1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nghiên cứu ở hậu lộc, thanh hóa

104 351 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 3,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu đều chỉ ra nuôi trồng thủy sản ven biển bị tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu và sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá.. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Tổng qu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SAU ĐẠI HỌC

ĐINH THỊ NGUYỆT

ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG CỦA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU,

NGHIÊN CỨU Ở HẬU LỘC, THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA SAU ĐẠI HỌC

ĐINH THỊ NGUYỆT

ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG CỦA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU,

NGHIÊN CỨU Ở HẬU LỘC, THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Văn Cự

HÀ NỘI – 2016

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS Phạm Văn Cự, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Các số liệu và kết quả của luận văn này chưa từng được công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác

Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng qui cách

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn

Tác giả

Đinh Thị Nguyệt

Trang 4

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục hình

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG VÀ ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU VÙNG HẬU LỘC, THANH HÓA 4

1.1 Khái niệm về tính dễ bị tổn thương 4

1.2 Các phương pháp nghiên cứu tính dễ bị tổn thương 9

1.3 Các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh biến đổi khí hậu 12

1.3.1 Nghiên cứu trên thế giới 12

1.3.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 15

1.4 Đặc điểm vùng nghiên cứu và các điều kiện khí hậu liên quan đến nuôi trồng thủy sản ở Hậu Lộc - Thanh Hóa 18

1.4.1 Đặc điểm vùng nghiên cứu 18

1.4.2 Các điều kiện khí hậu liên quan đến nuôi trồng thủy sản 22

1.4.3 Các yếu tố liên quan đến khí hậu có ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản ven biển Hậu Lộc 27

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG CỦA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở HẬU LỘC, THANH HÓA 33

2.1 Phương pháp nghiên cứu 33

2.1.1 Phương pháp nghiên cứu và các bước đánh giá tính dễ bị tổn thương 33

2.1.2 Phương pháp chỉ số trong đánh giá TDBTT 35

Trang 5

2.2 Xác định độ phơi nhiễm, độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của nuôi

trồng thủy sản ven biển Hậu Lộc, Thanh Hóa 43

2.2.1 Tác động của biến đổi khí hậu đến hệ thống sản xuất nuôi trồng thủy sản 43

2.2.2 Độ phơi nhiễm E của nuôi trồng thủy sản ven biển Hậu Lộc 44

2.2.3 Độ nhạy cảm của nuôi trồng thủy sản ven biển Hậu Lộc 49

2.2.4 Xác định Khả năng thích ứng của NTTS ở Hậu Lộc 54

2.2.5 Áp dụng công thức tính mức độ dễ bị tổn thương của NTTS Hậu Lộc 56

2.3 Số liệu và phương pháp xử lý số liệu 56

2.3.1 Nguồn số liệu 56

2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 57

CHƯƠNG 3: TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG CỦA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở HẬU LỘC, THANH HÓA 58

3.1 Đanh giá tình hình nuôi trồng thủy sản ở năm xã ven biển ở Hậu Lộc58 3.2 Mức độ tổn thương của nuôi trồng thủy sản ven biển Hậu Lộc, Thanh Hóa 62

3.2.1 Kết quả tính toán độ phơi nhiễm E 63

3.2.2 Kết quả tính toán độ nhạy cảm 65

3.2.3 Kết quả tính toán Khả năng thích ứng 69

3.2.4 Kết quả tính toán mức độ tổn thương của NTTS ở Hậu Lộc 75

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHỤ LỤC 85

Phụ lục 1 Bản đồ các xã Đa Lộc, Hưng Lộc, Minh Lộc, Hải Lộc và Hòa Lộc 85

Phụ lục 2: Bảng sắp xếp các biến Độ phơi nhiễm, Độ nhạy cảm, Khả năng thích ứng 90

Trang 6

Danh mục các chữ viết tắt

BĐKH: Biến đổi khí hậu

GHCP: Giới hạn cho phép

HDI: Chỉ số phát triển con người

IPCC: Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu

NTTS: Nuôi trồng thủy sản

TDBTT: Tính dễ bị tổn thương

UNDP: Cơ quan Phát triển liên hiệp quốc

UNFCCC: Công ước khung Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu

Trang 7

Danh mục các bảng

Bảng 1.1: Dự báo diễn biến nhiệt độ trung bình năm ở Thanh Hóa giai đoạn

2020-2100 25

Bảng 1.2: Dự báo diễn biến lượng mưa năm ở Thanh Hóa giai đoạn 2020-2100 26

Bảng 1.3: Thống kê các cơn bão, ATNĐ ảnh hưởng đến Thanh Hóa từ năm 2004 – 2013 27

Bảng 1.4: Diện tích các loại đất bị ngập theo kịch bản nước biển dâng B2 của huyện Hậu Lộc 31

Bảng 2.1: Bảng sắp xếp các biến thành phần theo vùng 39

Bảng 2.2: Các công thức tính chỉ số dễ bị tổn thương 41

Bảng 2.3: Quy trình xác định tính dễ bị tổn thương theo phương pháp chỉ số 42

Bảng 2.4: Tác động của biến đổi khí hậu đến hệ thống sản xuất nuôi trồng thủy sản ven biển 43

Bảng 2.5: Các chỉ số phơi nhiễm của NTTS ven biển ở Hậu Lộc Thanh Hóa 47

Bảng 2.6: Các chỉ số nhạy cảm của NTTS ven biển ở Hậu Lộc Thanh Hóa 52

Bảng 2.7: Các biến của khả năng thích ứng 54

Bảng 3.1: Diện tích nuôi trồng thủy sản theo các mô hình nuôi năm 2013 58

Bảng 3.2: Diện tích đất chuyển đổi sang NTTS từ 2004 - 2013 58

Bảng 3.3: Thông số đầu vào cho chỉ số độ phơi nhiễm E 63

Bảng 3.4: Kết quả tính toán độ phơi nhiễm 64

Bảng 3.5: Thông số đầu vào của độ nhạy cảm 65

Bảng 3.6: Mối quan hệ giữa các biến của độ nhạy cản và tính dễ bị tổn thương 67

Bảng 3.7: Kết quả tính toán độ nhạy cảm 67

Bảng 3.8: Thông số đầu vào của Khả năng thích ứng 69

Bảng 3.9: Mối quan hệ giữa biến phụ và biến thành phần AC3 72

Bảng 3.10: Kết quả tính toán Khả năng thích ứng 72

Bảng 3.11: Kết quả tính toán mức độ tổn thương 76

Trang 8

Danh mục hình

Hình 1.1: Sơ đồ cách tiếp cận kết quả 7

Hình 1.2: Sơ đồ cách tiếp cận bối cảnh 8

Hình 1.3: Sơ đồ mô hình đánh giá TDBTT của NTTS cấp quốc gia 14

Hình 1.4: Sơ đồ đánh giá tính dễ bị tổn thương của các loài thủy sản vùng nhiệt đới Thái Bình Dương 15

Hình 1.5: Bản đồ huyện Hậu Lộc 20

Hình 1.6: Vị trí vùng nghiên cứu 21

Hình 1.7: Bản đồ ngập do nước biển dâng của huyện Hậu Lộc đến năm 2020 30

Hình 1.8: Bản đồ ngập do mực nước biển dâng năm 2050 của huyện Hậu Lộc 30

Hình 1.9: Bản đồ ngập do mực nước biển dâng năm 2100 của huyện Hậu Lộc 31

Hình 2.1: Các hợp phần của TDBTT 35

Hình 2.2: Vai trò của khả năng thích ứng 38

Hình 2.3: Sơ đồ xác định các biến của tính dễ bị tổn thương 38

Hình 3.2: Bản đồ tính dễ bị tổn thương của 5 xã 77

Trang 9

Danh mục các biểu đồ

Biểu đồ 1.1: Biểu đồ theo dõi nhiệt độ trung bình năm từ 1980-2010 tại trạm Tĩnh Gia

24

Biểu đồ 1.2: Biểu đồ theo dõi nhiệt độ trung bình năm từ 1980-2010 tại trạm Thanh Hóa 24

Biểu đồ 1.3: Biểu đồ theo dõi lượng mưa trung bình năm qua các năm từ 1980-2010 tại trạm Tĩnh Gia 26

Biểu đồ 1.4: Biểu đồ theo dõi lượng mưa trung bình năm qua các năm từ 1980-2010 tại trạm Thanh Hóa 26

Biểu đồ 1.5: Quan trắc độ mặn trên hệ thống sông Lèn 29

Biểu đồ1.6: Quan trắc độ mặn trên hệ thống sông Lạch Trường 29

Biểu đồ 3.1: Biến động diện tích NTTS xã Minh Lộc 59

Biểu đồ 3.2:Biến động diện tích NTTS xã Đa Lộc 59

Biểu đồ 3.3: Biến động diện tích NTTS xã Hải Lộc 60

Biểu đồ 3.4: Biến động tỉ lệ diện tích và tỉ lệ giá trị NTTS xã Đa Lộc 61

Biểu đồ 3.5: Biến động tỉ lệ diện tích và tỉ lệ giá trị NTTS xã Hải Lộc 62

Biểu đô 3.6: So sánh diện tích NTTS của xã Đa Lộc và xã Hưng lộc 65

Biểu đô 3.7: So sánh giá trị NTTS của xã Hải Lộc và xã Hưng lộc 68

Biểu đồ 3.8: Sản lượng NTTS của xã Hải Lộc và xã Hưng lộc 68

Biểu đô 3.9: Lao động phụ thuộc vào NTTS của xã Hải Lộc và xã Hưng lộc 69

Biểu đồ 3.10: So sánh các điều kiện xã hội của xã Minh Lộc, Hải Lộc và Hòa Lộc 73

Biểu đồ 3.11: Các điều kiện kinh tế liên quan đến NTTS của Minh Lộc, Hải Lộc và Hòa Lộc 74

Biểu đồ 3.12: Hạ tầng cơ bản và hạ tầng cho NTTS của Minh Lộc, Hải Lộc và Hòa Lộc 74

Biểu đồ 3.13: So sánh các biến E, S, AC của các xã 75

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nuôi trồng thủy sản là sinh kế quan trọng ở hầu hết các vùng ven biển và chịu tác động trực tiếp của BĐKH Tổn thương từ NTTS do BĐKH ảnh hưởng đến kinh tế của các hộ dân vùng ven biển, đặc biệt là hộ nghèo Từ đó dẫn đến các tác động về mặt xã hội như việc không được chăm sóc y tế, không được tiếp cận giáo dục

Tác động của BĐKH đến hệ thống sản xuất nuôi trồng thủy sản rất khó đánh giá do

độ bất định liên quan đến quy mô và tỉ lệ những thay đổi được dự báo hay do hiểu biết hạn chế về tác động lý sinh có thể có đến các hệ thống nuôi trồng thủy sản Các nghiên cứu tác động của BĐKH đến NTTS không phổ biến, có thể do vấn đề BĐKH không được coi là vấn đề ưu tiên trong ngành công nghiệp này Tuy nhiên việc hiểu cơ chế của BĐKH tác động đến các hệ thống sản xuất NTTS là cần thiết để có quyết định phù hợp về chính sách và chiến lược quản lý trong ngành NTTS

