một dụng ý của Nguyễn Du, bởi trong mối quan hệ giữa Kiều và Thúc Sinh thì Hoạn Thư chính là nhân tố chính tác động đến mối quan hệ này
2 Kiểu sử dụng thành ngữ trong ngôn ngữ xoay quanh mối quan hệ giữa Kiều và Thúc Sinh trong Truyện Kiều.
Qua khảo sát có thể nhận thấy, trong ngôn ngữ của các nhân vật chủ yếu sử
dụng loại thành ngữ bốn yếu tố Trong vốn thành ngữ của dân tộc, đây là bộ phận
quan trọng nhất, đặc trưng nhất, chiếm hơn 80% tổng số vốn thành ngữ của dân tộc Thành ngữ trong ngôn ngữ xoay quanh mối quan hệ giữa Kiều và Thúc Sinh được Nguyễn Du sử dụng rất linh hoạt, đó có thể là những thành ngữ nguyên mẫu,
có thể là những thành ngữ bao gồm những từ gốc Hán Việt…Nhìn chung có thể thấy có năm nhóm như sau:
a Thành ngữ được sử dụng nguyên mẫu:
- Liễu ngõ, tường hoa - bưng mắt bắt chim
- Lên thác, xuống ghềnh - xa chạy, cao bay
- Kẻ ngược, người xuôi - kết tóc, xe tơ
- Đêm ngắn, tình dài - ngọn hỏi, nghành tra
- Tóc rối, da chì - Sớm đào, tối mận…
b Thành ngữ bao gồm những từ gốc Hán Việt:
- Túc trái tiền oan - Hồng nhan bạc mệnh
- Tài tử giai nhân - Tô lục, chuốt hồng…
Trang 4c Những điển cố, điển tích trong kinh sách Trung Hoa được viết lại dưới dạng thành ngữ:
- Chiếc bách sóng đào
- Miệng hùm nọc rắn…
d Dựa vào khả năng cải biến của thành ngữ tạo nên những biến thể:
- Trúc mai sum họp -> Sum họp trúc mai
- Chút phận bèo mây -> Chút phận bọt bèo
- Cất đầu không nổi -> Cất đầu chẳng lên
- Nổi giận lôi đình -> Nổi giận đùng đùng
- Đánh lận con đen -> Đánh lừa con đen…
đ Sử dụng nội dung thành ngữ gốc viết thành câu tron vẹn, phù hợp với vần và số từ của câu 6 hoặc câu 8 Nội dung vừa cụ thể hóa được suy tư, vừa hình tượng hóa nhân vật, vừa được “tâm trạng hóa”:
- Trốn chúa, lộn chồng -> Chẳng phường trốn chúa thì quân lộn chồng
- Phận bạc như vôi -> Phận sao bạc chẳng vừa thôi
- Sởn gai ốc -> Nghĩ càng thêm nỗi sởn gai rụng rời
- Trong ấm ngoài êm -> Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm
- Rút dây động rừng -> Rút dây, sợ nữa động rừng lại thôi
- Kiến bò miệng chén -> Kiến trong miệng chén còn bò đi đâu…
Qua thống kê cho thấy, bên cạnh những thành ngữ nguyên mẫu, Nguyễn Du đã
sử dụng rất linh hoạt khả năng biến thể của thành ngữ để nói về mối quan hề Kiều
và Thúc Sinh
Trang 53 Chức năng của thành ngữ trong ngôn ngữ xoay quanh mối quan hệ giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh.
