1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

Giáo trình Thuế và hệ thống thuế ở Việt Nam (Phần I)

137 44 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 3,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình sống và lao động, con người đã tích luỹ được kinh nghiệm, cải tiến công cụ lao động, một số người đã bắt đầu tạo ra nhiều của cải hơn mức cần thiết cho cuộc [r]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

GS.TS BÙI XUÂN LƯU (chủ biên)

TS NGUYÊN HỮU KHẢI - Th.s NGUYÊN XUÂN NỮ

Giáo trình

THUẾ VÀ HỆ THÒNG THUẾ OVIETNAH

Trang 2

TRƯỞNG DẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

us. TS Bl l XUÀN l l ì i (CYhi b»É»i)

TS Nc;t YẾN H fll KHẢI - TV.S Ní ỉIíYỀN XI ẢN Nữ

1

i * , ■ '' ' *• ' I

Trang 3

L ờ i n ó i đ ầ u

ở nước ta, nhất là khi chuyển từ nền kinh tế quản lý theo cơ

ch ế k ế hoạch hóa tập trung sang mô hình quản lý theo ca ch ế thị trựờng, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, thuế ngày càng có ảnh hưởng và tác động to lớn đến mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh, kinh tế - xã hội của đất nước Thuế và hệ thống thuế ở nước ta đã và đang là mối quan tăm chẳng những cùa các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô,

vi mô, của các nhà nghiên cứu mà còn của cả các doanh nghiệp

và quảng đại quần chúng nhân dân.

Đ ể phục vụ cho giáng dạy và học tập các học phần tự chọn trong chương trình dào tạo của Trường Đại học Ngoại thương, chúng tôi biên soạn Giáo trình 'Thuế và hệ thống thuế ỏ Việt Nam" nhằm giúp cho các sinh viên có nhu cẩu học tập của học phần này Giáo trình "T huế và hệ thống th u ế ở Việt N am " do Giáo

sư, Tiến sĩ Bùi Xuân Liai chù biên, viết các chương: 1, 2, 3, 6, 8, 11,12, 13, 14 cùng Tiến sĩ Nguyễn Hữu Khải viết các chương:

7, 9, 10 và tiết ¡11, IV chương 2 và Thạc s ĩ Nguyễn Xuân Nữ viết chương4 và 5.

Việc biên soạn khó tránh khỏi những thiếu sótr Kính mong bạn đọc góp ý về nội dung và hình thức của cuốn sách d ể nhóm tác giả tu chỉnh và hoàn thiện cho lẩn tái bản sạu.

Thay mặt nhóm tác giả Chủ biên GS.TS BÙI XUÂN LƯU

Trang 4

Chương I

VÀ QUÀ TRÌNH PHÂT TRIỂN CỦA THUÊ

I - NGUỒN GÓC RA ĐỜI CỦA THUẾ

Thời nguyên thuỷ, con người liên kết với nhau một cách tự phát để chung sống Sản phẩm do mỗi cá nhân làm ra chỉ vừa đủ, thâm chí còn quá thiếu so với nhu cầu tối thiểu của con người.Trong quá trình sống và lao động, con người đã tích luỹ được kinh nghiệm, cải tiến công cụ lao động, một số người đã bắt đầu tạo ra nhiều của cải hơn mức cần thiết cho cuộc sống bình thường, rồi trở nên dư thừa và giàu có Họ thoát ly dần lao động chân tay bằng cách thuê mướn người làm thay Họ trở nên có thế lực, được mọi người kính nể, cử làm đại diện cho bộ lạc-thị tộc Dần dần họ nắm quyền lực và cai trị bộ lạc Những “gia đình” danh giá và giàu có này đã tập hợp nhau lại bên ngoài thị tộc của họ, thành một giai cấp riêng và đặc quyền Nhóm người này có những lợi ích kinh tế riêng, khác với lợi ích của các giai cấp còn lại trong xã hội Cơ sở để liên kết những đại diện của các bộ lạc - thị tộc khác nhau thành một nhóm người đứng trên

bô lạc - thị tộc là tính thống nhất của những điều kiện tồn tại về lợi ích kinh tế của họ Thực tế nhóm người này trờ thành người

Trang 5

đứng đầu “chính quyền” công cộng, cuối cùng phát triển thành Nhà nước Như vậy, đúng như F Ăng-ghen đã nhận định

"Trước đây không phải lúc nào cũng có Nhà nước Đằ từng có những xã hộỉ không cần đến Nhà nước, không có một khái niệm nào về Nhà nước và chính quyền Nhà nước cả Đến một giai đoạn phát triển kinh tế nhất định, một giai đoạn tất nhiên phải gắn liền với sự phân chia xã hội thành giai cấp thì Nhà nước mới trở thành một tất yếu do sự phân chia đó."^

Nhà nước, xét ở khía cạnh phân công lao động xã hội, thì đó

là một tổ chửc bộ máy với nhiều hệ thống các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ khác nhau để tổ chức điều hành, cai quản xã hội Những người tham gia bộ máy Nhà nước từ trung ương đến địa phương là những người không tham gia trực tiếp sản xuất Phải có nguồn tài chính để nuôi bộ máy quản lý công việc của Nhà nước Phải có nguồn tài chính để chi tiêu cho những công việc thuộc chức năng Nhà nước như: quốc phòng, an ninh ; chi cho xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng; chi cho các vấn đề về phúc lợi công cộng, về sự nghiệp, về xã hội trước mắt và lâu dài Xã hội càng phát triển thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước càng lớn cả về quy mô và phạm vi chi tiêu

Nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu trên lấy từ đâu? Nó chỉ có

thể "lấy" từ việc động viên đóng góp một phần thu nhập xã hội

do các tầng lớp cư dân trong xã hội trực tiếp lao động tạo ra Nhưng "lấy" bằng cách nào? Từ trước đến nay, các Nhà nước thường có ba cách để động viên một phần thu nhập xã hội cho

(1) F Ăng-ghen : Nguồn gốc của gia đình - Chế độ tư hữu và Nhà nước NXB

Sự thật, Hà NộiT 1962, tr 258.

Trang 6

nguồn ngân sách Nhà nước: quyên góp, vay và dùng quyền lực

để buộc dân phải đóng góp

Hai hình thức đầu phụ thuộc vào tính tự giầc và tự nguyện cùa dân chúng, thường Nhà nước chỉ sử dụng trong một số trường hợp đặc biệt Chỉ có dùng quyền lực của Nhà nước để buộc dân phải đóng góp là cơ bản nhất Hình thức dùng quyền lực buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho Nhà nước - đó chính là thuế

Từ sự phân tích trên có thể rút ra kết luận: thuế ra đời và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại cùa Nhà nứớc, vì Nhà nước

và do Nhà nước Vậy, thuế là một tất yếu khách quan với chức năng chủ yếu và đầu tiên íà nhằm đảm bảo nguồn thu tài chỉnh phục vụ cho các nhu cầư chi tiêu theo chức năng của Nhà nước

Cơ sở quan trọng khác cho sự ra đời của thuế là thu nhập Nếu của cải làm ra chỉ đủ nuôi sống bấn thân người lao động thì không có gì để đóng góp cho Nhà nước Sự hình thăhh thu nhập trong xã hội là cơ sở vật chất tạo khả năng cho nguồn dộng vièn

về thuế: Có thu nhập thì người dân mới cổ thể đổng góp cho Nhà nước và ngược lại

Vậy, thuế xuất hiện trong xã hội lồắi người vớí hài điều kiến cần và đủ - đó là sự xuất hiện Nhà nước và sự xuất hiện thu nhập xã hội

Ngày nay, cùng với sự phát triển lực lượng sản xuất và quan

hệ sản xuất xã hội, sir phát triển cao của kinh tế hàng hoẩ, tiền

tệ, sự gia tăng mạnh mẽ quyền iực Nhà nước, đã phát sinh ra những nhu cầu chi tiêu to lớn, đà dạng Để đẩp ứng nhũ cầu đó, thuế và hệ thống thuế càng trở nên quan trọng và trở thành vấn

đề rất nhạy cảm trong xã hội Thuế nhiều khi khồng đủ để đầp

Trang 7

ứng nhu cầu chi tiêu, đặc biệt là những khoản chi cấp bách, đột xuất Vì thế, nhiều nước đã áp dụng hình thức phát hành công trái hoặc phát hành tiền giấy để giải quyết những mất cân đối trong ngân sách Tuy nhiên, thuế vẫn là hình thức động viên chủyếu và cơ bản nhất cho ngân sách Nhà nước.