Là một trong 6 huyện thị ven biển, Hậu Lộc nằm cách trung tâm thành phố Thanh Hóa 25km về phía Đông Bắc, được bao bọc bởi sông Lèn ở phía bắc, sông Mã ở phía tây, sông Cầu Sài và sông Trường Giang ở phía nam; phía đông giáp với biển Đông Hậu Lộc có ba dạng địa hình, vùng đồi núi, vùng đồng bằng chủ yếu là phù sa và vùng ven biển Vùng ven biển chiến 38,29% diện tích tự nhiên toàn huyện, nằm giữa hai cửa lạch là Lạch Sung, và Lạch Trường, đây là hai trong số các cửa sông chính của tỉnh Thanh Hóa Hậu Lộc có 12km bờ biển, chiếm 11,76% chiều dài bờ biển Thanh Hóa Sau nhiều năm phù sa bồi đắp, Hậu Lộc có những bãi bồi rộng hàng trăm ha tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản và trồng cây chắn sóng Hậu Lộc có 182,5ha (năm 2000) rừng phòng hộ ven biển với cây trồng chủ yếu là sú, vẹt, đang góp phần giữ đất rất hiệu quả Vùng bờ biển Hậu Lộc có tiềm năng để xây dựng cảng cá và quai đê lấn biển để nuôi trồng thủy sản Chính vì có các điều kiện thuận lợi như vậy nên GDP ngành nông lâm thủy sản của Hậu Lộc cũng chiếm 11,7% so với toàn tỉnh, cao hơn nhiều so với công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm có 2,37% (năm 2006 ), tỉ trọng lao động trong ngành nông lâm thủy sản của huyện luôn chiếm hơn 70% trong giai đoạn từ 1995 đến 2006 Phân bố dân cư của Hậu Lộc cũng tập trung cao ở các xã ven biển, có xã chiếm tới 9,35% tổng dân số của huyện (năm 2006) Việc tập trung

Trang 11

dân số, tỉ trọng lao động cao cho thấy tầm quan trọng của ngành nông lâm thủy sản ở vùng ven biển của huyện Hậu Lộc trong phát triển kinh tế, xã hội Tuy nhiên, cũng chính do đặc thù về địa hình ven biển nên ngành nông lâm thủy sản, nhất là nuôi trồng thủy sản của Hậu Lộc bị chi phối bởi các yếu tố khí hậu

Tác động của biến đổi khí hậu đến ngành nuôi trồng thủy sản ven biển đã được nghiên cứu ở nhiều nơi trên thế giới cũng như một số nơi ở Việt Nam Các nghiên cứu đều chỉ ra nuôi trồng thủy sản ven biển bị tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu

và sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá Việc xác định được mức độ tổn thương để đề ra các giải pháp thích ứng đang là vấn đề cấp thiết được đặt ra cho ngành thủy sản và cho các địa phương ven biển Do đó, để góp phần làm sáng tỏ thêm vấn đề

này, tác giả đã lựa chọn đề tài “Đánh giá tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nghiên cứu ở Hậu Lộc, Thanh Hóa“

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản ở các xã ven biển của huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa Mục tiêu được xác định trên cơ sở xem xét bối cảnh biến đổi khí hậu trong khu vực Thanh Hóa - Bắc Trung Bộ, khả năng tiếp cận địa bàn nghiên cứu và thu thập số liệu Mục tiêu của luận văn hướng tới mục đích xa hơn là góp phần tạo ra những căn cứ cho việc ra quyết định trong chính sách thích ứng với biến đổi khí hậu của địa phương

3 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Tổng quan các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương cho nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh biến đổi khí hậu đã được áp dụng trên thế giới và ở Việt Nam

- Phân tích đặc điểm của phương pháp chỉ số

- Đánh giá thực trạng nuôi trồng thủy sản và tác động của biến đổi khí hậu đến nuôi trồng thủy sản ven biển Hậu Lộc, phân tích các điểm đặc trưng

- Tính mức độ dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản ở các xã ven biển Hậu Lộc theo phương pháp chỉ số

- Thể hiện kết quả trên bản đồ

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động nuôi trồng thủy sản ven biển trong bối cảnh

biến đổi khí hậu

Trang 12

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn 5 xã ven biển của

huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa, trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2013 Nghiên cứu không sử dụng các kịch bản biến đổi khí hậu để đánh giá cho tương lai, chỉ xem xét đối tượng nghiên cứu trong phạm vi thời gian xác định

5 Giới thiệu về kết cấu của luận văn:

Kết cấu của luận văn ngoài những phần không thể thiếu như phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn có 3 chương chính:

- Chương 1: Tổng quan về tính dễ bị tổn thương và các đặc điểm khí hậu vùng Hậu Lộc, Thanh Hóa

- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và đánh giá tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản ở Hậu Lộc, Thanh Hóa

- Chương 3: Tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản ở Hậu Lộc, Thanh Hóa

Trang 13

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG VÀ ĐẶC ĐIỂM

KHÍ HẬU VÙNG HẬU LỘC, THANH HÓA 1.1 Khái niệm về tính dễ bị tổn thương

1.1.1 Khái niệm chung về tính dễ bị tổn thương

Dễ bị tổn thương là một khái niệm được tranh luận nhiều trong những thập kỉ gần đây Nguồn gốc của từ “dễ bị tổn thương” là khả năng có thể bị thương, do đó định nghĩa dễ bị tổn thương cơ bản nhất là “khả năng bị thương“ hay “thiệt hại tiềm năng” Tuy nhiên, định nghĩa chung về tính dễ bị tổn thương không phân biệt sự thiệt hại của các yếu tố tự nhiên, cá nhân hay xã hội Các nghiên cứu tính dễ bị tổn thương đều chỉ ra rằng có sự phức tạp về thuật ngữ và nhầm lẫn xung quanh đánh giá tính dễ

bị tổn thương [17, 19, 35] Có rất nhiều khái niệm khác nhau về tính dễ bị tổn thương

ở các lĩnh vực kiến thức khác nhau, thậm chí là trong cùng một lĩnh vực [26] Tuy nhiên, có thể chỉ ra ba trường phái về tính dễ bị tổn thương Một trường phái chú trọng đến tính dễ bị tổn thương do tiếp xúc với các hiểm họa tự nhiên, một chú trọng đến các tổn thương xã hội và một là kết hợp cả hai trường phái kia, xác định tính dễ bị tổn thương chứa đựng cả hiểm họa tự nhiên và chịu tác động thích ứng của con người

Tính dễ bị tổn thương được sử dụng trong khoa học có nguồn gốc từ nghiên cứu địa lý và hiểm họa tự nhiên nhưng thuật ngữ này bây giờ là một khái niệm trung tâm trong một loạt các bối cảnh nghiên cứu như quản lý thiên tai, sinh thái, sức khỏe cộng đồng, đói nghèo và phát triển, khoa học phát triển bền vững, thay đổi sử dụng đất, các tác động khí hậu và thích ứng

1.1.2 Khái niệm tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu

Theo khái niệm của UNFCCC đưa ra BĐKH được cho là trực tiếp hay gián tiếp

do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng

góp thêm vào BĐKH tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được BĐKH là sự

khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu, trong đó trung bình được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thường là vài thập kỷ, thậm chí thế kỷ (Ví dụ: ấm lên, lạnh đi ) Sự biến động của khí hậu dài hạn

sẽ dẫn tới BĐKH

Các biểu hiện của BĐKH đã được xác định là (i) nhiệt độ trung bình của trái đất tăng lên kéo theo hiện tượng tan băng ở hai bán cầu làm cho mực nước biển dâng; (ii)

Trang 14

lượng mưa thay đổi ở các vùng trên trái đất; (iii) các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão lũ, hạn hán, nắng nóng, rét đậm rét hại, phân bố dị thường về nhiệt độ gia tăng

Định nghĩa dễ bị tổn thương liên quan đến biến đổi khí hậu có xu hướng chia làm hai loại, xem dễ bị tổn thương (i) là thuật ngữ chỉ số lượng (tiềm năng) gây thiệt hại cho hệ thống do một sự kiện hoặc hiểm họa đặc biệt liên quan đến khí hậu, hoặc (ii) như là một tình trạng đã tồn tại trong hệ thống trước khi nó gặp một sự kiện gây nguy hiểm [22] Xu hướng đầu tiên xuất phát từ cách tiếp cận dựa trên đánh giá tác động của hiểm họa mà không chú trọng đến vai trò của con người trong việc giảm thiểu thiệt hại do hiểm họa Xu hướng này xem tính dễ bị tổn thương của hệ thống con người được quyết định do hiểm họa tự nhiên mà nó tiếp xúc cũng như tần suất xảy ra các hiểm họa [22] Liên quan đến xu hướng này, Fuesell, 2007 cũng đưa ra bốn khía cạnh cần thiết để miêu tả một tình trạng dễ bị tổn thương, đó là: bản thân hệ thống, các yếu tố quan trọng của hệ thống đang bị đe doạ do tiếp xúc với một hiểm họa, bản thân mối hiểm họa và khoảng thời gian xem xét tính dễ bị tổn thương [25] Xu hướng thứ hai coi tính dễ bị tổn thương là một tình trạng tồn tại trong nội bộ hệ thống, độc lập với hiểm họa bên ngoài [22] Xu hướng này được minh họa rõ qua các nghiên cứu về tổn thương xã hội, thường để xác định các nhóm đối tượng trong xã hội hay các vùng địa

lý dễ bị tổn thương nhất khi có những tiếp xúc với hiểm họa tương tự nhau [16, 23]

Các cách hiểu khác nhau về tính dễ bị tổn thương trong giới khoa học đa ngành

và giới chính sách có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định và giải quyết những tác động của biến đổi khí hậu [35] Do đó Ủy ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC), được coi là tổ chức dẫn dắt giới khoa học quốc tế trong đánh giá biến đổi khí hậu, đã thành lập các nhóm làm việc riêng biệt, nghiên cứu về từng vấn đề của biến đổi khí hậu toàn cầu Trong báo cáo lần thứ 3 năm 2001, IPCC đưa ra định nghĩa về tính dễ bị tổn

thương, theo đó “tính dễ bị tổn thương là mức độ mà một hệ thống tự nhiên hay xã hội

có thể chịu đựng để chống đỡ thiệt hại do biến đổi khí hậu Tính dễ bị tổn thương là hàm của độ nhạy cảm (mức độ mà một hệ thống phản ứng với một thay đổi về khí hậu, bao gồm các tác động có lợi hoặc có hại), khả năng thích ứng (mức độ mà hệ thống điều chỉnh các thiệt hại tiềm năng hay tận dụng các cơ hợi thuận lợi mà thay đổi về khí hậu mang lại) và mức độ mà hệ thống tiếp xúc với các hiểm họa khí hậu” Bằng

định nghĩa này, IPPC đã khẳng định lại một số đánh giá có độ tin cậy cao trước đó,

