PHẦN I. MỞ ĐẦU • Lí do chọn hình thành chính sách xóa đói giảm nghèo. Đói nghèo là vấn đề toàn cầu, đã và đang diễn ra trên khắp các châu lục với những mức độ khác nhau và trở thành một thách thức lớn đối với sự phát triển của từng khu vực, từng quốc gia, dân tộc và từng địa phương. Đói nghèo không chỉ là vấn đề của những người rơi vào tình trạng đói nghèo mà còn là vấn đề lớn của xã hội. Bởi vì nghèo đói gây ra vấn đề tiêu cực cho cả nền kinh tế và xã hội của quốc gia. Chính vì hậu quả nghiêm trọng đó nên vấn đề để người nghèo thoát nghèo là mục tiêu lớn nhất của bất kì quốc gia nào khi hướng đến một xã hội phát triển, xã hội công bằng văn minh góp phần đảm bảo an ninh xã hội bền vững. Xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam vẫn đang là vấn đề đã được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm. Với chính sách xóa đói, giảm nghèo toàn diện, bền vững là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế xã hội và là một trong những nhiệm vụ quan trọng, góp phần thực hiện phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, nhóm đã chọn chuyên đề “Xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam” nghiên cứu để chúng ta có thể hiểu biết rõ hơn về chính sách xóa đói giảm nghèo của Nhà nước ta.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA KINH TẾ
TIỂU LUẬN KINH TẾ VĨ MÔ 2 XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM
Nhóm thực hiện: Nhóm 9
8 Quách Thị Hồng Nhung 13410132 Lớp: Kinh Tế K13
Đắk Lắk, tháng 5/2015
Trang 2PHẦN I MỞ ĐẦU
• Lí do chọn hình thành chính sách xóa đói giảm nghèo.
Đói nghèo là vấn đề toàn cầu, đã và đang diễn ra trên khắp các châu lục vớinhững mức độ khác nhau và trở thành một thách thức lớn đối với sự phát triển củatừng khu vực, từng quốc gia, dân tộc và từng địa phương
Đói nghèo không chỉ là vấn đề của những người rơi vào tình trạng đói nghèo màcòn là vấn đề lớn của xã hội Bởi vì nghèo đói gây ra vấn đề tiêu cực cho cả nềnkinh tế và xã hội của quốc gia Chính vì hậu quả nghiêm trọng đó nên vấn đề đểngười nghèo thoát nghèo là mục tiêu lớn nhất của bất kì quốc gia nào khi hướngđến một xã hội phát triển, xã hội công bằng văn minh góp phần đảm bảo an ninh
xã hội bền vững Xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam vẫn đang là vấn đề đã đượcĐảng và Nhà nước hết sức quan tâm Với chính sách xóa đói, giảm nghèo toàndiện, bền vững là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và
là một trong những nhiệm vụ quan trọng, góp phần thực hiện phát triển đất nướctheo định hướng xã hội chủ nghĩa
Vì vậy, nhóm đã chọn chuyên đề “Xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam” nghiên
cứu để chúng ta có thể hiểu biết rõ hơn về chính sách xóa đói giảm nghèo của Nhànước ta
Trang 3PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Những khái niệm và quan điểm về xóa đói giảm nghèo.
2.1.1 Những khái niệm về nghèo đói.
- Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống tối thiểu không thỏa mãnnhu cầu về ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp…
- Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống nhỏ hơn mức sốngtối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống
- Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân không được hưởng và thỏa mãnnhững nhu cầu con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triểnkinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương
2.1.2 Những quan niệm về nghèo đói.
- Hiện nay, đói nghèo không còn là vấn đề riêng của từng quốc gia, mà là vấn
đề mang tính toàn cầu Bởi vì tất cả các quốc gia trên thế giới ngay cả những nướcgiàu mạnh thì người nghèo vẫn còn và có lẽ khó có thể hết người nghèo khi trongcác xã hội chưa thể chấm dứt những rủi ro về kinh tế, xã hội, môi trường và sự bấtbình đẳng trong phân phối của cải làm ra Rủi ro quá nhiều trong sản xuất và đờisống làm cho một bộ phận dân cư rơi vào tình trạng nghèo Tháng 3/1995, tại Hộinghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội ở Copenhagen Đan Mạch, nhữngngười đứng đầu các quốc gia đã trịnh trong tuyên bố: Chúng tôi cam kết thực hiệnmục tiêu xóa đói, giảm nghèo trên thế giới, thông qua các hành động quốc gia kiênquyết và sự hợp tác quốc tế, coi đây như một đòi hỏi bắt buộc về mặt đạo đức xãhội, chính trị, kinh tế của nhân loại
- Đói nghèo là một hiện tượng tồn tại ở tất cả các quốc gia dân tộc Nó là mộtkhái niệm rộng, luôn thay đổi theo không gian và thời gian Đến nay, nhiều nhànghiên cứu và các tổ chức quốc tế đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau, trong đó
có khái niệm khái quát hơn cả được nêu ra tại Hội nghị bàn về xóa đói giảm nghèo
ở khu vực châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Thái Lan vào tháng9/1993, các quốc gia đã thống nhất cho rằng: Đói nghèo là tình trạng một bộ phậndân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã
Trang 4được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tậpquán của từng địa phương Đây là khái niệm khá đầy đủ về đói nghèo, được nhiềunước trên thế giới nhất trí sử dụng, trong đó có Việt Nam.