Vậy, nhân tố lịch sử đầu tiên làm tiền đề cho sự ra đời cùa thuế chính là sự ra đời, tồn tại và phát triển cùa Nhà nước

11 - QUÁ TRÌNH PHÁT TRIEN CỦA THUẾ

Trong khoảng thời gian dài của lịch sử từ dầu chế độ nô lộ đến dầu chế độ tư bản, Nhà nước sử dụng thuế thu được phục vụ chủ yếu cho mục đích phi kinh tế như xây thành luỹ, đắp các tuyến phòng thủ, đúc vũ khí, nuôi binh lính, trả lương cho quan lại Có thể nói, Nhà nước thời kỳ ấy không chi một khoản nào cho mục đích kinh tế Tác dụng duy nhất của thuế lúc này là công cụ tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước để nuôi bộ máy của mình.Khi xã hôi loài người chuyển sang hình thái tư bản chủ nghĩa, kéo theo nó là những biến đổi sâu sắc về kinh tế-xã hội, Nhà nước nhận thức được vai trò quan trọng của mình trong việc điều hành nền kinh tế, từ đó ngày càng can thiệp nhiều hơn, mạnh mẽ hơn vào tiến trình kinh tế - xã hội của đất nước.Tất cả các hoạt động của Nhà nưóc thời kỳ tư bản chủ nghĩa đòi hỏi một nguồn vật chất lớn hơn hẳn thời kỳ trước đây Nếu chỉ dựa vào các sắc thuế vốn có (thuế đánh vào ruộng đất, thuế đánh vào nhân thân, ) thì không đủ và kém cỏng bằng, nên Nhà nước mở rộng nguồn thu bằng cách đặt thêm nhiều sắc

Trang 8

thuế nhằm vào nhiều đối tượng khác nhau Một hệ thống thuế với thuế suất đa dạng, linh hoạt hình thành Thuế trở nên tinh xảo, vừa mang lại một năng suất thu dồi dào, vừa thực hiện dược mục tiêu kích thích tăng trưởng kinh tế.

Khi quyền lực tối cao trong xã hội ngày càng được chuyển sang tay 'dân chúng (chế độ dân chủ) thì người đại diện của nhân dân là Nhà nước càng phải quan tâm đến sự phát triển toàn diện của xã hội, đến khía cạnh công bằng xã hội, đến thất nghiệp, người già, trẻ em không nơi nương tựa, người mất khả năng thu nhập:

Để làm và cần thiết phải làm được việc ấy, Nhà nước phải tìm cách “trích bớt” một phần thu nhập của những người giàu

có hay của các công ty thồng qua thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập công ty, chuyển chúng vào ngân sách Nhà nước để chi dùng cho các mục tiêu xã hội Ở đây thuế lại được xử lý một cách khôn khéo hơn Một mặt, thuế không hạn chế ý chí làm giàu của các cá nhân - một động lực thúc đẩy xã hội phát triển; mặt khác, gia tăng lượng thu nhập quốc dân vào tay Nhà nước;

và cuối cùng vẫn giữ được tính nhân đạo công bằng

Có thể khẳng định rằng, sự phát triển của thuế gắn liền với sự phát triển của xã hội Xã hội càng phát triển, thuế càng đa dạng,

ý niệm về thuế ngày càng trở nên hết sức tự nhiên

111 - Sơ LƯỢC VỂ THUÊ ở VIỆT NAM

Ở Việt Nam dưới thời phong kiến, Nhà Lê đã có hai loại thuế chính: thuế trực thu (thuế thân, thuế điền) và thuế gián thu

Trang 9

(đánh vào hoạt động thủ công nghiệp) Đến thời Nhà Nguyễn,

chế độ thuế cũng chia làm hai loại: thuế chính phú (thực chất

đây là thuế trực thu) gồm có thuế điền thổ, thuế thân, thuế tạp

dịch và thuế tạp phú (thực chất là thuế gián thu) gồm thuế

cảng, thuế quan tân, thuế nguồn đầm, thuế hầm mỏ, thuế các

hộ sản xuất

Thời Phong kiến, nửa thuộc địa (từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1945), một mặt, về cơ bản các loại thuế thời Nguyễn vẫn được duy trì nhưng ở mức độ nặng nề hơn; mặt khác, thực dân Pháp cho kinh doanh thuốc phiện, mở sòng bạc, quán rượu, tiệm nhảy, để thu thuế Ngoài chế độ thuế khóa nặng nề phải gánh chịu, nhân dân ta còn bị bọn quan tham, ô lại nhũng nhiễu.Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chính phủ đã hủy bỏ thuế thân; giảm, miễn thuế ruộng đất, thuế môn bài Chính phủ cũng ban hành các sắc lệnh về thuế nhằm đáp ứng một phần chi tiêu cho kháng chiến chống Pháp, phát triển sản xuất Đến năm

1951, chế độ thuế thống nhất gồm 7 loại thuế:

- Thuế nông nghiệp

- Thuế công, thương nghiệp

- Thuế hàng hóa

- Thuế sát sinh

- Thuế trước bạ

- Thuế tem (con niêm)

Trong một thời gian khá dài, nền kinh tế được quản lý theo

mô hình kế hoạch hóa tập trung, bao cấp Trong cơ chế quản lý

Trang 10

này, vai trò của thị trường và hạch toán kinh tế bị coi nhẹ Ngân sách Nhà nước dựa vào chế độ thu hoặc bù theo chỉ tiêu Vai trò của thuế với ý nghĩa thực sự của nó không quan trọng lắm.Chuyển sang thời kỳ đổi mới, nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thuê bắt đầu có vai trò quan trọng trong nền kinh tế và là nguồn thu chính của ngân sách Nhà nước.

Cho đến nay hộ thống thuế ở Việt Nam gồm các loại sau :1) Thuế sử dụng đất nông nghiệp

2) Thuế giá trị gia tăng (thay cho thuế doanh thu, áp dụng từ 1/1/1999)

3) Thuế tiêu thụ đặc biệt

4) Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

5) Thuế tài nguyên

6) Thuế nhà, đất

7) Thuế sử dụng vốn ngân sách

8) Thuế thu nhập doanh nghiệp (thay cho thuế lợi tức, áp dụng từ 1/1/1999)

9) Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao

10) Thuế chuyển quyển sử dụng đất

11) Thuế thu vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.Ngoài ra, Nhà nước còn quy định nguyên tắc và định suất thu đối với một số khoản thuế khác, lệ phí và phí

Trang 11

Chương II

NHỮNG VẤN ĐÊ C0 BẢN VÊ THUÊ

Chúng ta đã tìm hiểu sơ qua về nguồn gốc của thuế và qua quá trình phát triển của thuế, vai trò của nó đã ngày càng được bộc lộ rõ nét và mở rộng ra rất nhiều Bây giờ chúng ta sẽ thảo luận những vấn đề cơ bản về thuế như: Thuế là gì ? Người ta có những quan điểm như thế nào về thuế ? Các yếu tố cấu thành thuế ? Những nguyên tắc gì cần xem xét khi đặt ra một sắc thuế mới hay ban hành một chính sách thuế ? Thuế giữ vai trò gì đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ?

I - KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT VÀ PHÂN LOẠI THUẾ

1 Khái niệm thuê

Thuế là một công cụ quan trọng mà bất kỳ Nhà nước nào

cũng sử dụng để hoàn thành chức năng của mình Tùy nhiên, tùy theo cách nhìn nhận ở các góc độ khác nhau, người ta có cách hiểủ khác nhau về thuế

- Theo Từ điển Tiếng Việt (xuất bản năm 1977) thì thuế là phần tiền hay sản vật mà người dân phải đóng góp để dùng vào mọi việc chi tiêu của Nhà nước

Trang 12

- Ở góc độ nghiên cứu về kinh tế chính trị học thì có khái niệm về thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để hình thành nên các quỹ tiền tệ tập trung nhằm đáp ứng yêu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước.

