1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề độc quyền tại Việt Nam

22 208 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 55,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tìm hiểu về độc quyền tự nhiên. a. Khái niệm. Độc quyền tự nhiên là tình trạng trong đó các yếu tố hàm chứa trong quá trình sản xuất đã cho phép hãng có thể liên tục giảm chi phí sản xuất khi quy mô sản xuất mở rộng, do đó đã dẫn đến cách tổ chức sản xuất hiệu quả nhất là chỉ thông qua một hãng duy nhất. b. Nguyên nhân dẫn đến độc quyền tự nhiên Một số ngành sản xuất có đặc điểm là những yếu tố hàm chứa trong quá trình sản xuất cho phép đạt được thu nhập giảm khi gia tăng một quá trình sản xuất hay nói cách khác chi phí trên mỗi đơn vị sản phẩm tăng nếu gia tăng một quá trình sản xuất. Khi đó một doanh nghiệp nhỏ cung cấp sản phẩm là cách sản xuất có hiệu quả nhất. Điều này có thể thấy ở các ngành dịch vụ như sản xuất và phân phối dịch vụ, cung cấp hàng hóa, giáo dục, y tế... Lấy ví dụ như ngành cung cấp dịch vụ: sẽ là có hiệu quả hơn nếu chỉ một doanh nghiệp cung cấp cho một vùng thay vì có hai doanh nghiệp cung cấp với hai hệ thống dịch vụ khác nhau. c. Tổn thất phúc lợi xã hội do độc quyền tự nhiên gây ra Do chi phí sản xuất ra một đơn vị sản phẩm tăng dần theo quy mô nên (chi phí biên) của doanh nghiệp độc quyền tự nhiên có xu hướng giảm và luôn thấp hơn chi phí sản xuất trung bình. Cũng do tối đa hóa doanh thu, doanh nghiệp trên thị trường sẽ cung ứng sản phẩm sao cho lợi nhuận biên bằng giá sản phẩm. Tại trạng thái đó sản lượng sẽ thấp hơn và giá cao hơn so với trạng thái cân bằng của thị trường cạnh tranh khi mà giá bán hay lợi ích biên bằng giá sản phẩm. Sự giảm sút sản lượng cũng gây ra tổn thất. Tuy nhiên nếu như trong trường hợp khác, khi bị điều tiết để sản xuất ở mức sản xuất hiệu quả, doanh nghiệp vẫn có lợi nhuận (tuy đã bị giảm xuống) thì trong trường hợp này, nếu sản xuất ở mức sản lượng không hiệu quả, doanh nghiệp luôn bị lỗ vì giá bán sản phẩm (bằng doanh thu biên) thấp hơn chi phí sản xuất.

Trang 1

b Nguyên nhân dẫn đến độc quyền tự nhiên

Một số ngành sản xuất có đặc điểm là những yếu tố hàm chứa trong quátrình sản xuất cho phép đạt được thu nhập giảm khi gia tăng một quá trìnhsản xuất hay nói cách khác chi phí trên mỗi đơn vị sản phẩm tăng nếu giatăng một quá trình sản xuất Khi đó một doanh nghiệp nhỏ cung cấp sảnphẩm là cách sản xuất có hiệu quả nhất Điều này có thể thấy ở các ngànhdịch vụ như sản xuất và phân phối dịch vụ, cung cấp hàng hóa, giáo dục, ytế Lấy ví dụ như ngành cung cấp dịch vụ: sẽ là có hiệu quả hơn nếu chỉmột doanh nghiệp cung cấp cho một vùng thay vì có hai doanh nghiệp cungcấp với hai hệ thống dịch vụ khác nhau

