1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Sự ra đời và phát triển của tiền tệ Việt Nam

103 1,3K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 5,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC Phần 1 : Đặt vấn đề Trang 3 Phần 2 : Tổng quan nghiên cứu tài liệu Trang 4 2.1.Khái quát về tiền cổ Trang 4 2.2.Tiền cổ các triều đại phong kiến Việt Nam Trang 10 2.2.1.Thời kì đầu Trang 10 2.2.2 .Tiền nhà Đinh Trang 13 2.2.3.Tiền nhà Tiền Lê Trang 16 2.2.4.Tiền nhà Lý Trang 18 2.2.5.Tiền nhà Trần Trang 22 2.2.6.Tiền nhà Hồ Trang 25 2.2.7.Tiền nhà Hậu Lê Trang 28 2.2.8.Tiền nhà Mạc Trang 37 2.2.9.Tiền nhà Tây Sơn Trang 41 2.2.10.Tiền nhà Nguyễn Trang 43 2.2.11.Một số tiền cổ khác Trang49 2.3. Tiền Việt Nam từ thời Pháp thuộc đến năm 1975 Trang 53 2.3.1.Đồng Đông Dương Trang 52 2.3.2.Tiền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Trang 59 2.3.3 Tiền Việt Nam Cộng Hòa Trang 69 2.3.4. Tiền Mặt trận Dân tộc Giải Phóng Miền Nam Trang 75 2.4. Tiền Việt Nam từ năm 1975 đến nay Trang 77 2.5.Lịch sử đổi tiền ở Việt Nam Trang 94 Phụ lục Trang 99 Phần 3: Kết luận Trang 100 Tài liệu tham khảo Trang 101

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

KHOA KINH TẾ

TIỂU LUẬN

Sự ra đời và phát triển của tiền tệ Việt Nam

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Hà Vân Anh

Trần Lê Mỹ Duyên Trần Thị Mỹ Thiện Trần Thị Hoàng Giang Nguyễn Thị Hồng Ánh Nguyễn Thị Bích Diễm

Đỗ Xuân Nguyên

Võ Thanh Lưu Hòa Quang Công

Tạ Thị Thanh Huyền

Lý Hống Quân

Đắk Lắk, 2015

Trang 2

MỤC LỤC

Phần 1 : Đặt vấn đề Trang 3Phần 2 : Tổng quan nghiên cứu tài liệu Trang 42.1.Khái quát về tiền cổ Trang 42.2.Tiền cổ các triều đại phong kiến Việt Nam Trang 102.2.1.Thời kì đầu Trang 102.2.2 Tiền nhà Đinh Trang 132.2.3.Tiền nhà Tiền Lê Trang 162.2.4.Tiền nhà Lý Trang 182.2.5.Tiền nhà Trần Trang 222.2.6.Tiền nhà Hồ Trang 252.2.7.Tiền nhà Hậu Lê Trang 282.2.8.Tiền nhà Mạc Trang 372.2.9.Tiền nhà Tây Sơn Trang 412.2.10.Tiền nhà Nguyễn Trang 432.2.11.Một số tiền cổ khác Trang492.3 Tiền Việt Nam từ thời Pháp thuộc đến năm 1975 Trang 532.3.1.Đồng Đông Dương Trang 522.3.2.Tiền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Trang 592.3.3 Tiền Việt Nam Cộng Hòa Trang 692.3.4 Tiền Mặt trận Dân tộc Giải Phóng Miền Nam Trang 752.4 Tiền Việt Nam từ năm 1975 đến nay Trang 772.5.Lịch sử đổi tiền ở Việt Nam Trang 94Phụ lục Trang 99Phần 3: Kết luận Trang 100Tài liệu tham khảo Trang 101

Trang 3

PHẦN THỨ NHẤT ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1.Lý do chọn đề tài

Khi phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước và đặc biệt khi mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế , đầu tư , thương mại với thế giới nền kinh tế nước ta có những biến sâu sắc và phát triển mạnh.Sống trong một thế giới đầy những

sự hứa hẹn và nguy hiểm, thử thách cơ hội Vì vậy là những sinh viên củangành kinh tế, đang theo học môn tài chính tiền tệ , chúng tôi quyết định

lựa chọn đề tài “Sự ra đời và phát triển của tiền tệ Việt Nam” để nghiên

cứu và tìm hiểu rõ thêm những kiến thức cơ bản về lĩnh vực tài chính năngđộng và có tầm quan trọng này Và cũng là đề tài cho bài tiểu luận kết thúcmôn học của mình

1.2.Mục tiêu nghiên cứu

- Hiểu rõ sự ra đời của tiền tệ Việt Nam

- Tiền tệ Việt Nam trải qua các giai đoạn nào

- Ý nghĩa của đồng tiền Việt Nam

Trang 4

PHẦN HAI TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU 2.1.Khái quát về tiền cổ

Tiền Việt Nam được phát hành lần đầu vào giữa thế kỷ 10, thời kỳ nhà nước Đại Cồ Việt dưới sự trị vì của Đinh Bộ Lĩnh Thời phong kiến, gần như mỗi đời vua lại cho phát hành loại tiền mới Nhiều khi, mỗi lần thay đổi niên hiệu, vua lại cho phát hành loại tiền mới Suốt một thời gian dài, tiền kim loại là thứ tiền duy nhất và mô phỏng theo tiền kim loại của các triều đình Trung Quốc Tiền giấy xuất hiện ở Việt Nam khá sớm so với thế giới, vào năm 1396

Nhiều đồng tiền cổ được một số tư liệu cho là có, nhưng chưa được khảo cổhọc kiểm chứng Một số khác sử liệu không hề nhắc đến, nhưng khảo cổ học lại phát hiện ra và sau đó được các nhà sử học xác minh thêm Sử liệu cho thấy trong một số đời vua, trong một số niên hiệu, và một số thủ lĩnh tự xưng vua có phát hành tiền, nhưng không nói rõ tiền gì trong khi khảo cổ học cũng không tìm ra tiền nào cho các thời đó Désiré Lacroix trong "Tiền cổ học An Nam, với sưu tập 40 hình vẽ" công bố năm 1900 nhắc đến một số đồng tiền

cổ của Việt Nam và còn miêu tả hình thù, nhưng không đưa ra tài liệu lịch

sử hay bằng chứng khảo cổ nào hỗ trợ

Trang 5

Mặt trước của đồng tiền, viền tròn của rìa tiền và viền vuông của lỗ tiền

thường được viền nổi để giảm bớt sự hao mòn của chữ đúc và việc mài dũa mặt tiền để lấy bớt chất đồng của kẻ gian

Mặt sau

Mặt sau của tiền thường không có chữ, tuy nhiên một số nhỏ có chữ để chỉ một trong các ý nghĩa sau:

 Triều đại nhà vua, như chữ Ðinh của tiền Thái Bình hưng bảo,

chữ Lê của tiền Thiên Phúc Trấn Bảo của nhà Tiền Lê, chữTrần của tiền Thiệu Phong thông bảo của vua Trần Dụ Tông

 Hoặc năm phát hành của tiền, như Nhâm Tuất của tiền Cảnh Hưng Thông Bảo để chỉ tiền đúc trong năm Nhâm Tuất 1742, như chữ Tỵ của tiền Vĩnh Thịnh Thông Bảo để chỉ năm đúc Qúy Tỵ 1713

Nhật Trung là con vua Lý Thái Tông, trên tiền Thiên Cảm Thông Bảo của

Lý Thái Tông

 Hoặc nơi đúc đồng tiền như Hà Nội hoặc Sơn Tây trên tiền Tự Ðức Thông bảo, như chữ Công cho Bộ Công - một trong 6 Bộ - trên tiền

Quang Trung Thông Bảo

 Hoặc một chữ có ý nghĩa tốt đẹp như chữ Chính, để chỉ đến chính pháp công bằng, trên tiền Quang Trung Thông Bảo

 Hoặc mang những ký hiệu đặc biệt đánh dấu đợt tiền đúc, như 4 hình cong úp vào hay vểnh ra từ lỗ vuông của tiền Quang Trung Thông Bảo, như 1 dấu chấm và 1 dấu hình cong tượng trưng cho 2 chữ Nhật Nguyệt,

Trang 6

tức chữ Minh, để tưởng nhớ nhà Minh, trên tiền Thái Bình Thông Bảo

Các đồng tiền cổ có đường kính trung bình từ 22mm- 24mm, những đồng lớn

có đường kính 25 - 26mm (như tiền Thành Thái thông bảo) và những đồng nhỏ 18 - 20mm (như đồng Bảo Ðại thông bảo)

Kích thước của lỗ vuông trung bình vào khoảng 5 mm, nhưng cũng có nhữngđồng tiền có lỗ vuông to đến 7 mm như trường hợp tiền ngoại thương Trường

Kỳ tiêu dùng ở Hội An vào thế kỷ 17 Chiều dày của tiền cổ thường vào khoảng 0,5mm, ngoại lệ tiền Ðoan Khánh thông bảo của Lê Uy Mục dày đến