Trang 15

như là (i) hầu hết các hệ thống nhạy cảm với cường độ và tỉ lệ của biến đổi khí hậu Sự nhạy cảm này bao gồm các tác động bất lợi ở nhiều vùng hay những tác động có lợi tiềm ẩn ở một số vùng khác; (ii) các hệ thống tiếp xúc với nhiều áp lực khác nhau thường dễ bị tổn thương với biến đổi khí hậu hơn là các hệ thống không phải chịu áp lực [30] Theo định nghĩa của IPCC, một hệ thống có khả năng bị tổn thương cao là một hệ thống rất nhạy cảm với những thay đổi nhỏ của khí hậu

Trong báo cáo của IPCC năm 2007, định nghĩa tính dễ bị tổn thương và các yếu

tố thành phần phơi nhiễm và nhạy cảm có thay đổi hoặc được làm rõ hơn so với báo

cáo năm 2001 Theo IPPC 2007, “tính dễ bị tổn thương là mức độ mà một hệ thống nhạy cảm và không có khả năng đối phó với các tác động bất lợi của biến đổi khí hậu, gồm dao động khí hậu và khí hậu cực đoan Tính dễ bị tổn thương là hàm của đặc tính, cường độ và tỉ lệ của biến đổi và dao động khí hậu mà hệ thống bị phơi nhiễm, độ nhaỵ cảm và khả năng thích ứng của nó” Sự thay đổi về định nghĩa tính dễ bị tổn

thương cũng phản ánh một thực tế là các định nghĩa và khung khái niệm về hiểm họa, phơi nhiễm, tính dễ bị tổn thương, rủi ro và thích ứng trong bối cảnh biến đổi khí hậu rất đa dạng, chồng chéo và thường gây tranh cãi trong thời gian trước [30] Trong báo cáo WG II, AR5 Chapter19, 2013, IPCC đã xây dựng và phát triển các tiêu chí để xác định tính dễ bị tổn thương và rủi ro quan trọng nhằm phân biệt các khía cạnh có ảnh hướng lẫn nhau này Có năm tiêu chí được sử dụng, đó là : (i) Tiếp xúc của một xã hội, cộng đồng, hoặc hệ thống xã hội - sinh thái với căng thẳng/áp lực khí hậu; (ii) Tầm quan trọng của hệ thống dễ bị tổn thương ; (iii) Khả năng hạn chế của xã hội, cộng đồng hoặc các hệ thống xã hội - sinh thái để ứng phó và xây dựng năng lực thích ứng nhằm giảm thiểu hoặc hạn chế các tác động xấu của các mối nguy hiểm liên quan đến khí hậu; (iv) Mức độ lâu bền của các điều kiện dễ bị tổn thương và mức độ thuận nghịch của những hậu quả TDBTT được xem là quan trọng khi nó dai dẳng và khó thay đổi; (v) Sự hiện diện của các điều kiện làm cho xã hội bị căng thẳng tích lũy trong các hệ thống phức tạp và nhiều tương tác [30]

Cùng với hai xu hướng định nghĩa khác nhau nêu trên là hai kiểu phương pháp tiếp cận khác nhau được áp dụng trong các nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương Đó là phương pháp tiếp cận dựa trên kết quả hay điểm cuối (Outcome Vulnerability) và tiếp cận dựa trên bối cảnh hay điểm bắt đầu (Contextual Vulnerability) [35, 43] Phương

Trang 16

pháp tiếp cận dựa trên kết quả coi tính dễ bị tổn thương là điểm cuối của phân tích, cho rằng tính dễ bị tổn thương là tác động còn lại của biến đổi khí hậu trên một đối tượng phơi nhiễm sau khi đã thực hiện các biện pháp thích ứng Cách tiếp cận này kết hợp thông tin về tác động tự nhiên tiềm năng của khí hậu với thông tin về khả năng kinh tế

- xã hội của con người để đối phó và thích ứng Vì thế, tính dễ bị tổn thương được xác định bởi khả năng thích ứng của hệ thống Tuy nhiên, khả năng thích ứng lại được nhấn mạnh vào các yếu tố tự nhiên mà không coi trọng vai trò của các yếu tố kinh tế -

xã hội trong việc điều chỉnh các tác động của biến đổi khí hậu [25, 36] Định nghĩa tính dễ bị tổn thương của IPCC 2007 tương ứng với cách tiếp cận kết quả, coi tính dễ

bị tổn thương là điểm cuối [26] Cách tiếp cận kết quả tập trung vào tính dễ bị tổn thương tự nhiên nên thông tin về chính sách thích ứng cho cách tiếp cận này theo phương pháp tiếp cận từ trên xuống ( top – down) Cách tiếp cận thông tin từ trên xuống bắt nguồn từ dự tính khí hậu toàn cầu, có thể hạ quy mô và áp dụng để đánh giá tác động biến đổi khí hậu vùng [43]

Hình 1.1: Sơ đồ cách tiếp cận kết quả

Nguồn: Thomas Fellmann (2012) Phương pháp tiếp cận bối cảnh coi tính dễ bị tổn thương là điểm bắt đầu, là khả năng hiện tại của hệ thống không đối phó được với thay đổi của các điều kiện khí hậu

Độ phơi nhiễm

Dao động khí hậu và biến đổi khí hậu

Độ nhạy cảm

Tác động tiềm tàng Khả năng thích ứng

Tính dễ bị tổn thương - Kết quả

Trang 17

Do đó tính dễ bị tổn thương bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi các điều kiện tự nhiên cũng như các cấu trúc, các quá trình động lực xã hội, kinh tế, chính trị, thể chế và công nghệ Trong cách tiếp cận theo bối cảnh, tính dễ bị tổn thương được xem như một đặc trưng của hệ sinh thái và xã hội, được xác định bởi nhiều yếu tố và nhiều quá trình nên có thể làm giảm tính dễ bị tổn thương bằng cách điều chỉnh các điều kiện trong bối cảnh diễn ra biến đổi khí hậu làm tăng khả năng thích ứng của các nhóm với sự thay đổi của các tác nhân khí hậu [17, 37] Phương pháp tiếp cận bối cảnh chú trọng đến tính dễ bị tổn thương về kinh tế - xã hội nên cách tiếp cận thông tin về chính sách thích ứng theo phương pháp từ dưới lên (bottom – up) Cách tiếp cận thông tin từ dưới lên đặc biệt liên quan đến dân số và các bên tham gia của hệ thống trong việc xác định

áp lực, tác động của biến đổi khí hậu và chiến lược thích ứng [43]

Hình 1.2: Sơ đồ cách tiếp cận bối cảnh

Nguồn: Thomas Fellmann (2012)

Sự khác biệt của hai cách tiếp cận này thể hiện ở quan điểm về (i) nguồn gốc vấn đề, một là từ biến đổi khí hậu, một là từ tổn thương xã hội; (ii) bối cảnh chính sách Cách tiếp cận kết quả tập trung vào thích ứng về công nghệ và chiến lược giảm nhẹ trong khi cách tiếp cận bối cảnh lại chú trọng đến phát triển bền vững và thích ứng

về mặt xã hội; (iii) quan hệ giữa tính dễ bị tổn thương và khả năng thích ứng Trong

Các điều kiện của bối cảnh Thể chế Kinh tế - Xã hội

Quá trình lý sinh học Công nghệ

Cấu trúc kinh tế, xã hội và sự thay đổi cấu

trúc

Trang 18

cách tiếp cận bối cảnh, tính dễ bị tổn thương xác định khả năng thích ứng và ngược lại; (iv) điểm bắt đầu của phân tích Khi coi tính dễ bị tổn thương là kết quả thì dựa vào các kịch bản hiểm họa khí hậu tương lai, còn theo bối cảnh thì bắt đầu từ tính dễ bị tổn thương đang có với các tác nhân khí hậu [24] Dù hai cách tiếp cận thể hiện hai quan điểm khác nhau nhưng không thể nói cách tiếp cận nào tốt hơn Có ý kiến nhấn mạnh rằng nên sử dụng cả hai cách tiếp cận để này để bổ sung cho nhau trong nghiên cứu tính dễ bị tổn thương với các vấn đề biến đổi khí hậu [36 Cách tiếp cận kết quả thường gắn với các câu hỏi “tác động của BĐKH ở các vùng khác nhau là gì?“ hay

“lĩnh vực nào dễ bị tổn thương hơn do biến đổi khí hậu?” nhưng việc trả lời các câu hỏi này lại là một phần quan trọng của cách tiếp cận bối cảnh

Hai cách tiếp cận này đều có điểm mạnh và điểm yếu khác nhau Cách tiếp cận kết quả dễ ứng dụng trong thực tế hơn khi thực hiện một nghiên cứu, nó cho kết quả cụ thể, có thể so sánh được mức độ tổn thương giữa các vùng Cách tiếp cận bối cảnh lại giúp cho việc ra những quyết định chính sách được dễ dàng hơn khi cung cấp một bức tranh tổng thể về các điều kiện thể chế, kinh tế xã hội, công nghệ có liên quan

Sự khác nhau về xu hướng và phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu tính dễ bị tổn thương cho thấy tính dễ bị tổn thương có đặc thù về bối cảnh, mục đích, thời gian

và địa điểm cũng như quan điểm đánh giá [43].Bên cạnh đó, một hệ thống thường liên quan đến rất nhiều yếu tố như vật chất, xã hội, môi trường, kinh tế, văn hóa, nên việc nghiên cứu tính dễ bị tổn thương cần sử dụng cách tiếp cận tổng hợp hay đa phương diện để có thể hiểu toàn bộ về tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu Như đã trình bày ở trên, có hai xu hướng về định nghĩa tính dễ bị tổn thương cùng với hai cách tiếp cận tương ứng nhưng rõ ràng chúng không tách biệt hoàn toàn trong các nghiên cứu và nên được sử dụng để bổ sung cho nhau

Từ việc phân tích các khái niệm về tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu, các cách tiếp cận khác nhau trong các nghiên cứu đã được thực hiện, học viên nhận thấy việc lựa chọn cách tiếp cận kết quả để đánh giá tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản trong đề tài của mình là phù hợp và kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng vào thực tế tốt hơn

1.2 Các phương pháp nghiên cứu tính dễ bị tổn thương

Trang 19

Do xu hướng khác nhau về định nghĩa, khung khái niệm hay cách tiếp cận dẫn đến các phương pháp và công cụ đánh giá tính dễ bị tổn thương cũng khác nhau Các phương pháp đánh giá thường gắn với khung khái niệm hay cách tiếp cận Vệc tránh nhầm lẫn giữa định nghĩa tính dễ bị tổn thương và khung khái niệm là rất cần thiết Định nghĩa TDBTT miêu tả các hợp phần của nó thì khung khái niệm cung cấp phương tiện để xác định tính dễ bị tổn thương [43] Để đạt được mục tiêu nghiên cứu của mình, các tổ chức đã đưa ra nhiều khung khái niệm, phương pháp đánh giá khác nhau