c Tổn thất phúc lợi xã hội do độc quyền tự nhiên gây ra

Trang 2

D = MB

P P1 P0

MR C

AC MC

A B

Do chi phí sản xuất ra một đơn vị sản phẩm tăng dần theo quy mô nên (chiphí biên) của doanh nghiệp độc quyền tự nhiên có xu hướng giảm và luônthấp hơn chi phí sản xuất trung bình Cũng do tối đa hóa doanh thu, doanhnghiệp trên thị trường sẽ cung ứng sản phẩm sao cho lợi nhuận biên bằnggiá sản phẩm Tại trạng thái đó sản lượng sẽ thấp hơn và giá cao hơn so vớitrạng thái cân bằng của thị trường cạnh tranh khi mà giá bán hay lợi ích biênbằng giá sản phẩm Sự giảm sút sản lượng cũng gây ra tổn thất Tuy nhiênnếu như trong trường hợp khác, khi bị điều tiết để sản xuất ở mức sản xuấthiệu quả, doanh nghiệp vẫn có lợi nhuận (tuy đã bị giảm xuống) thì trongtrường hợp này, nếu sản xuất ở mức sản lượng không hiệu quả, doanhnghiệp luôn bị lỗ vì giá bán sản phẩm (bằng doanh thu biên) thấp hơn chiphí sản xuất

Trang 3

d Những phương án cho vấn đề độc quyền

Chính phủ quy định cho doanh nghiệp một mức giá sao cho mức giá đókhông làm cho nhưng mặt hàng khác có giá tăng theo(tránh hiện tượngngoại ứng), tránh hiện tượng cùng một lúc hàng loạt mặt hàng tăng giá thì

sẽ gây nên bất ổn trong đời sông nhân dân Cách này xóa bỏ hoàn toàn đượcdoanh thu siêu ngạch của doanh nghiệp và giảm được đáng kể tổn thấtnhưng không loại trừ hoàn toàn được nó vì vẫn chưa đạt được mức sảnlượng hiệu quả

Chính phủ quy định cho doanh nghiệp một mức giá bằng chi phí sản xuất đểđạt mức sản lượng hiệu quả rồi bù đắp lỗ cho doanh nghiệp bằng một khoản

hỗ trợ (vd: cho vay với một lãi xuất thấp ) Biện pháp này hoặc sẽ gây méo

mó về giá cả nếu sử dụng loại thuế không phải thuế khoán hoặc sẽ làmngười đóng thuế thắc mắc nếu áp dụng thuế khoán

Doanh nghiệp sẽ định giá gồm những phần khác nhau: phần thứ nhất đưa ra

để phục vụ cho nhưng đối tượng khách hàng co nhu cầu cao đối với sảnphẩm đó, sau một thời gian doanh nghiệp sẽ giảm giá sản phẩm để có thểtăng thêm những đối tượng khách hàng tiềm năng, ví dụ điển hình về vấn đềnày như hãng điện thoại lớn nhất thế giới Nokia đã giảm giá đối với nhữngdòng diện thoại cao cấp để nhưng khách hàng khác có thể mua với một mứcgiá phù hợp hơn sau một thời gian bán giá cao cho những người có nhu cầu

Trang 4

2 Tìm hiểu về tái cấu trúc.

a Khái niệm:

Tái cấu trúc công ty là việc khảo sát, đánh giá lại cấu trúc hiện tại và đềxuất giải pháp cho mô hình cấu trúc mới Việc tái cấu trúc có thể làm thayđổi hoàn toàn bộ máy hoặc chỉ làm thay đổi một phần

e Thực trạng:

Hầu hết, các doanh nghiệp Việt Nam, cấu trúc công ty được hình thành mộtcách tự phát, thiếu khoa học, chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận, cá nhânkhông rõ ràng, chồng chéo, tính chuyên môn hoá không cao

f Hệ quả:

Một công ty chưa thiết lập đựơc một cấu trúc hợp lý có thể dẫn đến:

• Không khai thác tối đa tiềm năng sẵn có của công ty

• Khó xác định trách nhiệm khi có thiệt hại xảy ra

• Khó phát triển mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh

• Không thu hút và giữ chân được nhân tài

• Rủi ro tiềm tàng trong sản xuất kinh doanh sẽ rất cao

Kết luận:

Do đó, tái cấu trúc là việc làm tất yếu, mặc dù bên cạnh những mặt tích cực, thìchắc chắc vẫn sẽ tồn tại một vài mặt tiêu cực và hạn chế, song tái cấu trúc vẫnđược đánh giá là biện pháp hữu hiệu và lâu dài giúp các doanh nghiệp vượt quakhó khăn và phát triển

Trang 5

II NGUYÊN NHÂN PVN PHẢI TÁI CẤU TRÚC?