- Ở góc độ nghiên cứu về pháp luật thì thuế được quan niệm

là khoản đóng góp theo quy định của pháp luật mà Nhà nước bắt buộc mọi tổ chức và cá nhân phải nộp vào ngân sách Nhà nước

- Ở góc độ người thu thuế thì thường hiểu thuế là khoản đóng góp bắt buộc theo nghĩa vụ do pháp luật quy định Thuế là khoản thu không phải hoàn trả ngang giá và trực tiếp

- Với người nộp thuế thì hiểu thuế là khoản bắt buộc phải nộp cho Nhà nước theo quy định

Các quan niệm trên có thể đúng nhưng ở những gồc độ khác nhau Cách hiểu như vậy chưa đầy đủ và chính xác Nhưng từ các quan niệm trên, chúng ta có thể kết luận:

Thuế ỉ à một phần thu nhập mà mỗi tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo luật định để đáp ứng yêu cầu chỉ tiêu theo chức năng của Nhà nước Người đóng thuế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại.

Có mấy điểm cần lưu ý về khái niệm thuế trên đây: ,

+ Thúế trước hết phải là một phần thu nhập Có thu nhập mới

có tiền nộp thuế, nhưng chỉ là nộp một phần thu nhập của tổ chức và cá nhân Phải có phần còn lại để tái sản xuất trong chu

kỳ sản xuất tiếp theo Nếu triệt tiêu sản xuất thì không có thu nhập để đóng thuế Thu nhập ở đây là thu nhập xã hội do kích

Trang 13

thích sản xuất phát triển, hạ giá thành sản phẩm, điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo định hướng có lợi cho sản xuất xấ hội.

+ Thuế là một trong những nghĩa vụ cơ bản của mỗi tổ chức

và của công dân được ghi rõ trong Hiến pháp và các đạo luật của Nhà nước Nộp thuế là nghĩa vụ mang tính bắt buộc

+ Việc quy định nghĩa vụ đóng góp của nhân dân là một vấn

đề hệ trọng của mỗi quốc gia, cho nên phải do cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước là Quốc hội ban hành thành văn bản pháp quy là các luật hoặc các bộ luật

+ Thuế đóng cho Nhà nước vừa là nghĩa vụ, vừa là quyền lợi,

là tự đầu tư cho mình, một yêu cầu cần thiết khách quan Quyền lợi của người đórig thuế được hưởng thông qua những lợi ích kinh tế, phúc lợi xã hội do các khoản đầu tư từ thuế của ngân sách Nhà nước mang lại

+ Đối với mỗi tổ chức, cá nhân sau khi làm tròn nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước theo luật định, phần thu nhập còn lại là thuộc sở hữu hợp pháp của họ Phần thu nhập này cần được luật pháp tôn trọng, bảo vệ và giúp đỡ họ sử dụng có hiệu quả phần thu nhập này

2 Bản chất của thuế

Thuế gắn liền với sự ra đời, tồn tại của Nhà nước - người đại diện quyền lợi cho một giai cấp nhất định Đo đó, thuế có bản chất kinh tế - chính trị - xã hội sâu sắc

Bản chất kinh tế của thuế thể hiện trước hết thuế là một phần

thu nhập của xã hội được tập trung để phục vụ nhu cầu chi tiêu của Nhà nước

Trang 14

Kinh tế là cơ sờ cùa thuế Không có sản xuất và phát triển sản xuất và sản xuất không có hiệu quả thì nguồn thu từ thuế của Nhà nước không thể tăng nhiều và nhanh được Vì thế, qua thu thuế phải tác động tới sản xuất - kinh doanh, thúc đẩy sản xuất — kinh doanh phát triển, thúc đẩy thực hành tiết kiệm mọi mặt trong sản xuất và tiêu dùng một cách hợp lý để tạo nguồn thu ngày càng lớn hơn cho ngân sách Mức động viên về thuế không hợp lý, chỉ nhằm đáp ứng đơn thuần nhu cầu chi tiêu của Nhà nước mà bỏ qua đảm bảo tăng trưởng về kinh tế thì thường là gặp thất bại, dễ dẫn đến hậu quả xấu nhiều mặt cả về kinh tế - chính trị Ngược lại, mức động viên hợp lý sẽ có tác dụng tăng thu cho ngân sách và kích thích sản xuất phát triển.

Về bán chất giai cấp của thuê: Bản chất giai cấp của Nhà

nước quyết định bản chất của thuế Cùng một hiện tượng Nhà nước thu thuế của dân, nhưng với các nhà nước khác nhau thì bản chất của thuế khác nhau Điều đó được thể hiện bên trong những nội dung chủ yếu của thuế là: Thuế thu vào ai ? Thu như thế nào ? Và thu để làm gì ? Có thể nói,mục đích của thuế - Thu để làm gì đã thể hiện rõ ràng nhất mục đích của thuế Trong xã hội người bóc lột người, nhân dân lao động đóng thuế cho Nhà nước để nuôi bộ máy áp bức, bóc lột lại chính mình Còn dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, nhân dân đóng thuế để chi tiêu cho những công việc nhằm phục vụ trở lại nhân dân lao động Đó là điều khác cơ bản về bản chất giai cấp, bản chất chính trị của thuế

Thuế còn thể hiện tính xã hội rộng rãi Trước hết vì thuế thu vào toàn dân, thuế có liên quan đến mọi tổ chức, cá nhân trong

xã hội Thuế điều chỉnh các quan hệ phân phối, phân phối lại thu nhập xã hội giữa các tổ chức kinh tế, giữa các tầng lớp dân cư

Trang 15

3 Phân loại thuế

Thời kỳ đầu khi sản xuất hàng hoá chưa phát triển, thuế thường được thu bằng hiện vật Chế độ thu thuế bàng hiện vật

có mặt giản tiện cho người nộp thuế, làm ra thứ gì nộp thuế bằng thứ ấy và Nhà nước sử dụng ngay số thuế bằng hiện vật ấy

để chi dùng vào những nhu cầu cần thiết, thích hợp Nhưng thu bằng hiện vật có mặt bất lợi cho việc thu nộp, bảo quản, không linh hoạt trong cả việc thu thuế và sử dụng số thuế thu được

Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xã hội, kinh tế hàng hoá - tiền tệ ra đời và phát triển, thuể được thu bằng tiền là chính Thuế thu bằng tiền, các quan hệ về thuế dưới hình thức giá trị được hình thành và ngày càng phát triển có tính' hệ thống, các thứ thuế khác nhau lần lượt ra đời làm cho hình thức của thuế ngày càng phong phú, đa dạng

Để sử dụng hiệu quả công cụ thuế, việc phân loại các hình thức thuế là cần thiết làm rõ thêm bản chất của từng loại thuế: thu vào

ai ? Thu bao nhiêu và thu như thế nào cho thích hợp Hiện nay, việc phân loại hình thức của thuế thường được chia ra như sau:

a) Theo tính chất có thể chuyển dịch về thuế giữa người nộp

thuế và người chịu thuế, người ta phân thuế ra làm hai loại: thuế gián thu và thuế trực thu

• Thuế gián thu

Thuế gián thu là loại thuế được cộng vào giá, là một bộ phận cấu thành giá cả hàng hoá như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, thuế nhập khẩu,

Bản chất kinh tế của thùế gián thu là người nộp thuế (tức người bán hàng hoá và dịch vụ) có thể chuyển dịch số thuế phải

Trang 16

nộp sang cho người mua hàng hoá, dịch vụ bằng cách cộng số thuế đó vào giá bán hàng hoá, dịch vụ Do đó, người nộp thuế không phải là người chịu thuế, mà người chịu thuế'chính là người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ Thuế gián thu bảo đệm được

sự tự lựa chọn của người chịu thuế đối với các loại häng hoá, dịch vụ mà họ quyết định mua; bảo đảm được tính tự nguyện chịu thuế NgưiVii.hán hàng sẽ thu thuế gián thu (thu hô Nhà nước) cùng với § iá b t ì ^ắhặ' hoápsíu đó [lộp khoản thuế này vào ngân