- Để đánh giá đúng mức độ nghèo, người ta chia nghèo thành hai loại: Nghèotuyệt đối và nghèo tương đối
+ Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏamãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống như nhu cầu về ăn,mặc, nhà ở, chăm sóc y tế,…
+ Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mứctrung bình của địa phương, ở một thời kì nhất định
- Những quan điểm trên về đói nghèo phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của ngườinghèo là: không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành chocon người, có mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng, thiếu cơ hội lựa chọn thamgia vào quá trình phát triển của cộng đồng
Chuẩn nghèo Việt Nam là một tiêu chuẩn để đo lường mức độ nghèo của các hộdân tại Việt Nam Chuẩn này khác với chuẩn nghèo bình quân trên thế giới Theoquyết định của thủ tướng chính phủ Việt Nam 170/2005/QĐ-TTg ký ngày 08Tháng 07 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 -2010:
• Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
• Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo Tính theo ngoại kim thì chuẩn nghèo của Việt Nam là 15 Mỹ kim/tháng chomỗi gia đình
Cho đến năm 2009, theo chuẩn nghèo trên, cả nước Việt Nam hiện có khoảng 2triệu hộ nghèo, đạt tỷ lệ 11% dân số Tuy nhiên, trên diễn đàn Quốc hội Việt Nam,rất nhiều đại biểu cho rằng tỷ lệ hộ nghèo giảm không phản ánh thực chất vì sốngười nghèo trong xã hội không giảm, thậm chí còn tăng do tác động của lạm phát(khoảng 40% kể từ khi ban hành chuẩn nghèo đến nay) và do là suy giảm kinh tế.Theo chuẩn trên, nhiều hộ nghèo thoát nghèo nhưng vẫn không đủ sống và do đờisống khó khăn nên rất nhiều người muốn còn được thuộc diện nghèo mãi để còn
Trang 5nhận các khoản hỗ trợ như: vay vốn ưu đãi, bảo hiểm y tế… Phó thủ tướngNguyễn Sinh Hùng cho rằng không thể duy trì chuẩn nghèo 200.000-260.000 đồngnhư hiện nay mà cần rà soát và ban hành chuẩn nghèo mới cho năm 2011 Ngày
30 tháng 01 năm 2011, Quyết định Số 09/2011/QĐ-TTG ban hành chuẩn hộnghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011- 2015:
•Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống
• Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống
• Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồngđến 520.000 đồng/người/tháng
• Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồngđến 650.000 đồng/người/tháng
Kết quả rà soát nghèo mới nhât năm 2013, tỷ lệ hộ nghèo năm 2013 là 7,8%(giảm 1,8% so với cuối năm 2012), tỷ lệ hộ cận nghèo 6,32% (giảm 0,25% sovới cuối năm 2012) Năm 2014, trên cả nước, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 7,8%xuống 5,8%, tỷ lệ hộ nghèo các huyện giảm trên 38% còn trên 33%.Dự kiến hếtnăm 2015 tỷ lệ hộ nghèo dưới 5% và tỷ lệ các huyện nghèo là 30%
2.2 Tình trạng nghèo đói ở Việt Nam hiện nay.
- Theo số liệu của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc ở Việt Nam, vào
năm 2004 chỉ số phát triển con người của Việt Nam xếp hạng 112 trên 177 nước,chỉ số phát triển giới xếp 87 trên 144 nước và chỉ số nghèo tổng hợp xếp hạng 41trên 95 nước Cũng theo số liệu của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc, vàonăm 2002 tỷ lệ nghèo theo chuẩn quốc gia của Việt Nam là 12.9%, theo chuẩn thếgiới là 29% và tỷ lệ nghèo lương thực (%số hộ nghèo ước lượng năm 2002) là10.87% Vào đầu thập niên 1990, chính phủ Việt Nam đã phát động chương trìnhXóa đói giảm nghèo cùng với lời kêu gọi của Ngân hàng thế giới UNDP cho rằngmặc dù Việt Nam đã đạt được tăng trưởng kinh tế bền vững và kết quả rất ấntượng giảm tỷ lệ nghèo, song vẫn còn tồn tại tình trạng nghèo cùng cực ở một sốvùng Để đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, Việt Nam cần phải giảiquyết tình trạng nghèo cùng cực
Trang 6- Cho đến năm 2009, theo chuẩn nghèo trên, cả nước Việt Nam hiện có khoảng
2 triệu hộ nghèo, đạt tỷ lệ 11% dân số Tuy nhiên, trên diễn đàn Quốc hội ViệtNam, rất nhiều đại biểu cho rằng tỷ lệ hộ nghèo giảm không phản ánh thực chất vì