Trước hết, chúng ta có thể nhận thấy thực trạng các doanh nghiệp hiện nay:Hầu hết ở các doanh nghiệp Việt Nam, cấu trúc công ty được hình thành mộtcách tự phát, thiếu khoa học; chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận, cá nhânkhông rõ ràng, chồng chéo, lỏng lẻo; tính chuyên môn hóa không cao

Điều đó góp phần dẫn đến các doanh nghiệp Việt Nam đề xuất giải pháp cho

mô hình cấu trúc mới Vậy nguyên nhân sâu xa vì sao các doanh nghiệp nhànước (DNNN) nói chung hay cụ thể PVN nói riêng phải tái cấu trúc:

Trang 6

1 Tình hình tài chính:

Tình hình tài chính tại các DNNN chưa đảm bảo được các yêu cầu về antoàn tài chính, tiềm tàng nhiều nguy cơ rủi ro và đổ vỡ một khi kinh doanhkhông hiệu quả Về cơ cấu nợ,khối DNNN chiếm một tỷ trọng lớn trongtổng dư nợ của hệ thống các tổ chức tín dụng

Theo đề án tái cấu trúc DNNN của Bộ Tài chính, đến tháng 9/2011, dư nợvay ngân hàng của các DN này là 415.347 tỷ đồng, chiếm 16,9% tổng dư nợtín dụng, trong đó, riêng dư nợ của 12 TĐKT lớn đã lên đến 218.738 tỷđồng, chiếm 8,76% tổng dư nợ toàn ngành ngân hàng và chiếm 52,66% dư

nợ cho vay khối DNNN +Dẫn đầu là Tập đoàn Dầu khí (72.300 tỷ đồng);Tập đoàn Điện lực (62.800 tỷ đồng)

3 Hoạt động kém hiệu quả, kém năng động:

Mặc dù được hình thành sớm và được hưởng nhiều ưu thế trong việc sửdụng các nguồn lực về tài nguyên, đất đai, tiền vốn và lao động so với cáckhu vực sở hữu khác, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài, song hiệu quả hoạt động kinh doanh thì kém hơn hẳn

Số liệu về Kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt nam

2007 - 2009 qua Điều tra của Tổng cục Thồng kê cho thấy, tỷ suất lợi nhuậntrên vốn sản xuất kinh doanh của các DNNN các năm 2007 – 2009 là giaođộng trong khoảng 3,5 – 4,3%, trong khi đó các doanh nghiệp FDI là trongkhoảng 9,1 – 11,7% Còn tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của các DNNNgiai đoạn 2007 – 2009 là từ 6,3 – 8,2%, thấp hơn các doanh nghiệp FDI vớimức là 10,6 – 13,1% Điều đó cho thấy hiệu quả hoạt động của các DNNNchỉ bằng khoảng 50% so với các doanh nghiệp FDI

4 Biểu hiện của dấu hiệu độc quyền trong kinh doanh.

Trang 7

Với ưu thế được thành lập từ trước, cho nên, nhiều doanh nghiệp lớn trongmột số các lĩnh vực kinh doanh có những biểu hiện của tình trạng độcquyền Petrolimex chiếm tới 60% thị phần xăng dầu cả nước Tình trạngđộc quyền trong sản xuất kinh doanh đã làm méo mó thị trường, gây thiệthại lớn tới quyền lợi của người tiêu dùng cũng như lợi ích của nhà nước,hạn chế sự phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế

5 Cơ cấu tổ chức lạc hậu

Do công tác tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh chậm được đổi mới, nhiềudoanh nghiệp chưa bắt kịp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, còn có tưtưởng ỉ lại vào nhà nước, sử dụng nguồn tài nguyên, vốn còn lãng phí:Trong thời gian vừa qua, nhiều tập đoàn, tổng công ty sử dụng vốn đầu tưrất dàn trải, đầu tư ngoài ngành thiếu thận trọng vào những lĩnh vực có rủi

ro lớn (thị trường tài chính, bất động sản…) gây thất thoát vốn và tài sảncủa nhà nước, nợ xấu ngày càng có xu hướng tăng lên Các tổ chức, đơn vịsản xuất kinh doanh dưới sự bảo trợ của nhà nước vẫn còn có tư tưởng vì lợiích nhóm mà bỏ qua lợi ích của toàn bộ nền kinh tế thông qua việc đề nghịChính phủ quyết định tăng giá bán một số sản phẩm thuộc diện quản lý giácủa nhà nước, đòi được hưởng một số những trợ cấp, ưu đãi trong sản xuấtkinh doanh hoặc tiếp tục xuất khẩu những sản phẩm mà trong thời gian tớiViệt nam phải nhập khẩu…

Phát biểu tham luận về tái cấu trúc, Phó tổng giám đốc PVN Lê Minh Hồngnhận định: Phải cổ phần hóa vì: một số đơn vị đầu tư dàn trải, ra ngoàingành; lĩnh vực kinh doanh của một số đơn vị chồng chéo, trùng lắp; công

ty mẹ của một số tổng công ty yếu kém; năng lực quản trị và sức cạnh tranhkhông cao

Trang 8

III MỤC TIÊU MÀ PVN ĐỀ RA TRONG VIỆC TÁI CẤU TRÚC.

Sắp xếp tổ chức lại bộ máy, các lĩnh vực kinh doanh, vốn, nâng cao nănglực quản trị để các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn

Việc tái cấu trúc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN) hướng tới sựminh bạch, công khai hoạt động sản xuất kinh doanh, tổng nguồn vốn, tổngthu, lợi nhuận, báo cáo kiểm toán hàng năm… và sẵn sàng tiếp nhận sựcạnh tranh sòng phẳng Đó là khẳng định của Chủ tịch Hội đồng thànhviên PVN Phùng Đình Thực trong cuộc trao đổi với phóng viên CổngThông tin điện tử Chính phủ

Đặc biệt, trong quá trình thực hiện tái cấu trúc, PVN phải rà soát lại vấn đềquản trị doanh nghiệp, nhất là quản trị nội bộ từ công ty mẹ đến từng đơn vịthành viên Về mặt tài chính, PVN cần rà soát lại các dự án đầu tư, thựchiện thoái vốn theo lộ trình cụ thể với các lĩnh vực: ngân hàng, bảo hiểm,chứng khoán, bất động sản Trong điều kiện thị trường chứng khoán nhưhiện nay, việc thoái vốn này sẽ không dễ nhưng PVN cần tìm ra lộ trình hợp

lý để tái cấu trúc tài chính trước năm 2015

Tái cấu trúc để nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và phát triển bền vững;tiếp tục giữ vững vị trí Tập đoàn mạnh số 1 của Việt Nam và phấn đấu trong

5 năm tới là Tập đoàn kinh tế mạnh trong khu vực, có tốc độ tăng trưởngbình quân 18-20%/năm