1 mm

Ðường kính và bề dày là hai yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến trọng lượng của đồng tiền Những đồng tiền có kích thước và trọng lượng cân đối vừa đủ, không quá dày nặng sẽ dễ dàng trong việc tiêu dùng Tiền quá nhẹ mỏng thì

dễ gãy vỡ Với kích thước trung bình như trên, trọng lượng khoảng 3,5 - 4 gram là vừa phải Tiền Ðoan Khánh Thông Bảo của Lê Uy Mục được coi là ngoại cỡ so với các đồng tiền khác, vừa dày vừa to, có đồng nặng đến 6,2 gram

2.1.2.Tên gọi tiền cổ

Hai chữ ở vị trí 1 và 2 trên đồng tiền thường là niên hiệu của vị vua chođúc tiền Hai chữ này do đó thường phản ánh thời gian tiền được đúc

Các chữ thứ 3 và thứ 4 trên đồng tiền có ý nghĩa, nguồn gốc khác nhau, trong

đó có những chữ noi theo cách gọi của tiền cổ do các triều đại Trung Quốc phát hành; hoặc do hoàn cảnh, sự kiện lịch sử đương thời; hoặc đơn giản chỉ

là hàm ý nhấn mạnh giá trị đồng tiền:

Trang 7

 Thông bảo 通寶 là chữ thường thấy nhất trên các đồng tiền, nghĩa

là đồng tiền lưu hành thông dụng Hai chữ này xuất hiện đầu tiên trong tiền Khai Nguyên Thông Bảo doĐường Cao Tổ của Trung Quốc đúc năm

621 [2]

 Đại bảo 大寶: tiền có giá trị lớn

Ngoài những chữ trên hay được dùng, còn có những chữ khác đúc trên tiền

cổ là:

 Chí bảo 至寶: tiền cao quý nhất Đồng tiền đầu tiên dùng hai chữ "chí bảo" là tiền Gia Định Chí Bảo của Tống Ninh Tông (1208-1224)

 Chính bảo 正寶: tiền chính thống Đồng tiền đầu tiên dùng hai chữ

"chính bảo" là tiền Gia Định Chính Bảo của Tống Ninh Tông

(1208-1224)

 Cự bảo 巨寶: tiền có giá trị to

 Trọng Bảo 重寶: Đồng tiền trọng yếu Đồng tiền đầu tiên dùng hai chữ

"trọng bảo" là tiền Càn Nguyên Trọng Bảo của Đường Túc Tông 759)

Thuận Hóa và lấy súng đồng của chúa Nguyễn ở Thuận Hoá mà đúc thànhtiền

không giống nhau "Bách" 陌 là dạng viết đại tả của chữ "bách" 百 có nghĩa

là một trăm ban đầu được dùng để chỉ 100 văn nhưng về sau thì một bách không nhất định là bằng 100 văn

Trang 8

 Năm Kiến Trung (建中) thứ 2 (Tây lịch năm 1266) vua Trần Thái

Tông (陳太宗) hạ chiếu cho dân gian dùng "sảnh bách" (省陌), mỗi bách

là 69 văn Tiền nộp cho nhà nước (上供錢 thượng cung tiền) thì mỗi bách

là 70 văn

 Ðời nhà Nguyên, người Việt mua bán ở biên giới Trung Quốc thì dùng đơn vị 1 mân bằng 67 văn

Lê cho đúc tiền Thuận Thiên thông bảo (順天通寶), quy định 50 văn là một bách

太宗) hạ chiếu quy định 60 văn là một bách

 Thời Nam Bắc triều, chiến tranh đã khiến đồng tiền được đúc nhỏ dần

so với những đồng tiền cổ đời trước Tiền nhỏ bấy giờ gọi là sử tiền (使錢) biệt xưng là "tiền nhàn" (閒錢 nhàn tiền), còn tiền cổ to gọi là cổ tiền (古錢), biệt xưng là "tiền quý" (貴錢 quý tiền) Mỗi bách sử tiền là 36 văn, mỗi bách cổ tiền là 60 văn Mười bách là một quán (貫) Một quán sửtiền (10 bách sử tiền) bằng 6 bách cổ tiền, tức là bằng 360 văn Một quán

cổ tiền (10 bách cổ tiền) bằng 1 quán 6 bách 24 văn sử tiền, tức là bằng

Thành Thái, tiền Thành Thái Thông Bảo Thập Văn ăn ngang 10 tiền kẽm.[4]

Hiện nay các đơn vị hoá tệ này thường bị gọi bằng các đơn vị hoá tệ thông dụng ở Việt Nam thời cận hiện đại, cụ thể "văn" bị gọi là "đồng", "bách" gọi

là "tiền", "cưỡng", "mân", "quán" gọi là "quan" (biến âm của "quán" 貫)

Từ thời Pháp thuộc, ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện các đơn vị đếm là hào (毫),

xu (sou), trinh, cắc (đọc chệch âm chữ "giác" 角), đồng [biến chữ "đồng" trong "đồng tiền" 銅錢 (tiền làm bằng đồng) từ tên gọi của một thứ kim loài trở thành lượng từ dùng để đo đếm tiền nong] Tiền Việt Nam kể từ sau khi đất nước giành độc lập có các đơn vị đếm là đồng, hàovà xu Một đồng bằng

Trang 9

mười hào Một hào bằng mười xu Hiện nay, tiền giấy và tiền kim loại chỉ được phát hành với một đơn vị đếm duy nhất là đồng.

Mệnh giá

Tiền cổ thường chỉ có một mệnh giá, đó là 1 văn Một bách là một xâu tiền 1 văn Và một mân thường là mười xâu một bách Tiền giấy do nhà Hồ có nhiều mệnh giá khác nhau Mệnh giá nhỏ nhất là 10 văn Mệnh giá lớn nhất

là 1 văn Tiền kim loại từ thời nhà Nguyễn cũng bắt đầu có các mệnh giá khác nhau Tiền Việt Nam hiện nay còn lưu hành loại có mệnh giá thấp nhất

là 200 đồng, loại có mệnh giá cao nhất là 500.000 đồng (tiền polymer)

2.1.4.Chất liệu

Tiền cổ Việt Nam có nhiều loại:

 Đồng tiền (銅錢, có nghĩa là tiền đồng): là kim loại thông dụng nhất dùng đúc hầu hết tiền cổ của Việt Nam Ðây là một hợp kim của đồng gồm thêm kền, sắt, thiếc mà thành phần rất thay đổi bởi kỹ thuật luyện kim thời xa xưa chưa được tiêu chuẩn hóa Tác giả Tạ Chí Ðại Trường đã trích dẫn một bảng kết quả phân tích thành phần hóa học của tiền Trị BìnhNguyên Bảo gồm 63,6% đồng, 21% chì, 0,14% thiếc và 0,27% sắt[5] Ðến thời nhà Nguyễn, nhờ kiến thức phát triển hơn, đồng dùng đúc tiền chỉ gồm đồng và kẽm theo tỷ lệ 6/4, 7/3 hay 8/2.[6]

 Tiền đúc bằng kẽm: kẽm là kim loại thông dụng thứ nhì sau đồng được dùng để đúc tiền, nhất là từ thế kỷ 17 trở về sau Như hợp kim đúc tiền đồng, người ta sử dụng những tạp chất có thành phần kẽm khá cao, gọi chung là ô diên mà đúc tiền Lacroix Désiré dẫn từ Agenda du chimiste của Ad Wurtz cho thấy thứ kẽm tạp này chứa 55% đồng, 23% kền, 17% kẽm, 3% sắt và 2% thiếc.[7] Tương tự tiền đồng, triều đình nhà

Nguyễn cũng biết tinh luyện kẽm hoặc mua kẽm nguyên chất từ nước ngoài mà đúc tiền

 Duyên tiền (鉛錢, tiền đúc bằng chì): chì là kim loại mềm được pha thêm kim loại khác để có một hợp kim đúc tiền chì Loại tiền có lượng chìcao khá mềm, đặt nhẹ giữa hai ngón tay, ấn nhẹ là đồng tiền có thể bị bẻ cong Hiện nay, hơn 400 mẫu tiền chì Việt Nam đã được nhận diện nhưng

Trang 10

nguồn gốc của thứ tiền này vẫn còn là một nghi vấn chưa được giải đáp thỏa đáng.