số người nghèo trong xã hội không giảm, thậm chí còn tăng do tác động của lạmphát (khoảng 40% kể từ khi ban hành chuẩn nghèo đến nay) và do là suy giảmkinh tế Chuẩn nghèo quốc gia của Việt Nam hiện nay là gồm những hộ có mứcthu nhập bình quân từ 200.000 đến 260.000 đồng/người/tháng Mặc dù vậy, nhiều
hộ gia đình vừa thoát nghèo vẫn rất dễ rớt trở lại vào cảnh nghèo đói Trong thập
kỷ tới đây nỗ lực của Việt Nam trong việc hội nhập với nền kinh tế toàn cầu sẽ tạo
ra nhiều cơ hội cho sự tăng trưởng, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với sựnghiệp giảm nghèo
- Ở khu vực nông thôn tỷ lệ đói nghèo giảm chậm hơn thành thị nhưng tươngđối ổn định từ 45,5% năm 1998 xuống 35,6% năm 2002 còn 27,5% năm 2004
- Khu vực đồng bào dân tộc tốc độ giảm nghèo chậm và còn rất cao, từ 75,2%xuống 69,3%
- Sự phân bổ hộ nghèo giữa các vùng, các miền là không đều Năm 2005 mặc
dù tỷ lệ hộ nghèo trên toàn quốc giảm xuống chỉ còn 7% nhưng sự chênh lệch về
số hộ nghèo giữa các vùng là rất lớn, cụ thể là tỷ lệ hộ nghèo ở vùng Đông Nam
Bộ là 1,7% trong khi số hộ nghèo ở vùng Tây Bắc chiếm đến 12% tổng số hộnghèo trong cả nước
- Người dân chịu nhiều rủi ro trong cuộc sống, sản xuất mà chưa có các thiếtchế phòng ngừa hữu hiệu, dễ tái nghèo trở lại như thiên tai, dịch bệnh, sâu hại, tainạn giao thông, tai nạn lao động, thất nghiệp…
- Theo số liệu thống kê của Bộ Lao Động - Thương Binh và Xã hội đến cuốinăm 2006, cả nước có 61 huyện với số dân 2,4 triệu người thuộc 20 tỉnh có tỷ lệ
hộ nghèo trên 50%
cận nghèo năm 2012, số hộ nghèo và cận nghèo tại các tỉnh, thành như sau:
Miền núi Đông Bắc: nghèo 17,39%, cận nghèo 8,92%
• Hà Giang: nghèo 30,13%, cận nghèo 12,93%
• Cao Bằng: nghèo 28,22%, cận nghèo 5,91%
• Bắc Kạn: nghèo 20,39%, cận nghèo 11,25%
Trang 7• Tuyên Quang: nghèo 22,63% cận nghèo 13,50%
• Lào Cai: nghèo 27,69% cận nghèo 11,61%
• Yên Bái: nghèo 29,23% cận nghèo 5,33%
• Phú Thọ: nghèo 14,12% cận nghèo 11,32%
• Thái Nguyên: nghèo 13,76% cận nghèo 11,24%
• Lạng Sơn: nghèo 21,02% cận nghèo 8,87%
• Bắc Giang: nghèo 12,11% cận nghèo 7,56%
• Quảng Ninh: nghèo 3,52% cận nghèo 2,59%Miền núi Tây Bắc: nghèo 28,55%, cận nghèo 11,48%
• Điện Biên: nghèo 38,25% cận nghèo 6,83%
• Lai Châu: nghèo 31,82% cận nghèo 9,17%
• Sơn La: nghèo 28,69% cận nghèo 10,53%
• Hòa Bình: nghèo 21,73% cận nghèo 16,14%Đồng bằng sông Hồng: nghèo 4,89% cận nghèo 4,58%
• Hà Nội: nghèo 1,52% cận nghèo 3,55%
• Vĩnh Phúc: nghèo 6,53% cận nghèo 4,71%
• Bắc Ninh: nghèo 4,27% cận nghèo 3,75%
• Hải Dương: nghèo 7,26% cận nghèo 5,39%
• Hải Phòng: nghèo 4,21% cận nghèo 4,05%
• Hưng Yên: nghèo 6,77% cận nghèo 4,88%
• Thái Bình: nghèo 6,80% cận nghèo 3,68%
• Hà Nam: nghèo 8,83% cận nghèo 6,95%
• Nam Định: nghèo 6,72% cận nghèo 6,32%
• Ninh Bình: nghèo 7,54% cận nghèo 6,77%
Trang 8Bắc Trung Bộ: nghèo 15,01% cận nghèo 13,04%
• Thanh Hóa: nghèo 16,56% cận nghèo 11,86%
• Nghệ An: nghèo 15,61% cận nghèo 14,60%
• Hà Tĩnh: nghèo 14,20% cận nghèo 15,32%
• Quảng Bình: nghèo 17,36% cận nghèo 17,27%
• Quảng Trị: nghèo 13,66% cận nghèo 12,11%
• Thừa Thiên Huế: nghèo 5,95% cận nghèo 6,66%Duyên hải miền Trung: nghèo 12,20% cận nghèo 9,32%
• Đà Nẵng: nghèo 0,97% cận nghèo 3,56%
• Quảng Nam: nghèo 18,19% cận nghèo 13,60%
• Quảng Ngãi: nghèo 17,64% cận nghèo 9,76%
• Bình Định: nghèo 11,62% cận nghèo 5,13%
• Phú Yên: nghèo 15,69% cận nghèo 12,73%
• Khánh Hòa: nghèo 5,56% cận nghèo 11,27%
• Ninh Thuận: nghèo 11,20% cận nghèo 8,67%Tây Nguyên: nghèo 15,00%, cận nghèo 6,19%
• Kon Tum: nghèo 22,77% cận nghèo 5,77%
• Gia Lai: nghèo 19,93% cận nghèo 6,16%
• Đắk Lắk: nghèo 14,67% cận nghèo 6,99%
• Đắk Nông: nghèo 17,55% cận nghèo 5,70%
• Lâm Đồng: nghèo 6,31% cận nghèo 5,48%Đông Nam Bộ: nghèo 1,27% cận nghèo 1,08%
• Bình Thuận: nghèo 6,07% cận nghèo 3,47%
• Bình Phước: nghèo 5,58% cận nghèo 3,52%
Trang 9• Tây Ninh: nghèo 2,97% cận nghèo 2,66%
• Bình Dương: nghèo 0,0015% cận nghèo 0,00%
• Đồng Nai: nghèo 0,91% cận nghèo 0,98%
• Bà Rịa - Vũng Tàu: nghèo 1,71% cận nghèo 1,56%
• Thành phố Hồ Chí Minh: nghèo 0,00033% cận nghèo 0,32%
