1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tập trung kinh tế xu hướng và những vấn đề đặt ra tại Việt Nam

102 508 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tập trung kinh tế xu hướng và những vấn đề đặt ra tại Việt Nam
Tác giả Lê Thanh Mai
Người hướng dẫn ThS. Ngô Quý Nhâm
Trường học Trường Đại Học Ngoại Thương
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 772,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tập trung kinh tế xu hướng và những vấn đề đặt ra tại Việt Nam

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH CHUYÊN NGÀNH KINH DOANH QUỐC TẾ

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ TẬP TRUNG KINH TẾ VÀ KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ 3

I Khái quát về tập trung kinh tế 3

1 Nguyên nhân 3

2 Mục đích của tập trung kinh tế 7

II Khái niệm và các hình thức tập trung kinh tế 7

1 Khái niệm tập trung kinh tế 7

2 Đặc điểm pháp lý của tập trung kinh tế 9

3 Các hình thức tập trung kinh tế 10

III Tác động của tập trung kinh tế đối với môi trường cạnh tranh 15

1 Tác động tích cực 15

2 Tác động tiêu cực 17

IV Kiểm soát tập trung kinh tế 20

1 Sự cần thiết phải kiểm soát tập trung kinh tế 20

2 Quy định về kiểm soát tập trung kinh tế tại một số quốc gia 23

2.1 Kiểm soát tập trung kinh tế tại Hoa Kỳ 23

2.2 Kiểm soát tập trung kinh tế tại Pháp 24

2.3 Kiểm soát tập trung kinh tế tại Đức 25

2.4 Pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam 26

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TẬP TRUNG KINH TẾ ĐẶT RA TẠI VIỆT NAM 29