 Thiết tiền (鐵錢, tiền sắt): Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, khi Mạc Đăng Dung lấy ngôi vua của nhà Hậu Lê, sử thần cho rằng nhà Mạc

không được lòng trời nên đúc tiền đồng không thành mà phải đúc tiền sắt

để tiêu dùng Ðó là lần đầu tiên tiền sắt được nhắc đến Tuy vậy, di chỉ khảo cổ hiện đại cho thấy không có tiền sắt Minh Ðức Thông Bảo của nhàMạc, mà chỉ thấy tiền đồng Và trong tiền cổ Việt Nam có một số mẫu tiềnđồng nhưng lại rỉ sét đỏ khá bất thường của sắt, nhất là tiền Hồng Ðức Thông Bảo và Minh Ðức Thông Bảo Các nhà nghiên cứu đặt giả thiết, có thể vào lúc đó, hợp kim đồng có chứa nhiều sắt hơn lúc bình thường được

sử dụng, vì ngẫu nhiên hoặc vì cho dễ đúc, chứ không có loại tiền sắt

 Tiền đúc bằng vàng: Thường là tiền dùng để ban thưởng của vua

 Ngân tiền (銀錢, tiền bạc): Thường là tiền dùng để ban thưởng của vua

 Sáo (鈔, tiền giấy): của nhà Hồ phát hành

2.2 Tiền cổ các triều đại phong kiến Việt Nam

2.2.1.Thời kì đầu

Từ khi xuất hiện cho đến nay, đồng tiền không chỉ dừng lại vai trò là vật trung gian kinh tế mà còn tham gia vào các hoạt động xã hội, tín ngưỡng khác

Từ mục đích thay thế vật trung gian

Ban đầu con người lựa chọn vật có giá trị trao đổi sẵn có trong tự nhiên Sau đó xuất hiện vật trung gian được chế tác ra với mục đích thay thế vật trung gian tự nhiên - đó là tiền Tại Trung Quốc, vật trung gian ban đầu được

sử dụng là vỏ sò Vỏ sò dùng làm tiền ngày càng hiếm, sau này người ta dùng

đá, gỗ, xương tạo nên hình con sò để thay thế

Tài liệu khảo cổ học và dân tộc học ở Việt Nam cũng cho thấy, một số tộc

Trang 11

người đã lấy ốc làm vật trung gian trao đổi Hai con ốc tìm được bỏ trong hốcmắt của một sọ người ở ngôi mộ tại địa điểm Phai Vệ (Tuyên Quang) thuộc thời đại đồ đá mới là loại ốc Cypriea arabica, có thể đây là một loại tiền Ốc

sử dụng làm tiền còn được phát hiện ở các di tích xóm Thàm - Quảng Bình, Mán Bạc - Ninh Bình, Quảng Ninh thuộc giai đoạn hậu kỳ đá mới sơ kỳ kim khí Đây có thể coi là giai đoạn nguyên thuỷ của tiền

Đến tiền kim loại xuất hiện

Cùng với sự chuyển biến về kinh tế sản xuất, tiền kim loại xuất hiện, thay thếcho các loại tiền từ tự nhiên (vỏ ốc)

Tại Việt Nam, do điều kiện lịch sử từ những năm đầu Công nguyên đến năm

938 tộc người Việt bị đô hộ, nước ta trở thành quận, huyện của các triều đại phong kiến phương Bắc Những đồng tiền sử dụng trong thời kỳ này đều do các triều đại phong kiến Trung Hoa chế tác

Vào những năm trước Công nguyên có loại "đao tiền" thời Tây Hán Tiền được chế tác bằng chất liệu sắt, có hình con dao nhỏ Loại hình này cho đến nay tìm được không nhiều tại mộ Việt Khê (Hải Phòng)

Bên cạnh đao tiền còn có tiền Bán Lạng (nửa lạng), tiền Ngũ Thù Tiền Bán Lạng tìm được tại nhiều khu vực được coi là những trung tâm kinh tế buổi đầu như: Luy Lâu (Bắc Ninh); Cổ Loa (Hà Nội); Đông Sơn (Thanh Hóa) Tiền Ngũ Thù tìm được nhiều tại các ngôi mộ cổ tại Đông Triều (Quảng Ninh), Luy Lâu, Tiên Sơn, Yên Dũng (Bắc Ninh) Hội Thống (Hà Tĩnh) xa hơn là Điện Bàn; Hội An (Quảng Nam)

Sự có mặt rộng khắp của các đồng tiền Trung Quốc trên địa bàn nước ta đã nói lên sự giao lưu trao đổi khá phổ biến có tính khu vực hình thành nền

Trang 12

kinh tế thương mại phát triển Các triều đại về sau xuất hiện các loại tiền: Hoá tiền, Thái Bình Bách tiền, Đại tuyền ngũ thập Đầu thế kỷ VII nhà Đường (năm 621), Đường Cao Tổ bắt đầu có sự cải cách lớn về hệ thống tiềntệ.

Trên đồng tiền đúc, ngoài niên hiệu, tiền có chữ thông bảo, trọng bảo như: Khai Nguyên thông bảo, Càn Nguyên trọng bảo Cuộc cải cách này là cơ sở

để các đồng tiền đúc về sau tuân thủ, mặc dầu mỗi thời đại có sự cách tân khác nhau

Trong một nghìn năm Bắc thuộc có thể thấy đồng tiền lưu hành trong xã hội cơ bản là do các triều đại phong kiến Trung Hoa phát hành Các đồng tiềnnày được chế tác từ kim loại đồng, hình tròn, giữa có lỗ vuông hoặc tròn tùy theo thời đại, trên tiền có đúc các dòng chữ biểu thị niên đại xuất hiện Nhiều đồng tiền được chế tác chất lượng cao, tiền dày, chất lượng đồng tốt, chữ đúc gọn đẹp được người tiêu dùng ưa chuộng mãi về sau như đồng Khai Nguyên thông bảo

Trang 13

Đồng tiền Khai Nguyên thông bảo

Đồng tiền Càn Nguyên trọng bảo

2.2.2.Tiền triều Đinh

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn 12 sứ quân xưng hoàng đế Từ năm 970, Vua đặt niên hiệu Thái Bình, Việt Nam mới có đồng tiền đúc đầu tiên mang niên hiệu của vị hoàng đế nước mình (Theo nhà biên khảo Phạm Thăng thì tiền đúc bằng đồng đầu tiên của người Việt là dưới triều nhà Tiền

Lý Vua Lý Nam Đế cho đúc đồng Thiên Đức thông bảo năm 541 nhưng đến năm 602 thì triều đại này kết thúc và loại tiền này cũng thất truyền nên ta không có mẫu nào để căn cứ hình dạng.[8] Đời nhà Tống bên Tàu năm 944 cũng cho phát hành đồng Thiên Đức thông bảo nên dễ ngộ nhận đồng Thiên đứcthế kỷ thứ 10 của vua Tàu và đồng Thiên đức thế kỷ thứ 6 của vua Việt.)Khi lên làm vua, Đinh Tiên Hoàng đặt niên hiệu là Thái Bình và cho đúc tiền.Được xem là đồng tiền đầu tiên của một nước tự chủ, tiền đời nhà Đinh được đúc bằng đồng nhiều tạp chất nên ngày nay phần lớn đều bị hoen rỉ, đáng chú

ý là nét chữ Đại Bình Hưng Bửu rất thô sơ nên có giả thuyết đó là chữ Thái

bị mất dấu chấm phía dưới nên trông giống chữ Đại nhưng theo một số nhà

Trang 14

ngôn ngữ học vào thời ấy chữ Đại hay chữ Thái đều đọc và nghĩa như nhau Thực tế qua sưu tầm, tất cả những đồng đã gặp đều viết ĐẠI BÌNH HƯNG BỬU nhưng căn cứ Niên hiệu của Vua Đinh Tiên Hoàng nên hầu hết các nhànghiên cứu, các nhà sưu tập đều thống nhất đọc là Thái Bình Hưng Bảo.

Đến nay, về cơ bản chúng ta đã tìm thấy ba loại tiền THÁI BÌNH HƯNG BỬU Cả ba loạt đều có lỗ hình vuông ở giữa và có đường kính không đều nhưng bình quân khoảng 22 mm Một loại phía sau có chữ Đinh nằm trên lỗ vuông, một loại có chữ Đinh nằm dưới lỗ vuông và một loại mặt sau không

có chữ Hầu hết những đồng có chữ Đinh dưới lỗ vuông thường dày và nặng hơn hai lọai kia

Trong quá trình sưu tập, nhận thấy tiền Thái Bình hưng bửu có 3 loại cơ bản

và mức độ quý hiếm được phân tích như sau :

- Loại Thái Bình Hưng Bửu : Lưng trơn là hiếm nhất

- Loại Thái Bình Hưng Bửu : Chữ đinh trên lỗ vuông

- Loại Thái Bình Hưng Bửu : Chữ đinh dưới lỗ vuông

Sử liệu cũ của Việt Nam không đề cập đến việc nhà Đinh có đúc tiền Tuy nhiên, sử liệu cũ của Trung Quốc thì có nhắc đến và dựa vào đó Bành Tín Uyviết rằng năm 970 Đinh Bộ Lĩnh ở Việt Nam đúc tiền Thái Bình hưng bảo Theo Đỗ Văn Ninh, việc sử liệu cũ của Việt Nam không nhắc đến việc này

có thể là do nền kinh tế tiền tệ thời nhà Đinh còn mới manh nha, tiền không thực sử được sử dụng nhiều, trao đổi hàng hóa là chính, lương bổng và thuế

má đều bằng hiện vật

Tiền Thái Bình Hưng Bửu có chữ đinh trên lỗ vuông là do Vua Đinh Tiên Hoàng đúc với chữ đinh ở vị trí trên lỗ vuông để khẳng định chủ quyền quốc gia, quốc tính Tiền này được đúc với số lượng khá nhiều nên qua bao nhiêu dâu bể đến nay ta vẫn còn tìm thấy khá nhiều