(người tiêu dùng) với cơ quan thuế nên dễ thu hơn thuế trực thu.Thuế gián thu dễ điều chỉnh tăng hơn thuế trực thu và những rigưòi chịu thuế thường không cảm nhận đửợc đầy đu gánh nặng của loại thuế này Hiện nay trên thế giới có xu hướng coi trọng thuế gián thu hơn thuế trực thu vì nỏ có phạm vi thu rất rộng, đem lại số thu lớn cho ngân sách, dễ thu, dễ quản lý, động thời chi phí phải bỏ ra để thu được thuế' cũng thấp

Nhược điểm của thuế gián thu là tính luỹ thoái của nó Vì thuế gián thu đánh như nhau trên cùng một loại hàng hoá, dịch

vụ nên người giàu và người nghèo nếu tiêu dùng cùng một loại hàng hoá, dịch vụ và số lượng như nhau thì chịu thuế như nhau, nhưng thực chất tỷ lệ động viên thuế gián thu so với thu nhập thì người giàu chịu thuế thấp hơn người nghèo; người có thu nhập càng cao thì tỷ lệ nộp thuế gián thu càng thấp

• Thuế trực thu

Thuế trực thu íà loại thuế trực tiếp đánh vào thu nhập của các

tổ chức và cá nhân như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, thuế đánh

Trang 17

vào tài sản, thuế thu vào quà tặng, quà biếu, Bản chất của thuế trực thu là người nộp thuế đồng thời cũng là người chịu thuế

Ưu điểm của thuế trực thu là động viên trực tiếp thu nhập của từng tổ chức và cá nhân có thu nhập, cho nên đảm bảo được tính công bằng xã hội hơn thuế gián thu, vì phần đóttg góp về thuế thường phù hợp với khả năng của từng đối tượng,' thu nhập cao thì nộp thuê nhiều, thu nhập thấp thì nộp thuế ít Thuế trực thu còn cho phép tính đến những yếu tố có tính độc lập với thu nhập của người nộp thuế như hoàn cảnh bản thân (tật, bệnh); tình trạng hôn nhân (chưa hay đã có gia đình);_ hoàn cảnh gia đình (số người phải nuôi dưỡng), Nhưng thuế trực thu cũng có nhược điểm, đó là phần nào có hạn chế cố gắng tăng thu nhập của các đối tượng vì thu nhập càng cao thì phải nộp càng nhiều Thuế trực thu do người có thu nhập chịu thuế phải trả trực tiếp cho Nhà nước nên họ cảm thấy gánh nặng của thuế và có thể dẫn đến những phản ứng từ chối hoặc trốn, lậu thuế Việc quản

lý thuê trực thu phức tạp và chi phí quản lý thường cao hơn thuế gián thu

b) Phân ¡oại theo đối tượng đánh thuế

Theo cách phân loại này có:

- Thuế đánh vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụnhư: thuế doanh thu, thuế giá trị gia tăng '

- Thuế đánh vào hàng hoá như: thuế xuất khẩu, nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt

- Thuế đánh vào thu nhập như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhâp đối với người có thu nhập cao

- Thuế đánh vào tài sản như: thuế nhà đất

Trang 18

c) Phân loại theo tên gọi từng sắc thuế

Theo cách phân loại này thường có :

- Thuế doanh thu (còn gọi là thuế doanh nghiệp hoặc thuế tiêu thụ, Việt Nam đã thay đổi thuế này bằng thuế giá trị giá íẳng)

- Thuế tiêu thụ đặc biệt (còn gọi là thuế hàng hoá hoặc thuế tiêu dùng, một số nước gắn tên thuế với các sản phẩm đánh thuế như: thuế thuốc lá, thuế rượu, bia, thuế bài lá, )

- Thuế lợi tức (còn gọi ià thuế thu nhập côrig ty, thu nhậpdoanh nghiệp), thuế thu nhập (còn gọi là thuế thu nhập dân cư, thuế thu nhập cá nhận) V ,

- Thuế tài nguyên, thuế đất đai (còn gọi là thuế sử dụng đất)

- Thuế tài sản

- Thuế quan (thuế xuất khẩu, nhập khẩu)

- Thuế môn bài

II - CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH THUẾ

Có nhiều loại thuế khác nhau trong một hệ thống thuế Tuy

có nhiều loại thuế, nhưng chúng đều bao gồm;những yếu tố căn bản giống nhau như tên gọi, đối tượng nộp thuế, đối tượng tính thuế, biểu thuế và thuế suất, chế độ miễn giảm, thủ tục thu nộp, trách nhiệm vật chất và những xử lý trong khi thực hiện

1 Tên gọi

Bâ't kỳ loặi thuế nào cũng cò tên gọi, ví dụ: thuế giá trị gia tăng, thưế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu,

Trang 19

Tôn gọi xác định nội dung chính cùa thuế, phân biệt nó với các loại thuế khác.

Khi dặt tôn cho một loại thuế cán ngắn gọn, dễ nhố và phản ánh dược mục tiêu cùa thuế

2 Đối tượng nộp thuế

Yếu tỏ này dùng dể chi những pháp nhân dược Nhà nước cổng nhạn vé mặt pháp lý và quy định trong luật nghĩa vụ phải nộp thuế cho Nhà nước

Ví dụ: Trong Luật thuế giá trị gia tăng ghi rõ: "Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế (gọi chung là cơ SỪ kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác nhâp khẩu hàng hóa chịu thuế (gọi chung là người nh.Ịp khẩu) là dói tượng nộp thuế giá trị gia tăng"

a) Cần phán biệt đối tượng nộp thuế với hoạt động chịu thuế

và vật chịu thuế.

Hoạt dộng chịu thuế và vật chịu thuế thể hiện cái dích mà một sắc thuế nhằm vào Ví dụ, ờ thuế tiêu thụ dặc biột, cái dích cùa nó là hoạt dộng sàn xuất và tiêu dùng những hàng hóa không khuyến khích tiêu dùng Nếu không sản xuất và tiẽu thụ những mặt hàng thuộc diện đánh thuế TTĐB thì Tđiông có doanh thu dể đánh thuế

b) Cũng cán phán biệt người nộp thuế và người chịu thuế

Người chịu thuế là người có thu nhập chịu sự điểu tiết của thuế Trên thực tế, người nộp thuế không bắt buộc phải là người cuối cùng chịu thuế Họ tìm mọi cách chuyển vào giá rói

Trang 20

chuyển sang ngưòi khác đến khi không chuyển dược nữa, thì chính họ là người chịu thuế.

Vậy có thể rút ra hai nhận xét quan trọng:

— Thuế rút cuộc thu từ nguồn thu nhập cá nhân

- Người nộp thuế không bắt buộc phải là người cuối cùng chịu thuế

Chúng ta có thể giải thích kết luận trên, đặc biệt là kết luận thứ nhất, qua dồ thị sau:

Trước khi đánh thuế, người tiêu dùng sẵn sàng mua một lượng sản phẩm là q0 với giá P0 Các nhà sản xuất cũng chấp nhận mức sản lượng và giá cả đó Cung - cầu cân bằng tại điểmA(q0, P0)-

Khi đánh thuế, nhà sản xuất tìm cách chuyển nó vào giá bán làm giá cả hàng hoá tăng lên, ví dụ tại Pj Nếu người tiêu dùng vẫn sẵn sàng mua hàng hoá này thì bắt buộc họ phải trả nhiều tiền hom nhưng không mang về hàng hoá nhiều hơn, trái lại lượng hàng mua được sẽ giảm xuống Cân bằng cung - cầu sẽ xảy ra tại điểm B(qj, Pj)

Trang 21

Vậy là khi đánh thuế sẽ có ít nhất hai hiện tượng xảy ra:

— Thuế được chuyển vào giá, thu nhập của người tiêu dùng không thay đổi, nên mức cầu về sản phẩm giảm xuống

— Do người tiêu dùng phải trả thêm thuế, nên thu nhập có thể

sử dụng giảm xuống, kéo theo sự giảm mức cầu xã hội (Thu nhập có thể sử dụng = Tổng thu nhập - Thuế)

Dẫu rằng ngựời chịu thuế là ai, thuế có chuyển được hay không, thì khi đánh thuế bao giờ cũng gây ra những ảnh hưởng nhất định đến hành vi tiêu dùng của giới tiêu- thụ và các hoạt động khác của nền kinh tế Vì vậy, thuế là một công cụ định hướng phát triển kinh tế và hướng dẫn tiêu dùng

3 Đối tượng tính thuế (đối tượng chịu thuê)

Xác định đối tượng tính thuế rất quan trọng khi xây dựng một sắc thuế, luôn phải trả lời cụ thể rõ ràng câu hỏi: thuế nhằmvào cái gì ?

