Như :thực tập sinh, thợ học nghề của đơn vị khác gởi đến mà đơn vị không trả lương, lao động gia đình gia công cho đơn vị, những người làm công tác đảng, đoàn thanh niên, công đoàn do qu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC ……
TIỂU LUẬN
TÌNH HÌNH SỬ DỤNG LAO ĐỘNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2010
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam chúng ta đang có nguồn nhân lực dồi dào với dân số cả nước gần 86 triệu người (Tính đến ngày ngày 1/4/2009, dân số của Việt Nam: 85.789.573 người), nước đông dân thứ 13 trên thế giới và thứ 3 trong khu vực Trong đó số người trong độ
tuổi lao động tăng nhanh và chiếm một tỉ lệ cao khoảng 67% dân số cả nước Trong nhiều
năm nay ,vấn đề lao động trong cả nước nói chung và ờ Thành Phố Hồ Chí Minh nói
riêng luôn là một bài toán khó và cũng không thể một sớm một chiều mà chúng ta giải
quyết ngay được Đặc biệt, năm 2010 được xem là năm không nhiều biến động và có xu hướng phát triển tốt hơn năm 2009, nhưng thị trường lao động Thành Phố Hồ Chí Minh vẫn tồn tại nhiều nghịch lý khi độ chênh lệch giữa cung và cầu còn khá lớn, tình trạng vừa thừa vừa thiếu lao động luôn được xem là một bài toán cần phải giải quyết một cách triệt để Để các bạn hiểu rõ hơn về những biến động lao động tại Thành Phố Hổ Chí Minh cũng như biết được xã hội cần gì và các bạn phải làm gì để ra trường có việc lảm tốt đó là lý do nhóm chúng tôi đã chọn đề tài “ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG LAO ĐỘNG Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2010”
2 Mục đích
Qua bài tiều luận, chúng ta có thể đánh giá được thực trạng lao động – việc làm và
sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh , phát hiện các vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu để giải quyết việc làm, sử dụng lao động một cách đầy đủ và hợp lý
3 Yêu cầu
Hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về lao động – việc làm và sử dụng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh làm cơ sở khoa học cho các nghiên cứu của đề tài Đánh giá thực trạng lao động, việc làm, giải quyết việc làm cho lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh làm rõ kết quả đạt được đồng thời nhận định đúng những tồn tại và khó khăn hiện
Trang 3nay Đưa ra một số giải pháp nhằm giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao động trên địa bàn ở Thành Phố Hồ Chí Minh
4 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tiểu luận tập trung nghiên cứu và phân tích các đối tượng lao động ở Thành Phố Hồ Chí Minh
5 Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận được tiến hành dựa trên các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp logic _ lịch sử, phương pháp trừu trượng hóa khoa học, liên ngành, phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu…
6 Phạm vi nghiên cứu:
Lao động trên toàn địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh trong năm 2010
7 Kết quả nghiên cứu
Giúp các bạn hiểu rõ hơn về những biến động lao động tại Thành Phố Hổ Chí Minh cũng như biết được xã hội cần gì và các bạn phải làm gì để ra trường có việc lảm tốt
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn trường Đại học Công nghiệp Hồ Chí Minh và Khoa Quản Trị Kinh Doanh đã tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, tài liệu tham khảo… một cách tốt nhất
Xin chân thành đặc biệt cảm ơn Giáo Viên ThS Nguyễn Thị Ngọc Hoa đã tận tình giúp đỡ chúng tôi thực hiện thành công bài tiểu luận này Trong quá trình thực hiện bài tiểu luận, chúng tôi không thể tránh những sai sót, mong sẽ nhận được sự góp ý của cô và mọi người
Xin chân thành cảm ơn!