I Thực trạng tập trung kinh tế tại Việt Nam 29

1 Về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp 30

2 Về việc tập trung kinh tế thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán 32

3 Về liên doanh 34

Trang 3

4 Về hợp nhất 34

5 Về thành lập tổng công ty 35

6 Về thành lập tập đoàn kinh tế 36

7 Các ngành có mức độ tập trung kinh tế cao nhất 38

II Những vấn đề về tập trung kinh tế đặt ra tại Việt Nam 39

1 Xác định ranh giới giữa tập trung kinh tế bị cấm và quyền tự do thành lập, đổi mới doanh nghiệp 39

2 Về cơ sở pháp lý cho tập trung kinh tế 39

3 Vấn đề liên quan đến tiêu chí thị phần 40

4 Về thông báo tập trung kinh tế 41

5 Về loại tập trung kinh tế 42

6 Hệ thống thông tin chưa hoàn thiện 44

7 Bộ máy quản lý nhà nước về tập trung kinh tế ở Việt Nam 45

8 Vấn đề về tập trung kinh tế thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán 45

9 Vấn đề hình thành tập đoàn kinh tế 46

10 Vấn đề về liên doanh 48

11 Về các trường hợp miễn trừ 49

12 Tác động từ vấn đề hiệu lực không gian trong Luật Cạnh tranh 50

CHƯƠNG 3 XU HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM 51

I Xu hướng tập trung kinh tế trên Thế giới 51

II Xu hướng tập trung kinh tế tại Việt Nam 53

1 Tập trung kinh tế không ngừng phát triển 53

2 Hoạt động mua bán và sáp nhập có yếu tố nước ngoài sẽ tăng mạnh 56

3 Các vụ tập trung kinh tế nằm trong ngưỡng phải thông báo hoặc bị cấm đã bắt đầu xuất hiện và có xu hướng gia tăng 58

III Một số giải pháp nhằm kiểm soát tập trung kinh tế một cách hiệu quả 59

Trang 4

1 Giải pháp về chính sách và thiết chế kiểm soát tập trung kinh tế 59

1.1 Về chính sách và môi trường pháp lý 59

1.1.1 Xác định ranh giới hợp lý và hợp pháp đối với tập trung kinh tế 59

1.1.2 Minh bạch và đơn giản hoá các thủ tục 60

1.1.3 Hoàn thiện một khung pháp lý thống nhất 61

1.1.4 Giải quyết khó khăn trong việc kiểm soát các trường hợp tập trung kinh tế theo tiêu chí thị phần 62

1.1.5 Tăng cường kiểm soát các hành vi tập trung kinh tế theo chiều dọc và khối (conglomerate) 64

1.1.6 Sửa đổi bổ sung quy định về hiệu lực không gian 65

1.2 Về thiết chế kiểm soát tập trung kinh tế 65

1.2.1 Nghiên cứu và dự đoán những lĩnh vực và doanh nghiệp có khả năng xảy ra hiện tượng tập trung kinh tế 65

1.2.2 Tiếp tục tuyên truyền phổ biến sâu rộng pháp luật cạnh tranh và các quy định về tập trung kinh tế 66

1.2.3 Tăng cường thẩm quyền và nâng cao tính độc lập của cơ quan quản lý cạnh tranh 66

1.2.4 Tăng cường hợp tác quốc tế 67

2 Các đề xuất đối với doanh nghiệp 68

KẾT LUẬN 70

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72 PHỤ LỤC

Trang 5

Công ty CPTĐ Công ty cổ phần tập đoàn

Công ty TNHH Công ty trách nhiệm hữu hạn

HĐQT Hội đồng quản trị

NHTM Ngân hàng thương mại

NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần

WTO – World Trade

Organization Tổ chức Thương mại Thế giới

EU Liên minh châu Âu

EC – European Commission Ủy ban châu Âu

ECMR – European Commission

Merger Regulation

Các văn bản pháp luật của Ủy ban châu Âu

về tập trung kinh tế VCA – Vietnam Competition

Authority Cục Quản lý cạnh tranh Việt Nam

CR3 – Concentration Ratio 3 Tỷ lệ tập trung mức 3

M&A Mua bán, sáp nhập

UBCKNN Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

HRS - Hart-Scott-Rodino Đạo luật nâng cao chống độc quyền

Hart-Scoot-Rodino

Trang 6

IPO – Initial Public Offering Chào bán chứng khoán lần đầu tiên ra

công chúng TKV Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam

EVN Telecom Tập đoàn Điện lực Việt Nam (tên giao

dịch quốc tế là Vietnam Electricity)VNPT Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam

FPT Công ty cổ phần Phát triển Đầu tư Công

nghệ FPT FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

VND Việt Nam Đồng (đơn vị tiền tệ của Việt

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nếu không xét trên bình diện nền kinh tế toàn cầu đang chững lại vì khủng hoảng tài chính xảy ra thời gian qua, thì có thể thấy những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng mạnh mẽ Việt Nam đã trở thành địa điểm đầu tư hấp dẫn, thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, nhất là từ khi trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Việc cải cách thể chế kinh tế, trong đó có cải cách khu vực doanh nghiệp đã tạo ra môi trường thông thoáng, thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp để đổi mới hình thức tổ chức kinh doanh và thích ứng với thay đổi của thị trường, đáp ứng các yêu cầu về hội nhập Một trong những hình thức có xu hướng ngày càng tăng trong nền kinh tế nước ta là hoạt động tập trung kinh tế

Hoạt động tập trung kinh tế ít nhiều đều có tầm ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, cho dù hoạt động này diễn ra ở các nước phát triển hay đang phát triển Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống nội dung của hoạt động tập trung kinh tế và nghiên cứu vấn đề kiểm soát hoạt động này là rất cần thiết, nhất là trong thời điểm hiện nay, khi xu hướng tập trung kinh tế đang diễn

ra dưới nhiều góc độ, nhiều hình thức đa dạng

Xuất phát từ nhu cầu đó, em đã chọn chủ đề “Tập trung kinh tế: xu hướng và những vấn đề đặt ra tại Việt Nam” làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở đó, khoá luận hướng đến những mục đích cơ bản sau:

- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động tập trung kinh tế dưới giác độ của Luật cạnh tranh

- Phân tích những vấn đề đặt ra đối với hoạt động tập trung kinh tế tại Việt Nam hiện nay và những ảnh hưởng của tập trung kinh tế đến cạnh tranh trên thị trường

- Đề xuất những giải pháp kiểm soát nhằm giảm thiểu những tác động bất lợi đối với cạnh tranh của tập trung kinh tế

Trang 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là hoạt động tập trung kinh tế dưới giác