Đối tượng chịu thuế là nguồn dẫn xuất trực tiếp của thuế Xác định đối tượng tính thuế là xác định nguồn vật chất mà người ta tính toán trên đó số tiền phải nộp Có thể nói rằng đối tượng tírih thuế là giá trị của vật chịu thuế, và số thuế phải trả chính bằng giá trị đó nhân (x) với thuế suất

Trong thuế giá trị gia tăng của Việt Nam, hầu hết hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam đều phải nộp thuế giá trị gia tăng

Ở thuế thu nhập doanh nghiệp: thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và thu nhập

Trang 22

khác, kể cả thu nhập thu được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ở nước ngoài.

Trong luật thuế còn quy định rõ cách xác định thu nhập chịu thuế

4 Biểu thuế- thuế suất

Tập hợp các thuế suất cùng những yếu tố kèm theo cung cấp cho ta hình ảnh về biểu thuế Ví dụ, biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu bao gồm: mã số, nhóm mặt hàng và thuế suất Biểu thuế thu nhập gồm: bậc thuế, thu nhập bình quân tháng/ngưòi và

Biểu thuế - thuế suất là linh hồn của thuế, là một yếu tố quan trọng hàng đầu của một sắc thuế

Có nhiểu loại thuê suất:

• Thuế suất bằng số tuyệt đối, có:

- Thuế suất bằng số túyột đối cố định !

- Thuế suất bằng số tuyệt đối lũy tiến

• Thuế suất bằng số tưởng đối, có:

- Thuế suất tỷ lệ cố định

- Thuế suất tỷ lệ lũy tiến: lũy tiến từng phần, lũy tiến toàn phần, lũy tiến đều

a) Thuế suất bằng số tuyệt đối

Thuế suất bằng số tuyệt đối là loại thuế suất được ấn định bằng một con số cụ thể trên đối tượng tính thuế

Trang 23

❖ Ví dụ ở Thụy Điển :

- Bia : loại 3,6° nộp thuế 9,5 cua-ron/lít

- Thuốc lá gỏi : 0,39 cua-ron/điếu

- Thuế rượu : cứ tăng thêm 1°, thuế tãng thêm 1,17 cua-ron/lít

- Du lịch: mỗi người nước ngoài đến du lịch tại các địa phương Thụy Điển chịu thuế; 300 cua-ron/người, số tiền thuế này nộp bởi các chủ hãng máy bay đưa khách đến

Ở hầu hết các nước, thuế suất này sử dụng đơn vị đo lường là tiền tệ

Thuế suất tuyệt đối cố định không thay đổi theo giá hàng hóa

hay các yếu tố khác

Bên cạnh loại thuế suất trên còn có thuế suất tuyệt đối luỹ

tiến, cũng được ấn định bằng một số tuyệt đối nhưng tăng theo

đối tượng tính thuế

❖ Ví dụ: Trong thuế mỏn bài của Việt Nam, nếu thu nhập

kinh doanh thấp hơn 100 nghìn đồng/tháng thì mức thuế đóng là 15.000đ/năm Khi thu nhập tăng lên đến 250 nghìn đồng/tháng, mức thuế là 30.000đ/năm Cứ thế, khi thu nhập kinh doanh của

họ đạt 750 nghìn đồng/tháng thì theo Biểu thuế môn bài phải đóng số tiền thuế là 450.000đ/năm

Ưu, nhược điểm của loại thuế suất bằng số tuyệt đối :

ưu điểm: - Đảm bảo ổn định của số thuế thu vào ngân sách.

— Cơ sở kinh doanh định trước được số thuế phải nộp

để xác định chi phí kinh doanh sao cho có lời cao

- Việc thu thuế dễ dàng, tránh được tình trạng khai gian đối tượng tính thuế để trốn thuế

Trang 24

Nhược điểm:

- Không phụ thuộc vào biến động của giá cả.

Môi trường thuận lợi cho việc áp dụng thuế suất bằng số tuyệt đối là sự ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội

b) Thuế suất bằng sô' tương đối (thuế suất tỷ lệ), gồm:

- Thuê suất tỷ lệ cô định là một loại thuế suất được ấn định

bằng con số tỷ lệ phần trăm (%) trên đối tượng tính thuế Hệ thống thuế ở Việt Nam hầu hết đều áp dụng thuế suất tỷ lệ

So vói thuế suất bằng số tuyệt đối, thuế suất tỷ lệ linh hoạt hom, tránh được thiệt thòi cho cả Nhà nước lẫn ngưòi nộp thuế Tuy nhiên, thuế suất tỷ lệ cố định chỉ nhằm vào đối tượng tính thuế chứ không nhằm vào nhân thân chịu thuế

❖ Ví dụ: mức thuế suất giá trị gia tăng 5% đánh vào đồ chơi

trẻ em, sách phục vụ thiếu nhi, thuốc chữa bệnh, phòng bệnh, không phân biệt người tiêu thụ chúng có thu nhập cao hay thấp

- Thuế suất tỷ lệ lũy tiến (thuế suất lũy tiến) là một loại thuế

suất được ấn định bằng tỉ lệ phần trăm (%) trên đối tượng tính thuế

và tỷ lệ này tăng dầri lên theo độ lớn của đối tượng tính thuế.Nhà nước thường áp dụng thuế suất lũy tiến vào thu thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân

Thường có 3 loại thuế suất lũy tiến :

+ Thuế suất lũy tiến đều

Thuế suất lũy tiến đều là loại thuế suất tăng đều theo sự tăng đều của đối tượng tính thuế

Trang 25

❖ Ví dụ: thuế suất khởi điểm 5% cho thu nhập chịu thuế là 5

triệu đồng, rồi tăng đều đận 1% khi thu nhập chịu thuế tãng thêm 1 triệu đồng

Nhà nước quy định mức thuế suất cao nhất tương ứng với thu nhập chịu thuế tối đa Khi thu nhập vượt qua mức thuế suất tối

đa, Nhà nưóc sẽ sử dụng thuế suất bổ sung

+ Thuế suất lũy tiến toàn phần

Thuế suất lũy tiến toàn phần là loại thuế suất tăng theo đối tựợng tính thuế và sự gia tăng đó đánh trên toàn bộ đối tượng tính thuế

❖ Ví dụ: theo Pháp lệnh thuế lợi tức doanh nghiệp ngày

26/1/1983 áp đối với các hộ eá thể kinh doanh trong ngành thương nghiệp, ăn uống sử dụng thuế suất lũy tiến toàn phần.Bậc 1 - Lợi tức chịu thuế 1 tháng đến 500đ thuế suất 24%

Thuế suất lũy tiến toàn phần có mức điều tiết mạnh nhất, tính không công bằng thể hiện rõ nhất Hiện nay hầu như không nước nào sử dụng loại thuế suất này

Trang 26

+ Thuc suất /ũv nin từnịi phán

Thuỗ suAt lũy hốn lừng ph.in là lo,li thuỏ suAt lảng Ihco lừng phAn cùi« đổi tương lính thuC.

