1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Sự ra đời và phát triển của tiền tệ

19 6,6K 39

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 92,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN THỨ NHẤTĐẶT VẤN ĐỀ1.1.Lý do chọn đề tàiKhi phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước và đặc biệt khi mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế , đầu tư , thương mại với thế giới nền kinh tế nước ta có những biến sâu sắc và phát triển mạnh. Sống trong một thế giới đầy những sự hứa hẹn và nguy hiểm, thử thách cơ hội... Vì vậy là những sinh viên , đang theo học môn tài chính tiền tệ , chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Sự ra đời và phát triển của tiền tệ” để nghiên cứu và tìm hiểu rõ thêm những kiến thức cơ bản về lĩnh vực tài chính năng động và có tầm quan trọng này. Và cũng là đề tài cho bài tiểu luận kết thúc môn học của mình.1.2.Mục tiêu nghiên cứu Nhận biết được bản chất của tiền tệ, đồng thời phân tích được các chức năng của tiền tệ đối với nền kinh tế, từ đó thấy được tầm quan trọng của tiền tệ đối với mọi hoạt động của nền kinh tế xã hội. Giải thích được sự ra đời và sự phát triển của tiền tệ qua các hình thái biểu hiện của tiền tệ. Trình bày được các hình thức tổ chức lưu thông tiền tệ qua sáu chế độ tiền tệ: chế độ song bản vị, chế độ bản vị tiền vàng, chế độ bản vị vàng thỏi, chế độ bản vị vàng hối đoái, chế độ bản vị ngoại tệ và chế độ bản vị tiền giấy. Nhắc lại được sự ra đời của tài chính trong lịch sử phát triển của kinh tế và xã hội.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

KHOA KINH TẾ

TIỂU LUẬN

Sự ra đời và phát triển của tiền tệ

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Hà Vân Anh

Trần Lê Mỹ Duyên Trần Thị Mỹ Thiện Trần Thị Hoàng Giang Nguyễn Thị Hồng Ánh Nguyễn Thị Bích Diễm

Đỗ Xuân Nguyên

Võ Thanh Lưu Hòa Quang Công

Tạ Thị Thanh Huyền

Lý Hống Quân

Đắk Lắk, 2015

Trang 2

PHẦN THỨ NHẤT ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1.Lý do chọn đề tài

Khi phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước và đặc biệt khi mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế , đầu tư , thương mại với thế giới nền kinh tế nước ta có những biến sâu sắc và phát triển mạnh.Sống trong một thế giới đầy những

sự hứa hẹn và nguy hiểm, thử thách cơ hội Vì vậy là những sinh viên của ngành kinh tế, đang theo học môn tài chính tiền tệ , chúng tôi quyết định

lựa chọn đề tài “Sự ra đời và phát triển của tiền tệ” để nghiên cứu và tìm

hiểu rõ thêm những kiến thức cơ bản về lĩnh vực tài chính năng động và có tầm quan trọng này Và cũng là đề tài cho bài tiểu luận kết thúc môn học của mình

1.2.Mục tiêu nghiên cứu

- Nhận biết được bản chất của tiền tệ, đồng thời phân tích được các chức năng của tiền tệ đối với nền kinh tế, từ đó thấy được tầm quan trọng của tiền tệ đối với mọi hoạt động của nền kinh tế - xã hội

- Giải thích được sự ra đời và sự phát triển của tiền tệ qua các hình thái biểu hiện của tiền tệ

- Trình bày được các hình thức tổ chức lưu thông tiền tệ qua sáu chế độ tiền tệ: chế độ song bản vị, chế độ bản vị tiền vàng, chế độ bản vị vàng thỏi, chế độ bản vị vàng hối đoái, chế độ bản vị ngoại tệ và chế độ bản vị tiền giấy