Đồng bằng sông Cửu Long: nghèo 9,24% cận nghèo 6,51%
• Long An: nghèo 4,58% cận nghèo 3,87%
• Tiền Giang: nghèo 8,03% cận nghèo 4,67%
• Bến Tre: nghèo 10,65% cận nghèo 5,94%
• Trà Vinh: nghèo 16,64% cận nghèo 9,04%
• Vĩnh Long: nghèo 5,89% cận nghèo 5,36%
• Đồng Tháp: nghèo 10,01% cận nghèo 7,51%
• An Giang: nghèo 6,17% cận nghèo 6,04%
• Kiên Giang: nghèo 5,73% cận nghèo 5,29%
• Cần Thơ: nghèo 5,19% cận nghèo 4,79%
• Hậu Giang: nghèo 14,41% cận nghèo 9,84%
• Sóc Trăng: nghèo 20,10% cận nghèo 13,95%
• Bạc Liêu: nghèo 12,24% cận nghèo 7,28%
• Cà Mau: nghèo 8,24% cận nghèo 4,47%
Tổng cộng cả nước có 2.149.110 hộ nghèo (9,60%) và 1.469.727 hộ cận nghèo(6,57%) trong tổng số hơn 22,37 triệu hộ Các tỉnh có số hộ nghèo cao nhất làThanh Hóa 151.010 hộ, Nghệ An 116.851 hộ, Sơn La 70.724 hộ, Quảng Nam70.099 hộ, Sóc Trăng 62.682 hộ, Gia Lai 60.048 hộ, thấp nhất là Bình Dương 4
hộ, thành phố Hồ Chí Minh 6 hộ, Đà Nẵng 2.239 hộ Tỷ lệ hộ nghèo cao nhấtnước là Điện Biên, Lai Châu, Hà Giang, Yên Bái, Sơn La, Cao Bằng thuộc miềnnúi Tây Bắc và Đông Bắc, tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất đồng bằng sông Hồng là
Trang 10Hà Nam, Bắc Trung Bộ là Quảng Bình, duyên hải miền Trung là Quảng Nam, TâyNguyên là Kon Tum, Đông Nam Bộ là Bình Thuận, và đồng bằng sông Cửu Long
là Sóc Trăng
2.3 Công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam.
Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước, là sựnghiệp của toàn dân Phải huy động nguồn lực của Nhà nước, của xã hội và củangười dân để khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng địa phương, nhất làsản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp để xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xãhội bền vững Cùng với sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng xã hội, sự nỗlực phấn đấu vương lên thoát nghèo của người nghèo, hộ nghèo là nhân tố quyếtđịnh thành công của công cuộc xóa đói giảm nghèo
Chính sách xóa đói giảm nghèo là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, giải pháp vàcác công cụ mà nhà nước sử dụng để tác động đến các chủ thể kinh tế xã hội nhằmgiải quyết vấn đề nghèo đói, thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, từ đó xâydựng một xã hội giàu đẹp, vững mạnh
- Từ năm 1986 đến nay, công cuộc đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản ViệtNam khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu quan trọng: Đất nước
đã thoát ra khỏi khủng hoảng, kinh tế tăng trưởng nhanh, đời sống người dân đượccải thiện rõ nét Tuy nhiên, vấn đề phân hóa giàu nghèo nổi lên giữa các vùng, cácnhóm dân cư, đặc biệt là khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc, đời sốngngười dân còn hết sức khó khăn
- Để giải quyết mối quan hệ hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xãhội, nhằm bảo đảm phát triển bền vững, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn từ phongtrào xóa đói, giảm nghèo của cả nước giai đoạn 1992 - 1997, từ năm 1998 đến nay,xóa đói, giảm nghèo đã trở thành chương trình mục tiêu quốc gia và được đưa vào
kế hoạch định kỳ 5 năm của Chính phủ và các địa phương, đến nay đã qua 3 giaiđoạn (1998 - 2000; 2001 - 2005; 2006 - 2010)
- Giải quyết vấn đề nghèo đói cũng là thể hiện mạnh mẽ cam kết của Đảng, Nhànước Việt Nam với cộng đồng quốc tế trong việc thực hiện các mục tiêu thiên niên
kỷ Chính phủ Việt Nam đã tập trung chỉ đạo, ưu tiên nguồn lực thực hiện tốt mụctiêu xóa đói, giảm nghèo Mỗi giai đoạn tuy có những nội dung, giải pháp khácnhau nhưng đều hướng tới mục tiêu chung là nâng cao mức sống của người dân,giảm nhanh tỷ lệ hộ sống dưới ngưỡng nghèo
Trang 11- Theo Báo cáo Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ năm 2010, Việt Nam đã đạtđược những kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và cho thấy dấuhiệu khả quan của việc hoàn thành các mục tiêu vào năm 2015 Tốc độ tăng tổngsản phẩm trong nước (GDP) bình quân hằng năm trong thời kỳ 2001 - 2010 đạt7,2%, GDP bình quân đầu người năm 2010 khoảng 1.160 USD.