độ của pháp luật cạnh tranh

Phạm vi nghiên cứu: Khoá luận tập trung nghiên cứu tập trung kinh tế trên thực tế cũng như những quy định pháp luật về tập trung kinh tế trong Luật cạnh tranh năm 2004 tại Việt Nam Ngoài ra, khoá luận còn tìm hiểu một số các quy định pháp luật ở các nước khác như Hoa Kỳ, Pháp, Đức,…về tập trung kinh tế

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành khoá luận, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm phương pháp nghiên cứu thống kê, dự báo, phân tích - tổng hợp, đối chiếu, so sánh Các số liệu trong khoá luận tổng hợp từ các tài liệu nghiên cứu đã được thực hiện

5 Kết cấu của khoá luận

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bố cục của khoá luận bao gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về tập trung kinh tế và kiểm soát tập

trung kinh tế

Chương 2: Thực trạng và những vấn đề về tập trung kinh tế

đặt ra tại Việt Nam

Chương 3: Xu hướng và một số giải pháp kiểm soát tập trung

kinh tế tại Việt Nam

Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS Tăng Văn Nghĩa, người đã nhiệt tình hướng dẫn em viết khóa luận, đồng thời em cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Quản trị kinh doanh đã tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt khoá luận này

Sinh viên thực hiện

Ngô Thị Hoàng Ngân

Trang 9

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ TẬP TRUNG KINH TẾ

VÀ KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ

I Khái quát về tập trung kinh tế

Bên cạnh đó, mục đích của các doanh nghiệp bao giờ cũng là mở rộng và phát triển hơn trong việc kinh doanh trên thị trường nhằm tăng lợi nhuận Do vậy, các chủ thể tham gia cạnh tranh thường có xu hướng sáp nhập lại với nhau vừa để làm bàn đạp chinh phục thị trường mới vừa để có thể tập trung về nguồn lực, về vốn

và các yếu tố khác trong quá trình tái sản xuất Trong một vài trường hợp, các doanh nghiệp nhỏ có kế hoạch mở rộng thị trường nhưng lại bị các hàng rào về tài chính cũng như thanh danh, uy tín cản trở Cho nên, những doanh nghiệp này chủ động tìm kiếm các đối tác lớn hơn để có những khoản vốn đầu tư cần thiết Và đến một lúc nào đó, biện pháp sáp nhập sẽ là phương án được ưu tiên hàng đầu Mặt khác, các doanh nghiệp luôn có xu hướng tăng quy mô để giảm chi phí sản xuất hàng hoá Họ nhận ra rằng thông qua tập trung kinh tế, họ mới có điều kiện tập trung hơn vào nghiên cứu phát triển sản phẩm phục vụ cho việc cạnh tranh trên thị trường, hoặc tạo ra được mô hình kinh doanh lớn có thể tăng số lượng bán ra để bù đắp cho phần lợi nhuận giảm đi vì phải đầu tư cho nghiên cứu, hoặc tự bảo vệ trước nguy cơ bị nắm quyền kiểm soát tài chính bởi một tập đoàn khác Ví dụ như tập đoàn HP đã thể hiện rõ mục tiêu này khi sáp nhập với Compaq Thông qua vụ sáp nhập, riêng trong những tháng đầu tiên, HP đã tiết kiệm được gần 700 triệu USD

Trang 10

Một năm sau ngày chính thức sáp nhập, tập đoàn HP đã giảm được khoản chi phí lên tới 3,5 tỉ USD Bởi vậy, tiết kiệm chi phí là một trong những yếu tố khá quan trọng khiến cho nhu cầu tập trung kinh tế hình thành Và ngoài ra, còn có nhiều vụ sáp nhập mang tính chất phòng thủ, phản ứng lại các cuộc sáp nhập khác đang được tiến hành mà trong tương lai có thể đe doạ đến vị trí cạnh tranh của một công ty

