1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Danh nhân đất Hậu Lộc Thanh Hóa

2 385 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 2
Dung lượng 374,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Danh sách những văn nhân võ tướng nổi bật của quê hương Hậu Lộc Thanh Hóa trong giai đoạn phong kiến trung đại từ thời Lê trung hưng đến trước cách mạng tháng 81945 thành công. Danh sách không bao gồm những người con Hậu Lộc ở hiện đại.

Trang 1

St.Thơ Chung

DANH SÁCH DANH NHÂN ĐẤT HẬU LỘC – THANH HÓA

(Huyện Hậu Lộc xưa có các tên cũ là: Dư Phát, Thống Bình, Thống Ninh, Thuần Hựu, Thuần Lộc,

Phong Lộc)

Mai Châu Điểm

Người xã Liên Cừ, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc

Đỗ Tạo sĩ thứ trúng hạng khoa Giáp Thìn niên hiệu Bảo Thái 5 (1724) đời vua Lê Dụ Tông

Hoàng Đình Thể

Người xã Hà Thượng, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc

Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thân niên hiệu Cảnh Hưng 13 (1752) đời vua Lê Hiển Tông Làm quan Đại tư mã, Trấn thủ các xứ Nghệ An, Hưng Hóa, kiêm dạy ở nhà võ học đạo Quảng Nam - Thuận Hóa, phó tướng quân Tước quận công Chết vì việc nước, được phong làm phúc thần

Cha của Hoàng Đình Đức, Hoàng Đình Duệ và Hoàng Đình Khuê

(Hoàng Đình Thể và hai con là Hoàng Định Duệ, Hoàng Đình Khuê tử trận trong cuộc tiến công ra Phú Xuân của quân Tây Sơn năm Bính Ngọ 1786)

Hoàng Sĩ Bá

Người xã Hà Thượng, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc

Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu, niên hiệu Cảnh Hưng 18 (1757), đời vua Lên Hiển Tông

Bùi Duy Thì

Người xã ỷ Bích, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc

Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 21 (1760) đời vua Lê Hiển Tông Cha Bùi Danh Lân

Hoàng Đình Đức (1750-?)

Người xã Hà Thượng, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc

Biền sinh hợp thức, 23 tuổi đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Nhâm Thìn niên hiệu Cảnh Hưng 33 (1772) đời vua Lê Hiển Tông Con của Hoàng Đình Thể; anh Hoàng Đình Duệ, Hoàng Đình Khuê Làm quan đến Trấn thủ xứ Hưng Hóa

Nguyễn Danh Lan

Người xã Ỷ Bích, huyện Thuần Lộc, nay tuộc huyện Hậu Lộc

Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Bính Thân niên hiệu Cảnh Hưng 37 (1776) đời vua Lê Hiển Tông Chết vì việc nước

Hoàng Đình Duệ

Người xã Hà Thượng, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc

Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông Chết vì việc nước

Con Hoàng Đình Thể, em Hoàng Đình Đức, anh Hoàng Đình Khuê, anh em đỗ cùng khoa

Hoàng Đình Khuê

Người xã Hà Thượng, huyện Thuần Lộc, nay thuộc huyện Hậu Lộc

Đỗ Đồng tạo sĩ ưu trúng hạng khoa Tân Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 42 (1781) đời vua Lê Hiển Tông Chết vì việc nước

Con Hoàng Đình Thể, em Hoàng Đình Đức, em Hoàng Đình Duệ, anh em đỗ cùng khoa

Trang 2

St.Thơ Chung

Phạm Bành (1827-1887)

Là quan nhà Nguyễn, chí sĩ phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỉ XIX

Ông quê ở làng Tương Xá (nay thuộc xã Hoà Lộc, huyện Hậu Lộc), đậu cử nhân khoa Giáp Tý (1864) Ông làm quan đến chức Án sát tỉnh Nghệ An, là người nổi tiếng thanh liêm và biết quan tâm đến đời sống nhân dân

Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, ông bỏ quan về quê cùng với Hoàng Bật Đạt mộ quan khởi nghĩa Giữa năm 1886 ông được cử cùng với Hoàng Bật Đạt, Đinh Công Tráng và một số tướng lĩnh khác xây dựng căn cứ Ba Đình nhằm bảo vệ cửa ngõ miền Trung và làm bàn đạp toả đánh địch ở đồng bằng Căn cứ Ba Đình thuộc địa phận huyện Nga Sơn (Thanh Hoá) Sở dĩ gọi là Ba Đình vì nơi đây gồm 3 làng: Mĩ Khê, Thượng Thọ, Mậu Thịnh ở liền nhau, mỗi làng có một ngôi đình, đứng ở làng này sẽ nhìn thấy đình ở hai làng bên và có một ngôi nghè chung, Lập căn cứ Ba Đình nghĩa quân có thể kiểm soát và khống chế đường số 1 (là con đường đi yết hầu của địch từ Bắc vào Nam), hơn thế nữa địa thế nơi đây rất thuận lợi cho việc xây dựng một căn cứ phòng ngự kiên cố và từ đó nghĩa quân có thể toả ra ngăn chặn những hoạt động của địch ở khu vực giữa Ninh Bình và Thanh Hoá

Sau những thất bại nặng nề ở Ba Đình, thực dân Pháp chủ trương tẩp trung đủ mọi binh chủng, có pháo binh yểm trợ đã tiến hành bao vây và mở nhiều đợt tấn công mới hạ nổi được Ba Đình

Mặc dù tuổi già sức yếu (lúc này ông đã 60 tuổi) nhưng Phạm Bành luôn có mặt ở trận địa, nơi nguy hiểm nhất để động vên và khích lệ các nghĩa binh chiến đấu

Sau khi Ba Đình thất thủ, ông đưa nghĩa quân rút về căn cứ dự phòng ở Mã Cao (huyện Yên Định) ngay đêm 20-2-1887, rồi lánh về quê Nhưng sau để cứu mẹ già và con là Phạm Tiêu bị quân Pháp bắt làm con tin, ông đã ra đầu thú và uống thuốc độc tự tử ngay sau khi mẹ và con được thả ngày

18 - 3 năm Đinh Hợi (tức ngày 11 - 4 - 1887) để tỏ rõ khí tiết của mình

Ông là tác giả sách: Ngũ tuần khánh tiết văn thảo (1878)

*****************************************

CÁC ĐỊA DANH CŨ Ở HẬU LỘC

Thiết nghĩa rất quan trong khi các bạn biết thêm về địa danh cũ trên mảnh đất quê hương Điều này giúp các bạn đọc biết nhiều hơn khi có cơ hội đọc các tư liệu cổ, tránh nhầm lẫn Thống kê dưới đây

là về tên cổ các vùng của Hậu Lộc trước cách mạng tháng 8 Gọi là các Tổng

- Đại Lý: nay là các xã Châu Lộc, Triệu Lộc, Đại Lộc, Đồng Lộc

- Uy Thống: Nay là xã Lộc Sơn, Lộc Tân và một phần xã Mỹ Lộc (thôn Minh Đức trước thuộc xã Lộc Sơn)

- Đông Thành: Nay là các xã Thành Lộc, Cầu Lộc, Phong Lộc, Tuy Lộc

- Thuần Lộc: Nay là các xã Thuần Lộc, Văn Lộc và một phần xã Mỹ Lộc (thôn Khoan Hồng bây giờ)

- Long Thịnh: Nay là xã Thịnh Lộc, thị trấn Hậu Lộc và một phần xã Mỹ Lộc (các thôn Đại Hữu, Vũ Thành, Trần Phú)

- Trường Xuân: Nay là các xã Xuân Lộc, Hòa Lộc, Hải Lộc

- Liên Cừ: Nay là các xã Liên Lộc, Hoa Lộc, Quang Lộc

- Vạn Thắng: Nay là các xã Hưng Lộc, Minh Lộc, Đa Lộc, Ngư Lộc

Các địa danh này tồn tại từ thế kỷ 19 tới nửa đầu thế kỷ 20

Ngày đăng: 18/04/2016, 14:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w