Khung đánh giá TDBTT của IPCC đưa ra năm 1991, là kết hợp đánh giá của các chuyên gia với việc phân tích các dữ liệu về kinh tế - xã hội và các đặc trưng về mặt vật lý để đánh giá toàn diện tác động của nước biển dâng trong đó bao gồm cả đánh giá TDBTT Phạm vi của phương pháp được sử dụng linh hoạt tại nhiều cấp độ khác nhau như đánh giá cho vùng ven biển, cho tiểu vùng, cho cấp quốc gia và toàn cầu Phương pháp này yêu cầu các thông số đầu vào là thông tin, số liệu về kinh tế xã hội và đặc điểm vật lý của vùng nghiên cứu Đầu ra của việc đánh giá là các yếu tố dễ

bị tổn thương, danh mục các chính sách trong tương lai nhằm thích ứng cả về mặt vật

lý cũng như kinh tế - xã hội

Theo Thomas E Downing - Viện Môi trường Stockholm và Anand Patwardhan

- Viện Công nghệ Ấn Độ trong Báo cáo Kỹ thuật lần thứ 3 về Đánh giá tính dễ bị tổn thương để thích ứng thì việc đánh giá TDBTT gồm có 5 hoạt động chính [23]

- Hoạt động 1: Thiết lập cấu trúc đánh giá TDBTT bao gồm: Các định nghĩa, khung đánh giá và mục tiêu

- Hoạt động 2: Xác định các nhóm dễ bị tổn thương: Tác động và các biên đánh giá

- Hoạt động 3: Đánh giá tính nhạy cảm: TDBTT hiện tại của các hệ thống và nhóm dễ bị tổn thương

- Hoạt động 4: Đánh giá TDBTT trong tương lai

- Hoạt động 5: Lồng ghép các kết quả đánh giá TDBTT với các chính sách giảm thiểu và thích ứng

Trong các hoạt động trên, các bảng câu hỏi được sử dụng để xác định mục tiêu cũng như phạm vi đánh giá TDBTT cho từng lĩnh vực cụ thể, các lĩnh vực riêng sẽ có

Trang 20

các bảng câu hỏi riêng Việc đánh giá TDBTT trong tương lai được xác định bằng việc

áp dụng các kịch bản như kịch bản phát triển kinh tế xã hội, kịch bản nước biển dâng, kịch bản nhiệt độ lượng mưa, để đưa ra các đánh giá Các ma trận tác động được sử dụng để đánh giá trong hoạt động này Cuối cùng là sự liên kết giữa các đánh giá TDBTT hiện tại và tương lai với các chính sách giảm thiểu, các chiến lược phát triển

và định hướng trong tương lai đối với vấn đề BĐKH

Có ba phương pháp thường được dùng để ước lượng tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản (i) phương pháp dựa vào chỉ số, (ii) phương pháp dựa vào mô hình

và GIS, (iii) phương pháp các bên tham gia [43].Phương pháp dựa trên chỉ số thường được sử dụng như một phương tiện định lượng tính dễ bị tổn thương và có thể tạo ra các kết quả có thể đo lường được Tuy nhiên, phương pháp này có những hạn chế và thách thức như thiếu dữ liệu đồng nhất, không sẵn có dữ liệu, quy mô có thể áp dụng

số liệu và sự phức tạp của tính dễ tổn thương có thể không dễ dàng được thể hiện bằng việc sử dụng các chỉ số [39] Tuy nhiên, ngay cả với những thách thức này, phương pháp chỉ số vẫn cung cấp một trong những phương pháp ưu thế để đo tính dễ bị tổn thương

Phương pháp mô hình có xu hướng tập trung vào một tác nhân hoặc nhóm thay đổi cụ thể khi đo lường tính dễ bị tổn thương Phương pháp này áp dụng các biện pháp thống kê và công nghệ bản đồ để hiển thị mức độ bị tổn thương Phương pháp mô hình

và GIS thường được kết hợp với các phương pháp khác như phương pháp chỉ số hay phương pháp chuyên gia, khi đánh giá tổn thương [42]

Phương pháp các bên tham gia đánh giá tính dễ bị tổn thương nhấn mạnh tầm quan trọng của bối cảnh cụ thể và tăng đối thoại trong cộng đồng, đặc biệt là ở quy mô địa phương hay quốc gia Phương pháp có sự tham gia của các bên nhìn chung thường cho kết quả dễ chấp nhận hơn với cộng đồng, đặc biệt thích hợp để xác định và lập kế hoạch thích ứng Các chính sách thích ứng được đưa ra theo phương pháp có sự tham gia của các bên thường dễ có khả năng được thực hiện Mức độ tham gia của các bên trong quá trình đánh giá tính dễ bị tổn thương cũng rất khác nhau và có thể diễn ra ở các giai đoạn khác nhau Phương pháp này có thể được sử dụng độc lập hay kết hợp với các phương pháp khác để đánh giá tính dễ bị tổn thương

Trang 21

1.3 Các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh biến đổi khí hậu

1.3.1 Nghiên cứu trên thế giới

Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới về tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản với biến đổi khí hậu Một số nghiên cứu về biến động khí hậu trong quá khứ và hiện tại tác động đến lĩnh vực thủy sản, một số khác nghiên cứu về các kịch bản biến đổi khí hậu trong tương lai và dự báo tác động của nó đến ngành công nghiệp thủy sản [29] Các nghiên cứu này được thực hiện ở nhiều quy mô và khác nhau, từ cấp độ cộng đồng đến quốc gia và cả các vùng địa lý rộng lớn như Thái Bình Dương, Châu Phi hay Đông Nam Á Tuy nhiên, chính do đặc thù nghiên cứu ở nhiều cấp độ nên phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương cho nuôi trồng thủy sản cũng rất khác nhau trong các nghiên cứu

Trong nghiên cứu của Vincent Gillett and George Myvette , các cuộc đối thoại, thảo luận giữa các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, khu vực tư nhân, các cá nhân trong cộng đồng, các chuyên gia kỹ thuật, các nhà nghiên cứu về vấn đề biến đổi khí hậu ở Belize đã được tổ chức để đánh giá tính dễ bị tổn thương và các tác động của biến đổi khí hậu đến ngành công nghiệp nuôi trồng thủy sản và nghề cá ở Belize theo các kịch bản biến đổi khí hậu khác nhau [44 ] Nghiên cứu của Edward H Allison áp dụng phương pháp chỉ số để xác định chỉ số dễ bị tổn thương của 132 quốc gia nhằm

so sánh một cách hệ thống tính dễ bị tổn thương tương đối của nền kinh tế quốc gia trước tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu đối với nghề cá ở quy mô toàn cầu [18 ]; Johann Bell và Eddie Allison đánh giá tính dễ bị tổn thương của việc đánh bắt cá ngừ

và đóng góp của ngành công nghiệp chế biến cá ngừ cho nền kinh tế một số quốc gia

và vùng lãnh thổ ở Thái Bình Dương bằng phương pháp xác định chỉ số tác động tiềm năng (PI) và khả năng thích ứng (AC) [20]; hay nghiên cứu của Gonza’lz E đánh giá tính dễ bị tổn thương của ngành nuôi trồng thủy sản và cho bốn loài thủy sản chính của Chile bằng cách xác định các chỉ số độ phơi nhiễm, độ nhạy cảm và khả năng thích ứng [27]

Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương bằng mô hình thường được kết hợp với các phương pháp khác như phương pháp chỉ số, GIS, phương pháp chuyên gia Trong nghiên cứu của Handisyde NT đã đánh giá tính dễ bị tổn thương của nuôi

Trang 22

trồng thủy sản ở cấp quốc gia bằng phương pháp chỉ số kết hợp với GIS, đưa ra bản đồ tính dễ bị tổn thương về tầm quan trọng kinh tế của nuôi trồng thủy sản, khả năng thích ứng, tính dễ bị tổn thương về nuôi trồng thủy sản nước ngọt với ngập lụt và hạn hán, nuôi trồng thủy sản nước lợ và nuôi thủy sản trên biển với lốc xoáy [29] Mỗi một hợp phần (độ nhạy cảm, độ phơi nhiễm và khả năng thích ứng) được trình bày như một

mô hình thành phần, có thể sử dụng để đánh giá tác động riêng lẻ của biến đổi khí hậu, sau đó được kết hợp vào mô hình chính để đưa ra chỉ số tổng hợp của tính dễ bị tổn thương Các hợp phần trong các mô hình thành phần bao gồm (hoặc không bao gồm)

và kết hợp với các trọng số khác nhau có yêu cầu khác nhau về số liệu Việc sử dụng

dữ liệu không gia và GIS sẽ cho các chỉ số của các vùng bị tác động trong phạm vi quốc gia và các vấn đề đặc biệt liên quan, vượt xa khả năng một chỉ số bằng số có thể thể hiện, nhưng phải lưu ý đây vẫn là công cụ biểu thị Hạn chế về kết quả đạt được phụ thuộc rất lớn vào khả năng sẵn có, chất lượng và cách xử lý số liệu Nghiên cứu này đưa ra sơ đồ tổng hợp cách đánh giá tính dễ bị tổn thương như hình dưới đây

Trang 23

Hình 1.3: Sơ đồ mô hình đánh giá TDBTT của NTTS cấp quốc gia

Nguồn Handisyde et al, (2006)

Suy dinh dưỡng

Tỉ lệ giá trị thủy sản nước ngọt / GDP

Tỉ lệ giá trị thủy sản nước lợ / GDP

Tỉ lệ giá trị thủy sản nước mặn / GDP

Tỉ lệ sản lượng thủy sản nước ngọt / tổng

Phơi nhiễm với xu hướng thay đổi khí hậu

Mô hình của các hợp phần

Các lớp hợp phần (Chỉ số)

Tính dễ bị tổn thương

Trang 24

Một nghiên cứu của Pickering, T.D lại đánh giá tính dễ bị tổn thương của nghề

cá và nuôi trồng thủy sản ở khu vực nhiệt đới Thái Bình Dương với biến đổi khí hậu [37] Trong nghiên cứu này đã sử dụng định nghĩa của IPCC và phương pháp chỉ số, tính toán độ phơi nhiễm, độ nhạy cảm, tác động tiềm tàng và khả năng thích ứng, để đánh giá tính dễ bị tổn thương về mặt sinh kế và an ninh lương thực Các kịch bản B1

và A2 theo IPCC được dùng để tính toán cho năm 2035 và 2100 Đánh giá tính dễ bị tổn thương trong nghiên cứu này được áp dụng cho các phương thức nuôi trồng thủy sản và các loài Các yếu tố phơi nhiễm, nhạy cảm được tính toán cho các loài bao gồm nhiệt độ, lượng mưa, mực nước biển dâng, axit hóa đại dương, bão và sự thay đổi môi trường sống Quy trình đánh giá tính dễ bị tổn thương cho từng loài như sau:

Hình 1.4: Sơ đồ đánh giá tính dễ bị tổn thương của các loài thủy sản vùng nhiệt đới

Thái Bình Dương

Nguồn: Pickering et al, 2011

1.3.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

Hiện nay đã có một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa nuôi trồng, đánh bắt thủy sản và biến đổi khí hậu ở Việt Nam Thủy sản là một ngành sản xuất chiếm tỉ trọng lớn của nông nghiệp Việt Nam và là đối tượng chịu rủi ro từ tác động của các hiện tượng khí hậu khá rõ ràng, do đó có nhiều hướng nghiên cứu về mối quan hệ này