\'i du : ờ Vlớt Nam, Pháp lị-nh Thuế ihu nhẠp dối với người có Ihu nliẠp cao, được u ỳ ban Thường vụ Quốc hội cỏng

bổ ngày 6/2/1997 là loại thuế suất luỹ tiến lừng phán:

Trang 27

Rõ ràng thuế suất lũy tiến toàn phần điều tiết mạnh hơn thu nhập của người chịu thuế so với thuế suất lũy tiến từng phần

Nó triệt tiêu ý muốn làm giàu (tăng thu nhập cá nhân) Do đó,

nó thu hẹp gián tiếp nguồn dẫn xuất của chính hó

Việc ban hành một sắc thuế không những thể hiện chính sách của Nhà nước đối với hoạt động sản xuất và tiêu dùng, mà còn bao hàm cả ý nghĩa kinh tế - xã hội, kinh tế - chính trị Vì vậy, xác định đối tượng tính thuế và định thuế suất là một công việc khó khăn, phức tạp, trong đó xác định thuế suất là khó khăn nhất Khi đánh giá một sắc thuế là hợp lý, hợp lòng dân người ta hàm ý chấp nhận thuế suất của nó, mức đóng góp không vượt quá khả năng thu thuế, không làm hao mòn nguổn dẫn xuất của thuế

Vì vậy, khi ấn định thuế suất, hai nguyên tắc chỉ đạo thường được lưu ý là :

Một là, về phương diện người chịu thuế, thuế suất phải thật

hợp lý, làm sao để người chịu thuế bớt cảm thấy gánh nặng của thuế

Hai là, đối với Nhà nước, thuế suất phải đem lại một năng

suất tối đa, mà không cản trở việc kích thích phát triển kinh tế -

xã hội

Hai nguyên tắc trên có vẻ như mâu thuẫn nhau Bẩn chất của hai nguyên tắc chỉ đạo này là một mức thuế suất được đưa ra phải kích thích sản xuất phát triển, phù hợp với khả năng đóng thuế của người chịu thuế, thuế phải nuôi thuế

Chúng ta có thể mô tả lập luận này bằng đường biểu diễn của A.B Rapho - nhà kinh tế học Mỹ Đường biểu diễn này biểu thị

Trang 28

mối quan hệ giữa thuế và thu nhập của Chính phủ Rapho cho rằng, sau thập niên 70, nền kinh tế Mỹ xuất hiện tình trạng

"đình trệ" Nguyên nhân chủ yếu là do cung không đủ, do sai lầm của Chính phủ trong các mặt thu thuế, chế độ quản lý kinh

tế, thanh toán tạo nên Thu thuế nặng nề, các khoản chi quá lớn

và chế độ quản lý kinh tế khá khắt khe đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc sản xuất, đầu tư, gửi tiết kiệm và việc làm của dân

cư nên tình hình kinh tế trì trệ, lạm phát tiền tệ Rapho cho rằng

tỷ suất thuế và thu nhập thuế tồn tại mối quan hệ hàm số, áp dụng tỷ suất thuế cao chưa chắc đã cho thu nhập thuế cao

Khi thuế suất bằng 0% nghĩa là Chính phủ không can thiệp vào sản xuất: sản xuất phát triển nhưng thu nhập của Chính phủ bằng không (0%): sản xuất rơi vào trạng thái vô Chính phủ.Khi thuế suất dịch sang bên phải, thu nhập thuế tăng dần lên, khi tới c thu nhập thuế đạt cao nhất ở A Vậy điểm c là điểm sản xuất cao nhất, thuế thu tốt nhất Nếu thuế suất vượt quá c,

thuế không tăng mà còn giảm Ở mức thuế 100%, sản xuất đình trệ và thu nhập thuế bằng 0

Điểm A trong đường biểu diễn Rapho, mặc dù ở giữa khoảng

từ 0 - 100%, nhưng không nhất định đại diện cho 50% Nó chỉ

Trang 29

nói rõ về mặt khách quan; trong tỷ suất thuế có tồn tại một điểm tốt nhất, đạt tói điểm này sẽ khiến cho sản xuất và thu nhập thuế đạt tới mức lốn nhất Một trách nhiệm quan trọng của Chính phủ là bằng mọi cách tìm ra điểm tốt nhất và thông qua các biện pháp thực hiện sản xuất ờ điểm tốt nhất này Đương nhiên điểm tốt nhất không phải là cố định Khi tình hình chính trị, kinh tế thay đổi, Chính phủ nên căn cứ vào sự thay đổi đó

mà tìm kiếm điểm tốt nhất

Trên đây là nguyên tắc chung của việc xác định thuế suất trên bình diện 'quốc gia Đối với từng nhóm người cụ thể nên áp dụng' thuế suất như thế nào để bảo đảm cống bằng xã hội là vấn đề cần hết sức lưu ý trong nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN

ở nước ta Cho nên nhiều khi ta phải căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể

và điều kiện kinh tế, hoàn cảnh xã hội để định ra nhiều mức thuế khác nhau (thuế suất phân biệt) phù hợp với từng nhóm

Ngoài tên gọi của một loại thuế, đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, biểu thuế, cấu thành một loại thuế còn có: chế

độ miễn, giảm thuế, thủ tục thu, nộp thuế, xử lý vi phạm Các yếu tổ trên không phải bất kỳ loại thuế nào cũng có Ví dụ, trong Luật thuế giá trị gia tăng được Quốc hội khóa IX thông qua tại

kỳ họp thứ 11, ngày 10/5/1997 không có chế độ miễn giảm thuế giá trị gia tăng Tuy nhiên, chế độ miễn giảm thuế lại có ở hầu hết các loại thuế khác Chế độ này nhằm vào: thực hiện chính sách khuyến khích phát triển sản xuất - kinh doanh theo định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thực hiện chính sách phân bố lại lực lượng sản xuất, giúp đỡ các cơ sở sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, thực hiện chính sách đối nhân của thuế và chính sách kinh tế đối ngoại của Nhà nước Lưu ý rằng giảm, miễn thuế chỉ có tính tạm thời, chứ không phải lâu dài

Trang 30

III - VAI TRÒ CUA THUÊ

Trong chương trước đã trình bày sơ lược về lịch sử phát triển của thuế qua các thời kỳ Càng ngày, người ta càng phát hiện ra thêm các vai trò mới của thuế Dưới đây, chúng ta phân tích các vai trò của thuế trong nền kinh tế xã hội

1 Thuế là khoản thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước

Trong các nguồn thu ngân sách của các quốc gia, thông thường gồm các khoản thu như: thuế, phí và các khoản vay cho ngân sách của Chính phủ Mặc dù khái niệm về thuế còn có nhiều ý kiến bàn cãi, song bất cứ ai cũng đều công nhận rằng thuế bao giờ cũng là khoản thu chủ yếu chõ ngân sách nhà nước

❖ Theo khảo sát của Ngân hàng thế giới tại 85 nước trên thế giới thì 60 nước có khoản thu thuế chiếm 80% tổng thu ngân sách, đặc biệt các nước như: Đức (92,7%), Nhật Bản (95,4%), Pháp (95,3%), Mỹ (95%)

Còn ở Thụy Điển, trong vòng gần 40 năm, từ năm 1950 đến

1988 mức đóng góp của thuế vào ngân sách của nhà nước không ngừng tăng: 1950 là 23%, năm 1960 là 30%, năm 1965

Trang 31

Ngoài nguồn thu chủ yếu từ thuế, còn có nhiều biện pháp làm cho ngân sách tăng lên, như việc nhà nước nâng giá sản phẩm dịch vụ, hoặc ngược lại, hạ mức lương của các đối tượng nhà nưốc trả lương Song, cả hai biện pháp này đòi hỏi nhà nước phải là nhà độc quyền sản xuất và cung ứng mọi hàng hoá cho

xã hội Điều này phi thực tế, vì từ trước đến nay, nhà nước chưa bao giờ là nhà độc quyền cả, có chăng chỉ độc quyền đối với một sô' ngành quan trọng, có ảnh hưởng tói "quốc kế, dân sinh" như: điện, nừớc, vũ trụ, công nghiệp quân sự, thông tin , Trên thực tế, người phải chịu giá hàng-hoá cao và mức lương

hạ lại chính là tầng lớp dân cư rất đông đảo có mức thu nhập thấp Đây là một khó khăn mà nhà nước không thể dùng nó để làm nguồn bổ sung vào ngân sách

Do vậy, nếu so sánh 3 biện pháp chuyển thu nhập từ cá nhân vào ngân sách nhà nước thì biện pháp thuế tế nhị, tinh vi và có năng suất thu hơn Song cũng cần chú ý một số điểm sau:

- Để đảm bảo cho nguồn thu thuế ổn định, đáp ứng nguồn chi thường xuyên, cần coi trọng thuế gián thu bởi vì loại thuế này đánh vào hàng hoá, dịch vụ được tính vào giá cả hàng hoá/dịch vụ nên khi nền kinh tế đình trệ, suy thoái, người ta vẫn không thể ngừng hẳn việc mua sắm cho nhu cầu tiêu dùng thiết yếu, nên nhà nước vẫn còn nguồn thu, tính ổn định của loại này cao hơn thuế trực thu Mặt khác, thuế gián thu dễ được người chịu thuế chấp nhận hơn theo nguyên lý: đánh vào những gì mà người chịu thuế lấy đi của xã hội có tác dụng tốt hơn là đánh vào những gì mà họ nhập vào cho xã hội

- Một yêu cầu quan trọng là thuế phải bao quát được hầu hết mọi hoạt động từ sản xuất - kinh doanh, chế biến, sửa chữa, chế

Trang 32

tạo, khai thác, xây dựng, vận tải, buôn bán, ăn uống, đến dịch

vụ từ mọi nguồn thu nhập thường xuyên hay không thường xuyên mọi hoạt động tiêu dùng xã hội

- Một chú ý thứ ba có tính nguyên tắc là khi thu thuế cần tránh gây tình trạng thuế giết thuế, trái lại thuế phải nuôi dưỡng thuế (có nghĩa là khi mức thuế cao quá mức cần thiết, làm cho người sản xuất không có lãi nữa, dẫn đến việc doanh nghiộp ngừng hẳn sản xuất, số thuế đáng ra phải nộp cho ngân sách thì không còn nữa)

2 Thuế là công cụ quản lý và điểu chỉnh vĩ mô nền kinh tế quốc dân

Ngoài vai trò là nguồn thu ngân sách chủ yếu, thuế còn giữ

vị trí quan trọng trong việc điểu chỉnh kinh tế vì chính sách thuế

có ảnh hường trực tiếp đến giá cả, đến quan hệ cung cầu, đến cơ cấu đầu tư và sự phát triển cũng như suy thoái của nền kinh tế mỗi quốc gia

Như đã biết, chu trình sản xuất xã hội có bốn khâu: sản xuất - phân phối - trao đổi - tiêu dùng Thuế thuộc khâu phân phối,

có tác động đến cả sản xuất và tiêu dùng, sản xuất và tiêu dùng luôn có quan hệ nhân quả với nhau: sản xuất là tiền đề của tiêu dùng, tiêu dùng là mục tiêu của sản xuất Và sản xuất - tiêu dùng được nối với nhau thông qua phân phối và trao đổi Có thể nói mục dich bên ngoài của sản xuất là phục vụ tiêu dùng; mục đích bên trong của sản xuất là thu được lợi nhuận Có lợi nhuận thì mới có tái sản xuất mở rộng Nhưng có được lợi nhuận đến đâu là do tiêu dùng, thể hiện ở quan hộ cung - cầu trên thị trưòng quyết định Các Mác đã mô tả cơ cấu giá trị của sản

Trang 33

phẩm hàng hoá bằng c + V + m, trong đó V + m là thu nhập Thuế tác động mạnh mẽ vấ trực tiếp vào cả V và m, nên có khả năng làm thay đổi quan hệ cung - cầu trên thị trường, từ đó làm thay (íổi cả sản xuất và tiêu dùng.

Đối vói tiêu dùng - nhu cẫu trên thị trường luôn luôn phụ thuộc vào khả năng thanh toán Khả năng thanh toán tăng khi nhu cầu tiêu dùng tăng lên và ngược lại Khả năng thanh toán phụ thuộc vào hai yếu tố: số lượng thu nhập có được và giá cả hàng hoá, dịch vụ trên thị trường Thuế trực thu tác động trực tiếp vào số thu nhập có được của mỗi tnể nhân, pháp nhân; thuế gián thu tác động gián tiếp vào thu nhập thông qua giá cả trên thị trường Vì thế, thuế cọ tác động góp phần làm tăng lên hoặc giảm

đi cả về số lượng và cơ cấu của yếu tố "cầu" trên thị trường Cho nên xét về phía "cầu" - phía tiêu dùng, việc đánh thuế cũng có tác động đến sản xuất, đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Đối với sản xuất - khả năng cung cấp trên thị trường cũng phụ thuộc vào hai yếu tố chính là nhu cầu trên thị trường và giá

cả hàng hoá, dịch vụ trên thị trường Nhu cầu trên thị trường thông qua giá cả hình thành theo quan hệ cung - cầu phát ra những tín hiệu cho các nhà sản xuất kinh doanh tự lựa chọn đầu tư vào đâu, nên sản xuất cái gì, khối lượng bao nhiêu, dùng công nghệ nào, giải quyết "đầu vào", "đầu ra" như thế nào để đạt được hiệu qua cao nhất

Thuế, cả gián thu và trực thu, đều có tác động trực tiếp và gián tiếp đến sản xuất - khả năng cung cấp trên thị trường.Thuế gián thu làm tăng giá bán của hàng hoá, do đó làm giảm sức mua của giới tiêu dùng, làm tăng giá thành sản phẩm

và lợi nhuận của nhà sản xuất giảm đi tương ứng Đồng thời,

Trang 34

thuế trực thu còn tác động trực tiếp vào số lợi nhuận làm ra dẫn đến thay đổi số lợi nhuận còn lại mà nhà sản xuất được hường

Do đó, thuế có tác dụng góp phần điều chỉnh cả sản xuất và tiêu dùng xã hội

Tóm lại, tuy thuế ở khâu phân phối nhưng qua việc thu thuế, Nhà nưóc có thể sử dụng thuế như một công cụ điểu tiết sản xuất và tiêu dùng xã hội, điều tiết vĩ mô nền kinh tế Ngày nay, nhiều quốc gia đã sử dụng công cụ thuế để quản lý và điều tiết nền kinh tế đạt đến trình độ cao Và hơn nữa, thuế không chỉ điều tiết nền kinh tế trong phạm vi từng nước mà đã mang tầm vóc quốc tế và là một trong những nội dung quan trọng trong việc thiết lập mối quan hệ kinh tế giữa các nước, trong từng khu vực và trên phạm vi toàn cầu

3 Thuê' góp phần điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng

xã hội trong phân phối

Trong cơ chế thi trườngí, các quy luât khách quan đươc phát huy tác dụng một cách toi đa Điều đó sẽ dẫn đến tình trạng phân cực đối lập nhau: một bên là thiểu số người giầu có thu nhập cao, còn đại bộ phận dân cư chỉ đạt được mức tăng thu nhập nhỏ nhoi Tình trạng trên không chỉ nói lên mức sống bị phân biệt mà còn liên quan đến đạo đức, công bằng xã hội Mà thực sự sự phát triển kinh tế - xã hội về mọi mặt của một quốc gia là kết quả của nỗ lực cộng đồng Bời vậy sự can thiệp, điều tiết của nhà nước là đặc biệt hữu ích, trong đó thuế là một công

cụ có vai trò quan trọng

a) Việc điều hoà thu nhập xã hội phần nào được thực hiện thông qua thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân Thuế

Trang 35

đánh cao vào những hàng hoá - dịch vụ cao cấp nhằm điều tiết bớt thu nhập của các công ty, cá nhân có thu nhập cao so với bình quân xã hội.

❖ Ví dụ: Theo Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) được Quốc hội thông qua ngày 5/10/1997, thì thuế GTGT ở nước ta hiện có 4 mức thuế suất:

- 0% ắp dụng đối với hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu

- 5% áp dụng đối với nhóm hàng hoá, dịch vụ thiết yếu

- 10% áp dụng đối với nhóm hàng hoá, dịch vụ phổ thông

- 20% áp dụng đối với nhóm hàng hoá, dịch vụ cần điều tiết.Trong biểu thuế nhập khẩu, hầu hết các hàng hoá thiết yếu đối với nhu cầu của nhân dân đều đánh thuế thấp Ngược lại, các hàng hoá và sản phẩm như ôtô (chỏ người), rượu bia, nguyên liệu sản xuất thuốc lá, chẳng những chịu thuế nhập khẩu cao mà còn chịu cả thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB)

b) Song công cụ thực thụ, trực tiếp thực hiện công bằng xã hội phải là thuế trực thu mà điển hình thể hiện ở 2 loại thuế: Thuế Thu nhập doanh nghiệp và Thuế Thu nhập cá nhân

Khi bàn về vai trò của thuế trong việc điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng trong phãn phối, người ta còn bàn luận đến việc áp dụng thuế lũy tiến Hiện nay có 2 quan điểm dề cập đến vấn đề này, song đối lập nhau:

* Quẩn điểm 1: Cho rằng không nên áp dụng đánh thuế suất luỹ tiến, vì 2 lý do sau :

- Lý do thứ nhất ' Đánh thuế lũy tiến sẽ có tác dụng làm nản

ý chí làm giàu của từng cá nhân mà đây chính là động lực cơ

Trang 36

bản của sự phát triển kinh tế - xã hội, vì có thu nhập cao thì thuế lại đánh cao theo.