Tiền Thái Bình Hưng Bửu có chữ đinh dưới lỗ vuông được đúc dưới triều Vua Đinh Toàn với chữ đinh ở vị trí dưới lỗ vuông mang hàm ý khiêm

nhường ở dưới vua cha Những đồng tiền ở dạng này thường dày dặn và nặnghơn những đồng Thái bình hưng bửu khác, tôi cho rằng kinh tế quốc gia đã đivào ổn định và phát triển, Vua Đinh Toàn khi lên ngôi vẫn giữ niên hiệu TháiBình của vua cha và cho đúc tiền này

Tiền Thái Bình Hưng Bửu lưng tiền để trơn được Thập đạo tướng quân Lê Hoàn cho đúc khi được Thái hậu Dương Vân Nga và các tướng sĩ trao quyền

Trang 15

nhưng chưa lên ngôi vua với hình thức lưng tiền để trơn ngụ ý rằng : Nước

Cồ Việt vẫn còn chủ quyền của Nhà Đinh với niên hiệu Thái Bình nhưng tiềnkhông do người họ Đinh đúc để chi dùng trong dân chúng và chuẩn bị sửa soạn đánh quân xâm lược Bắc Tống lúc bấy giờ lăm le xâm phạm bờ cõi nước ta

Mặt khác, vì ngôi vua không phải là truyền thừa nên cũng cần phải có giai đoạn tế nhị để làm bước đệm (cũng có thể là được đúc vào 4 năm đầu niên hiệu Thiên Phúc) đồng thời mẫu khuôn đúc tiền Thái Bình đang có sẵn chỉ cần bỏ chữ đinh ở mặt lưng đi là có thể đúc tiền dùng được ngay Tiền này được đúc với số lượng ít hơn nên ngày nay hiếm hơn hai loại có chữ đinh ở lưng tiền

Ngoài ra, trong quá trình sưu tập, người ta cũng phát hiện những đồng tiền Thái Bình hưng bửu có chữ đinh viết ngược hoặc ở vị trí 3 giờ trên lưng đồngtiền

Trang 16

Tiền Thái Bình Hưng Bửu hay Thái Bình Hưng Bảo

2.2.3.Tiền nhà Tiền Lê

Nước nhà mới giành lại độc lập, đang lo củng cố, quy tắc chưa nghiêm, mặt khác nền kinh tế còn non yếu, chưa phát triển, nhu cầu trao đổi bằng tiền chưa phổ biến, đồng tiền cho đúc ra lúc đầu chỉ mang tính cách độc lập có chủ quyền chứ chưa phát hành rộng rãi trong dân chúng Lương bổng quan chức, quân lính phát bằng hiện vật là chính Thuế khoá các nơi cũng nộp bằng hiện vật Trong 29 năm thuộc kỷ nhà Lê, chính sử chỉ có một dòng ngắnngủi về việc đúc tiền “…năm giáp thân 984, mùa xuân tháng hai, đúc tiền Thiên Phúc…”

Hành cho đúc vào năm thứ 5 lấy theo niên hiệu của ngài và có lẽ về sau này

Lê Long Đĩnh có cho đúc thêm nhiều để giao thương với Trung Hoa Sử trung Hoa cho biết lúc bấy giờ người Việt đến buôn bán ở châu Liêm và châuKhâm (có trấn Như Hồng) đến nay vẫn còn được tìm thấy khá nhiều Về cơ bản, tiền Thiên Phúc Trấn Bửu có nhiều đặc điểm giống tiền Thái Bình Hưngbửu Tuy vậy, ta cũng thấy rằng Nhà Lê noi theo Nhà Ðinh, không theo quy tắc đúc tiền của Trung Hoa để đúc tiền Thiên Phúc Viết quốc tính lên mặt

Trang 17

sau đồng tiền để khẳng định chủ quyền và phân biệt rõ ràng với tiền Trung Hoa vốn đã được dùng ở nước Việt từ trước.Một loạt mặt trước có bốn chữ Thiên Phúc trấn bảo và mặt sau có chữ Lê (họ của vua), một loạt mặt trước giống như loạt trên nhưng mặt sau lại không có chữ gì, và một loạt nữa mặt sau có chữ Lê nhưng mặt trước lại không có chữ gì Theo Đỗ Văn Ninh, sở dĩ

có sự khác nhau như vậy có thể là vì trong quá trình đúc tiền, xưởng đúc đã ráp nhầm hai mặt của các khuôn đúc

Đồng tiền Thiên Phúc cũng được tìm thấy ba loại : 2 loại phía sau có chữ Lê nằm trên lỗ vuông và một loại lưng để trơn không có chữ Lê

- Loại Thiên Phúc Trấn bảo : Lưng trơn là hiếm nhất :

- Loại Thiên Phúc Trấn bảo : Chữ lê viết rộng bề ngang (Lê to) :

- Loại Thiên Phúc Trấn bảo : Chữ lê viết hẹp hơn (Lê nhỏ) :

Trang 18

2.2.4.Tiền nhà Lý

Nhà Lý trên 200 năm thái bình thịnh trị với những vị vua ban đầu rất anh minh, nhân hậu nên đồng tiền sử dụng đúng giá trị của nó Đồng

THUẬN THIÊN ĐẠI BẢO được đúc đầu tiên, đời vua Lý Thái Tổ, đến một

số đời các vua sau cũng cho đúc tiền mang niên hiệu của mình.

- Thuận Thiên đại bảo (1010-1028)

Thuận Thiên đại bảoĐây là tiền kim loại được giới nghiên cứu tiền cổ ở Việt Nam cho là của Lý Thái Tổ vì ông vua này có một niên hiệu là Thuận Thiên Bên Trung Quốc có

Sử Tư Minh khi làm vua cũng có niên hiệu Thuận Thiên, nhưng ông này cho đúc tiền Thuận Thiên nguyên bảo đương bách Sau này, Lê Thái Tổ cũng lấy niên hiệu Thuận Thiên, nhưng tiền đúc ra gọi là Thuận Thiên thông

bảo hoặc Thuận Thiên nguyên bảo

Trang 19

Đại Việt sử ký toàn thư cho thấy tiền đã được sử dụng và phát hành nhiều trong thời Lý Thái Tổ Cả lương bổng lẫn tô thuế đều có thể trả bằng tiền.

Ngay năm đầu tiên lên ngôi, sau khi vua dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long Lý Thái Tổ đã “…xuống chiếu phát tiền kho hai vạn quan để thuê thợ làm chùa ở phủ Thiên Đức 8 sở …” Sách còn ghi năm 1013, vua định các thứ thuế trong nước có mục thu “…tiền và thóc về bãi dâu” và “năm 1016 được mùa to, 30 lượm lúa giá trị 70 đồng tiền…” chứng tỏ đồng tiền dùng trong việc mua bán, trả công hay đóng sưu đóng thuế đã tới mức phổ biến

Sách Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú có ghi chép hai dòng về một loại tiền thời Lý : “…Lý Thái Tông, năm Minh Đạo thứ 1

(1042) lại đúc tiền Minh Đạo ban cho các quan văn, võ…”, và Phan Huy Chú

có viết nhận định: “ …xét : nhà Lý, nhà Trần truyền nối nhau, khoảng mấy trăm năm, đáng lẽ mỗi một đời vua phải đúc một thứ tiền để thông dụng cho dân, nhưng vì sách thiếu sót nên không thể khảo được tường tận, nay hãy tạmbiên ra một vài điều còn thấy chép trong sử để lại…” Tuy vậy, đến thời này tiền đã lưu hành rộng rãi và đi sâu vào dân chúng

Như trên đã nêu, Nhà Lý có 9 đời vua nhưng chỉ ghi nhận có 5 vua cho đúc tiền, tuy nhiên các nhà nghiên cứu, sưu tập tiền khi xếp tiền Nhà Lý vẫn có một số khiên cưỡng :

- Càn Phù nguyên bảo (1039-1041) : được cho là tiền của Vua Lý Thái

Tông đúc dựa theo niên hiệu Càn phù Hữu đạo

Càn Phù nguyên bảo

Sử liệu cũ của Việt Nam và kết quả khảo cổ đều không cho thấy có loại tiền này Song, Lacroix và các tác giả Lịch sử phong kiến Việt Nam (tập I) đều cho là có và cũng do Lý Thái Tông phát hành

Trang 20

Như vậy theo một số tài liệu, Việt Nam vào thời vua Lý Thái Tông đã đúc hai loại Minh Đạo thông bảo và Càn Phù nguyên bảo Song, khảo cổ học ViệtNam chưa cho thấy cả hai loại tiền này.