Độ nhạy cảm

Tính dễ bị tổn thương

Tác động tiềm năng

Khả năng thích ứng Loài

Trang 25

Nghiên cứu của TS Nguyễn Việt Nam và cs, 2010 đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tới ngành thủy sản để đề xuất các giải pháp thích ứng Theo báo cáo “Đánh giá tác động, tổn hại của Biến đổi khí hậu đến lĩnh vực thủy sản và nghiên cứu, đề xuất các biện pháp thích ứng với Biến đổi khí hậu trong ngành thủy sản Việt nam” (2009) của ThS Nguyễn Quang Hùng và KS Hoàng Đình Chiểu, các tác giả đã phân tích rõ các tác động của BĐKH đối với nghề nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam như sau:

Nhiệt độ tăng: thay đổi về nhiệt độ môi trường sống sẽ ảnh hưởng đáng kể tới

sự trao đổi chất, tốc độ phát triển, sự sinh sản và tái sản xuất theo mùa vụ của các sinh vật sống trong môi trường nước đó, đồng thời chúng sẽ dễ bị nhiễm bệnh và các loại độc tố

Lũ lụt: Đối với nghề nuôi thủy sản nước mặn, nước lợ, độ mặn lại là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của loài nuôi Khi xảy ra mưa lớn, độ mặn trong các ao nuôi giảm xuống đột ngột vượt ra khỏi ngưỡng chịu đựng làm cho tôm cá

bị sốc, chết hoặc chậm lớn Lũ xảy ra còn làm cho độ mặn các vực nước gần bờ như các cửa sông giảm xuống, nghề nuôi nhuyễn thể, tôm cá, rong đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng

Giông bão: Bão và áp thấp nhiệt đới gây ra mưa to, gió lớn, sóng dữ dội có thể tàn phá hoàn toàn hệ thống đê bao của các ao nuôi, lồng bè trên biển, vì vậy tổn thất là điều khó tránh khỏi Sự tàn phá của bão và áp thấp nhiệt đới còn ảnh hưởng đến hệ sinh thái của vùng nuôi – cần thời gian dài mới có thể phục hồi So với sự thay đổi nhiệt độ, bão và áp thấp nhiệt đới thường khó có thể dự đoán, ngược lại mức độ ảnh hưởng của nó ảnh hưởng nghiêm trọng hơn rất nhiều

Mực nước biển dâng: có những ảnh hưởng khá lớn đến nuôi trồng thủy sản nhưng chủ yếu là nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng cửa sông Khi mực nước biển dâng sẽ làm biến đổi cấu trúc hệ sinh thái, các vùng nuôi tôm cua ven rừng ngập mặn; khu vực nuôi ngao trên bãi triều sẽ bị thu hẹp; khu vực nuôi lồng bè, nuôi hầu ở khu vực cửa sông bị thu hẹp hoặc ảnh hưởng đến sinh trưởng của loài nuôi

Các yếu tố nói trên của biến dổi khí hậu sẽ làm thay đổi điều kiện thủy lý và thủy hóa, ảnh hưởng đến chất lượng sống và tốc độ phát triển của thủy sinh Nhiệt độ tăng cao sẽ làm hàm lượng ô xy trong nước giảm nhanh, tốc độ sinh trưởng của thủy

Trang 26

sản sẽ chậm đi, tạo điều kiện bất lợi cho các thủy sinh đã thích nghi với môi trường thủy sản từ trước đến nay, giảm lượng thức ăn của thủy sinh

Không chỉ đánh giá tác động, nhiều nghiên cứu đã áp dụng các phương pháp khác nhau để đánh giá tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh biến đổi khí hậu [5]

Nghiên cứu của Ashley S Halls và Matthew Johns đánh giá tính dễ bị tổn thương của ngành công nghiệp cá da trơn trong bối cảnh biến đổi khí hậu ở khu vực hạ lưu sông Mekong, bao gồm các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam Nghiên cứu này áp dụng phương pháp xác định tính dễ bị tổn thương qua các chỉ số phơi nhiễm, nhạy cảm và khả năng thích ứng [28] Cùng với cách áp dụng phương pháp này còn có nghiên cứu của Mark R.Bezuijen đánh giá tính dễ bị tổn thương về loài và môi trường sống của một số loài thủy sản ở một số tỉnh của Thái Lan, Campuchia và Việt Nam [21]

Một số nghiên cứu khác lại kết hợp nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá tính dễ bị tổn thương Trong nghiên cứu của World Bank, 2010 đã kết hợp các phương pháp chỉ số, phương pháp chuyên gia, phương pháp GIS để xác định tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL đồng thời xác định chi phí cho việc thực hiện các giải pháp thích ứng ở các trang trại nuôi trồng thủy sản [45] Cao Lệ Quyên

và cs, 2012 lại kết hợp phương pháp chỉ số, phương pháp Downscaling và phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA) để đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương ở cấp

độ cộng đồng của nông nghiệp và phát triển nông thôn cho các vùng, xây dựng chỉ số tổn thương với biến đổi khí hậu ở cấp độ ngành tại 7 vùng kinh tế đặc trưng của Việt Nam Nghiên cứu này có đánh giá tính dễ bị tổn thương của lĩnh vực nuôi trồng thủy sản tại từng vùng nghiên cứu [4]

Trong nghiên cứu của Bezuijen et al 2011, đánh giá nhanh tính dễ bị tổn thương của loài và nơi cư trú ven biển với rủi ro khí hậu, ở Thái Lan, Cambodia và Việt Nam

đã áp dụng định nghĩa về TDBTT của IPCC và nguyên tắc sinh thái, khung khái niệm của Williams et al 2008 để phát triển một phương pháp thử nghiệm đánh giá tính dễ tổn thương của các loài với biến đổi khí hậu.[21] (Khung khái niệm của William et al

2008 coi khả năng thích ứng như một phần của độ nhạy cảm và không tính đến tác động tiềm năng của các mối hiểm họa đang tồn tại) Theo phương pháp đánh giá trong

Trang 27

nghiên cứu này, độ phơi nhiễm, độ nhạy và khả năng của thích nghi của một loài với biến đổi khí hậu được xắp xếp thành bảng theo hệ thống, sau đó là đánh giá mức độ tổn thương độc lập và cùng với các mối hiểm họa đang tồn tại Độ phơi nhiễm được xác định bằng mức độ tác động của biến đổi khí hậu đến môi trường sống hay loài Độ nhạy cảm được xác định gồm ba yếu tố: phạm vi địa lý, quy mô dân số và đặc điểm lịch sử cuộc sống của loài Việc đánh giá khả năng thích ứng tập trung vào mức độ thích nghi sinh thái và không xem xét đến khả năng thích ứng về tiến hóa (di truyền),

do thiếu thông tin về chủ đề này cho hầu hết các loài Độ phơi nhiễm, độ nhạy cảm và khả năng thích ứng được xếp hạng Cao – Trung bình – Thấp một cách tương đối, định tính Mức độ tổn thương độc lập được xếp hạng dựa trên mức độ của ba yếu tố trên nhưng không có một công thức hay quy tắc cụ thể nào Ví dụ, khi độ phơi nhiễm, độ nhạy xếp hạng trung bình, khả năng thích ứng xếp hạng cao thì mức độ tổn thương là Trung bình; nhưng khi độ phơi nhiễm xếp hạng cao, độ nhạy cảm trung bình, khả năng thích ứng cao thì mức độ tổn thương cũng là Trung bình Mức độ tổn thương kết hợp với các mối đe dọa đang tồn tại cũng được xếp hạng như mức độ tổn thương độc lập sau đó xem xét thêm áp lực của các mối đe dọa và mức độ tổn thương này thường nặng hơn mức độ tổn thương độc lập

1.4 Đặc điểm vùng nghiên cứu và các điều kiện khí hậu liên quan đến nuôi trồng thủy sản ở Hậu Lộc - Thanh Hóa

1.4.1 Đặc điểm vùng nghiên cứu

Là một trong 6 huyện thị ven biển của tỉnh Thanh Hóa, Hậu Lộc nằm cách trung tâm thành phố Thanh Hóa 25km về phía Đông Bắc, được bao bọc bởi sông Lèn

ở phía bắc, sông Mã ở phía tây, sông Cầu Sài và sông Trường Giang ở phía nam; phía đông giáp với biển Đông Huyện Hậu Lộc có 27 xã, thị trấn, tổng diện tích đất tự nhiên

là 14,355.74 ha, dân số theo thống kê năm 2011 là 165.512 người Hậu Lộc có ba dạng địa hình, từ vùng đồi núi đến vùng đồng bằng chủ yếu là phù sa và vùng ven biển Vùng ven biển chiến 38,29% diện tích tự nhiên toàn huyện, nằm giữa hai cửa Lạch Sung, và Lạch Trường, đây là hai trong số các cửa sông chính của tỉnh Thanh Hóa Hậu Lộc có 12km bờ biển, chiếm 11,76% chiều dài bờ biển Thanh Hóa Sau nhiều năm phù sa bồi đắp, Hậu Lộc có những bãi bồi rộng hàng trăm ha tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản và trồng cây chắn sóng Hậu Lộc có 182,5ha

Trang 28

(năm 2000) rừng phòng hộ ven biển với cây trồng chủ yếu là sú, vẹt, đang góp phần giữ đất rất hiệu quả Vùng bờ biển Hậu Lộc có tiềm năng để xây dựng cảng cá và quai

đê lấn biển để nuôi trồng thủy sản

Về kinh tế, năm 2013, tốc độ tăng trưởng kinh tế khoảng 12,8%, GDP là 1,918

tỉ đồng, tỉ trọng các ngành kinh tế nông lâm thủy sản là 39,2%, công nghiệp – xây dựng 27% và dịch vụ 33,8%, thu nhập bình quân đầu người là 16,8 triệu đồng Tổng vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội khoảng 705 tỉ đồng, trong đó 92% là đầu tư cho xây dựng cơ bản Một số công trình trọng điểm đang được đầu tư như đường đi Cảng cá xã Hòa Lộc, đê Lạch Trường, đê Đa Lộc, hệ thống thau chua rửa mặn xã Hải Lộc, dự án nước sạch cho các xã ven biển [11]

GDP ngành nông lâm thủy sản của Hậu Lộc cũng chiếm 11,7% so với toàn tỉnh, cao hơn nhiều so với công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm có 2,37% ( năm 2006 ) Trong giai đoạn từ 1995 đến 2006, tỉ trọng lao động trong ngành nông lâm thủy sản của huyện luôn chiếm hơn 70% Năm 2011, tính riêng thủy sản là 406 tỉ, chiếm 21,16% tổng giá trị GDP của huyện, tổng sản lượng thủy sản là 18,242 tấn trong đó sản lượng nuôi trồng là 3,811 tấn nhưng đến năm 2013, tổng sản lượng thủy sản là 30.950 tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng là 11,500 tấn Tính đến cuối năm 2010, huyện Hậu Lộc có 405 ha nuôi ngao, 395 ha nuôi tôm sú và tôm thẻ chân trắng, nhưng đến năm 2014 huyện Hậu Lộc có hơn 408 ha nuôi trồng thủy sản nước lợ, trong đó diện tích thả tôm sú khoảng 390 ha, 18 ha thả tôm he chân trắng tại các xã Đa Lộc, Minh Lộc và Hòa Lộc Tôm, ngao và cá là ba loài thủy sản chính của huyện Hậu Lộc