- Lý do thứ hai : Gây nên sự bất bình đẳng trong thuế khoá.

Trước thuế, mọi người đều bình đẳng nhưng nếu áp dụng thuế suất gia tăng, người giàu sẽ phải nộp nhiều hơn người nghèo (cả mật tương đối và tuyệt đối) dẫn đến không bình đẳng

* Quan điểm 2 : Nhất trí với đánh thuế luỹ tiến

- Lý do thứ nhất ; Phân phối đồng đều gánh nặng thuế khóa

giữa những cá nhân có mức thu nhập chênh lệch nhau

' Điều này có nghĩa: một cá nhân có thu nhập lớn nếu phải nộp thêm một khoản thì cũng gây ra ít hy sinh hơn là lấy ra từ một cá nhân có thu nhập thấp Điều này thực sự chỉ muốn nói đến công bằng về mặt đối nhân chứ không phải công bằng về mặt toán học

- Lý do thứ hai : Phân phối hợp lý tương đối hơn cả thu nhập

xã hội, tài nguyên xã hội

Trong bất cứ xã hội nào cũng có người giàu, người nghèo

Để người nghèo bớt khổ, không chỉ kêu gọi lòng từ thiện, mà thông qua thuế làm cho ngân sách tãng, góp phần tăng cho chi tiêu công cộng; san sẻ bớt thu nhập từ người giàu sarig người nghèo bằng nhiều cách (trợ cấp xã hội, cứu tế xã hội )

- Lý do thứ ba : Góp phần ổn định và phát triển kinh tế.

Nền kinh tế muốn ổn định thì tổng cụng và tổng cầu phải có

sự tương quan phù hợp Thuế đánh luỹ tiến chủ yếu áp dụng cho người có thu nhập cao Song, thực chất so với mức thu nhập của

họ cũng không ảnh hưởng gì Mặt khác, đại bộ phận dân cư

Trang 37

không bị đánh thuế hoặc bị đánh thuế thì cũng ở mức thấp Do vậy, nó vẫn giúp cho nền kinh tế chống đỡ được bởi một lượng cầu đông đảo, dồi dào, tương đối ổn định sinh ra từ thu nhập thấp, tạo ra nền móng để chống đỡ sự suy sụp của nền kinh tế.

- Lý do thứ tư : Đạt năng suất cao trong thu thuế

Xu hướng chung của các quốc gia là tìm ra những nguồn thu nhập lớn để thu nhiều thuế theo một chiến lược được hiểu một

cách đơn giản là: ''Lấy nhiều tiền ở chỗ nhiều tiền" Như vậy,

việc đánh thuế lũy tiến sẽ đạt được năng suất cao vì thu ở những người có tiền

Như vậy, phần trên chúng ta đã đề cập đến vai trò của thuế Nhưng vai trò này không xuất hiện cùng một lúc mà nó bộc lộ

theo sự gia tăng vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước và những tiến bộ xã hội

IV - CÁC NGUYÊN TẮC THUẾ KHQÁ

A.Smith (1723-1790) - người sáng lập ra môn phái kinh tế tự

do cổ điển, nêu ra một số nguyên tắc sau :

1 Thuê phải công bằng

Nguyên tắc này còn gọi là nguyên tắc đánh thuế theo khả

năng đóng góp (khả năng thu thuế), có nghĩa là việc ấn định

thuế tuỳ theo năng lực của người chịu thuế về: thu nhập, của cải, và khả năng đóng thuế

Đây là nguyên tắc đánh thuế theo lợi ích, song càng ngày nó càng lạc hậu không thể giải thích được vai trò hiện đại của thuế

Trang 38

2 Thuế phải rõ ràng

Theo nguyên tắc này người nộp thuế phải biết trước một cách

rõ ràng về chế độ ưu tiên về thuế nếu có, đánh thuế dựa vào căn

cứ nào? Thủ tục nộp thuế ra sao? Số tiền phải nôp là bao nhiêu? Điều này cho phép ngăn ngừa những hiện tượng biển lận thuế, mặt khác giúp cho công chúng nhận thức đúng đắn về thuế

I

3 Thu thuế phải thuận tiện cho người đóng thuế

Sự thuận tiện này muốn nói về thời gian và không gian, yêu cầu khi soạn thảo thuế nhà nước cần ấn định thời gian thích hợp nhất để tạo sự thuận tiện cho người thu thuế, với sự hợp lý và tránh phiền nhiễu nhất

4 Chi phí tiến hành thu thuế phải thấp nhất

Nguyên tắc này đòi hỏi chi phí để xây dựng hệ thống tổ chức tiến hành thu thuế ít rihất (lương cán bộ thuế, chi phí văn phòng, đào tạo, ấn loát ) Số liệu trong những năm gần đây cho thấy tổng thu thuế vào khoảng 1600 tỷ đồng Việt Nam Nhưng đảm nhận phần thu này là một bộ máy cồng kềnh hơn 10.000 người Chi phí cho bộ máy này (gồm cả lương và phương tiện) vào khoảng 1.200 tỷ đồng Việt Nam

Bên cạnh những nguyên tắc tương tự với nguyên tắc của Adam Smith còn có một số học giả đưa ra một số nguyên tắc như "Thuế khoá tập trung", "Nguyên tắc bình đẳng toán học trong thuế khoá",

ở Việt Nam, các chuyên gia dựa trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của các nước phương Tây (đặc biệt là Thụy Điển) và

Trang 39

một số nước châu Á vào cuối thập kỷ 80, có đưa ra một số nguyên tắc như sau:

- V ề mặt tài chính : Thuế phải trở thành một công cụ chủ yếu

nhất tạo nguồn thu dồi dào, ổn định vào ngân sách nhà nước

- Về mặt kinh tế : Thuế phải là công cụ quản lý và điều tiết vĩ

mô của nhà nước đối với mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh

- V ề mặt xã hội : Thuế phải thực hiện công bằng xã hội.

- V ê mặt hành thu : Phương pháp tính toán các loại thuế phải

đơn giản, dễ tính, dễ hiểu và dễ kiểm tra

Trang 40

Chương III

THUÊ GIÂ TRỊ GIA TĂNG

I - K H Á I NIỆM G IÁ T R Ị G IA T Ă N G

V À T H U Ể G IÁ T R Ị G IA T Ă N G

1 Giá trị gia tăng

Giá trị gia tăng là giá trị tăng thêm đối với một sản phẩm

hàng hóa hoặc dịch vụ do cơ sở sản xuất, chế biến, buôn bán

hoặc dịch vụ tác động vào nguyên vật liệu thô hay hàng hóa mua vào, làm cho giá trị của chúng tăng thêm Nói cách khác đây là số chênh lệch giữa "giá đầu ra" với "giá đầu vào" do đơn

vị kinh tế tạo ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ

2 Thuế giá trị gia tăng (thuế GTGT)

Thuế Giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu đánh vào giá trị tăng thêm của sản phẩm qua mỗi khâu luân chuyển, một yếu

tố cấu thành trong giá thành hàng hóa (hoặc dịch vụ) nhằm động viên sự đóng góp của người tiêu dùng như trong trường hợp nộp thuế doanh thu Nhưng thuế GTGT có điểm cơ bản khác vói thuế doanh thu là chỉ người bán hàng (hoặc dịch vụ) lần đầu phải nộp thuế GTGT trên toàn bộ doanh thu bán hàng (hoặc

Ngày đăng: 29/01/2021, 23:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w