a Chức năng của ngôn ngữ trực tiếp:
a.1 Chức năng của ngôn ngữ đối thoại:
Trong đoạn nói về mối quan hệ giữa Kiều và Thúc Sinh, nhiều thành ngữ được sử dụng, trong đó có những nhóm thành ngữ cùng trường nghĩa, phù hợp với hoàn cảnh, số phận, tính cách nhân vật
Trong đoạn này, Kiều Là nhân vật tham gia đối thoại và có số câu đối thoại nhiều nhất Kiều sử dụng thành ngữ để bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc…của mình Đó là
sự ý thức về thân phận của mình, giờ không còn là tiểu thư nhà họ vương sống
cuộc sống “Êm đềm trướng rủ màn che” nữa, mà đã là một gái lầu xanh tàn tạ
“hoa tàn nhị rữa”-“hoa đã lìa cành”, thân phận chỉ như “chút phận bèo mây” rẻ
rúng, nay trong tay người này, mai qua tay kẻ khác, ai cũng là chủ nhân được;
“liễu ngõ, tường hoa” Với việc sử dụng các thành ngữ cùng trường nghĩa (hoa tàn nhị rữa; chút phận bèo mây; liễu ngõ tường hoa; dơ dáng, dại hình) đã góp phần
thể hiện sự tự ý thức về bản thân của Kiều, thể hiện sự đau đớn, tủi hổ về thân phận bọt bèo mà mình đang sống
Trong đối thoại, Kiều không chỉ ý thức về thân phận của mình, nàng còn là người biết nhìn xa, biết tính toán lâu dài, chu đáo, mong ước một cuộc sống hạnh phúc chân chính Nàng khuyên Thúc Sinh nói thật với Hoan Thư về mối quan hệ
giữa hai người, không nên là người “có mới nới cũ”-“Mặn tình cát lũy, lạt tình tao
khang”, Kiều khao khát một cuộc sống hạnh phúc và muốn Thúc Sinh thu xếp sao
cho gia đình “trong ấm ngoài êm” Kiều còn là người sống có tình, có nghĩa, biết
trước, biết sau, trong buổi báo ân báo oán nàng không quên ơn Thúc Sinh đã cứu
mình ra khỏi nơi bùn đen nhơ nhớp mặc dù bây giờ hai người đã “Sâm Thương đôi
ngả” Cũng trong buổi báo ân báo oán, bên cạnh một nàng Kiều cao quý, thấm
nhuần đạo lý phong kiến là một nàng Kiều am hiểu triết lý dân gian “vỏ quýt dày
có móng tay nhọn” khi đối đáp với Hoạn Thư Một loạt những thành ngữ được
Kiều sử dụng để nói về Hoạn Thư như: “Quỷ quái, tinh ma”, “kẻ cắp, bà già”,
“kiến bò miệng chén” đã cho thấy trong Kiều chứa đựng một quan niệm đối nhân
xử thế của quần chúng lao động, một quan niệm giàu tính chiến đấu của người lao động xưa
Trang 6Thúc Sinh là nhân vật chính trong mối quan hệ với Kiều Là một thương nhân giàu có, sẵn sàng bỏ ra cả đống tiền để mua vui Khi gặp Kiều, Thúc Sinh đã bộc lộ
sự say mê, đắm đuối và quyết tâm lấy nàng làm vợ “Đá vàng cũng quyết, phong ba
cũng liều”, và hỏi han cho đến “ngọn nguồn, lạch sông” Vì tình yêu với Kiều mà
Thúc Sinh dãm cãi lời cha mẹ, sẵn sàng hứng chịu mọi “sấm sét búa rìu” chỉ vì
“tay đã nhúng chàm” Tuy nhiên, cũng qua ngôn ngữ đối thoại trong mối quan hệ
với Kiều Thúc Sinh đã hiện hình là một kẻ yếu đuối, nhu nhược không dám đấu
tranh để bảo vệ tình yêu Nhận thức được Kiều là người “Hồng nhan bạc mệnh”
mà chỉ biết “ngậm thở, nuốt than”, ngậm ngùi khóc lóc Trong đối thoại, qua một
số thành ngữ, con người Thúc Sinh hiện ra với đầy rẫy những mâu thuẫn Muốn
cùng Kiều “lên thác, xuống ghềnh” và khẳng định tình yêu với Kiều không bao giờ thay đổi “đá nát, vàng phai”, nhưng lại khuyên Kiều “xa chạy cao bay” vì “Ái ân
ta có ngần này mà thôi!” và chấp nhận sự chia cắt mà Hoạn Thư tạo ra, chấp nhận
cảnh “kẻ ngược, người xuôi” Rõ ràng, với những thành ngữ được sử dụng, nhân
vật Thúc Sinh hiện ra là một con người vừa đáng giận lại vừa đáng thương
Trong mối quan hệ giữa Kiều với Thúc Sinh, Hoạn Thư là nhân vật được Nguyễn Du dày công xây dựng Ở con người này vừa chứa đựng sự đài các,cao quý, lại vừa có chất của những kẻ lưu manh côn đồ, vừa có lòng thương người biết
lí lẽ lại vừa độc ác, tai quái Con người của Hoạn Thư phần nào hiện ra qua một số thành ngữ trong ngôn ngữ đối thoại của nhân vật này Trước hết là lời đối thoại với Thúc Sinh, mặc dù biết Sinh có vợ bé nhưng Hoạn Thư không hề bộc lộ ra mặt mà
chỉ nói những lời yêu thương,gắn bó “ngọc đá vàng thau” để thăm dó ý tứ Khi
Thúc Sinh không thừa nhận mối quan hệ của mình với Kiều thì Hoạn Thư mới bộc
lộ sự tinh quái của mình Là người phụ nữ “sâu sắc nước đời” nên Hoạn Thư không dại gì mà “ngứa ghẻ hờn ghen” để rồi “xấu chàng hổ ai” Qua một số thành
ngữ được sử dụng, người đọc vừa cảm phục bởi sự khôn ngoan ứng xử, lại vừa thấy sợ vì sự sắc sảo, tinh quái của nhân vật này
a.2 Ngôn ngữ độc thoại.