Thành Phố Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 6 năm 2011
Trang 5CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm Người lao động
Người lao động là những người trong độ tuổi lao động theo pháp luật quy định – là điểm chung của nhiều định nghĩa Họ có cam kết lao động với chủ sử dụng lao động, thường là nhận yêu cầu công việc, nhận lương và chịu sự quản lý của chủ lao động trong thời gian làm việc cam kết Kết quả lao động của họ là sản phẩm dành cho người khác sử dụng và được trao đổi trên thị trường hàng hóa, sản phẩm chân tay thì giá trị trao đổi thấp, sản phẩm trí óc thì giá trị trao đổi cao
- Theo nghĩa rộng, người lao động là người làm công ăn lương Công việc của người lao động là theo thỏa thuận, xác lập giữa người lao động và chủ thuê lao động Thông qua kết quả lao động như sản phẩm vật chất, sản phẩm tinh thần cung cấp mà người lao động được hưởng lương từ người chủ thuê lao động Ở nghĩa hẹp hơn, người lao động còn là người làm các việc mang tính thể chất, thường trong nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (cách hiểu này ảnh hưởng từ quan niệm cũ: phân biệt người lao động với người trí thức)
- Theo Bộ Luật Lao động nước ta, người lao động là người đến tuổi lao động, có khả năng lao động, đang có giao kết và thực hiện hợp đồng lao động với chủ sử dụng lao động Luật Lao động cũng quy định rõ ràng, cụ thể về các quyền và nghĩa vụ của người lao động khi tham gia lao động, quy định về hợp đồng lao động, xử lý tranh chấp hợp đồng lao động, các chế độ chính sách đãi ngộ, phúc lợi xã hội bắt buộc (Link sang Luật lao động)
- Từ góc độ kinh tế học, người lao động là những người trực tiếp cung cấp sức lao động – một yếu tố sản xuất mang tính người và cũng là một dạng dịch vụ/ hàng hóa cơ bản của nền kinh tế Những người đang lao động là những người có cam kết lao động, sản phẩm lao động đối với tổ chức, người khác
Như vậy, để hiểu rõ về người lao động chúng ta phải xem xét các yếu tố gắn với lao động của người lao động như: sự chuẩn bị năng lực lao động, cam kết và thực thi cam kết lao động (bao gồm tiếp nhận yêu cầu lao động, phương pháp và phương tiện lao động,
Trang 6giá thành lao động, đãi ngộ lao động, thái độ lao động, động lực lao động), kết quả và chất lượng lao động, sự hài lòng và không hài lòng của các bên tham gia hợp đồng lao động
1.2 Phân Loại Nguồn Lao Động:
1.2.1 Căn cứ việc quản lý lao động và trả lương
Lao động trong doanh nghiệp được chia làm hai loại: lao động trong danh sách và lao động ngoài danh sách
Lao động trong danh sách là lao động do đơn vị trực tiếp quản lý và trả lương trong kỳ, được đăng ký trong sổ lao động của đơn vị và là đối tượng nghiên cứu của thống kê lao động
Lao động ngoài danh sách là những lao động không thuộc quyền quản lý hoặc trả lương của đơn vị Như :thực tập sinh, thợ học nghề của đơn vị khác gởi đến mà đơn vị không trả lương, lao động gia đình gia công cho đơn vị, những người làm công tác đảng, đoàn thanh niên, công đoàn do quĩ lương của đoàn thể trả lương…
1.2.2 Căn cứ mục đích tuyển dụng và thời gian sử dụng
Số công nhân viên trong danh sách của đơn vị được chia làm hai loại:
Công nhân viên lâu dài: Là lực lượng lao động chủ yếu của đơn vị, bao gồm những người được tuyển dụng chính thức để làm việc lau dài và những người chưa