- Nhắc lại được sự ra đời của tài chính trong lịch sử phát triển của kinh tế

và xã hội

Trang 3

PHẦN HAI TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU

2 Nguồn gốc và sự phát triển của các hình thái tiền tệ.

2.1 Nguồn gốc ra đời của tiền tệ

Kinh tế học đã chỉ ra rằng, tiền tệ là một phạm trù kinh tế khách quan, gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hóa

Khi nghiên cứu về quá trình ra đời của tiền tệ, C.Mác kết luận: “Trình bày nguồn gốc phát sịnh của tiền tệ, nghĩa là phải khai triển cái biểu hiện của giá trị, biểu hiện bao hàm trong quan hệ giá trị của hàng hóa, từ hình thái ban đầu đơn giảng nhất và ít thấy rõ nhất cho đến hình thái tiền tệ là hình thái mà

ai nấy đều thấy” (C.Mác – Tư Bản – Quyển I, Tập I, trang 75 – Nhà xuất bản

Sự Thật – Hà Nội 1963)

Trong quan hệ trao đổi, hình thức giá trị được biểu hiện qua 4 hình thái:

 Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên: Khi một hàng hóa ngẫu nhiên phản ánh giá trị của một hàng hóa khác

 Hình thái giá trị hay mở rộng: Khi nhiều hàng hóa đều có khả năng trở thành vật ngang giá để thể hiện giá trị một hàng hóa nào đó

 Hình thái giá trị chung khi một hàng hóa đóng vai trò vật ngang giá chung để thể hiện giá trị của tất cả hàng hóa khác

Có nhiều hàng hóa được sử dụng như vật ngang giá chung như : gia súc, đồng, bạc, vàng… Mỗi loại đều có sự thuận lợi và bất lợi khi làm phương tiện trao đổi-vật ngang giá chung.Cuối cùng vật ngang giá chung chỉ giới hạn là kim loại quý vì dễ vận chuyển hơn trong

đó chủ yếu là vàng

Trang 4

 Hình thái giá trị tiền tệ : Khi phần lớn các quốc gia đều sử dụng vàng làm vật ngang giá chung trong trao đổi hàng hóa (vào cuối thế

kỉ 19), vàng loại bạc và trở thành vật ngang giá chung- thế giới độc nhất

Trải qua tiến trình phát triển , tiền tệ đã tồn tại dưới nhiều hình thức để đáp ứng nhu cầu đa dạng của nền kinh tế

2.2.Sự phát triển của các hình thái tiền tệ

2.2.1.Tiền tệ hàng hóa-Hóa tệ

Hóa tệ nghĩa là tiền bằng hàng hóa là hình thái đầu tiên của tiền tệ và được sử dụng trong một thời gian dài Hàng hóa dùng làm tiền tệ trong trao đổi phải có giá trị thức sự và giá trị của vật trung gian trao đổi này ngang bằng giá trị hàng hóa của vật đem đi đổi tức là trao đổi ngang giá hàng hóa thông thường lấy hàng hóa đặc biệt – tiền tệ Hóa tệ lần lượt xuất hiện dưới 2 dạng : hóa tệ kim loại và hóa tệ phi kim loại

2.2.1.1.Hóa tệ phi kim loại

Hình thái cổ xưa nhất của tiền tệ, thông dụng trong các xã hội cổ truyền Tùy theo từng quốc gai từng địa phương từng khu vực người ta dùng các hàng hóa khác nhau làm tiền tệ Ví dụ ở Hi Lạp , La Mã người ta dùng trâu

bò, ở Tây Tạng dùng trà đóng thành bánh, ở Châu Phi dùng lụa vải , vỏ sò , hến… để làm tiền

Việc dùng hàng hóa làm tiền tệ do thói quen địa phương Hóa tệ phi

kim loại có nhiều bất tiện như: Tính chất không đồng nhất,dễ hư hỏng , khó

phân chia hay gộp lại,khó bảo quản vận chuyển, chỉ được công nhận trong

Trang 5

từng khu vực, địa phương Do vậy hóa tệ phi kim loại dần bị loại bỏ và người

ta sử dụng hóa tệ kim loại

2.2.2.2.Hóa tệ kim loại.