- Cùng với tăng trưởng và phát triển kinh tế, Việt Nam đặc biệt quan tâm và ưutiên nguồn lực cho giảm nghèo Với việc giảm 1/2 hộ nghèo vào năm 2002, và đếnnay đã giảm được 3/4 số hộ nghèo (so với đầu thập niên 90 thế kỷ XX), hoànthành trước mục tiêu thiên niên kỷ về giảm nghèo, Việt Nam chuyển vị trí từ nướcnghèo sang nhóm nước có mức thu nhập trung bình thấp
- Những năm qua, nhờ thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế - xãhội, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, Chương trình phát triển kinh tế -
xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc, miền núi (Chương trình135), Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo(Nghị quyết số 30a) và các chương trình kinh tế - xã hội khác hướng vào mục tiêugiảm nghèo Tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm nhanh từ 22% (năm 2005) xuốngcòn 11,3% (năm 2009) và còn 9,45% (năm 2010), bình quân mỗi năm giảm 2% -3% tỷ lệ nghèo Đến cuối năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm từ 7,8% xuốngcòn 6% Riêng hộ nghèo ở các huyện nghèo giảm từ 38,2% xuống còn 33,2%.Người nghèo đã được tiếp cận tốt hơn các nguồn lực kinh tế (vốn, đất đai, côngnghệ, thị trường ) và các dịch vụ xã hội cơ bản như: giáo dục, y tế, nước sạch, trợgiúp pháp lý Kết cấu hạ tầng của các huyện, xã nghèo được tăng cường Đờisống của người nghèo được cải thiện rõ rệt
- Năm 2014 nguồn tổng vốn để thực hiện mục tiêu giảm nghèo gần 35 nghìn tỷ.Trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo là gần 31 nghìn tỷđồng.Gần 1/3 số này được sử dụng để mua bảo hiểm y tế cho gần 10 triệu ngươinghèo và cận nghèo
- Kinh tế tăng trưởng nhanh và liên tục, với tốc độ từ 7% - 8%/năm là một yếu tốquan trọng trong việc giảm nghèo, nhưng điểm nổi bật ở Việt Nam khác với cácnước khác là tăng trưởng nhanh nhưng cũng hạn chế được tốc độ gia tăng bất bìnhđẳng Hệ số Gini, một chỉ số xem xét bất bình đẳng thu nhập, chỉ tăng từ 0,329năm 1993 lên 0,356 năm 2008; độ sâu nghèo đói, tính bằng tỷ lệ người nghèo nằmgần ngưỡng nghèo đã giảm xuống.Chính vì vậy, thành tựu giảm nghèo của Việt
Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận: “Những thành tựu giảm nghèo của
Trang 12Việt Nam là một trong những câu chuyện thành công nhất trong phát triển kinh tế”.
2.4 Những thành tích đạt được trong công tác xóa đói giảm nghèo.
- Tỷ lệ người nghèo, tính theo chuẩn nghèo quốc tế, đã giảm liên tục từ 60%năm 1990 xuống 58% năm 1993, 37% vào năm 1998, 32% năm 2000, 29% năm
2002 và còn 18,1% năm 2004 Năm 2006 có khoảng 10,8% số hộ được xếp vàoloại thiếu ăn theo chuẩn quốc tế
- Căn cứ vòa chuẩn nghèo quốc gia do Bộ Lao Động thương bình và xã hội banhành, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ hơn 30% năm 1990 xuống còn xấp xỉ 17% năm2001
- Số hộ nghèo của năm 2004 là 1,44 triệu hộ đến năm 2005 chỉ còn 1,1triệu hộ.Như vậy, tỷ lệ hộ nghèo năm 2005 đã giảm khoảng 50% so với năm 2000
- Tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam giảm nhanh, từ 17,2% năm 2001 xuống 6,3% năm
2005, bình quân mỗi năm giảm được 30.000 hộ, đạt được mục tiêu Nghị quyết Đạihội Đảng thứ VIII và IX đề ra
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 22% năm 2005 xuống 9,45% năm 2010 (chuẩn cũ) và
từ 14,2% năm 2010 xuống 9,6% năm 2012 (chuẩn giai đoạn 2011-2015), tươngứng với khoảng 2,1 triệu hộ nghèo…
Biểu 1.1: Tỷ lệ hộ nghèo các vùng trong cả nước năm 2011-2012.