- Minh Đạo thông bảo (1042-1043) : được cho là tiền của Vua Lý Thái

Tông đúc dựa theo niên Minh Đạo của Ngài

Tương truyền là do Lý Thái Tông cho phát hành Sử liệu Lịch triều hiến chương loại chí có ghi rằng vua Lý Thái Tông cho đúc tiền Minh Đạo, nhưngkhông ghi rõ có phải là Minh Đạo thông bảo hay không

Minh Đạo nguyên bảo

-Thiên Phù nguyên bảo (1120-1127)

Được cho là do Lý Nhân Tông phát hành vì ông có hai niên hiệu có chữ

Thiên Phù trong đó Sử liệu cũ của Việt Nam không nhắc đến tiền này

Nhưng khảo cổ học cho thấy có tiềnThiên Phù thông bảo với đường kính chừng 20 mm với mặt trước có bốn chữ Thiên Phù nguyên bảo đọc theo vòngtròn, mặt sau để trơn, có lỗ, không có gờ Đỗ Văn Ninh cho rằng kích thước đồng tiền này nhỏ hơn so với các đồng tiền thời trước là vì thời Lý Nhân Tông trị vì có nhiều chiến tranh, nên giành được ít đồng hơn cho việc đúc tiền

Thiên Phù nguyên bảo

- Thiên Thuận thông bảo (1128-1132)

Trang 21

- Đại Định thông bảo (1140-1162)

- Thiên Cảm thông bảo (1174-1175)

Lacroix có nhắc đến tiền này và còn công bố hình thù đồng tiền Ông cho rằng đây là tiền do Lý Anh Tông phát hành vì vua này có một niên hiệu trong

đó có chữ Thiên Cảm Tiền có gờ và mép rõ ràng Khảo cổ học Việt Nam chưa tìm ra loại tiền này Các vua Trung Quốc không có ai có niên hiệu có chữ Thiên Cảm

- Thiên Tư thông bảo (1186-1201)

Không thấy chính sử đề cập đến đồng tiền này Lacroix đã từng công bố một mẫu tiền mà mặt trước có bốn chữ Thiên tư thông bảo, mặt sau để trơn Lý Cao Tông có một niên hiệu trong đó có chữ Thiên Tư Các vua Trung Quốc không ai có niên hiệu có chữ này

Trang 22

Về tiền tệ, mặc dầu suốt 175 lịch sử triều Trần, chỉ thấy xác nhận có 10 loại tiền nhưng có lẽ lượng tiền lưu hành không nhỏ vì theo sách Đại Việt

sử ký toàn thư có ghi : Trong đời Trần Phế Đế, năm Kỷ Mùi 1379, tháng

9, vua sai quân tải tiền đồng vào núi Thiên Kiện để chôn giấu “Mùa đông, tháng 10 chôn giấu tiền ở khám Khả Lãng thuộc Lạng Sơn, sợ nạn người Chiêm Thành đốt cung điện” “ Mùa đông, tháng 10 năm 1390, đời Trần Thuận Tông, sai thợ đá ở An Hoạch đào động ở núi Thiên Kiện và động ở núi Khuẩn Mai để lấy tiền của đã chôn khi trước”

Với những việc như nêu trên cùng với việc phát hành tiền giấy Thông Bảohội sao về sau này đã làm cho tiền nhà Trần trở nên khan hiếm Một số hiệu tiền như Thiệu Long; Thiệu Khánh; Xương Phù thông bảo…gần như

Trang 23

- Nguyên Phong thông bảo (1251-1258)

Khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện ra tiền kim loại Nguyên Phong

Nhưng bên Trung Quốc cũng có loại tiền này, nên hiện chưa kết luận đượcthứ tìm thấy ở Việt Nam là do nước nào đúc Nguyên Phong là niên hiệu thứ ba của vua Trần Thái Tông Vào hai thời có niên hiệu trước, vua cũng cho phát hành tiền, nhưng sử liệu không nói và khảo cổ học không cho biết đó là tiền tên gì

- Khai Thái nguyên bảo (1324-1329)

Đỗ Văn Ninh có cho biết rằng Trần Huy Bá đã thấy tiền này ở Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam năm 1960 Khai Thái là một niên hiệu của Trần Minh Tông Các vua Trung Quốc không có niên hiệu nào như vậy

- Thiệu Phong bình bảo, Thiệu Phong nguyên bảo (1341-1357)

Sử liệu không ghi nhưng khảo cổ học Việt Nam lại phát hiện ra thứ tiền kim loại này và cho là do Trần Dụ Tông phát hành Tiền có lỗ ở giữa và

Trang 24

có gờ và mép không rõ Mặt trước tiền ghi bốn chữ Thiệu Phong thông bảo Mặt sau để trơn Tiền nhỏ, mỏng, đường kính 21 mm.

Khảo cổ học còn tìm ra tiền Thiệu Phong thông bảo, hình thù như Thiệu Phong bình bảo và mặt sau cũng để trơn

Thiệu Phong thông bảo

Thiệu Phong Bình Bảo

Đỗ Văn Ninh cho biết Trần Văn Bá đã thấy tiền Thiệu Phong nguyên bảo đường kính tới 40 mm và mặt sau có chữ Thập tam ở Viện Bảo tàng Lịch

sử Việt Nam vào năm 1960

Thiệu Phong Nguyên Bảo

- Đại Trị thông bảo (1358-1369)

Cũng là tiền do Trần Dụ Tông phát hành Đại Việt sử ký toàn thư có cho biết rằng vào năm 1360 đã đúc tiền này Khảo cổ học cho biết tiền này có kích thước lớn hơn tiền Thiệu Phong một chút

Trang 25

Đại Trị Thông bảo

- Trong thời nhà Trần, vàng bạc được cho đúc thành phân lượng để tiện việc chi tiêu và có dấu hiệu của Hoàng triều Giá trị đồng tiền được qui định rõ ràng:

+ 1 lạng vàng bằng 10 lạng bạc

+ 1 quan ăn 600 đồng tiền điếu

+ 1 Tiền ăn 70 đồng tiền điếu

Nộp tiền cho nhà Vua thì mỗi tiền là 70 đồng Tiền này gọi là Thượng cung tiền Dân tiêu dùng với nhau, 1 tiền ăn 60 đồng Tiền này gọi là Tĩnhmạch tiền

- Theo sử sách, khi Dương Nhật Lễ lên ngôi có cho đúc tiền Ðại Ðịnh Thông bảo nhưng qua nghiên cứu nhận thấy : Tiền Ðại Ðịnh hiện nay được xếp vào tiền nhà Trần còn nhiều điểm cần nghiên cứu sâu hơn

Đại Định Thông bảo

- Cuối thời Trần có nhiều cuộc nổi dậy chống Triều đình, nhiều thủ lãnh đãtiếm hiệu xưng vương, đúc tiền như : Nguyễn Bổ ở Bắc Giang, Phạm Sư

Ôn ở Quốc Oai, Trần Thiêm Bình, Trần Quý Khoáng, Lê Ngã

2.2.6.Tiền nhà Hồ

Năm 1396, 4 năm trước khi nhà Hồ thay thế nhà Trần làm vua Việt Nam, tiền giấy mang tên Thông Bảo hội sao được phát hành Lúc đó đang là niên hiệu Quang Thái của vua Trần Thuận Tông, nhưng việc ban bố các chủ

trương chính sách quan trọng của đất nước lại do Hồ Quý Ly nắm Chủ

trương phát hành tiền giấy này chính là của Hồ Quý Ly Mục đích của ông là dùng tiền giấy để thay thế tiền kim loại, qua đó thu hồi kim loại về kho triều đình Nhiều ý kiến thống nhất rằng, sự ra đời tiền giấy Thông Bảo hội

Trang 26

sao không phản ánh trình độ phát triển của kinh tế tiền tệ ở Việt Nam đương thời.

Khảo cổ học Việt Nam chưa phát hiện ra di vật tiền giấy Thông Bảo hội sao, nhưng Đại Việt sử ký toàn thư nhắc đến rõ ràng đến tên loại tiền này Việc phát hành Thông Bảo Hội Sao thực hiện vào năm 1396, có ghi trong chính sử : “Mùa Hạ, tháng 4 năm Bính Tí, niên hiệu Quang Thái thứ 9 (1396)bắt đầu phát hành tiền giấy Thông Bảo Hội Sao Ai làm tiền giả phải tội tử hình và bị tịch thu tài sản Ai có một quan tiền đồng được đổi lấy 1 quan 2 tiền giấy Tiền đồng phải đem nộp kho để đổi, ai giấu giếm và mang ra tiêu dùng sẽ bị tội như làm tiền giả”

Tiền Thông Bảo hội sao có bảy mệnh giá khác nhau, đó là: 10 văn (十文 thập văn), 30 văn (三十文 tam thập văn), 1 bách (一陌 nhất bách), 2 bách (二

陌 nhị bách), 3 bách (三陌 tam bách), 5 tiền (五陌 ngũ bách), 1 mân (一緡 nhất mân) Không thấy Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại tỷ lệ giữa các đơn vị văn, bách và mân của tiền Thông Bảo hội sao thế nào Tiền kim loại đang lưuhành phải được đem đến đổi lấy tiền giấy theo tỷ lệ 1 cưỡng (繦, chưa rõ là bao nhiêu văn) đổi lấy 1 mân 2 bách tiền giấy

Theo đó có 7 hạng tiền giấy :

- Giấy vẽ rêu bể : 10 văn

- Giấy vẽ sóng nước : 30 văn

- Giấy vẽ đám mây : 1 bách (69 văn)

- Giấy vẽ con qui : 2 bách

- Giấy vẽ con lân : 3 bách

- Giấy vẽ con phượng : 5 tiền

- Giấy vẽ con rồng : 1 mân

Vì sử ghi chép quá sơ lược nên ta không rõ tờ giấy có cỡ lớn nhỏ thế nào

và hình vẽ là nền cho cả tờ bạc hay chỉ vẽ trang trí một phần thôi Hồ Quý

Ly còn tung tiền giấy cho các phủ, lộ để thu mua thóc lúa theo thời giá Cóthể hình thức như thế này :