Là việc lấy kim loại làm tiền tệ Các kim laoij dùng được đúc thành tiền đồng, tiền bạc, vàng… Kim loại có nhiều ưu điểm hơn hàng hóa : bền hơn, hao mòn chậm dễ chia nhỏ, dễ vận chuyển…

Qua thực tiễn trao đổi và lưu thông hóa tệ kim loại người ta chỉ sử dụng

2 kim loại quý làm tiền lâu dài hơn là bạc và vàng Vì chúng có thuộc tính đặc biệt là tính đồng nhất , tính dễ chia nhỏ, tính cất trữ, tính dễ lưu thông Sau này vàng vượt bạc trở thành hóa tệ kim loại độc quyền

Trong giai đoạn đầu tiên vàng bạc được đúc thành nén ,thỏi Về sau tiện trao đổi chúng được đúc thành đồng xu với khối lượng và độ tinh khiết nhất định Tiền đúc xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc khoảng thế kỉ 7 trước công nguyên sau thâm nhập sang Ba Tư , Hi Lạp, La Mã rồi vào Châu Âu Các đồng tiền Châu Âu lưu hành trước đây đều ở dạng này

Tiền vàng có một thời gian thống trị rất dài trong lịch sử điều này chứng tỏ hiệu quả to lớn mà nó mang lại cho nền kinh tế Hệ thống thanh toán bằng tiền vàng vẫn được duy trì cho mãi đến thế kỉ 20 Ngày nay mặc dừ tiền vàng không còn trong lưu thông nữa nhưng vần được coi là một loại tài sản cất trữ có giá trị

Tuy có những đặc điểm thích hợp cho việc dùng làm tiện tệ nhưng tiền vàng không thể đáp ứng nhu cầu trao đổi của xã hội và trao đổi hàng hóa phát triển ở mức cao Những lí do sau để thấy rõ sự bất tiện của tiền vàng trong lưu thông:

Trang 6

 Lượng vàng sản xuất không đáp ứng nhu cầu về tiền tệ ( nhu cầu trao đổi ) của nền kinh tế

 Không thể đáp ứng nhu cầu làm vật ngang giá chung trong một số lĩnh vực có lượng giá trị trao đổi mỗi lần nhỏ như mua bán hàng hóa tiêu dùng

 Lãng phí nguồn tài nguyên có hạn

2.2.2.Tiền danh nghĩa – Tiền là dấu hiệu giá trị

Tìm kiếm một loại hình tiền tệ mới thay thế cho vàng trong lưu thông là cần thiết Người ta đã phát hành tiền xu kim loại và tiền giấy

để thực hiện chức năng lưu thông thay cho vàng

Tiền danh nghĩa là bản thân nó không có giá trị song nhờ sự tín dụng của mọi người mà nó được lưu dụng

2.2.2.1.Tiền xu kim loại

Tiền xu kim loại có giá trị của chất kim loại được đúc và mệnh giá được đúc trên nó không liên quan đến nhau có thể gán một giá trị tưởng tượng nào đó của con người lên đó Khác với hóa tệ kim loại ở trên giá trị của chất kim loại được đúc phải bằng mệnh giá được đúc trên nó

2.2.2.2.Tiền giấy

Có 2 loại là tiền giấy khả hoàn và bất khả hoán

a) Tiền giấy khả hoán

Là mảnh giấy được in thành tiền để lưu hành thay thế cho tiền vàng hay tiền bạc Người có tiền giấy này có thể sử dụng nó đem đến ngân hàng để đổi lấy một lượng vàng bạc tương đương với giá trị ghi trên