Thực tế cho thấy, từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nhờ tác động của tiến

bộ khoa học kỹ thuật, lực lượng sản xuất phát triển nhanh hơn thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, việc hình thành các xí nghiệp có quy mô lớn cũng diễn

ra nhanh hơn Giai đoạn này đã đánh dấu thời kỳ đỉnh cao trong quá trình tập trung

tư bản của nền kinh tế thế giới cùng sự phát triển với tốc độ “nóng” của các cường quốc mới nổi như Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản Đây là thời kỳ vẫn được coi là chuyển giao từ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền với sự hình thành của các tập đoàn công nghiệp khổng lồ (trust, consortium) Đó chính là làn sóng đầu tiên về mua bán sáp nhập trên thế giới được nhận biết một cách rõ nét Cuộc Đại sáp nhập này (1895-1905) bắt nguồn từ tình trạng khủng hoảng thừa năm

1893 khi lượng cầu suy yếu kéo theo giá tiêu dùng giảm mạnh Đứng trước nguy cơ này, hàng loạt công ty Mỹ đã thực hiện sáp nhập ngang nhằm tạo ra những dây chuyền sản xuất khổng lồ PepsiCo mua 80% cổ phần nước uống hoa quả Sandora LLC Ucraina, 542 triệu USD, tối đa hóa hiệu suất lao động, khai thác lợi thế kinh tế nhờ quy mô nhằm giảm thiểu chi phí trên đơn vị sản phẩm Với quy mô sản xuất và quyền lực thị trường mới sau sáp nhập, họ hy vọng sẽ kìm hãm được tốc độ giảm giá, và duy trì lợi nhuận trên nền tảng chi phí tối thiểu Họ cũng hiểu rằng với góc

độ là doanh nghiệp lớn, mạnh, họ sẽ tìm cách thôn tính các doanh nghiệp nhỏ, yếu hơn để tăng vốn và trình độ tập trung hoá sản xuất cũng như nâng cao vị thế của mình trên thương trường bằng cách nhận sáp nhập hoặc mua lại các công ty con Họ

có thể mua toàn bộ hoặc mua một phần công ty đủ để nắm quyền kiểm soát và chi phối các công ty bị thôn tính Nhưng ở một khía cạnh khác, trước nguy cơ bị thôn tính do sức ép cạnh tranh của các công ty lớn, các công ty nhỏ để tăng khả năng sản xuất nhằm cạnh tranh với các công ty lớn thường có xu hướng liên kết nhau lại Các công ty này tự nguyện đàm phán, sáp nhập, hợp nhất thành một công ty mới lớn hơn

Trang 11

hoặc liên kết xung quanh một công ty đầu đàn Kết quả của quá trình tích tụ và tập trung sản xuất này là hàng loạt tổ chức độc quyền ra đời Quá trình này đặc biệt phát triển mạnh vào những năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai khi một số quốc gia khuyến khích việc thành lập, sáp nhập, hợp nhất, mua lại doanh nghiệp để hình thành các công ty lớn Làn sóng hợp nhất mạnh mẽ chưa từng có đã diễn ra và hình thành các tập đoàn tư bản độc quyền cực lớn Rất nhiều tập đoàn hùng mạnh phát triển bằng con đường này như General Motor (Mỹ), Samsung (Hàn Quốc), Mitshubishi (Nhật Bản) …

Như vậy, tự do cạnh tranh là cội nguồn dẫn đến tập trung sản xuất Sự tích tụ

và tập trung sản xuất phát triển đến mức độ nhất định sẽ dẫn đến độc quyền Có thể nói tập trung kinh tế là kết quả của quá trình tích tụ và tập trung tư bản, là nhu cầu của nền sản xuất hàng hoá và cạnh tranh trên thị trường Tuy nhiên không phải sự tích tụ, tập trung sản xuất nào cũng dẫn đến tập trung kinh tế Ví dụ cartel là thoả thuận kinh tế giữa các công ty để thống nhất về giá cả, thị trường tiêu thụ sản phẩm, quy cách hàng hoá… nhưng không hình thành bộ máy quản lý thống nhất, do vậy không phải là tập trung kinh tế1

Quá trình tập trung kinh tế đã và đang diễn ra trên khắp thế giới, ở các nước kinh tế phát triển cũng như ở các nước đang phát triển

Ở Việt Nam, hình thức tập trung kinh tế đầu tiên xuất hiện là các Tổng công

ty 90, 91; sau đó việc sáp nhập, hợp nhất các loại hình doanh nghiệp trở nên phổ biến hơn; rồi gần đây xuất hiện hình thức công ty mẹ - công ty con, mô hình tập đoàn