Trang 29

Hình 1.5: Bản đồ huyện Hậu Lộc

Trang 30

Hậu Lộc có 6 xã ven biển nhưng xã Ngư Lộc chỉ chuyên đánh bắt mà không có nuôi trồng thủy sản Các xã ven biển nuôi trồng thủy sản là Đa Lộc, Hưng Lộc, Minh Lộc, Hải Lộc và Hòa Lộc Do đặc điểm địa hình nên mỗi xã lại có đặc thù nuôi trồng thủy sản riêng Trong khi Đa Lộc, Minh Lộc và Hải Lộc có nuôi ngao thì Hòa Lộc và Hưng Lộc không có diện tích nuôi ngao Mặc dù hầu hết diện tích nuôi trồng thủy sản của 5 xã là nuôi quảng canh nhưng Đa Lộc và Minh Lộc đã có mô hình nuôi thâm canh Điều này cho thấy sự đầu tư ngày càng mạnh vào nuôi trồng thủy sản của người dân nhưng cũng cho thấy sự rủi ro cao hơn khi xảy ra thiệt hại do điều kiện khí hậu không thuận lợi Vị trí vùng nghiên cứu bao gồm 5 xã : Đa Lộc, Hưng Lộc, Minh Lộc, Hải Lộc và Hòa Lộc

Hình 1.6: Vị trí vùng nghiên cứu

Trang 31

1.4.2 Các điều kiện khí hậu liên quan đến nuôi trồng thủy sản

1.4.2.1 Đặc điểm khí hậu

Thanh Hoá nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt: Mùa hạ nóng, ẩm mưa nhiều và chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô, nóng Mùa đông lạnh

và ít mưa

- Chế độ nhiệt: Thanh Hoá có nền nhiệt độ cao, nhiệt độ trung bình năm khoảng

230C- 240C, tổng nhiệt độ năm vào khoảng 8.5000C- 8.7000C Hàng năm có 4 tháng nhiệt độ trung bình thấp dưới 200C (từ tháng XII đến tháng III năm sau), có 8 tháng nhiệt độ trung bình cao hơn 200C (từ tháng IV đến tháng XI) Biên độ ngày đêm từ

70C - 100C, biên độ năm từ 110C - 120C Tuy vậy, chế độ nhiệt có sự khác biệt khá rõ nét giữa các tiểu vùng Vùng khí hậu đồng bằng và ven biển có nền nhiệt độ cao, biên

độ năm từ 110C - 130C, biên độ nhiệt độ ngày từ 5,50C -70C, nhiệt độ trung bình năm

là 24,20C

- Độ ẩm: Độ ẩm không khí biến đổi theo mùa nhưng sự chênh lệch độ ẩm giữa

các mùa là không lớn Độ ẩm trung bình các tháng hàng năm khoảng 85%, phía Nam

có độ ẩm cao hơn phía Bắc, khu vực núi cao ẩm ướt hơn và có sương mù Mùa mưa độ

ẩm không khí thường cao hơn mùa khô từ 10 - 18%

- Chế độ mưa: Lượng mưa ở Thanh Hóa là khá lớn, trung bình năm từ 1.456,6 -

1.762,6 mm, nhưng phân bố rất không đều giữa hai mùa và lớn dần từ Bắc vào Nam

và từ Tây sang Đông Mùa khô (từ tháng XI đến tháng IV năm sau) lượng mưa rất ít, chỉ chiếm 15 - 20% lượng mưa cả năm, khô hạn nhất là tháng I, lượng mưa chỉ đạt 4 -

5 mm/tháng Ngược lại mùa mưa (từ tháng V đến tháng X) tập trung tới 80 - 85% lượng mưa cả năm, mưa nhiều nhất vào tháng VIII có 15 đến 19 ngày mưa với lượng mưa lên tới 440 - 677 mm Ngoài ra trong mùa này thường xuất hiện giông, bão kèm theo mưa lớn trên diện rộng gây úng lụt

- Chế độ nắng và bức xạ mặt trời: Tổng số giờ nắng bình quân trong năm từ

1.600 - 1.800 giờ Các tháng có số giờ nắng nhiều nhất trong năm là từ tháng V đến tháng VIII đạt từ 237 - 288 giờ/tháng, các tháng XII và tháng I có số giờ nắng thấp nhất từ 55- 59 giờ/tháng

Tổng bức xạ vào các tháng mùa hè lên rất cao, đạt tới 500 - 600 cal/cm2/ngày từ tháng V đến tháng VII, đó là thời kỳ ít mây và mặt trời ở gần thiên đỉnh Tuy nhiên

Trang 32

vào mùa đông xuân rất nhiều mây, ít nắng và mặt trời xuống thấp cho nên bức xạ mặt trời giảm sút rõ rệt, cực tiểu vào các tháng XII hoặc tháng I với mức độ 200 - 500 cal/cm2/ngày

- Chế độ gió: Thanh Hoá nằm trong vùng đồng bằng ven biển Bắc Bộ, hàng năm

có ba mùa gió: Gió Bắc (còn gọi là gió Bấc): Do không khí lạnh từ Bắc cực qua lãnh thổ Trung Quốc thổi vào Gió Tây Nam: Từ vịnh Belgan qua lãnh thổ Thái Lan, Lào

thổi vào, gió rất nóng nên gọi là gió Lào hay gió phơn Tây Nam Trong ngày, thời gian

chịu ảnh hưởng của không khí nóng xảy ra từ 10 giờ sáng đến 12 giờ đêm Gió Đông Nam (còn gọi là gió nồm): Thổi từ biển vào đem theo không khí mát mẻ

Vào mùa hè, hướng gió thịnh hành là hướng Đông và Đông Nam; các tháng mùa đông hướng gió thịnh hành là hướng Bắc và Đông Bắc Tốc độ gió trung bình năm từ 1,3 - 2 m/s, tốc độ gió mạnh nhất trong bão từ 30 -40 m/s, tốc độ gió trong gió mùa Đông Bắc mạnh trên dưới 20 m/s

Qua theo dõi những năm gần đây vùng núi gió không to lắm, bão và gió mùa Đông Bắc yếu hơn các vùng khác Tốc độ gió giảm thấp, bình quân tốc độ gió khoảng 1,0-1,5 m/giây; gió bão khoảng 25 m/giây

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và ở Việt Nam, các xu thế khí hậu ở Thanh Hóa trong những thập kỉ trở lại đây có những biến đổi so với thông thường

1.4.2.2 Xu thế biến đổi khí hậu

a Về nhiệt độ

Theo số liệu quan trắc trong 50 năm, từ 1961 – 2010, nhiệt độ trung bình nhiều năm theo năm ở trạm Tình Gia và Thanh Hóa là 23,7OC, trong khi đó nhiệt độ trung bình nhiều năm theo mùa là 19,8 OC ở trạm Thanh Hóa và 19,7 OC ở trạm Tĩnh Gia vào mùa đông; nhiệt độ mùa hè ở trạm Thanh Hóa là 27,6 o

C, ở trạm Tĩnh Gia là 27,7

O

C Tháng có nhiệt độ trung bình nhiều năm cao nhất trong các tháng lấy kết quả định

kì là tháng 7 với mức nhiệt 29,2 OC ở trạm Thanh Hóa và 29,5 OC ở trạm Tĩnh Gia, thấp nhất là tháng giêng với 17,1 OC ở cả hai trạm nói trên

Theo số liệu quan trắc từ năm 1995 đến 2010 tại các trạm khí tượng của Thanh Hóa cho thấy: nhiệt độ trung bình trong 10 năm gần đây phổ biến tăng từ 0,1–0,4oC Nhiệt độ tối cao tuyệt đối tại Tĩnh Gia tháng 7/2010 là 430C (vượt số liệu lịch sử là

Trang 33

42,2 oC) Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối không thấp như nhiều năm trước đây kể cả trong những ngày rét đậm rét hại đầu năm 2008 (từ 6 – 7oC trở lên)

Nắng nóng có xu thế xuất hiện sớm và kết thúc muộn, số đợt nhiều hơn, xảy

ra cục bộ và và diễn biến phức tạp, số ngày nắng nóng gay gắt nhiều hơn, điển hình là đợt nắng nóng gay gắt kéo dài gần 30 ngày của mùa hè năm 2008 với nhiệt độ tối cao tuyệt đối từ 39 – 41 0C, mùa hè năm 2010 có nhiều đợt nóng gay gắt với nhiệt độ dao động từ 40 – 43 0C

Không khí lạnh có nhiều biểu hiện bất thường, mùa lạnh đến sớm hơn (cuối tháng 8 đã xuất hiện), số đợt nhiều hơn, cường độ không mạnh như nhiều năm trước đây song lại có những năm xuất hiện rét đậm rét hại kéo dài mang tính lịch sử như năm 2008, 2010 và 2011 [13]

Biểu đồ 1.1: Biểu đồ theo dõi nhiệt độ trung bình năm từ 1980-2010 tại trạm Tĩnh Gia

Nguồn: Kế hoạch ứng phó với BĐKH tỉnh Thanh Hóa (2011)

Biểu đồ 1.2: Biểu đồ theo dõi nhiệt độ trung bình năm từ 1980-2010 tại trạm Thanh

Hóa

Nguồn: Kế hoạch ứng phó với BĐKH tỉnh Thanh Hóa (2011))

y = 0,0331x - 42,069

22,5 22,8 23,1 23,4 23,7 24,0 24,3 24,6 24,9 25,2

19 78 19 80 19 82 19 84 19 86 19 88 19 90 19 92 19 94 19 96 19 98 20 00 20 02 20 04 20 06 20 08 20 10 20 12

Năm Nhiệt độ (0C)

y = 0,0145x - 5,0419

22,8 23,0 23,3 23,5 23,8 24,0 24,3 24,5 24,8 25,0

Nhiệt độ(0C)

Trang 34

Theo kịch bản phát thải trung bình B2 của Việt Nam, dự báo mức tăng nhiệt độ của khu vực Bắc Trung Bộ và theo số liệu quan trắc của các trạm khí tượng ở Thanh Hóa, giai đoạn từ 1980-1999 cho thấy nhiệt độ trung bình năm là 23,70C

Kết quả tính toán dự báo diễn biến nhiệt độ trung bình năm (0C) ở Thanh Hóa

từ năm 2020 – 2100 so với thời kỳ 1980 – 1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) như sau:

Bảng 1.1: Dự báo diễn biến nhiệt độ trung bình năm ở Thanh Hóa giai đoạn

Nguồn: Kế hoạch ứng phó với BĐKH tỉnh Thanh Hóa (2011))