Trang 27

Đời nhà Tống – Trung Hoa, năm 965 đã dùng GIAO TỬ (một loại giấy chứng chỉ) thay tiền Tiền giấy coi như xuất hiện nhưng vẫn hạn chế trong phạm vi giữa các tư nhân Đến năm 1023, triều đình Trung Hoa dành quyền phát hành tiền giấy gọi là QUAN GIAO TỬ Đến triều Minh, tiền giấy phát hành càng nhiều nhưng tiền Trung Hoa đều có quý kim hay quý vật để làm chuẩn Trong khi ở nước ta, từ trước các tiền đồng đúc trong xứ mang niên hiệu vua nước Đại Việt để xác nhận chủ quyền chứ không đủ tiêu dùng nên người trong nước vẫn còn tiêu dùng một số lớn tiền mang niên hiệu các nước đồng văn để trao đổi mua bán

Khi Hồ Quý Ly thay thế tiền đồng bắt dân chúng dùng tiền giấy không có một quý kim hay quý vật nào bảo đảm cho tiền giấy Sự đổi 1 mân 2 bách giấy lấy 1 mân tiền đồng chỉ là dụ cho dân thấy lợi chứ không phải là giá trị căn bản Dân chúng đã quen với giá trị thực tế của tiền đồng do bản thân kim loại và tiền đồng có tính chất bền vững, dễ chôn giấu không hư nát Dân chúng không ủng hộ nhưng luật lệ bắt buộc phải theo nên ta thán, vì thế khi lên ngôi vua, Hồ Quý Ly vẫn có đúc loại tiền mang niên hiệu của mình

Trang 28

Hồ Quý Ly cho đúc loại tiền THÁNH NGUYÊN THÔNG BẢO, chữ khắc theo lối cổ triện rất đẹp Khi Hồ Hán Thương lên ngôi cho đúc loại tiền

- Thánh Nguyên thông bảo (1400-1401)

Thời nhà Hồ, tuy phát hành tiền giấy Thông bảo hội sao và đổi thu hồi tiền kim loại về, song có thể Hồ Quý Ly cũng cho phát hành một lượng nhất định tiền kim loại mang niên hiệu Thánh Nguyên (1400-1401) của mình Khảo cổ học đã phát hiện được ở Việt Nam nhiều đồng tiền kim loại Thánh Nguyên thông Theo Đỗ Văn Ninh, trong các vua Trung Quốc vàViệt Nam, chỉ có Hồ Quý Ly có niên hiệu Thánh Nguyên

Tiền kim loại Thánh Nguyên thông bảo có hình tròn, lỗ vuông, kích thước nhỏ (đường kính từ 19 đến 20 mm), mỏng Mặt trước có bốn chữ Thánh Nguyên thông bảo đọc chéo từ trên xuống và từ phải qua trái, gờ viền mép và

lỗ rõ ràng Nhưng mặt sau lại để trơn và không có gờ và viền mép hay lỗ.Một trong các mục đích phát hành tiền kim loại Thánh Nguyên thông bảo là

để quảng bá niên hiệu Thánh Nguyên của vua mới

Thánh Nguyên Thông bảo

- Thiệu Nguyên Thông bảo

Tuy nhiên, về hai đồng tiền này cần có thời gian nghiên cứu thêm Sau khi đánh bại nhà Hồ, nhà Minh liền đổi nước ta thành quận Giao Chỉ và vơ

Trang 29

vét hết các tiền đồng của nước ta do nhà Hồ tịch thu trước đây Hiện nay hiệnvật rất hiếm hoi nên điều kiện để kiểm chứng và kết luận rất hạn chế.

2.2.7.Tiền nhà Hậu Lê

Những năm đầu của triều Hậu Lê, tiền giấy vẫn còn được dùng nhưng mất dần theo thời gian Nhà vua cho dân chúng dùng tiền giấy mặc dù có cuộc tranh chấp công khai giữa các quan đến nỗi vua Lê phải ra tờ chiếu để minh định

Ngày 5 tháng 7 năm 1429, nhà vua truyền lệnh cho các quan họp bàn về cách

dùng tiền Vì có nhiều cuộc tranh cãi nên nhà vua ban chiếu rằng : “Tiền là huyết mạch của nhân dân, không thể không có Nước ta vốn sản xuất mỏ đồng nhưng tiền đồng cũ đã bị người Hồ (nhà Hồ) tiêu huỷ, trăm phần chỉ còn một phần, đến nay việc quân việc nước thường bị thiếu dùng Muốn cho tiền được lưu thông tiêu dùng để thoả lòng dân, há chẳng khó sao? Mới rồi

có người dâng thư trình bày xin lấy tiền giấy thay cho tiền thật Trẫm sớm khuya nghĩ ngợi, chưa nghĩ ra cách gì Vì rằng tiền giấy vô dụng mà lưu hành ở trong dân hữu dụng, thật không phải là ý yêu dân dùng của Nhưng đời xưa, có người cho rằng vàng, bạc, da, lụa, tiền thật, tiền giấy, các vật ấy đều cân ngang nhau được, thế thì thứ gì là hơn? Truyền cho các đại thần, trăm quan và những người thông đạt thời vụ ở trong ngoài đến bàn thể lệ dùng tiền cho thoả lòng dân, ngõ hầu có thể không lấy lòng thích riêng của một người mà ép muôn nghìn người không muốn phải theo, để làm phép hay của một đời Nên phải bàn định sớm tâu lên trẫm sẽ tự chọn lấy mà thi

hành” (Đại Việt sử ký toàn thư)

Thực ra tiền đồng đã chính thức xuất hiện khi quân nhà Minh diệt nhà Hồ nhưng tiền đồng trước kia không còn bao nhiêu vì bị họ Hồ bắt phải đổi,

Trang 30

phần còn lại bị quan quân nhà Minh lấy đi Số tiền lưu hành của các vua tiền nhiệm còn rất ít trong dân gian nhờ cất giấu nên tiền hiếm càng thấy rõ

- Thuận Thiên Nguyên Bảo (1428-1433)

Sau khi đánh bại hoàn toàn quân Minh xâm lược, chẳng cần đợi nhà

Minh công nhận, ngày 15 tháng 4 năm 1428, Lê Lợi xưng vua và lấy niên hiệu là Thuận Thiên; một tháng sau thì cho đúc tiền kim loại Thuận Thiên thông bảo bằng đồng mà không tiếp tục chính sách sử dụng tiền giấy của nhà

Hồ Đó là theo Đại Việt sử ký toàn thư Còn theo phát hiện của khảo cổ học, thì tên tiền kim loại đó có lẽ là Thuận Thiên nguyên bảo Hiện các nhà

nghiên cứu còn chưa có kết luận được là sử chép sai "nguyên" thành "thông" hay Lê Lợi cho đúc hai loại nhưng hiện mới chỉ phát hiện di chỉ loại Thuận Thiên nguyên bảo Thuận Thiên nguyên bảo có kích thước to hơn, dày hơn

và được đánh giá là đẹp hơn các đồng tiền kim loại của các thời trước ở Việt Nam Đường kính tiền là 25 mm, dày dặn Mặt trước đúc nổi bốn chữ Hán là Thuận Thiên nguyên bảo với nét viết chân phương Mặt sau không có chữ hay hình gì, viền mép và gờ viền lỗ rõ ràng và đều đặn.Thuận Thiên thông bảo có ba đơn vị đếm là đồng, tiền và quan Đại Việt sử ký toàn thư cho biết

1 tiền bằng 50 đồng.Thời này giá trị đồng Thuận Thiên được cao giá : chỉ cần

500 đồng Thuận Thiên đã được kể là 1 quan

Thuận Thiên Nguyên Bảo

Thời Lê sơ có 11 đời vua, gần như đời nào dù thịnh hay suy đều cho đúc tiền,các loại tiền đều đúng trọng lượng và đúc rất mẫu mực như tiền Hồng Đức, Hồng Thuận, Quang Thuận Dù sao có số ít khi đúc ra bị pha chế đồng sắt kẽm không đúng tỷ lệ nên làm đồng tiền kém giá dẫn tới việc kén chọn của người dân trong khi tiêu dùng Chúng ta thấy một sắc chỉ đời Hồng Đức : “

Trang 31

Công dụng của tiền tệ quí ở trên dưới lưu thông Việc cất chứa trong kho tàngcốt sao cho để lâu không nát Từ nay trở đi, các nha môn trong ngoài, phàm truy thu các món tiền tang, tiền phạt công hay tư và các món chi thu ra vào,

mà phải chứa vào kho công, thì đều nên chọn lấy hạng tiền đồng thực, dù đồng mà vành có sứt mẻ một tý nhưng là đồng thật mà còn xâu vào chuỗi được, nhất thiết phải thu dùng, không được chối từ hoặc chọn lọc quá

nghiệt” (Lịch Triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú)

- Thiệu Bình thông bảo (1434-1439)