Một cách khái quát, tập trung kinh tế xuất hiện khi các doanh nghiệp tham gia muốn nâng cao sức cạnh tranh của mình trên thị trường, muốn dành được lợi thế hơn so với các chủ thể khác Tập trung kinh tế có thể về vốn, kỹ thuật, công nghệ,… nhằm mục đích khai thác lợi thế về quy mô, giảm chi phí Trong các giai đoạn của thị trường, tập trung kinh tế luôn xuất hiện từ những cơ sở kinh tế cơ bản sau:

Thương - Khoa Quản trị kinh doanh, Hà Nội 2008, tr 82

Trang 12

Một là, do sức ép của cạnh tranh trong đời sống kinh doanh Có hai mức độ tập trung có thể xảy ra là: các nhà kinh doanh tìm mọi cách với thời gian ngắn nhất

để có được vị trí cạnh tranh tối ưu trên thị trường, và các doanh nghiệp đang yếu thế cần tập hợp thành liên minh hoặc đơn vị lớn hơn nhằm tìm kiếm cơ hội tồn tại trước đối thủ lớn hơn đang chèn ép họ Cả hai trường hợp nói trên đều dẫn đến kết quả là các doanh nghiệp đang từ đối đầu trở thành những đơn vị liên kết và không còn cạnh tranh với nhau nữa Bởi vậy, tập trung kinh tế bắt nguồn ở cạnh tranh nhưng kết quả của nó lại có tác động tiêu cực đến cạnh tranh

Hai là, do sức ép của các cuộc khủng hoảng kinh tế Lịch sử đã chứng minh rằng, mỗi khi thị trường xảy ra khủng hoảng thì một trong những giải pháp hiệu quả

mà các doanh nghiệp thường sử dụng là tập trung lại để nương tựa vào nhau nhằm tìm kiếm cơ hội tồn tại

Ba là, do nhu cầu phát triển năng lực kinh doanh của thị trường Dưới góc độ pháp lý, tập trung kinh tế được các doanh nghiệp thực hiện dựa trên những nguyên tắc căn bản mà pháp luật đã thừa nhận Đó là: quyền tự do kinh doanh mà hiến pháp

và các văn bản pháp luật thừa nhận đã tạo ra chủ quyền cho doanh nghiệp trước nhà nước và pháp luật Trong đó, doanh nghiệp có quyền tự do liên kết trong kinh doanh, theo đó, quyền tự do khế ước bao gồm sự tự chủ trong việc liên kết đầu tư để mua doanh nghiệp khác hoặc liên minh góp vốn thành lập các chủ thể kinh doanh mới Đồng thời, pháp luật về doanh nghiệp của tất cả các quốc gia đều đã trao cho doanh nhân (trong đó có các doanh nghiệp) quyền được thay đổi quy mô theo nhu cầu kinh doanh Trên cơ sở đó, các biện pháp tổ chức lại như sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi hình thức kinh doanh… được ghi nhận như là các biện pháp căn bản để doanh nghiệp chủ động thích ứng với các biến động thị trường, phù hợp với năng lực kinh doanh của mình

Trên thực tế, người ta có thể đưa ra một số phương pháp đo lường mức độ tập trung kinh tế trên thị trường Theo đó, mức độ tập trung kinh tế lệ thuộc vào số lượng các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường và sự phân bổ thị trường của những doanh nghiệp đó

Trang 13

2 Mục đích của tập trung kinh tế

Tập trung kinh tế ngày càng trở nên thường xuyên và có quy mô ngày càng lớn Thực tế này xuất phát từ nhiều lý do khác nhau, nhưng chủ yếu vì tập trung kinh tế luôn mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp Những mục đích chính của tập trung kinh tế, đó là:

- Tập trung kinh tế giúp cho doanh nghiệp tạo ra mô hình kinh doanh lớn nhằm tăng lợi thế kinh tế nhờ quy mô

- Tự bảo vệ trước nguy cơ bị nắm quyền kiểm soát tài chính bởi một tập đoàn khác mà doanh nghiệp không mong muốn

- Tập hợp các doanh nghiệp phân phối hoặc khách hàng vào một mối để đảm bảo tốt hơn nguồn cung ứng hoặc khả năng tiêu thụ sản phẩm (economics of distribution)