đó Sự ra đời của tiền giấy khả hoán giúp giao dich những khoản tiền

Trang 7

lớn thuận tiện hơn Sự ra đời của tiền giấy khả hoán được ghi nhận vào thế kỉ 17 do 1 chủ ngân hàng ở Thụy Điển đưa ra

Thời kì đầu, NHTM phát hành tiền giấy khả hoán Sau chiến tranh thế giới I nhà nước cấm NHTM phát hành tiền giấy khả hoán và quy việc phát hành về NHTW duy nhất Vì thế ngày nay nói giấy bạc ngân hàng

là phải hiểu giấy bạc NHTW.Hàm lượng vàng được quy định theo pháp luật của ngân hàng từng nước Vì vậy ta gọi tiền giáy này là tiền pháp định

Do ảnh hưởng của chiến tranh và khủng hoảng tiền giấy khả hoán bi mất khả năng đổi ra vàng Sau chiến tranh thế giới thứ hai chỉ còn đồng đôla Mỹ có thể đổi ra vàng ( chế độ bản vị hối đoái vàng) Năm

1971 Mỹ tuyên bố ngừng đổi đồng đôla Mỹ ra vàng đã làm sự tồn tại của tiền giáy khả hoán biến mất

b) Tiền giấy bất khả hoán.

Loại tiền giấy ngày nay trên thế giới đang sử dụng Tiền giấy thực chất

là giấy vay nợ của NHTW với người mang nó.Với đồng tiền bất khả hoán nó là giấy nợ đặc biệt

Việc xã hội chấp nhận tiền giấy mặc dù giá trị thực của nó thấp hơn giá trị nó đại diện vì tiền giấy được quy định trong luật là phương tiện trao đổi , vì mọi người tin tưởng vào uy tín của cơ quan phát hành ( NHTW) và bản thân tiền giấy rất thuận lợi.Đó là:

- Dể mang theo để làm phương tiện trao đổi hàng hóa, thanh toán nợ

Trang 8

- Thuận tiện khi thực hiện chức năng dự trữ của cải dưới hình thức giá trị

- Bằng cách thay đổi các con số trên mặt đồng tiền, một lượng giá trị lớn hay nhỏ đều được biểu hiện

- Bằng chế độ độc quyền phát hành giấy bạc với những quy định nghiêm ngặt của Chính phủ, tiền giấy có thể giữ được giá trị của nó,…

2.2.3.Bút tệ

Bút tệ là thứ tiền tệ vô hình sử dụng bằng cách ghi chép trên sổ sách của ngân hàng, nó chính là số dư trên tài khoản tiền gửi ở ngân hàng Về nguồn gốc, người ta cho rằng bút tệ ra đời vào giữa thế kỹ 19 khi Ngân hàng Anh quốc tìm cách né tránh các thể lệ phát hành tiền giấy quá cứng nhắc nên đã sang chế ra hệ thống thanh toán bằng cách ghi trên sổ sách ngân hàng Ngày nay, bút tệ được sử dụng rộng rãi ở hầu hết các nước, nhưng ở các nước phát triển, dân chúng có thói quen sử dụng bút tệ hơn ở các nước kém phát triển,

do hệ thống ngân hàng ở các nước phát triển hoạt động tốt hơn

2.2.4.Tiền điện tử

Trong những năm gần đây, nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin và công nghệ ngân hàng nên các loại thẻ tín dụng và thẻ thanh toán ngày càng được sử dụng rộng rãi, kể cả trong và ngoài nước Những loại thẻ này có thể thực hiện được các chức năng của tiền tệ và ngày càng thay thế tiền giấy trong đời sống kinh tế Do vậy, chúng cũng được xem là một hình thái tiền tệ mới – Tiền điện tử

Trang 9

3.Bản chất và chức năng của tiền tệ

3.1.Bản chất của tiền tệ

Tiền tệ có biểu hiện ở rất nhiều thứ khác nhau Đối với hầu hết các dân tộc, tiền là những đồng xu bằng kim loại, những tờ giấy bạc, những tấm thẻ, hoặc là những khoản tiết kiệm ở ngân hàng,… Nhưng đối với một số dân tộc trong quá khứ không xa lắm, tiền là những chuổi hạt, vỏ ốc được xâu lại vì