Đây là tiền kim loại do Lê Thái Tông cho đúc khi lên ngôi năm 1434 và đặt niên hiệu là Thiệu Bình (1434-1439) Về kiểu dáng, Thiệu Bình thông bảo căn bản giống Thuận Thiên nguyên bảo Ban đầu, 1 tiền bằng 50 đồng như theo quy định của đời vua trước, nhưng từ năm 1439 thì định lại 1 tiền bằng

60 đồng

- Đại Bình thông bảo

Sử không nhắc đến tiền này, nhưng Lacroix công bố mẫu của nó và do

vua Việt Nam và vua Trung Quốc không còn ai đặt niên hiệu là Đại Bình nữa, nên Đỗ Văn Ninh cho rằng đó là tiền do Lê Thái Tông cho đúc và đặt tên theo niên hiệu thứ hai của ông, Đại Bình (1440-1442) Như vậy, dưới triều vua Lê Thái Tông của Việt Nam đã lần lượt có hai tiền kim loại là ThiệuBình thông bảo và Đại Bình thông bảo

Trang 32

- Thái Hòa thông bảo

Đây là tiền kim loại do Lê Nhân Tông cho đúc và đặt tên theo niên hiệu Thái Hòa (1443-1453) của mình Kiểu dáng và kích thước tiền này giống tiền của các vua Lê đời trước Tuy nhiên, Lacroix đã công bố một mẫu tiền Thái Hòa thông bảo có kích thước nhỏ và lưng tiền không có gờ viền Ngoài ra, ông này còn công bố một mẫu tiền ghi là Đại Hòa thông bảo Đỗ Văn Ninh cho rằng có thể viết là Đại song vẫn đọc là Thái

-Diên Ninh thông bảo

Tiền kim loại bằng đồng do Lê Nhân Tông cho đúc khi đổi niên hiệu thành Diên Ninh Tiền này được khảo cổ học phát hiện nhiều Kiểu dáng và kích thước to đẹp giống như tiền của các đời vua Lê trước

- Thiên Hưng thông bảo

Tiền kim loại do Lê Nghi Dân cho đúc và đặt tên theo niên hiệu Thiên Hưng của mình Sử không nhắc đến việc ông vua này cho đúc tiền, song Lacroix cóphát hiện và công bố Lê Nghi Dân ở ngôi một năm, nên Thiên Hưng thông bảo có thể cũng chỉ được lưu hành không quá một năm

- Quang Thuận thông bảo

Là tiền do Lê Thánh Tông cho đúc Di chỉ tiền này được phát hiện khá nhiều.Quang Thuận thông bảo được Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương

Trang 33

biết Không rõ tiền được bắt đầu phát hành từ năm nào, song niên hiệu QuangThuận của Lê Thánh Tông bắt đầu từ năm 1460, kết thúc vào năm 1469.

- Hồng Đức thông bảo

Cũng là tiền do Lê Thánh Tông phát hành từ năm 1470 đến năm 1497 theo niên hiệu thứ hai của mình

-Cảnh Thống thông bảo

Cảnh Thống là niên hiệu duy nhất của Lê Hiến Tông kéo dài khoảng 6 năm

Sử không ghi về việc ông vua này cho đúc tiền, song khảo cổ học tìm ra nhiều di chỉ tiền Cảnh Thống thông bảo Về kiểu dáng thì giống tiền của các vua Lê đời trước, song trọng lượng thì lớn hơn

- Đoan Khánh thông bảo

Trang 34

Đoan Khánh thông bảo là tiền kim loại do Lê Uy Mục cho đúc Niên hiệu Đoan Khánh của ông vua này kéo dài từ năm 1505 đến năm 1509.

- Hồng Thuận thông bảo

Đây là tiền kim loại do Lê Tương Dực (ở ngôi từ năm 1509 đến năm 1516 cómột niên hiệu duy nhất là Hồng Thuận) Kích thước và kiểu dáng như các tiền trước đây của nhà Lê

- Quang Thiệu thông bảo

Đây là tiền do Lê Chiêu Tông cho đúc Ông vua này chỉ có một niên hiệu là Quang Thiệu từ năm 1516 đến năm 1522 Hình thức cơ bản giống các tiền nhà Lê trước đó nhưng xấu hơn, kích thước bé hơn, nhẹ hơn

Trang 35

- Thống Nguyên thông bảo

Thống Nguyên thông bảo do Lê Cung Hoàng (lấy niên hiệu Thống Nguyên) phát hành Tiền này đẹp hơn Quang Thiệu thông bảo nhưng vẫn chưa bằng được các tiền nhà Lê trước đó

- Nguyên Hòa thông bảo

Đây là tiền bằng đồng mang niên hiệu Nguyên Hòa (1533-1548) của Lê

Trang Tông, vị vua đầu tiên của thời Lê Trung Hưng Tiền này có kích thước nhỏ, được đúc cẩn thận Mặt trước có chữ Nguyên Hòa thông bảo đọc chéo Mặt sau có viền gờ mép và lỗ, song không có chữ hay hình gì Nguyên Hòa thông bảo có nhiều loại, trong đó có loại chỉ có hai chữ Nguyên Hòa viết theolối chữ triện và có loại thì lại có ba chữ Nguyên Hòa và bảo viết theo lối chữ triện

- Vĩnh Thọ thông bảo

Vĩnh Thọ là niên hiệu của Lê Thần Tông Tiền Vĩnh Thọ thông bảo đúc bằngđồng, đường kính chừng 23 mm

Vĩnh Trị nguyên bảo, Vĩnh Trị thông bảo

Là các tiền do Lê Hy Tông phát hành (thực tế có thể là do chúa Trịnh phát hành vì quyền hành mọi mặt trong thực tế thuộc về phủ chúa) mang niên hiệuđầu tiên của ông Cả hai loại đều bằng đồng, đúc cẩn thận, đường kính chừng

23 mm

- Chính Hòa thông bảo

Tiền đặt theo niên hiệu thứ hai của Lê Hy Tông Chữ "Chính" viết là正, dễ nhầm với Chính Hòa thông bảo của nhà Tống cũng thấy xuất hiện ở Việt Nam với chữ Chính viết là 政

- Tiền Cảnh Hưng

Trang 36

Tiền Cảnh Hưng có rất nhiều loại và đều bằng kim loại Đỗ Văn Ninh đã đề cập đến 40 loại tiền Cảnh Hưng và nhà nghiên cứu này cũng cho biết có

người đã liệt kê ra được đến 80 loại tiền Cảnh Hưng Sở dĩ có nhiều loại như vậy là vì thời Cảnh Hưng (niên hiệu của Lê Hiển Tông), không chỉ chính quyền trung ương mà cả các chính quyền địa phương (ở cáctrấn) cũng tham gia đúc tiền, và có cả đúc trộm Các tiền Cảnh Hưng không chỉ có kích thước khác nhau, chất lượng kim loại khác nhau mà cả các chữ ghi trên đó cũng khác nhau Nguyên nhân khác nhau vừa là do những thay đổi trong thiết kế đồng tiền, vừa là đúc sai quy cách

Khảo cổ học tìm ra rất nhiều di chỉ tiền Cảnh Hưng cho thấy thời này tiền được phát hành rất nhiều Nguyên nhân của việc phát hành nhiều như vậy hiện chưa rõ Đỗ Văn Ninh cho rằng:

 Thời này kinh tế khó khăn nên thuế má thu của dân không được mấy

mà chính quyền lại có nhu cầu chi tiêu rất lớn cho ăn chơi (thời Lê Hiển Tông cũng là thời các chúa Trịnh Giang, Trịnh Doanh, Trịnh Sâm nổi tiếng về ăn chơi), cho đàn áp các cuộc khởi nghĩa (các khởi nghĩa

của Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương, Lê Duy Mật, Hoàng Công Chất, ) Chính quyền đã lợi dụng đặc quyền phát hành tiền để đúc tiền phục vụ nhu cầu tiêu dùng của mình (Xem thêm bài thuộc chủ đề kinh tế học: Đặc lợi phát hành tiền.)