Ngôn ngữ độc thoại cùng với ngôn ngữ đối thoại giúp cho nhân vật bộc lộ những suy nghĩ, tâm tư tình cảm của mình
Nếu như trong toàn bộ Truyện Kiều, Thúy Kiều là điển hình của nhân vật cô đơn thì trong đoạn độc thoại xoay quanh mối quan hệ giữa Thúy Kiều với Thúc
Trang 7Sinh, Kiều chủ yếu suy tư và cảm nhận về con người Hoạn Thư So với số câu trong cả đoạn thì số lượng câu độc thoại của Kiều không nhiều, số thành ngữ được
sử dụng cũng không lớn Tuy nhiên, số ít thành ngữ được sử dụng ấy vẫn có tác dụng thể hiện những suy nghĩ, cảm nhận của Kiều Trong cảm nhận của Kiều, Hoạn Thư là một người đàn bà thông minh, tài trí, bản lĩnh những cũng rất đáng sợ
bởi cái vẻ bề ngoài “thơn thớt nói cười” mà bên trong thì nham hiểm “giết người
không dao” Càng gần Hoạn Thư, Kiều càng thấy “sởn gai ốc”- “nghĩ càng thêm nỗi sởn gai rụng rời” vì cái sự “sâu sắc nước đời” của con người này Kiều nhận
thấy mình đã rơi vào “miệng hùm nọc rắn” và thấy mình phải “ chắp cánh cao
bay” để thoát khỏi sự hiểm nguy này Với các thành ngữ được sử dụng đã làm nổi
bật cuộc sống cực khổ, hiểm nguy của Kiều, đồng thời cũng thể hiện được những suy tư, lo lắng của Kiều khi phải sống ở nơi “địa ngục trần gian”
Trong mối quan hệ giữa Kiều và Thúc Sinh, Hoạn Thư chính là nhân tố tạo ra sóng gió, chia cắt mối quan hệ này Con người Hoạn Thư đã hiện ra phần nào qua cảm nhận của Kiều, nhưng chỉ tìm hiểu ngôn ngữ độc thoại của nhân vật này ta mới có cái nhìn đúng về nhân vật Trong ngôn ngữ độc thoại, Hoạn Thư hiện ra là con người “túc trí đa mưu” trước sự non dại, yếu đuối của Thúc Sinh Cho việc
Sinh “bưng bít giấu quanh” mối quan hệ với Kiều là việc làm của “những thói trẻ
ranh”, và bình tĩnh tính toán mọi bề Hoạn Thư cho rằng Kiều chỉ như “kiến bò miệng chén” Sự nham hiểm, độc ác trong con người Hoạn Thư đã bộc lộ qua
những thành ngữ trong ngôn ngữ độc thoại của nhân vật này Một sự quyết tâm trả
thù đã được lên kế hoach, làm cho đối phương “cất đầu chẳng lên”, làm cho kẻ
“thăm ván, bán thuyền” không thể ngờ tới Thiết nghĩ, để miêu tả nội tâm nhân vật
Hoạn Thư, không có cách nào hữu hiệu hơn việc sử dụng những thành ngữ này Thúc Sinh là nhân vật chính của truyện, tuy chỉ xuất hiện trong một quãng đời của Kiều nhưng nhân vật này cũng đã tạo ra một bước ngoặt trong cuộc đời Kiều
Thúc Sinh mê Kiều đến độ “Càng quen thuộc nết, càng dan díu tình”, chàng đã cứu Kiều ra khỏi cuộc sống dơ bẩn, nhục nhã “Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng
Khanh” Thế nhưng tất cả những gì Sinh làm được chỉ có vậy, kể từ khi cưới Kiều
về làm lẽ, chàng ta chỉ suốt ngày “Hương càng đượm, lửa càng nồng” Thúc Sinh đúng là kẻ “thăm ván bán thuyền” như Hoạn Thư nói Con người của Sinh càng
bộc lộ rõ hơn qua những lời độc thoại của anh ta Sống với Hoạn Thư, biết Hoạn
Thư là người “quỷ quái tinh ma” mà còn có ý định “bưng kín miệng bình” về mối
Trang 8quan hệ của mình với Kiều và cho rằng đó là kế sách vẹn toàn “Nào ai có khảo mà
mình lại xưng” và lo rằng nếu nhắc tới thì sẽ “rút dây động rừng”
b Ngôn ngữ tự sự của tác giả và “ngôn ngữ nửa trực tiếp”.