đó là những vật họ cho là có giá trị Các dân tộc đã từng coi những vật như vậy là “tiền” bởi vì chúng đều là những phương tiện được thừa nhận và thỏa thuận trong thanh toán

Lịch sử phát triển của tiền tệ đã chứng minh rằng tiền tệ là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình troa

đổi hàng hóa, dịch vụ Suy cho cùng, về bản chất, tiền tệ là vật ngang giá

chung, làm phương tiện để trao đổi hàng hóa, dịch vụ và thanh toán các khoản nợ

3.2 Chức năng của tiền tệ

3.2.1 Chức năng là đơn vị đo lường giá trị

Tiền tệ là đơn vị đo lường giá trị, nghĩa là nó được dùng để đo lường giá trị của hàng hóa, dịch vụ trước khi thực hiện trao đổi Người ta đo giá trị của hàng hóa và dịch vụ bằng tiền giống như người ta đo trọng lượng của một vật bằng kilogram, đo chiều dài của một vật bằng mét Để thấy được vì sao chức năng này quan trọng, chúng ta hãy so sánh quá trình trao đổi hiện vật với trao đổi hàng hóa có tiền làm môi giới trung gian

Trang 10

Trong quá trình trao đổi trực tiếp, có 3 mặt hàng đưa ra trao đổi: A, B, C thì chúng ta chỉ cần biết 3 giá để có thể trao đổi các hàng hóa này với nhau

Đó là:

- Giá của hàng hóa A được tính bằng bao nhiêu hàng hóa B

- Giá của hàng hóa A được tính bằng bao nhiêu hàng hóa C

- Giá của hàng hóa C được tính bằng bao nhiêu hàng hóa B

Tương tự, nếu có 10 mặt hàng đưa ra cần trao đổi, chúng ta phải cần biết

45 giá để có thể trao đổi hàng này để lấy một hàng hóa khác, với 100 mặt hàng chúng ta cần tới 4.950 giá, và với 1.000 mặt hàng thì chúng ta cần biết 499.500 giá (theo công thức tính tổng quát số cặp khi có N phân tử = N (N-1)/2)

Nếu nền kinh tế có tiền tệ làm môi giới, thì người ta định giá bằng đơn vị tiền tệ cho tất cả các hàng hóa đem trao đổi trên thị trường Do vậy, có bao nhiêu hàng hóa đưa ra trao đổi thì có bấy nhiêu giá cả Có nghĩa là, nếu có 3 hàng hóa đưa ra trao đổi thì có 3 giá, có 10 hàng hóa đưa ra trao đổi thì có 10 giá, có 1.000 hàng hóa đưa ra trao đổi thì có 1.000 giá Vậy là, việc dùng tiền làm đơn vị đánh giá sẽ thuận lợi rất nhiều cho quá trình trao đổi hàng hóa, giảm được chi phí trong trao đổi do giảm được số giá cần xem xét

Khi nền kinh tế phát triển thì lợi ích của chức năng đo lường giá trị của tiền tệ ngày càng tăng lên Ngày nay, người ta đo lường giá trị của hàng hóa, dịch vụ không phải chỉ bằng tiền mặt mà còn đo lường giá trị hàng hóa, dịch

vụ bằng Séc, hối phiếu, kỳ phiếu hoặc là các chứng từ có giá khác

Trang 11

Để tiền tệ làm tốt chức năng đo lường giá trị đòi hỏi:

- Đơn vị tiền tệ đó phải có giá trị nội tại của nó, nếu không, dù có bắt buộc dân chúng vẫn không chấp nhận nó như một công cụ đo lường giá trị