 Nhu cầu sử dụng tiền mặt lớn cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa để buôn bán, đóng thuế, mua chức tước, biếu xén, hỏi vợ (Ca dao có câu: Mẹ em tham thúng xôi rền/Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng),

 Việc các trấn được phép đúc tiền đã đem lại cho họ mối lợi lớn Nó khuyến khích họ phát hành tràn lan

Dựa vào phát hiện khảo cổ học, tiền Cảnh Hưng chắc chắn có các loại

sau: Cảnh Hưng thông bảo, Cảnh Hưng trung bảo, Cảnh Hưng chí bảo, Cảnh Hưng vĩnh bảo, Cảnh Hưng đại bảo, Cảnh Hưng thái bảo, Cảnh Hưng cự bảo,Cảnh Hưng trọng bảo, Cảnh Hưng tuyền bảo, Cảnh Hưng thuận bảo, Cảnh Hưng chính bảo, Cảnh Hưng nội bảo, Cảnh Hưng dụng bảo, Cảnh Hưng lai bảo, Cảnh Hưng thận bảo, Cảnh Hưng, Cảnh Hưng thọ trường

Cảnh Hưng thông bảo là loại phổ biến nhất, nhưng loại này lại có nhiều loại phụ với thiết kế khác nhau và chữ ghi trên tiền ở mặt sau cũng khác nhau

Trang 37

- Chiêu Thống thông bảo

Chiêu Thống là niên hiệu duy nhất của Lê Mẫn Đế, ông vua nhà Hậu Lê ở ngôi 3 năm Khảo cổ học cho thấy tiền kim loại Chiêu Thống thông bảo có nhiều loạt khác nhau Thêm vào đó, mỗi loạt đều được đúc nhiều lần, mỗi lầnkích thước lại khác nhau một chút Chiếu Thống thông bảo được phát hành dưới thời Lê Mẫn Đế, nhưng ai phát hành thì không rõ vì có quá nhiều loạt vànhiều kích cỡ Lưu ý là thời Lê Mẫn Đế (Chiêu Thống), lúc đầu thì có thế lựccủa nhà Trịnh (chúa Trịnh Bồng), lúc sau thì có thế lực của nhà Tây Sơn, trung ương cũng đã không kiểm soát được các địa phương

Các loạt đều có bốn chữ Chiêu Thống thông bảo đúc nổi và được đọc chéo Nhưng có một loạt thì chữ Thống viết là 綂, các loạt khác chữ Thống đều viết

là 統 Không rõ loạt chữ Thống viết là 綂 có phải là tiền do chính quyền đúc hay không

Loạt có chữ Thống viết là 綂 thì mặt sau để trơn, chỉ có viền gờ mép và lỗ Các loạt khác, loạt thì mặt sau có chữ Nhất (-) phía trên lỗ vuông, loạt thì có một nét sổ dọc trên lỗ, loạt thì có một vành trăng khuyết bên phải và một chấm tròn bên trái lô, loạt thì có hình bốn vành trăng khuyết xếp vòng tròn quanh lỗ, loạt thì có chữ Chính (正) hoặc chữ Chính và cả một chấm tròn, lại

có loạt thì có một chữ Sơn (山), loạt lại có hai chữ Sơn Nam, loạt thì có một chữ Trung (中), và có cả loạt có chữ Đại (大) Theo Đỗ Văn Ninh, thì chữ Chính chỉ kinh thành, chữ Sơn chỉ Sơn Tây, chữ Trung chỉ Trung đô phủ, chữ Đại chỉ Thanh Hóa

Đời Lê Thánh Tông có ông Lưu Xuân Tín người làng Châu Khê thuộc huyện Đông An, tỉnh Hải Dương đã tâu lên nhà vua xin mở sở đúc tiền và đúc vàng bạc thành thoi để dân chúng tiêu dùng cho tiện Vua sai ông mở sở đúc Khi ông mất, dân chúng dựng đền thờ ông tại làng Châu Khê coi ông như vị tổ nghề đúc thoi vàng bạc

Tóm lại, tiền tệ thời hậu Lê có những tiến bộ như sau :

+ Đồng tiền được đúc với chữ và dáng đẹp, dày dặn, mẫu mực

+ Hiện tượng pha chế thêm kim loại rẻ tiền chưa thành tệ nạn

+ Các đời vua dù thịnh hay suy đều đúc tiền

+ Vàng bạc đã thấy xuất hiện trong lĩnh vực tiền tệ

+ Tiền tệ được thống nhất sử dụng chung cho toàn lãnh thổ

Đã có việc đúc trộm tiền và đánh tráo tiền, Đại Việt sử ký toàn thư cho biết : (…nghiêm cấm việc loại bỏ tiền đồng vào tháng 2 năm Nhâm Ngọ 1462 –

Trang 38

sắc chỉ xử tội việc đúc trộm tiền đồng vào tháng 8 năm Giáp Thân 1464 – cấm đem tiền nguỵ đổi lấy tiền thuế vào tháng 5 năm kỷ sửu 1489)

Qua sưu tập tôi thấy rằng : Các đồng tiền được đúc vào triều nhà Lê có

những đặc điểm rất riêng biệt và được xem là những mẫu tiền đẹp nhất

Chứng tỏ việc đúc tiền vào thời gian này rất nghiêm cẩn Tuy nhiên, vẫn có những đồng tiền dày hơn những đồng khác một cách đáng ngờ cần có thời gian tìm hiểu thêm

2.2.8.Tiền nhà Mạc

Năm 1527 Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê nên không được dân chúng ủng hộ và bị nhiều phe phái núp dưới chiêu bài khôi phục triều đại chính thống nên cục diện Nam - Bắc Triều xuất hiện Nhà Mạc thống trị vùng Bắc

Bộ gọi là Bắc Triều, họ Trịnh và vua Lê nắm quyền hành vùng Thanh Hoá trở vào là Nam Triều Đôi bên đều có đúc tiền cho lưu hành vùng của mình

để chứng tỏ triều đại mình hiện diện

Tình trạng nhiều loại tiền lưu hành song song, tiền do đối phương đúc bị coi

là tiền nguỵ và không đuợc phép tiêu dùng Luật thì như vậy nhưng việc tiêu tiền trong nhân dân kể cả chính quyền thống trị có hiện tượng rất dễ dãi Người ta coi bất cứ một đồng tiền tròn lỗ vuông nào có in chữ trên đó là đồngtiền giá trị Nếu có hiện tượng chọn lựa là vì có những đồng tiền đúc xấu, gãy, vỡ hoặc đúc bằng kim loại kém chất lượng thôi

Vì bị coi là nguỵ triều nên lịch sử triều Mạc chỉ được phụ chép một cách sơ lược trong các bộ sử cũ Về tiền tệ đời Mạc cũng bị chép sơ sài, nhưng thực

tế cũng cho thấy vào thời Nam - Bắc Triều, hai bên đều cho đúc tiền với số lượng không đáng kể vì kinh tế sút kém và vì an ninh hai vùng

Tiền thời Mạc đúc kém hơn tiền nhà Lê về kỹ thuật chất lượng nhưng mang dáng dấp, phong cách của tiền nhà Lê

- Minh Đức thông bảo, Minh Đức nguyên bảo

Đây là các tiền kim loại do Mạc Thái Tổ phát hành Đại Việt sử ký toàn thư

có nhắc đến việc này

Minh Đức thông bảo có hai loạt Loạt thứ nhất bằng đồng được bắt đầu đúc

từ năm 1528 Mặt trước có bốn chữ Minh Đức thông bảo đúc nổi đọc chéo Mặt sau có hai chữ Vạn Tuệ đúc nổi Loạt này có kích thước lớn, đường kính

từ 23 đến 24,5 mm, dày dặn

Trang 39

Loạt thứ hai đúc bằng kẽm Kích thước vẫn như loạt trước Mặt sau không còn chữ vạn tuế mà thay vào đó là một vành khuyết nổi ở bên phải và một chấm tròn ở bên trái.

Minh Đức nguyên bảo làm bằng sắt Sách sử Việt Nam không nhắc đến tiền này, nhưng Đại Việt sử ký toàn thư cho biết Mạc Đăng Dung có cho pha kẽmvào khi đúc tiền rồi sau lại cho đúc tiền bằng sắt Khảo cổ học Việt Nam không phát hiện ra di vật, song Lacroix có công bố một mẫu vật tiền này, mặttrước có bốn chữ Minh Đức nguyên bảo đọc vòng tròn, mặt sau không có chữhay hình gì

Minh Đức Thông bảo

Minh Đức nguyên bảo

- Đại Chính thông bảo

Các sử liệu cũ của Việt Nam không đề cập đến việc Mạc Thái Tông phát hành tiền Tuy nhiên khảo cổ học đã phát hiện ra loại tiền kim loại bằng đồngmang niên hiệu Đại Chính của ông Mặt trước tiền nổi bốn chữ Đại Chính thông bảo đọc chéo Mặt sau để trơn Tiền đúc không đẹp, đường kính

khoảng 22 mm

Trang 40

Đại Chính Thông bảo

- Quảng Hòa thông bảo

Mạc Phúc Hải làm vua từ năm 1541 đến năm 1546 và chỉ có một niên hiệu làQuảng Hòa Sử liệu không ghi vị vua nhà Mạc này có cho đúc tiền hay

không, song khảo cổ học phát hiện ra di vật tiền Quảng Hòa thông bảo Tiền này có hơn một loạt nhưng đều đúc bằng đồng và bốn chữ Quảng Hòa thông bảo đọc chéo ở mặt trước, mặt sau để trơn Có loạt thì các chữ này được viết chân phương Có loạt thì những chữ này lại được viết theo lối chữ triện

- Quảng Bửu thông bảo

-Vĩnh Định thông bảo, Vĩnh Định chí bảo

Vĩnh Định là niên hiệu đầu tiên trong ba niện hiệu của Mạc Phúc Nguyên, bắtđầu từ năm 1547 Khảo cổ học đã tìm thấy tiền Vĩnh Định thông bảo đúc bằng đồng có đường kính chừng 21,5 mm Mặt trước có bốn chữ Vĩnh Định thông bảo viết chéo Mặt sau để trơn, nhưng gờ mép và gờ lỗ có viền nổi.Ngoài ra còn có tiền Vĩnh Định chí bảo có kiểu dáng như Vĩnh Định thông bảo, khác ở chỗ chữ chí viết theo lối chữ thảo và mặt sau không có viền gờ mép và lỗ

Ngày đăng: 17/04/2016, 21:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w