Bên cạnh hệ thống ngôn ngữ trực tiếp (ngôn ngữ đối thoại và độc thoại), Truyện Kiều nói chung và đoạn xung quanh mối quan hệ giữa Kiều và Thúc Sinh nói riêng còn sử dụng một hệ thống ngôn ngữ tự sự của tác giả và ngôn ngữ nửa trực tiếp để bộc lộ đời sống tư tưởng, tình cảm của các nhân vật
Trong tổng số 794 câu xoay quanh mối quan hệ giữa Kiều và Thúc Sinh, có
448 câu là ngôn ngữ tự sự của tác giả và ngôn ngữ nửa trực tiếp (chiếm 56,4%), trong đó số thành ngữ được sử dụng là 36 (chiếm 8,3%) Tuy số lượng thành ngữ thấp hơn so với Truyện Kiều nói chung (12,7% - theo Nguyễn Văn Hằng thống kê), nhưng những thành ngữ được sử dụng vẫn có tác dụng thể hiện quan điểm, thái độ của tác giả và góp phần lột tả suy nghĩ, hành động của nhân vật
Thành ngữ trong ngôn ngữ tự sự của tác giả trước hết thể hiện sự trân trọng,
ngợi ca đối với nhân vật của tác giả Đó là sự ngợi ca vẻ đẹp “trong ngọc, trắng
ngà” của Kiều, cái đẹp làm cho “cái sóng khuynh thành”, “đổ quán, xiêu đình” Sự
cảm thông với nỗi khổ của Kiều, sự vui mừng khi thấy Kiều được sống trong cảnh
“sum họp trúc mai” Sự cảm thông, chia sẻ của tác giả đối với Kiều còn thể hiện
qua một loạt các thành ngữ cùng trường nghĩa biểu hiện sự chia li, sự tàn tạ của
nhan sắc…như: “đêm ngắn tình dài”, “chiếc bóng song the”, “tóc rối, da chì”,
“phấn thừa, hương cũ”, “rẽ Thúy, chia Uyên”, “ thẹn phấn, tủi hồng”…Với hàng
loạt những thành ngữ như vậy, cuộc đời của Kiều hiện ra với đầy rẫy những nhọc nhằn, ngang trái Một mình vò võ nơi chờ đợi tin từ Thúc Sinh, để rồi đáp lại sự chờ đợi của Kiều là một cảnh bắt bớ, tra tấn tàn nhẫn, biến nàng từ một người đẹp
“đổ quán, xiêu đình” thành một nô tì “tóc rối, da chì”, sống cuộc sống đọa đày nơi
“hang hùm, miệng rắn”.
Thông qua ngôn ngữ tự sự của tác giả và ngôn ngữ nửa trực tiếp, phần nào tâm trạng, nỗi niềm suy tư của nhân vật cũng được bộc lộ Đó là sự giận dữ của Thúc
Ông “đất bằng nổi sóng”, đó là sự nổi giận của Hoạn Bà “nổi giận đùng đùng”, đó
là tâm trạng rối bời của Thúc Sinh khi phải “ngậm bồ hòn làm ngọt”- “Chén mới
phải ngậm bồ hòn , ráo ngay”, đó còn là sự hốt hoảng của Hoạn Thư khi ra trước
công đường báo ân báo oán “phách lạc, hồn xiêu”…Với việc sử dụng những thành
Trang 9ngữ trong ngôn ngữ nửa trực tiếp, tác giả không những đã thể hiện sự am hiểu vốn văn hóa dân gian mà quan trọng hơn là nâng cao khả năng miêu tả của ngôn ngữ, giúp cụ thể hóa, hình tượng hóa những cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật
Trong ngôn ngữ xoay quanh mối quan hệ giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh, Nguyễn Du đã sử dụng một cách linh hoạt vốn thành ngữ trong kho tàng văn hóa dân gian Đọc các thành ngữ này, nhiều khi chúng ta khó có thể phân biệt đâu là thành ngữ dân gian được vận dụng vào trong tác phẩm Nguyễn Du cùng với kiệt tác Truyện Kiều đã góp phần làm phong phú thêm cho kho tàng văn hóa dân gian nói chung và kho tàng thành ngữ tiếng Việt nói riêng Đồng thời, việc sử dụng một cách linh hoạt, tinh tế và sáng tạo các thành ngữ trong Truyện Kiều đã chứng minh tài năng và vốn ngôn ngữ của đại thi hào Nguyễn Du