STT Tỉnh/Thành phố
Năm 2011 Năm 2012
Tỷ lệ hộ nghèo (%)
Tỷ lệ hộ nghèo của các vùng so với cả nước (lần)
Tỷ lệ hộ nghèo (%)
Tỷ lệ hộ nghèo của các vùng
so với cả nước (lần)
Trang 13V Duyên hải miền Trung 14,49 1,23 12,20 1,27
Năm 2012, Tỷ lệ hộ nghèo ở miền núi Tây Bắc cao gấp 2,97 lần so với tỷ lệ hộnghèo của cả nước; miền núi Đông Bắc là 1,81 lần, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên
là 1,56 lần, Duyên hải miền Trung là 1,27 lần
Tỷ lệ hộ nghèo tại 62 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP đã giảm từ58,33% (năm 2010) xuống còn 50,97% (năm 2011) và 43,89% (năm 2012), bìnhquân giảm trên 7%/năm;
Tỷ lệ hộ nghèo tại 07 huyện nghèo theo Quyết định 615/QĐ-TTg đã giảm từ43,56% (năm 2011) xuống còn là 30,13% (giảm 13,43%); Tỷ lệ hộ nghèo tại 23huyện nghèo theo Quyết định 293/QĐ-TTg cuối năm 2012 còn 43,14%
Năm 2014, trên cả nước, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 7,8% xuống 5,8%, tỷ lệ hộnghèo các huyện giảm trên 38% còn trên 33%.Dự kiến hết năm 2015 tỷ lệ hộnghèo dưới 5% và tỷ lệ các huyện nghèo là 30%
2.5 Những thách thức, khó khăn trong công tác xóa đói giảm nghèo.
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh nhưng kết quả giảm nghèo chưa bền vững, số hộ
đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo rất lớn (70% - 80%), tỷ
lệ hộ tái nghèo hằng năm so với tổng số hộ thoát nghèo còn cao (7% - 10%);chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, đặc biệt
là ở những huyện, xã có tỷ lệ hộ nghèo cao
- Các chương trình giảm nghèo triển khai trong thời gian qua chưa toàn diện;nhiều chính sách, chương trình giảm nghèo đã được ban hành nhưng còn mangtính ngắn hạn, chồng chéo, chưa tạo sự gắn kết chặt chẽ và lồng ghép tập trungvào mục tiêu giảm nghèo; công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của ngườidân còn nhiều hạn chế, tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước, vào cộng đồng vẫncòn phổ biến ở nhiều địa phương nên đã hạn chế phát huy nội lực và sự nỗ lựcvươn lên
Trang 14- Theo chuẩn nghèo mới dự kiến áp dụng từ năm 2011, tỷ lệ hộ nghèo của cảnước chiếm khoảng 15%- 17%, người nghèo tập trung phần lớn ở khu vực nôngthôn chiếm khoảng 90%; một số huyện miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, miền núiDuyên hải miền Trung, Tây Nam Bộ là những nơi đông đồng bào dân tộc thiểu sốsinh sống, tỷ lệ hộ nghèo còn cao (trên 50%), là địa bàn rất khó khăn đối với côngtác giảm nghèo.
- Tỷ lệ hộ nghèo ở các vùng sâu, vùng xa vẫn cao gấp 4-5 lần so với mức bìnhquân của cả nước Đa số người nghèo ít có điều kiện tiếp cận với dịch vụ xã hội
cơ bản Bên cạnh đó, những thành tựu xóa đói giảm nghèo đã đạt được còn thiếutính bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao( Theo báo cáo chương trình quốc giagiảm nghèo năm 2010 tốc độ giảm nghèo trung bình năm là 2%, huyện nghèo là5% nhưng cứ 3 hộ nghèo có 1 hộ tái nghèo và 1 hộ nghèo mới) Nguy cơ dễ bị tổnthương của người nghèo trước những rủi ro của cuộc sống (ốm đau, thiên tai, mấtmùa, biến động thị trường, môi trường ô nhiễm, mất đi người trụ cột của gia đình,thất nghiệp ) cũng vẫn rất lớn Hệ thống an sinh xã hội chưa phát huy tác dụng ởvùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa Đặc biệt nước ta nằm trong vùng thườngxuyên xảy ra thiên tai, bão lụt và 80% người nghèo làm việc trong nông nghiệp cóthể dẫn đến nguy cơ tái nghèo đói cao Mặt khác, có không ít hộ tuy không thuộcdiện nghèo đói nhưng mức thu nhập không ổn định nằm giáp ranh chuẩn nghèođói cũng có nguy cơ tái đói nghèo Ngoài ra, nghèo đói có mối liên quan mật thiếtvới tình trạng suy thoái môi trường Nghèo đói có thể khiến cho nông dân khaithác quá mức nguồn tài nguyên vốn đã hạn hẹp và càng làm cho nghèo đói trở nêntrầm trọng hơn
- Theo Báo cáo của Dự án VIE, công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam sẽ còngặp nhiều khó khăn do nguồn lực xóa đói, giảm nghèo hạn chế; số lượng cán bộlàm công tác xóa đói, giảm nghèo còn thiếu, yếu về năng lực Bên cạnh đó, cơ chếxác định hộ nghèo chưa được thực hiện thống nhất ở các địa phương và chất lượnggiám sát theo dõi báo cáo về xóa đói, giảm nghèo chưa cao