có quyết định chính thức nhưng thực tế đã làm việc liên tục tại đơn vị từ 6 tháng trở lên
Công nhân viên tạm thời: là những người làm việc theo hợp đồng tạm tuyển để thực hiện những việc đột xuất hoặc có tính thời vụ tại đơn vị
1.2.3 Căn cứ vào ngành hoạt động
Công nhân viên trong danh sách được chia thành: công nhân viên thuộc ngành công nghiệp, xây dựng cơ bản, nông nghiệp…
1.2.4 Căn cứ vào mối quan hệ đối với quá trình sản xuất
Công nhân viên trong danh sách được chia thành ba loại:
Lao động quản lý sản xuất kinh doanh
Trang 7 Lao động trực tiếp sản xuất kinh doanh
Lao động phục vụ sản xuất kinh doanh
1.2.5 Căn cứ vào chức năng của người lao động
Công nhân viên được chia thành các bộ phận sau: Công nhân, Thợ học nghề, Nhân viên kỹ thuật, Nhân viên quản lý kinh tế, Nhân viên hành chính
1.3 Độ tuổi lao động
Lứa tuổi có khả năng lao động, do nhà nước quy định, được thống kê để tính ra nguồn lao động Giới hạn tuổi lao động khác nhau ở mỗi quốc gia, được quy định theo điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán, tâm lí, sinh lí con người Ở Việt Nam:
Nam 16 - 60 tuổi
Nữ 16 - 55 tuổi
Số người trong độ tuổi lao động thay đổi hàng năm tuỳ các yếu tố sinh, tử, di cư
Độ tuổi lao động có thể chia ra thành các nhóm:
Thanh niên (16 - 30 tuổi),
Trung niên (31 - 45 tuổi)
Già (trên 45 tuổi)
1.4 Đặc điểm của nguồn lao động Việt Nam trong nền Kinh Tế Thị Trường
Trong nền kinh tế thị trường, nguồn nhân lực Việt nam có 6 đặc điểm nổi bật chủ yếu sau:
- Nguồn nhân lực có quy mô lớn, tăng nhanh hàng năm
- Nguồn nhân lực trẻ, tỷ lệ nam- nữ khá cân cân bằng
- Cơ cấu nguồn nhân lực phân bổ chưa hợp lý giữa thành thị, nông thôn, giữa vùng, miền lãnh thổ; giữa các ngành kinh tế và các thành phần kinh tế
- Nguồn nhân lực có trình độ văn hoá, chuyên môn, kỹ thuật còn thấp, bố trí không đều, sức khoẻ chưa đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường
- Nguồn nhân lực có tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị cao và thời gian lao động ở khu vực nông thôn không thấp
Trang 8- Nguồn nhân lực có năng suất lao động và thu nhập thấp
Nguồn nhân lực có quy mô lớn, tăng nhanh hàng năm là đặc trưng cơ bản về số lượng nguồn nhân lực của Việt Nam trong nền kinh tế thị trường hiện nay
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới người lao động:
1.5.1 Các yếu tố quyết định cung lao động
Mức thu nhập: Một người có việc làm hay không trước hết phụ thuộc vào quyết
định của họ có đi làm hay là không Quyết định này lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong
đó một yếu tố quan trọng là mức thu nhập mà một người muốn đi làm, hay là một mức thu nhập tối thiểu để người đó chấp nhận hy sinh thời gian nghỉ ngơi, học tập, làm nội trợ, chăm sóc con cái để đi làm
Mức lương tối thiểu không quan sát được nên được thay thế bởi các nhân tố tác động tới nó như: kinh nghiệm, trình độ của người lao động, các đặc tính gia đình (có con nhỏ hay không, có sống chung cùng ông bà hay không, mức thu nhập trung bình của mỗi
cá nhân trong gia đình, tình trạng có việc làm của các thành viên trong gia đình, mức thu nhập bình quân của hộ gia đình )
Như vậy, khi mức lương trên thị trường lao động lớn hơn mức lương tối thiểu thì người lao động quyết định tìm kiếm việc làm Tuy nhiên, muốn có được việc làm còn cần tính tới các yếu tố khác mà chúng ta sẽ lần lượt xem xét sau đây