Theo như kết quả dự báo thì nhiệt độ trung bình năm liên tục tăng trong thế kỷ

21 Đến năm 2020 tăng 0,5OC, năm 20150 tăng 1,5OC và năm 20100 tăng 2,8OC so với thời kỳ 1980 – 1999 [13]

b Về lƣợng mƣa

Theo số liệu quan trắc trong 50 năm, từ 1961 – 2010 ở hai trạm Thanh Hóa và Tĩnh Gia thì lượng mưa trung bình nhiều năm theo năm là 1831,0 mm ở Tĩnh Gia và 1707,4 mm ở Thanh Hóa Lượng mưa trung bình nhiều năm mùa hè là 1519,2 mm cao hơn lượng mưa mùa đông 311,8 mm gần 5 lần ở trạm Tĩnh Gia, trạm Thanh Hóa có gíá trị lần lượt là 1454,6 mm vào mùa hè và 252,9 mm vào mùa đông Khi xem xét lượng mưa trung bình nhiều năm theo tháng thì các tháng có lượng mưa cao điểm là từ tháng 8 đến tháng 10, trùng với mùa mưa bão trong năm Tháng có lượng mưa trung bình nhiều năm cao nhất là tháng 9, với 451,1 mm ở Tĩnh Gia và 386,4 mm ở trạm Thanh Hóa Các tháng có lượng mưa thấp nhất là các tháng mùa khô, từ tháng 1 đến tháng 3, chỉ dao động từ 21,7 mm đến 39,9 mm ở trạm Thanh Hóa và từ 38,5 mm đến 48,7 mm ở trạm Tĩnh Gia

Qua chuỗi số liệu quan trắc tổng lượng mưa năm từ năm 1980 đến năm 2010 cho thấy nhìn chung tổng lượng mưa năm trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá trong 30 năm trở lại đây có xu thế giảm, đồng thời có nhiều biểu hiện khác với quy luật thông thường nhiều năm, trong mùa khô ít mưa nhưng có ngày mưa trên 100 mm xảy ra cục

bộ Trong những tháng cao điểm của mùa mưa bão, lượng mưa thiếu hụt so với trung bình nhiều năm rất nhiều, điển hình là năm 2006, 2008 và 2009 Một số năm gần đây

Trang 35

mùa mưa đến muộn kết thúc sớm hơn bình thường từ 15 ngày đến 1 tháng Lượng mưa biến động lớn giữa các khu vực, có năm lượng mưa ở khu vực đồng bằng ven biển lớn hơn trung bình nhiều năm từ 500 – 800 mm, nhưng khu vực vùng núi lại thấp hơn trung bình nhiều năm từ 300 – 700 mm, như năm 2006, 2008, 2009 và 2010

Biểu đồ 1.3: Biểu đồ theo dõi lượng mưa trung bình năm qua các năm từ 1980-2010

tại trạm Tĩnh Gia

Nguồn: Kế hoạch ứng phó với BĐKH tỉnh Thanh Hóa (2011)

Biểu đồ 1.4: Biểu đồ theo dõi lượng mưa trung bình năm qua các năm từ 1980-2010

tại trạm Thanh Hóa

Nguồn: Kế hoạch ứng phó với BĐKH tỉnh Thanh Hóa (2011))

Căn cứ vào kịch bản phát thải trung bình (B2) dự báo mức thay đổi lượng mưa

ở khu vực Bắc Trung Bộ và theo số liệu thống kê tại các Trạm khí tượng của tỉnh Thanh Hóa cho thấy lượng mưa trung bình năm ở Thanh Hóa giai đoạn 1980-1999 là

1695 mm Kết quả tính toán dự báo sự thay đổi lượng mưa trung bình từ năm 2020–

2100 ở Thanh Hóa so với thời kỳ 1980 - 1999 theo kịch bản phát thải trung bình (B2) như sau:

Bảng 1.2: Dự báo diễn biến lượng mưa năm ở Thanh Hóa giai đoạn 2020-2100

19 19 19 19 19 19 19 19 19 19 19 20 20 20 20 20 20 20

Năm

Lượng mưa (mm)

y = -8,4346x + 18509

800 1000 1200 1400 1600 1800 2000 2200 2400 2600

19 19 19 19 19 19 19 19 19 19 19 20 20 20 20 20 20 20

Năm Lượng Mưa

Trang 36

Theo kết quả dự báo, tổng lượng mưa trung bình năm có xu thế tăng lên trong các thập kỷ tiếp theo Tuy nhiên, qua theo dõi diễn biến của tổng lượng mưa năm trên toàn tỉnh Thanh Hóa tại các trạm khí tượng cho thấy lượng mưa trong giai đoạn 1980-

2010 có xu thế giảm Do đó, lượng mưa trên địa bàn Thanh Hóa thời gian tới có thể có diễn biến bất thường hơn [13]

1.4.3 Các yếu tố liên quan đến khí hậu có ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản ven biển Hậu Lộc

a Bão và áp thấp nhiệt đới

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy, cùng với xu thế biến đổi khí hậu, các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, rét đậm rét hại, hạn hán …cũng thay đổi bất thường Theo số liệu thống kê từ năm 2004 - 2013, có 24 cơn bão và ATNĐ đổ bộ và ảnh hưởng trực tiếp đến tỉnh Thanh Hoá Có những năm bão liên tiếp đổ bộ hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến Thanh Hoá trong một khoảng thời gian ngắn như năm 2005 có 5 cơn bão xảy ra từ 21/7 đến 27/9 trong đó có 3 cơn bão mạnh với sức gió giật cấp 8 đến cấp 10

là các cơn bão số 3, 6, 7 liên tiếp đổ bộ trực tiếp vào Thanh Hoá [7]

Bảng 1.3: Thống kê các cơn bão, ATNĐ ảnh hưởng đến Thanh Hóa từ năm

Trang 37

to trong thời gian bão Điều này ảnh hưởng rất lớn đến nuôi trồng thủy sản ven biển, có thể gây

ra ngập, tràn ao nuôi, ngọt hóa nước lợ ảnh hưởng đến sinh trưởng của loài nuôi

b Xâm nhập mặn ở vùng ven biển

Độ mặn nước biển Thanh Hóa tương đối cao và ổn định, thường xuyên ở mức

30 – 32‰ hoặc trên 32‰ Khu vực ven bờ và các cửa lạch độ mặn biến thiên trong ngày, theo mùa và theo con nước Quy luật phổ biến như sau: [12]

- Độ mặn tăng dần từ bắc xuống nam: Ven biển và bãi triều Nga Sơn và phía Bắc Hậu Lộc có độ mặn thấp nhất, dao động từ 5 – 15‰ , rất ít khi đến 20‰ Khu vực nam Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Sầm Sơn có độ mặn dao động từ 10 - 25‰ Khu vực nam Quảng Xương và Tĩnh Gia có độ mặn cao nhất, dao động ở mức 20 – 30‰ , có khi lên đến 33‰ ở cửa Lạch Bạng

- Độ mặn giảm dần từ cửa lạch vào nội địa: Ở tất cả các cửa lạch đều có độ mặn cao hơn các bãi triều từ 3 - 10‰. Các bãi triều càng xa cửa lạch thì độ mặn càng giảm

- Độ mặn tăng dần từ mùa mưa đến mùa khô: Mùa mưa độ mặn ở các cửa lạch phổ biến từ 5 - 20‰ nhưng đế mùa khô độ mặn cao hơn hẳn và ổn định ở mức 10 – 30‰

Trang 38

Do những biến động về lượng mưa, mùa mưa đến muộn và kết thúc sớm nên tình trạng xâm nhập mặn vùng ven biển ngày càng nghiêm trọng hơn Qua số liệu quan trắc nhiều năm trên một số hệ thống sông chính của Thanh Hóa cho thấy hiện tượng xâm nhập mặn từ vùng cửa sông ngày càng vào sâu trong đất liền

Trên sông Lèn: Độ mặn lớn nhất đo tại Yên Ổn (cách cửa biển 13 km) phổ biến

ở mức 0,2-4‰, tuy nhiên những năm gần đây độ mặn có sự gia tăng mạnh mẽ Điển hình 10,6 ‰ (2007); 6,1‰ (2009) và 17,8 ‰ (2010) - giá trị cao nhất từ trước đến nay

Biểu đồ 1.5: Quan trắc độ mặn trên hệ thống sông Lèn

Nguồn: Kế hoạch ứng phó với BĐKH tỉnh Thanh Hóa (2011)

Trên sông Lạch Trường: Độ mặn đều vượt ngưỡng giới hạn 1‰ Đặc biệt mấy năm gần đây độ mặn gia tăng đột biến trên toàn tuyến sông Lạch Trường, tại trạm cầu Tào khoảng cách tới cửa biển 24,6 km) độ mặn năm lớn nhất năm 2007 là 5.8 ‰, năm

2008 là 4,0‰, năm 2009 là 5,0 ‰, năm 2010 là 9,4‰ [13]

Biểu đồ1.6: Quan trắc độ mặn trên hệ thống sông Lạch Trường

Nguồn: Kế hoạch ứng phó với BĐKH tỉnh Thanh Hóa (2011)

Theo bản đồ địa hình huyện Hậu Lộc thì sông Lèn và sông Lạch Trường với các nhánh nhỏ của nó cùng hai cửa biển Lạch Sung và Lạch Trường tạo thành vùng nuôi trồng thủy sản của 5 xã ven biển Hậu Lộc Do đó hiện tượng xâm nhập mặn ở hai con sông này ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước cho nuôi trồng thủy sản

Trang 39

c Hiện tượng nước biển dâng

Theo kịch bản phát thải trung bình B2 năm 2009, dự báo mực nước biển dâng

và theo dữ liệu độ cao từ bản đồ địa hình 1/25.000 tỉnh Thanh Hóa phạm vi ngập do nước biển dâng tại các huyện, thị xã ven biển và 2 huyện trũng thấp của tỉnh Thanh Hóa khi nước triều cường ở giai đoạn 2020-2100 được dự báo như sau: năm 2020 có 0,12% tỉ lệ diện tích đất tự nhiên của khu vực này bị ngập, đến năm 2050 là 19,05%

Hình 1.7: Bản đồ ngập do nước biển dâng của huyện Hậu Lộc đến năm 2020

Nguồn: Kế hoạch ứng phó với BĐKH tỉnh Thanh Hóa (2011)

Hình 1.8: Bản đồ ngập do mực nước biển dâng năm 2050 của huyện Hậu Lộc

Nguồn: Kế hoạch ứng phó với BĐKH tỉnh Thanh Hóa (2011)

Năm 20100 phạm vi ngập do nước biển dâng tại các huyện, thị xã ven biển và 2 huyện trũng thấp của tỉnh Thanh Hóa khi nước triều cường là 51,22% Như vậy theo kịch bản phát thải trung bình thì đến năm 20100, một nửa diện tích đất tự nhiên của các huyện ven biển và vùng trũng thấp của Thanh Hóa bị ngập [13]

Trang 40

Hình 1.9: Bản đồ ngập do mực nước biển dâng năm 2100 của huyện Hậu Lộc

Nguồn: Kế hoạch ứng phó với BĐKH tỉnh Thanh Hóa (2011) Huyện Hậu Lộc có 14367,19 ha đất tự nhiên, theo kết quả dự báo của kịch bản B2, diện tích các loại đất bị ngập do nước biển dâng vào năm 2020 là 0,04% diện tích đất tự nhiên Đến năm 2050 mực nước biển dâng cao thêm 30 cm sẽ có 24,24% diện tích đất tự nhiên bị ngập và đến 20100 thì hơn một nửa diện tích đất của huyện bị ngập (65,48%) cm

Bảng 1.4: Diện tích các loại đất bị ngập theo kịch bản nước biển dâng B2 của huyện