- Các chính sách hỗ trợ cho người nghèo gặp nhiều khó khăn và bất cập Ví dụchính sách tín dụng cho hộ nghèo nhằm mục đích hỗ trợ vốn giúp hộ nghèo pháttriển sản xuất, chăn nuôi để cải thiện đời sống, vươn lên thoát nghèo, hiện nay,mức vay tối đa cho hộ nghèo theo quy định là 50 triệu đồng, nhưng qua khảo sátkhông hộ nào vay được đến 50 triệu đồng, đa số vay chỉ từ 10-20 triệu đồng Cũng
có một số hộ vay vốn không vì mục đích phát triển sản xuất mà sử dụng tiền để trịbệnh, tiêu xài trong gia đình nên không có khả năng trả nợ Ngoài ra, một số chínhsách khi thực hiện vẫn còn những mặt hạn chế như: Chính sách hỗ trợ nhà ở cho
Trang 15hộ nghèo không có đất ở đến nay vẫn chưa có biện pháp giải quyết, nhiều hộ vẫncòn ở nhờ trên phần đất công, nhà cửa chắp vá, xiêu vẹo; nhiều hộ Việt kiều từCampuchia về nước chưa có hộ tịch, hộ khẩu và giấy chứng minh nhân dân nên dùnằm trong danh sách hộ nghèo vẫn không được hưởng các chế độ, chính sách cho
hộ nghèo
- Giải quyết vấn đề nghèo đói là nhiệm vụ khó khăn, lâu dài, bền bỉ của toànĐảng, toàn dân ta, để bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Trong 10 năm tới, giảm nghèo bền vững làmột trong những nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên trong Chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội đất nước, cũng như trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện của Chính phủ, chínhquyền các cấp nhằm phát huy nội lực của toàn xã hội cũng như sự nỗ lực, vươn lêncủa người nghèo Nhà nước tiếp tục tập trung ưu tiên cho những địa bàn khó khănnhất (vùng miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung, Tây Nam Bộ)nhằm bảo đảm giảm nghèo nhanh và bền vững ở những vùng này so với cả nước
2.6 Một số nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong công tác xóa đói giảm nghèo.
2.6.1 Nguyên nhân khách quan.
- Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu vừa trải qua một cuộc chiến tranhlâu dài và gian khổ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, ruộng đồng bị bỏ hoang, bom mìn,nguồn nhân lực chính của các hộ gia đình bị sút giảm do mất mát trong chiếntranh, thương tật, hoặc phải xa gia đình để tham gia chiến tranh, học tập cải tạotrong một thời gian dài
- Chính sách nhà nước thất bại: sau khi thống nhất đất nước việc áp dụng chínhsách tập thể hóa nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp và chính sách giá lươngtiền đã đem lại kết quả xấu cho nền kinh tế vốn đã ốm yếu của Việt Nam làm suykiệt toàn bộ nguồn lực của đất nước và hộ gia đình ở nông thôn cũng như thànhthị, lạm phát tăng cao có lúc lên đến 700% năm
- Hình thức sở hữu: việc áp dụng chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước vàtập thể của các tư liệu sản xuất chủ yếu trong một thời gian dài đã làm thui chộtđộng lực sản xuất
- Việc huy động nguồn lực nông dân quá mức, ngăn sông cấm chợ đã làm cắtrời sản xuất với thị trường, sản xuất nông nghiệp đơn điệu, công nghiệp thiếu hiệu
Trang 16quả, thương nghiệp tư nhân lụi tàn, thương nghiệp quốc doanh thiếu hàng hànghóa làm thu nhập đa số bộ phận giảm sút trong khi dân số tăng cao
- Lao động dư thừa ở nông thôn không được khuyến khích ra thành thị laođộng, không được đào tạo để chuyển sang khu vực công nghiệp, chính sách quản
lý bằng hộ khẩu đã dùng biện pháp hành chính để ngăn cản nông dân di cư, nhập
- Nguồn kinh phí do trung ương bố trí còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được mụctiêu đề ra Trong điều kiện nguồn kinh phí hỗ trợ từ trung ương còn hạn hẹp thìnguồn huy động tại chỗ đóng vai trò hết sức quan trọng Song, nhiều tỉnh gặp khókhăn, không chủ động được việc huy động nguồn lực tại chỗ do không biết chínhxác nguồn kinh phí được hỗ trợ từ trung ương là bao nhiêu và thông thường tiêuchí phân bổ kinh phí không được thông tin rõ ràng
- Hệ thống theo dõi, giám sát chương trình chưa được tổ chức một cách có hệthống và đồng bộ Thông thường công tác sơ kết, tổng kết chương trình chủ yếudựa trên báo cáo của các bộ và các tỉnh gửi về, song tình trạng một số chỉ tiêutrong báo cáo không có số liệu hoặc không gửi báo cáo về vẫn xảy ra thườngxuyên Trong khi đó, các chỉ tiêu được sử dụng để báo cáo, nhìn chung mang tínhliệt kê, chưa phân biệt rõ giữa chỉ tiêu đầu vào, đầu ra và vai trò tác động Điềunày đã gây rất nhiều khó khăn cho công tác theo dõi, đánh giá chính xác hiệu quả