Các đặc tính của hộ gia đình: Các đặc tính của hộ gia đình như qui mô, cơ cấu
gia đình, như: tình trạng hôn nhân, số con, gia đình hạt nhân hay gia đình nhiều thế hệ
Các đặc tính nhân khẩu học: Các đặc tính nhân khẩu học như tuổi, giới tính của
người lao động
Các biến khả năng và động lực: Khả năng của người lao động quyết định phần
lớn cơ hội có việc làm của họ Nhưng rất tiếc, việc đo lường những biến này rất khó, nếu
có thì không chính xác vì nhiều nguyên nhân Ví dụ, biến trình độ học vấn là một biến phản ánh không chính xác khả năng có thể đảm nhận được công việc của người lao động Thứ nhất, nó chỉ phản ánh hình thức đào tạo mà chưa đề cập tới những loại hình khác như đạo tạo trong công việc, đào tạo ngắn hạn; Thứ hai, chất lượng giáo dục ở các
Trang 9trường, vùng miền khác nhau là khác nhau; Thứ ba, những kiến thức học được ở trường cũng chưa chắc đã phù hợp đối với công việc trong thực tế
Biến kinh nghiệm làm việc, cũng là biến không được quan tâm trong một số cuộc điều tra, vì vậy người ta phải sử dụng biến tuổi để thay thế, nhưng khi sử dụng biến này chúng ta đã chấp nhận một giả định rằng người càng nhiều tuổi thì càng có kinh nghiệm, nhưng điều này không đúng cho mọi trường hợp Trong nghiên cứu đã sử dụng các biến như trình độ học vấn để đánh giá khả năng của người lao động
Những động lực khuyến khích một người đi làm cũng sẽ làm tăng khả năng tham gia thị trường lao động của họ và do vậy ảnh hưởng tới khả năng có việc làm Những nhân tố thường cũng khó đo lường như: Thái độ của gia đình, cha mẹ, vợ, chồng đối với việc đi làm của một cá nhân, mức thu nhập bình quân của những thành viên trong gia đình, hoặc sống trong cảnh nghèo sẽ ít cơ hội mặc dù họ mong muốn điều này Người nghèo sẽ ít có
cơ hội được học tập, đào tạo nghề, họ thiếu thông tin, khó có điều kiện di chuyển để tìm việc làm cũng như dễ bị kỳ thị trên thị trường lao động
Đối với người nghèo, các chương trình hỗ trợ tạo việc làm và dạy nghề có tác động quan trọng tới khả năng có việc làm Tuy nhiên, trong những hộ gia đình nghèo, không có đất đai, vốn để sản xuất, cũng là động lực để tìm kiếm việc làm, nhưng phần lớn họ chỉ tập trung vào những loại công việc lao động giản đơn
1.5.2 Các biến quyết định cầu lao động:
Cơ hội một người có thể có việc làm hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào tình hình cầu lao động trên thị trường Thị trường có nhiều cơ hội việc làm hay không? Người lao động có thể dễ dàng di chuyển xa từ nơi này sang nơi khác để tìm kiếm việc làm không? Người lao động có dễ dàng tiếp cận được với thông tin về việc làm hay không? Vùng nơi họ sinh sống Cơ cầu ngành nghề ở địa phương Trong nghiên cứu này, một số biến sau được sử dụng: (1) Thành thị/nông thôn, (2) Vùng kinh tế,
Thành thị/nông thôn: đây là biến rời rạc Người lao động sống ở thành thị, biến nhận giá trị là 1, nếu ở vùng nông thôn là 0 Biến này được sử dụng thay thế cho một số biến không quan sát được hoặc khó lượng hoá như ở thành thị dường như có nhiều công việc làm công ăn lương hơn ở nông thôn, hệ thống thông tin về việc làm ở thành thị cũng
Trang 10dễ tiếp cận hơn, việc di chuyển từ nơi này sang nơi khác để tìm kiếm việc làm cũng dễ dàng hơn, cơ cấu ngành nghề ở thành thị cũng phong phú hơn