IV BIỆN PHÁP TÁI CẤU TRÚC TẬP ĐOÀN PVN

1 Một số đánh giá cũng như phương hướng của chính phủ.

Trang 9

Thời gian qua, DNNN thể hiện vai trò hết sức quan trọng đối với phát triểnkinh tế - xã hội đất nước Trong thời kỳ khủng hoảng tài chính và suy thoáikinh tế toàn cầu, TÐKT, TCTNN vẫn duy trì hoạt động và đóng góp quantrọng thực hiện nhiệm vụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước trong nhiều lĩnh vựcnhằm ổn định kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội Tuy nhiên, cũng phảithẳng thắn nhìn nhận, hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh của DNNN cònhạn chế Trong tổng thể tái cấu trúc nền kinh tế, tái cấu trúc DNNN đượcxác định là khó khăn nhất, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế gặp khó khăn,

hệ thống tài chính quốc gia chưa đủ mạnh để hỗ trợ hữu hiệu cho việc sắpxếp, cơ cấu lại DN Việc nhận thức đầy đủ và thống nhất hành động của cả

hệ thống chính trị đối với tái cấu trúc nền kinh tế không phải dễ dàng Chiphí tái cấu trúc có thể phát sinh lớn sẽ là gánh nặng đối với nền kinh tế,nhiều khả năng làm tăng thêm nợ công, nếu không có phương án xử lý tốt Bên cạnh khó khăn, thách thức, tái cấu trúc DNNN cũng có những thuận lợi

cơ bản Ðây là một trong những mục tiêu, chiến lược quan trọng, đã chínmuồi, đã được Ðại hội Ðảng lần thứ XI thông qua Mặt khác, hệ thống các

hạ tầng thông tin, kinh tế - kỹ thuật, tài chính cũng như thể chế đang dầnhoàn thiện; nhiều công cụ tài chính mới đã góp phần giảm bớt khó khăn chotiến trình tái cấu trúc, Việc tái cấu trúc nhất quán theo quan điểm DNNN

là công cụ quan trọng giúp Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế Tái cấutrúc phải làm cho DNNN mạnh hơn, thật sự trở thành nòng cốt, góp phần đểkinh tế Nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa Tái cấu trúc phải thực hiện trên cả phương diện vĩ

mô và vi mô, đồng thời gắn với tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới mô hìnhtăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô, phù hợp chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội giai đoạn 2011-2020

Trang 10

Mục tiêu đặt ra cho giai đoạn 2011-2015 là các tập đoàn, tổng công ty (TĐ,TCT) sẽ là những đơn vị đi đầu trong quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhànước (DNNN) Thời gian không còn nhiều, bởi vậy chặng đường tái cơ cấucần phải tiếp tục được đẩy mạnh.

Theo số liệu báo cáo của các bộ, ngành, địa phương và các TĐ, TCT gửi về

Bộ Tài chính, tính đến 31/10/2013, đã có 83/91 TĐ, TCT (không bao gồm

18 TCT thuộc Bộ Quốc phòng) xây dựng Đề án tái cơ cấu, trong đó có 63doanh nghiệp (DN) đã được phê duyệt Đề án gồm 57 DN thuộc Trungương, 6 DN thuộc địa phương Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 17

DN gồm: 8 TĐ (Dệt may Việt Nam, Điện lực Việt Nam, Than Khoáng sảnViệt Nam, Dầu khí Việt Nam, Hóa Chất, Cao su Việt Nam, Công nghiệpTàu thuỷ Việt Nam, Viễn thông Quân đội), 9 TCT đặc biệt (TCT Giấy,Thuốc lá, Lương thực Miền Bắc, Lương thực Miền Nam, Cà phê, Hàng hải,Hàng không, Đường sắt, Xi măng); Bộ chủ quản phê duyệt 40 DN; UBNDcấp tỉnh, thành phố phê duyệt 6 TCT (ngoài ra, UBND các tỉnh, thành phốcũng đã phê duyệt đề án tái cơ cấu của 51 công ty TNHH MTV trực thuộc).Các TĐ, TCT cũng đã triển khai những giải pháp nhằm sửa đổi, bổ sung vàhoàn thiện hệ thống quy chế quản lý nội bộ; Sắp xếp lại cơ cấu tổ chức, bộmáy quản lý, điều hành; Rà soát việc xây dựng, triển khai thực hiện các quychế, quy định về giám sát, kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật, thựchiện mục tiêu, kế hoạch và nhiệm vụ được giao, đánh giá hiệu quả hoạtđộng của công ty con, công ty liên kết theo quy định Đặc biệt là triển khainghiên cứu, bổ sung các chính sách quản trị nhân sự hiện đại, phù hợp vớitái cơ cấu DN, nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế hiện nay về cơ cấunguồn nhân lực và công cụ quản lý nguồn nhân lực, đảm bảo việc quản lýnguồn nhân lực thống nhất theo định hướng chung toàn TĐ, TCT