- Giá trị của đơn vị tiền tệ đó, hay sức mua của đồng tiền phải ổn định hoặc có thay đổi thì vẫn không thay đổi nhiều qua thời gian

3.2.2 Chức năng là phương tiện trao đổi

Trong nền kinh tế, tiền tệ làm phương tiện trao đổi khi nó được dùng để mua bán hàng hóa, dịch vụ, hoặc thanh toán các khoản nợ cả trong và ngoài nước Việc dùng tiền làm phương tiện trao đổi đã nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế, bởi nó đã tiết kiệm được các chi phí quá lớn trong quá trình trao đổi trực tiếp hàng đổi hàng, các chi phí giao dịch thường rất cao Bởi vì, người mua, người bán phải tìm được những người trùng hợp với mình

về nhu cầu trao đổi, thời gian trao đổi, không gian trao đổi Quá trình trao đổi chỉ được diễn ra khi có sự phù hợp đó Tiền tệ làm môi giới trung gian trong trao đổi đã hoàn toàn khắc phục được các hạn chế đó của quá trình trao đổi trực tiếp Người có hàng bán lấy tiền, sau đó sẽ mua được hàng mà họ cần Bởi vậy, người ta coi tiền như thứ dầu mỡ bôi trơn, cho phép nền kinh tế hoạt động trôi chảy hơn, khuyến khích chuyên môn hóa và phân công lao động Việc dùng tiền làm một phương tiện trao đổi giúp đẩy mạnh hiệu quả của nền kinh tế, qua việc loại bỏ được nhiều thời gian dành cho việc đổi chác hàng hóa hay dịch vụ qua nhiều lần trao đổi trực tiếp lấy hàng Để làm tốt chức năng này tiền phải đạt một số ưu điểm sau:

Trang 12

- Phải được tạo ra hàng loạt một cách dể dàng, có tính đồng nhất cao để thuận tiện cho việc xác định giá trị trong từng quốc gia

- Phải được chấp nhận một cách rộng rãi của những người trao đổi hàng hóa

- Có thể chia nhỏ được, nhờ đó tạo thuận lợi cho người trao đổi

- Dể chuyên chở, di chuyển

- Không bị hư hỏng một cách nhah chóng do tác động của khí hậu, thời tiết, môi trường,…

3.2.3 Chức năng là phương tiện dự trữ về mặt giá trị

Tiền tệ làm phương tiện dự trữ giá trị nghĩa là nơi chứa sức mua hàng hóa trong một thời gian nhất định Nhờ chức năng này của tiền tệ mà người ta

có thể tách thời gian từ lúc có thu nhập đến lúc tiêu dùng nó Chức năng này

là quan trọng vì mọi người đều không muốn chi tiêu hết thu nhập của mình ngay khi nhận nó, mà dự trữ để sử dụng nó trong tương lai Tất nhiên, tiền không phải duy nhất là nơi chứa đựng giá trị, mà các tài sản khác cũng là nơi chứa giá trị, như cổ phiếu, thương phiếu,… Nhưng tiền là tài sản có tính lỏng cao nhất, bởi nó là phương tiện trao đổi, nó không cần phải chuyển đổi thành bất cứ cái gì khác khi với mục đích mua hàng hóa chi trả tiền dịch vụ Những tài sản khác đòi hỏi chi phí giao dịch khi cần chuyển sang tiền

Vì vậy, tiền là một phương tiện dự trữ về mặt giá trị có nhiều ưu điểm trong nền kinh tế hàng hóa Tuy vậy nó phải tùy thuộc vào mức giá vì giá trị của tiền được ấn định theo mức giá Nếu các giá đều tăng gấp hai thì nghĩa là giá trị của tiền đã sụt một nửa, ngược lại nếu các giá giảm đi một nửa thì giá trị tiền sẽ tăng lên hai lần Trong một cuộc lạm phát khi mức giá tăng lên

Ngày đăng: 17/04/2016, 21:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w