Vùng kinh tế: biến này xác định hộ gia đình thuộc vùng nào: 1.Đồng bằng sông Hồng, 2.Đông Bắc, 3.Tây Bắc, 4.Bắc Trung Bộ, 5.Duyên hải Nam Trung Bộ, 6.Tây Nguyên, 7.Đông Nam Bộ, 8.Đồng bằng sông Cửu Long Vùng kinh tế với những đặc điểm và trình độ phát triển khác nhau sẽ khác nhau về cơ hội tìm kiếm việc làm
Một số đặc tính của cung và cầu lao động:
1 Các đặc tính của người lao động:
- Kinh nghiệm của người lao động
- Tuổi của người lao động
- Trình độ văn hoá, nghề nghiệp
- Kết quả còn cho thấy, trình độ phải đạt tới mức cao đẳng, đại học, trung học cơ
sở và dạy nghề trở lên mới tăng khả năng có được việc làm trên thị trường của người lao động, yêu cầu về trình độ này làm tăng khả năng có việc làm của nữ cao hơn so với nam
- Thành viên các gia đình nghèo trong nghiên cứu này lại có khả năng có được việc làm cao hơn ở những hộ gia đình không nghèo Điều này có thể là do gia đình nghèo thì động lực thúc đẩy các thành viên đi làm lớn hơn, mặt khác cũng phản ánh cơ cấu việc làm hiện nay cũng phù hợp đối với người nghèo, phổ biến nhiều công việc lao động chân tay, và việc làm trong khu vực phi kết cấu Đối với nữ trong các gia đình nghèo, xác suất
có việc làm cao hơn một chút so với nam giới
- Mức thu nhập bình quân đầu người hàng tháng của hộ gia đình càng tăng thì càng làm giảm xác suất có việc làm của các thành viên, mức độ ảnh hưởng đối với nữ cao hơn đối với nam, có thể do động lực phải tìm kiếm việc làm và đóng góp thu nhập giảm
Trang 11- Ở thành thị dễ kiếm việc làm hơn ở nông thôn, nam giới dễ kiếm việc làm ở thành thị hơn là nữ giới
- So sánh giữa các vùng kinh tế cho chúng ta thấy, so với vùng Đồng Bằng Sông Hồng thì các vùng Đông Bắc, Tây Bắc, và Bắc Trung Bộ khả năng kiếm được công việc được trả lương thấp hơn, trong khi đó các vùng như Duyên Hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và Đồng Bằng Sông Cửu Long lại cung cấp nhiều công việc làm công ăn lương hơn, nhất là ở vùng Đông Nam Bộ Cơ hội về việc làm ở các vùng giữa nam và nữ có sự khác biệt đôi chút
- So với vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng Đông Bắc và Bắc Trung Bộ phụ nữ khó kiếm việc làm hơn so với nam giới, nhưng ở vùng Tây Bắc nam giới lại khó kiếm việc hơn Cũng so với vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long lại cung cấp nhiều việc làm hơn cho phụ nữ Riêng vùng Tây Nguyên, so với Đồng bằng sông Hồng, nam giới ít có khả năng trong khi nữ giới lại có nhiều khả năng kiếm được việc làm hơn
Trang 12CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH SỬ DỤNG LAO ĐỘNG Ở THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2010 2.1 Sơ lược về tình hình sử dụng lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008, 2009
Năm 2008
Lực lượng lao động Thành phố tăng dần qua các năm, năm 2001 số người trong độ tuổi lao động là 3,6 triệu người, chiếm tỷ trọng 66,14% dân số Năm 2008 lực lượng lao động là 4,6 triệu người, chiếm tỷ trọng 67,67% dân số
Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật năm 2001 chiếm tỷ trọng 33,17%, năm
2008 chiếm tỷ trọng 49,11% trong tổng số lao động đang làm việc
Số người có việc làm tăng dần qua các năm, năm 2008 có trên 3,2 triệu người, chiếm tỷ trọng 67,75% nguồn lao động
Tỷ lệ thất nghiệp năm 2001 là 6,8% giảm dần dưới 6% năm 2008