và tác động của chương trình
2.6.2 Nguyên nhân chủ quan.
- Sau 20 năm đổi mới đến năm 2005 kinh tế đã đạt được một số thành tựu nhưng số lượng người nghèo vẫn còn đông, có thể lên đến 26% (4,6 triệu hộ) do các nguyên nhân khác như sau:
Trang 17- Sai lệch thống kê: do điều chỉnh chuẩn nghèo của Chính phủ lên cho gần với chuẩn nghèo của thế giới (1USD/ngày) cho các nước đang phát triển làm tỷ lệ nghèo tăng lên
- Việt Nam là nước nông nghiệp đến năm 2004 vẫn còn 74,1% dân sống ở nông thôn trong khi tỷ lệ đóng góp của nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc gia thấp Hệ số Gini là 0,42 và hệ số chênh lệch là 8,1 nên bất bình đẳng cao trong khithu nhập bình quân trên đầu người còn thấp
- Người dân còn chịu nhiều rủi ro trong cuộc sống, sản xuất mà chưa có các thiết chế phòng ngừa hữu hiệu, dễ tái nghèo trở lại như: thiên tai, dịch bệnh, sâu hại, tai nạn lao động, tai nạn giao thông, thất nghiệp, rủi ro về giá sản phẩm đầu vào và đầu ra do biến động của thị trường thế giới và khu vực như khủng hoảng vềdầu mỏ làm tăng giá đầu vào, rủi ro về chính sách thay đổi không lường trước được, rủi ro do hệ thống hành chính kém minh bạch, quan liêu, tham nhũng
- Nền kinh tế phát triển không bền vững, tăng trưởng tuy khá nhưng chủ yếu là
do nguồn vốn đầu tư trực tiếp, vốn ODA, kiều hối, thu nhập từ dầu mỏ trong khi nguồn vốn đầu tư trong nước còn thấp Tín dụng chưa thay đổi kịp thời, vẫn còn
ưu tiên cho vay các doanh nghiệp nhà nước có hiệu quả thấp, không thế chấp, môi trường sớm bị hủy hoại, đầu tư vào con người ở mức cao nhưng hiệu quả còn hạn chế, số lượng lao động được đào tạo đáp ứng nhu cầu thị trường còn thấp, nông dân khó tiếp cận tín dụng ngân hàng nhà nước,
- Ở Việt Nam, sự nghèo đói và HIV/AIDS tiếp tục phá hủy từng kết cấu của tuổi thơ Các em không được thừa hưởng quyền có một tuổi thơ được thương yêu, chăm sóc và bảo vệ trong mái ấm gia đình hoặc được khích lệ phát triển hết khả năng của mình Khi trưởng thành và trở thành cha mẹ, đến lượt con cái các em có nguy cơ bị tước đoạt các quyền đó vì các hiểm họa đối với tuổi thơ lặp lại từ thế
- Hiệu năng quản lý chính phủ thấp
2.7 Định hướng giảm nghèo nhanh và bền vững.
Trang 18Để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc giảm nghèo và thực hiện mục tiêu giảm nghèobền vững, hạn chế tốc độ gia tăng khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, định hướnggiảm nghèo thời kỳ 2011 - 2020 như sau:
- Thứ nhất, các chính sách giảm nghèo thường xuyên sẽ được hệ thống lại, trên
cơ sở rà soát, đánh giá lại toàn bộ các chính sách hiện hành do các bộ, ngành đượcgiao trách nhiệm chủ trì tổ chức thực hiện, hướng vào đối tượng người nghèo, hộnghèo Trên cơ sở đó, Chính phủ sẽ ban hành nghị quyết về định hướng giảmnghèo bền vững thời kỳ 2011 - 2020, trong đó, bao gồm các chính sách hỗ trợ trựctiếp đối với hộ nghèo, người nghèo; chính sách đặc thù cho địa bàn khó khăn nhất
- Thứ hai, tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bềnvững giai đoạn 2011 - 2015 Chính phủ sẽ tập trung ưu tiên nguồn lực đầu tư từngân sách trung ương để đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo ở các địa bàn đặc biệt khókhăn, trong đó tập trung vào các nội dung: tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng ở cácđịa bàn đặc biệt khó khăn; hỗ trợ sản xuất, tăng thu nhập cho người nghèo, đồngbào dân tộc thiểu số; xây dựng và nhân rộng mô hình giảm nghèo bền vững; nângcao năng lực giảm nghèo và truyền thông; tăng cường hoạt động giám sát, đánhgiá các chính sách giảm nghèo tác động đến đối tượng thụ hưởng Trên cơ sở đó,các địa phương căn cứ cơ chế, chính sách giảm nghèo để huy động nguồn lực và
bố trí ngân sách tại chỗ để đầu tư
- Thứ ba, thực hiện cơ chế phân cấp, trao quyền, hỗ trợ trọn gói có mục tiêu chođịa phương, đi đôi với nâng cao năng lực và tăng cường sự tham gia của ngườidân
- Thứ tư, phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân 2%/năm theo chuẩn mới, riêng
62 huyện nghèo, các xã đặc biệt khó khăn giảm bình quân 4%/năm; Tạo việc làm
ổn định và đa dạng hoạt động thu nhập cho lao động nghèo; Tăng thu nhập bìnhquân đầu người của các hộ nghèo lên 3,5 lần và thu nhập bình quân đầu người củacác huyện nghèo nhất tăng ít nhất 3 lần so với năm 2010; Bảo đảm các điều kiệnthiết yếu về nhà ở, nước sinh hoạt, tiếp cận các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe,giáo dục, dạy nghề, đời sống văn hóa, tinh thần, tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lýmiễn phí cho các hộ nghèo, đặc biệt hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số ở cáchuyện nghèo, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; Kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụsản xuất và dân sinh ở các huyện nghèo, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn đạt chuẩntheo tiêu chí nông thôn mới