Hậu Lộc

Đất chuyên trồng lúa (ha) 2,5 145,51 2994,76 5140,27 7488,64

Đầm nuôi thủy sản (ha) 2,34 32,4 154,17 240,03 369,99

Theo Bảng 4 ta thấy, diện tích đầm nuôi thủy sản bị ngập tăng từ 2,34 ha năm

2020 lên 154,17 ha năm 2050 và 369,99 ha năm 20100 Như vậy, trong 30 mươi năm, diện tích đất nuôi trồng thủy sản bị ngập tăng lên 66 lần Tuy nhiên, kịch bản này chưa

tính đến các biện pháp thích ứng và hệ thống hạ tầng hiện có của địa phương

Ngày đăng: 21/10/2016, 19:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu (2012), Biến đổi khí hậu và sinh kế ven biển, Nhà xuất bản Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi khí hậu và sinh kế ven biển
Tác giả: Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu
Nhà XB: Nhà xuất bản Giao thông vận tải
Năm: 2012
10. UBND huyện Hậu Lộc (2007), Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Hậu Lộc đến năm 2020, tr. 3-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Hậu Lộc đến năm 2020
Tác giả: UBND huyện Hậu Lộc
Năm: 2007
11. UBND huyện Hậu Lộc (2013), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hôi, quốc phòng – an ninh năm 2013, tr. 1-2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hôi, quốc phòng – an ninh năm 2013
Tác giả: UBND huyện Hậu Lộc
Năm: 2013
12. UBND tỉnh Thanh Hóa (2007), Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản Thanh Hóa đến 2015 và định hướng đến 2020, tr. 3-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản Thanh Hóa đến 2015 và định hướng đến 2020
Tác giả: UBND tỉnh Thanh Hóa
Năm: 2007
14. Viện kinh tế và Quy hoạch thủy sản ( 2010), Báo cáo tổng hợp Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu tới ngành thủy sản ở Việt Nam, đề xuất các biện pháp chính sách thích ứng với biến đổi khí hậu trong thủy sản, tr. 42-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu tới ngành thủy sản ở Việt Nam, đề xuất các biện pháp chính sách thích ứng với biến đổi khí hậu trong thủy sản
15. World Wildllife Fund (2013), Đánh giá tính dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu của các hệ sinh thái tại Việt NamTài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tính dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu của các hệ sinh thái tại Việt Nam
Tác giả: World Wildllife Fund
Năm: 2013
16. Adger, W.N. & Kelly, P.M (1999), Social vulnerability to climate change and the architeture of entitlements, Mitigation and Adaptation Strategies for Global Change, 4, p 235-266 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social vulnerability to climate change and the architeture of entitlements
Tác giả: Adger, W.N. & Kelly, P.M
Năm: 1999
17. Adger, W.N. ( 2006), Vulnerability, Global Envinromental Change, 16, p 268-281 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vulnerability
18. Allison Edward H. et al, (2009), “Vulnerability of national economics to the impacts of climate change on fisheries”, FISH and FISHERIES, Blackwell Publishing Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vulnerability of national economics to the impacts of climate change on fisheries”," FISH and FISHERIES
Tác giả: Allison Edward H. et al
Năm: 2009
19. Barsley W., De Young C and Bruge`re C (2013), Vulnerability assessment methodologies: An annotated bibliography for climate change and the fisheries and aquaculture sector, FAO FIPI/C1083, 54 p Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vulnerability assessment methodologies: An annotated bibliography for climate change and the fisheries and aquaculture sector
Tác giả: Barsley W., De Young C and Bruge`re C
Năm: 2013
20. Bell Johann. D and Eddie Allison, (2012), Calculating “vulnerability” when resources are enhandced by climante change, Workshop on Assessing Climate Change Vulnerability in Fisheries and Aquaculture: Available Methodologies and their Relevance for the Sector, Windhoek, Namibia, 8–10 April 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Calculating “vulnerability” when resources are enhandced by climante change
Tác giả: Bell Johann. D and Eddie Allison
Năm: 2012
21. Bezuijen, Mark R. et al (2011), A rapid vulnerability assessment of coastal habitats and selected species to climate risks in Chanthaburi and Trat ( Thailand), Koh Kong and Kampot ( Cambodia) and Kien Giang, Ben Tre, Soc Trang and Can Gio ( Vietnam), IUCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: A rapid vulnerability assessment of coastal habitats and selected species to climate risks in Chanthaburi and Trat ( Thailand), Koh Kong and Kampot ( Cambodia) and Kien Giang, Ben Tre, Soc Trang and Can Gio ( Vietnam)
Tác giả: Bezuijen, Mark R. et al
Năm: 2011
22. Brooks Nick (2003), Vulnerability, risk and adaptation: A conceptual framework, Tyndall Centre for Climate Change Reseach, Working paper 83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vulnerability, risk and adaptation: A conceptual framework
Tác giả: Brooks Nick
Năm: 2003
23. Downing, T.E. & Patwardhan, A. (2005), “Assessing vulnerability for climate adaptation”, Adaptation Policy Frameworks for Climate Change: Developing Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessing vulnerability for climate adaptation”
Tác giả: Downing, T.E. & Patwardhan, A
Năm: 2005
24. FAO (2013), Report of the FAO/PaCFA Expert Workshop on Assessing Climate Change Vulnerability in Fisheries ans Aquaculture: Available Methodologies and their relevance for the Secrtor, Windhoek, Namibia, 8-10 April 2013, FAO FIPI/R1047 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Report of the FAO/PaCFA Expert Workshop on Assessing Climate Change Vulnerability in Fisheries ans Aquaculture: Available Methodologies and their relevance for the Secrtor, Windhoek, Namibia, 8-10 April 2013
Tác giả: FAO
Năm: 2013
25. Fuessel Hans-Martin (2007), Vulnerability: A generally applicable conceptual framwork for climate change reseach, Global Environmental Change, 17, p155 - 167 26. Fuessel Hans-Martin (2009), Review and quantitative analysis of indices of climatechange exposure, adaptive capacity, sensitivity, and impacts, World Development Report 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Review and quantitative analysis of indices of climate "change exposure, adaptive capacity, sensitivity, and impacts
Tác giả: Fuessel Hans-Martin (2007), Vulnerability: A generally applicable conceptual framwork for climate change reseach, Global Environmental Change, 17, p155 - 167 26. Fuessel Hans-Martin
Năm: 2009
27. Gonza’lz E. et al, (2011)Vulnerability to climate change in Chilean aquaculture and fisheries: results and findings, FAO FIPI/R1047, page 8-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vulnerability to climate change in Chilean aquaculture and fisheries: results and findings
28. Halls Ashley S. and Matthew Johns, (2013) Assessment of the vulnerability of the Mekong Delta pangasius catfish industry to development and climate change in the Lower Mekong Basin, FAO/7347 Sustainable Fisheries Partnership Sách, tạp chí
Tiêu đề: ) Assessment of the vulnerability of the Mekong Delta pangasius catfish industry to development and climate change in the Lower Mekong Basin
29. Handisyde N.T. et al, (2006), The Effect of Climate Change on the World Aquaculture: A global perspective, Department for International Development, England, p151 Sách, tạp chí
Tiêu đề: et al, " (2006), "The Effect of Climate Change on the World Aquaculture: A global perspective
Tác giả: Handisyde N.T. et al
Năm: 2006
30. IPCC (2001, 2007, 2013), Climate change 2007: Impact, Adaptation and Vulnerability, Contribution of Working Group II to the Fourth Assessment Report of the Intergovernmental Panel on Climate Change Sách, tạp chí
Tiêu đề: Climate change 2007: Impact, Adaptation and Vulnerability

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ cách tiếp cận kết quả - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nghiên cứu ở hậu lộc, thanh hóa
Hình 1.1 Sơ đồ cách tiếp cận kết quả (Trang 16)
Hình 1.2: Sơ đồ cách tiếp cận bối cảnh - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nghiên cứu ở hậu lộc, thanh hóa
Hình 1.2 Sơ đồ cách tiếp cận bối cảnh (Trang 17)
Hình 1.3: Sơ đồ mô hình đánh giá TDBTT của NTTS cấp quốc gia - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nghiên cứu ở hậu lộc, thanh hóa
Hình 1.3 Sơ đồ mô hình đánh giá TDBTT của NTTS cấp quốc gia (Trang 23)
Hình 1.4: Sơ đồ đánh giá tính dễ bị tổn thương của các loài thủy sản vùng nhiệt đới - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nghiên cứu ở hậu lộc, thanh hóa
Hình 1.4 Sơ đồ đánh giá tính dễ bị tổn thương của các loài thủy sản vùng nhiệt đới (Trang 24)
Hình 1.5: Bản đồ huyện Hậu Lộc - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nghiên cứu ở hậu lộc, thanh hóa
Hình 1.5 Bản đồ huyện Hậu Lộc (Trang 29)
Hình 1.6: Vị trí vùng nghiên cứu - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nghiên cứu ở hậu lộc, thanh hóa
Hình 1.6 Vị trí vùng nghiên cứu (Trang 30)
Hình 1.9: Bản đồ ngập do mực nước biển dâng năm 2100 của huyện Hậu Lộc - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nghiên cứu ở hậu lộc, thanh hóa
Hình 1.9 Bản đồ ngập do mực nước biển dâng năm 2100 của huyện Hậu Lộc (Trang 40)
Hình 2.2: Vai trò của khả năng thích ứng - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nghiên cứu ở hậu lộc, thanh hóa
Hình 2.2 Vai trò của khả năng thích ứng (Trang 47)
Hình 2.3: Sơ đồ xác định các biến của tính dễ bị tổn thương - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nghiên cứu ở hậu lộc, thanh hóa
Hình 2.3 Sơ đồ xác định các biến của tính dễ bị tổn thương (Trang 47)
Bảng 2.3: Quy trình xác định tính dễ bị tổn thương theo phương pháp chỉ số - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nghiên cứu ở hậu lộc, thanh hóa
Bảng 2.3 Quy trình xác định tính dễ bị tổn thương theo phương pháp chỉ số (Trang 51)
Bảng 3.3: Thông số đầu vào cho chỉ số độ phơi nhiễm E - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nghiên cứu ở hậu lộc, thanh hóa
Bảng 3.3 Thông số đầu vào cho chỉ số độ phơi nhiễm E (Trang 72)
Bảng 3.4: Kết quả tính toán độ phơi nhiễm - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nghiên cứu ở hậu lộc, thanh hóa
Bảng 3.4 Kết quả tính toán độ phơi nhiễm (Trang 73)
Bảng 3.8: Thông số đầu vào của Khả năng thích ứng - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nghiên cứu ở hậu lộc, thanh hóa
Bảng 3.8 Thông số đầu vào của Khả năng thích ứng (Trang 78)
Bảng 3.11: Kết quả tính toán mức độ tổn thương - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nghiên cứu ở hậu lộc, thanh hóa
Bảng 3.11 Kết quả tính toán mức độ tổn thương (Trang 85)
Hình 3.2: Bản đồ tính dễ bị tổn thương của 5 xã - Đánh giá tính dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nghiên cứu ở hậu lộc, thanh hóa
Hình 3.2 Bản đồ tính dễ bị tổn thương của 5 xã (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w