2009, đây là mức cao nếu xem xét ở góc độ quốc tế (tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là 65,1% năm 2009
Trang 132.2 Thực trạng lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010
2.2.1 Đặc điểm lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010
Năm 2010: 275.000 lao động Thành phố Hồ Chí Minh có việc làm ổn định Trong
số này có khoảng 271.000 lao động được giải quyết việc làm và hơn 120.000 lượt người
có việc làm mới, là số liệu tổng kết của Trung tâm Dự báo và thông tin thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh sau khi tổng hợp cơ sở dữ liệu của 18.036 doanh nghiệp
tại Thành phố
Những ngành nghề được liệt kê hút lao động nhất năm 2010 bao gồm: dệt may -
da giày, nhựa - bao bì, dịch vụ - phục vụ, điện tử - viễn thông , marketing, bán hàng Các ngành này sử dụng lao động phổ thông trong tổng nhu cầu tuyển dụng với cơ cấu trình độ chuyên môn đạt hơn 56% Riêng trình độ cao đẳng - đại học chiếm tỉ lệ hơn 19%, chủ yếu rơi vào lĩnh vực: công nghệ thông tin, xây dựng - kiến trúc, quản lý kinh doanh - nhân sự, kiểm toán - kế toán; còn lại là đội ngũ lao động sơ cấp, trung cấp nghề
Mặc dù được xem là năm không nhiều biến động và có xu hướng phát triển tốt hơn năm 2009, thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010 vẫn tồn tại nhiều nghịch lý khi độ chênh lệch giữa cung và cầu còn khá lớn, tình trạng vừa thừa vừa thiếu lao động luôn được xem là một bài toán cần phải giải quyết một cách triệt để
Theo đó, quý 1/2010, thị trường lao động diễn ra mất cân bằng, giữa nhu cầu tuyển dụng theo cơ cấu trình độ chuyên môn và ngành nghề Nhu cầu lao động phổ thông trong khoảng thời gian này rất lớn, chiếm 71,16% so với tổng nhu cầu chỗ làm việc trống; trong khi đó, nhu cầu lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chỉ chiếm 30% Các ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng cao trong quý này chủ yếu là những ngành nghề thâm dụng lao động, như: nhựa - bao bì, dệt may – giày da, chế biến, vệ sinh công nghiệp, mộc - mỹ nghệ
Bước sang quý 2/2010, từ những tác động chính sách quản lý nhà nước và chính sách sử dụng nhân lực của doanh nghiệp, đặc biệt việc cải tiến quy trình sản xuất, tăng năng suất lao động, ổn định sản xuất kinh doanh, nâng cao tiền lương, thu nhập, đời sống lao động được cải thiện, thị trường lao động phát triển xu hướng tương đối cân bằng cung
Trang 14– cầu Nhu cầu lao động phổ thông chiếm từ 71,76% xuống còn 56,42% so với tổng nhu cầu
Đến quý 3, tình hình đã có sự ổn định hơn Nguồn cung và nguồn cầu đáp ứng được 80%; nhu cầu tuyển dụng lao động phổ thông đã giảm hẳn so với trước đó (40% so với tổng nhu cầu) Các doanh nghiệp tăng cường việc tuyển dụng nhân sự có trình độ chuyên môn cao, lao động có tay nghề và nhu cầu việc làm thời vụ, việc làm bán thời gian trong lĩnh vực gia công sản xuất, chế biến
Năm 2010 cũng là năm các hoạt động hỗ trợ thị trường lao động và hình thức tuyển dụng lao động trên hệ thống điện tử, trực tuyến phát triển mạnh cùng với các chính sách của doanh nghiệp về tuyển dụng linh hoạt, cụ thể thông tin chính sách sử dụng lao động đã hỗ trợ sinh viên học sinh, người lao động tìm việc thuận lợi hơn