Trang 11

6 Các biện pháp cụ thể để tái cấu trúc tập đoàn PVN.

Như ở phần nguyên nhân đã trình bày tập đoàn “hoạt động kém hiệu quả,kém năng động”.Mặc dù được hình thành sớm và được hưởng nhiều ưu thếtrong việc sử dụng các nguồn lực về tài nguyên, đất đai, tiền vốn và laođộng so với các khu vực sở hữu khác, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài, song hiệu quả hoạt động kinh doanh thì kém hơn hẳn.Chính vì lý do đó tập đoàn phải có những cách thức tổ chức năng động, tăngnăng lực cạnh tranh ở trong nước và quốc tế, đạt hiệu quả cao trong sản xuấtkinh doanh bằng cách tối ưu hóa mọi nguồn lực sẵn “chỉ khi biết tận dụngnguồn lực thì ta mới có thể đạt được hiệu quả cao nhất”

Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) đã thực hiện sắp xếp lại Công

ty Mẹ và các đơn vị thành viên, Công ty Mẹ - Tập đoàn Dầu khí Việt Nam

đã chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhànước làm chủ sở hữu Đến nay Tập đoàn đã cổ phần hóa thành công hơn 20tổng công ty, công ty, trong đó có nhiều doanh nghiệp quy mô lớn, đặc biệt

là chuyển đổi mô hình hoạt động của Liên doanh Dầu khí Việt - NgaVietsovpetro mà trước đây hoạt động theo mô hình hợp tác liên chính phủ,

để tiếp tục phát triển mạnh mẽ và hiệu quả hơn nữa đã được chuyển đổihoạt động rộng hơn và theo Luật Doanh nghiệp

Trang 12

Trong năm 2013, Tập đoàn đã triển khai thực hiện các nội dung tái cấu trúctrực tiếp của Công ty Mẹ - Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (chuyển các dự ántìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí từ PVEP về Công ty Mẹ trực tiếp quản

lý, chuyển Chi nhánh PV Coal về PVP, triển khai các thủ tục tái cấu trúcCông ty CP Cảng Phước An thuộc Công ty Mẹ, báo cáo Bộ Giáo dục vàĐào tạo, Bộ Công Thương về Đề án thành lập Học viện Dầu khí ViệtNam ), cơ bản hoàn thành phê duyệt và chỉ đạo người đại diện Tập đoàntriển khai phương án tái cấu trúc giai đoạn 2012-2015 cho các đơn vị; thànhlập Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại chúng Việt Nam trên cơ sở hợpnhất giữa Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam và Ngânhàng Thương mại cổ phần Phương Tây sau khi được Ngân hàng Nhà nướccấp phép và đã tổ chức ra mắt vào ngày 3/10/2013

Công ty Mẹ - Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã làm tốt vai trò điều hành vàtrực tiếp sản xuất kinh doanh, kết quả đã đạt được là toàn Tập đoàn đã hoànthành vượt mức kế hoạch toàn diện tất cả các chỉ tiêu nhiệm vụ được giao

kể cả về số tuyệt đối, số tương đối và về thời gian Các chỉ tiêu kế hoạch đạtđược trong năm 2013 đã khẳng định hoạt động của Công ty Mẹ - Tập đoànDầu khí Việt Nam hiệu quả, với cơ cấu vốn đảm bảo an toàn cho sản xuấtkinh doanh và đầu tư cũng như phát triển bền vững của Tập đoàn

Ngày đăng: 17/04/2016, 21:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w