11 tháng qua, các kênh giới thiệu việc làm đã tổ chức giới thiệu và giải quyết việc làm được 271.061 lao động, đạt 100,39% kế hoạch; trong đó có 120.641 chỗ làm việc mới Ước cả năm 2010, giải quyết việc làm được trên 275.000 lao động Trong tổng số người được giải quyết việc làm, tại các khu chế xuất, khu công nghiệp đã thu hút trên 30.000 lao động
Diễn biến nhu cầu nhân lực tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, trong 6 tháng đầu năm 2010 là thời điểm kinh tế phục hồi và phát triển sau thời gian doanh nghiệp cắt giảm nhiều lao động Đây cũng là thời điểm vào dịp lễ và Tết nên sau Tết, nhu cầu của các doanh nghiệp tập trung nhiều vào nguồn lao động phổ thông cho các hoạt động sản xuất, dịch vụ thời vụ rất lớn
Trong 6 tháng cuối năm, thị trường lao động thay đổi theo chiều hướng tích cực Các doanh nghiệp thiếu lao động phổ thông đã cải thiện chính sách tổ chức sản xuất kinh doanh, tiền lương cùng nhiều chính sách phúc lợi khác, vì vậy nhu cầu lao động phổ thông giảm dần, thay vào đó là nhu cầu về nguồn lao động có tay nghề và có trình độ cao Những ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng cao vẫn là những ngành nghề của 6 tháng đầu năm nhưng với yêu cầu về tay nghề và trình độ chuyên môn cao hơn
Trong khi đó, nguồn cung nhân lực trong năm 2010 cũng diễn biến theo những nghịch lý Khi nguồn lao động phổ thông thiếu thì nguồn lao động có trình độ từ trung
Trang 15cấp, cao đẳng, đại học trong một số ngành nghề lại chưa đáp ứng số lượng, chất lượng so với nguồn cầu Do đó, vẫn có hiện tượng thừa lao động có trình độ nhưng chưa đáp ứng yêu cầu tuyển dụng và làm việc của doanh nghiệp
Nhu cầu nhân lực về cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật
- Cao đẳng chuyên nghiệp, Cao đẳng nghề 5,35
- Trung cấp chuyên nghiệp, Trung cấp nghề 10,27
- Công nhân kỹ thuật lành nghề 30,67
- Sơ cấp nghề 17,55
- Lao động chưa qua đào tạo 27,62
Năm 2010 cũng là năm diễn ra sự dịch chuyển lao động khá lớn (trên 30%), phần lớn lao động có nhu cầu tìm việc tại các sàn giao dịch việc làm, các phương tiện truyền thông , mạng việc làm, các trung tâm giới thiệu việc làm là những lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật và có tay nghề Trên 50% người tìm việc làm có kinh nghiệm từ 1 năm trở lên, và với mức lương mong muốn trên 5 triệu đồng/tháng, đã tạo ra sự cạnh tranh gay gắt giữa những người tìm việc làm có trình độ chuyên môn
Theo chương trình việc làm của Thành phố Hồ Chí Minh năm 2011, nhu cầu việc làm cho năm tới được dự báo là trên 265.000 lao động, kể cả nhu cầu về lao động thay thế và lao động tuyển mới (khoảng 120.000 chỗ làm việc mới) Trong đó lao động phổ thông chiếm trên 45%, cao đẳng, đại học khoảng 20%, lao động có trình độ từ sơ cấp nghề đến trung cấp chiếm khoảng 35%
Trang 16Quản lý nhân sự - Hành chính văn phòng
Marketing- Nhân viên kinh doanh
Kho bãi - Vật tư - Xuất nhập khẩu
Dệt - may - giày da Công nghệ thông
tin
Giao thông vận tải
- thuỷ lợi
Marketing - Nhân viên kinh doanh
Nhu cầu tuyển dụng ở Tp HCM
năm 2010 (%)
Trang 172.2.2 Sự phân bố lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh theo từng ngành nghề:
Trong tháng 10, Trung tâm Dự báo Nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động Thành phố Hồ Chí Minh đã khảo sát, cập nhật tại các sàn giao dịch việc làm, ngày hội nghề nghiệp việc làm; hệ thống hoạt động giới thiệu việc làm và hệ thống thông tin của các doanh nghiệp thường xuyên có nhu cầu tuyển dụng lao động trên địa bàn thành phố với tổng số 1.144 doanh nghiệp và 13.379 nhu cầu chỗ làm việc, 7479 người có nhu cầu tìm việc làm Từ kết quả khảo sát trên, Trung tâm đưa ra phân tích tình hình thị trường lao động thành phố như sau
Về cơ cấu ngành nghề: Nhu cầu tuyển dụng lao động tháng 10/2010 tăng nhẹ
(1,47%) so với tháng 9 Marketing - Nhân viên Kinh doanh vẫn là ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng cao nhất (20,04%) trong tháng, kế đến là một số ngành nghề như dịch vụ và phục vụ (9,45%), Dệt - May - Giày da (8,57%), Tư vấn - Bảo hiểm (7,94%), Bán hàng (7,59%), Kế toán - Kiểm toán (7,21%)
Ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng tăng cao trong tháng 10 là: Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Thủy sản tăng 5 lần, Điện tử - Viễn thông tăng 3 lần, Tài chính - Ngân hàng tăng 1,92 lần
Chỉ số nguồn cung nhân lực so với tháng 9, cho thấy một phần người tìm việc của các tháng trước đã tìm được việc làm Chỉ số cung, cầu tháng 10 thể hiện sự cân bằng hơn Những ngành nghề có chỉ số cung cao nhất vẫn là Kế toán - Kiểm toán (36,91%), Quản lý nhân sự - Hành chính văn phòng (14,40%), Marketing - Nhân viên kinh doanh (10,14%), Kho bãi - Vật tư - Xuất nhập khẩu (6,40%), Quản lý điều hành (5,00%)
Thị trường lao động bình ổn do các doanh nghiệp đang trong giai đoạn ổn định sản xuất kinh doanh Tuy vậy, các doanh nghiệp đang rất cần những nhà quản lý có trình độ, kinh nghiệm và chuyên môn cao, trong khi đó trên 40% sinh viên mới tốt nghiệp năm
2010 vất vả tìm việc làm do chỗ làm việc chưa phù hợp, thiếu thông tin mặc dù các ngày hội việc làm, các sàn giao dịch việc làm diễn ra thường xuyên và đa dạng Riêng ngành nghề Dệt - May - Giày da tình hình thiếu hụt lao động cho hoạt động sản xuất kinh doanh cuối năm vẫn tiếp diễn, một số doanh nghiệp đăng tin tuyển dụng rất lâu và tình hình tiền
Trang 18lương đã được cải thiện nhưng vẫn không tuyển đủ số lao động cần tuyển, đặc biệt là các doanh nghiệp dệt may tư nhân trong nước Người lao động có xu hướng chuyển sang làm cho các doanh nghiệp dệt may của Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với mức lương trên 2.000.000 đồng/tháng và chế độ chính sách lao động ổn định
Về cơ cấu trình độ nghề: Chỉ số nhu cầu tuyển dụng về trình độ lao động phổ thông
là 30,96% trong tháng 10/2010, giảm 29% so với nhu cầu tuyển dụng của tháng trước Các ngành có nhu cầu tuyển lao động phổ thông chủ yếu là các ngành cần nhiều lao động thời vụ như: Bán hàng, Dịch vụ - Phục vụ, Mộc – Mỹ nghệ, Tư vấn – Bảo hiểm, Marketing - Nhân viên Kinh doanh Lao động có trình độ Đại học 17,29%, Cao đẳng –Cao đẳng nghề 11,66%, Trung cấp – Trung cấp nghề 24,83%, Sơ cấp nghề 11,04%, Công nhân kỹ thuật lành nghề 3,37% Nguồn lao động chủ yếu mà doanh nghiệp cần tuyển là lao động có trình độ và tay nghề Đặc biệt, trình độ đại học và trên đại học lĩnh vực quản
lý có nhu cầu tuyển cao nhất như: Quản lý điều hành, Kế toán Kiểm toán, Marketing Nhân viên Kinh doanh, Xây dựng - Kiến trúc, Quản lý nhân sự - Hành chánh văn phòng Nhìn chung, thị trường lao động tháng 10/2010 có sự ổn định Các doanh nghiệp đã thực sự chú trọng tuyển dụng nguồn lao động có tay nghề và trình độ cao Nhu cầu tuyển lao động phổ thông cũng tương đối ổn định và chủ yếu là tuyển lao động làm việc thời
-vụ, bán thời gian