- Triển khai các chiến lược tập trung vào một số hoạt động hoặc đa dạng hoá hoạt động

- Đáp ứng nhu cầu của các tập đoàn nước ngoài chiếm được chỗ đứng trên thị trường

- Tạo ra cơ hội xâm nhập vào các thị trường mới

II Khái niệm và các hình thức tập trung kinh tế

1 Khái niệm tập trung kinh tế

Trong kinh tế học và khoa học pháp lý, khái niệm tập trung kinh tế tại Việt Nam được xem xét với ba cách tiếp cận cơ bản

Một là, với tính chất là quá trình gắn liền với việc hình thành và thay đổi của cấu trúc thị trường, tập trung kinh tế trên thị trường được hiểu là quá trình mà số lượng các doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường bị giảm đi thông qua các hành vi sáp nhập (theo nghĩa rộng) hoặc thông qua tăng trưởng nội sinh của doanh nghiệp trên cơ sở mở rộng năng lực sản xuất2

Cách nhìn nhận này đã làm rõ

tranh trong điều kiện phát triển thị trường tại Việt Nam, Viện Nghiên cứu thương mại - Bộ

Thương mại, 2005

Trang 14

nguyên nhân và hậu quả của tập trung kinh tế đối với cấu trúc thị trường cạnh tranh Tuy nhiên, dường như quan điểm trên đã coi hiện tượng tích tụ tư bản là một phần khái niệm tập trung kinh tế

Hai là, với tính chất là hành vi của các doanh nghiệp, tập trung kinh tế (còn gọi là tập trung tư bản) được hiểu là tăng thêm tư bản do hợp nhất nhiều tư bản lại

Tư bản được hiểu là các giá trị kinh tế trên thị trường được sử dụng để tìm kiếm giá trị thặng dư như vốn, công nghệ, trình độ quản lý ) hoặc một tư bản này thu hút một

tư bản khác3 Khái niệm này đã không đưa ra các biểu hiện cụ thể của tập trung kinh

tế, nhưng lại cho thấy bản chất và phương thức của hiện tượng

Ba là, dưới góc độ pháp luật, Luật Cạnh tranh năm 2004 không quy định thế nào là tập trung kinh tế mà chỉ liệt kê các hành vi được coi là tập trung kinh tế Theo đó, khoản 3 Điều 3 khẳng định tập trung kinh tế là hành vi hạn chế cạnh tranh; Điều 16 quy định tập trung kinh tế là hành vi của doanh nghiệp bao gồm: (i) Sáp nhập doanh nghiệp; (ii) Hợp nhất doanh nghiệp; (iii) Mua lại doanh nghiệp; (iv) Liên doanh giữa các doanh nghiệp; (v) Các hành vi tập trung khác theo quy định của pháp luật Sự liệt kê này đã xác định rõ các hình thức tập trung kinh tế

Tại Pháp, theo quy định của Bộ luật thương mại Pháp và Pháp lệnh 86-1243 ngày 1/12/1986 thì “tập trung kinh tế là kết quả của bất cứ hành vi nào, bất kể hình thức, nhằm chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng toàn bộ hoặc một phần tài sản, các quyền và nghĩa vụ của một doanh nghiệp hoặc hành vi nhằm cho phép một doanh nghiệp hoặc một tập đoàn kinh doanh bằng cách trực tiếp hay gián tiếp tạo được ảnh hưởng nhất định đối với một hoặc nhiều doanh nghiệp khác.” Theo quy định này thì tập trung kinh tế phải là kết quả của một hành vi pháp lý giữa hai doanh nghiệp độc lập Hành vi này được thực hiện nhằm chuyển quyền sở hữu hoặc quyền

sử dụng tài sản, quyền và nghĩa vụ của một doanh nghiệp cho một doanh nghiệp khác bằng cách hợp nhất, sáp nhập; cho phép một doanh nghiệp có quyền kiểm soát đối với một hoặc nhiều doanh nghiệp khác, tức là có quyền tác động đến hoạt động của doanh nghiệp đó bằng cách mua cổ phần…Còn theo luật pháp châu Âu, “tập trung kinh tế xuất hiện quyền kiểm soát và sự thay đổi này bắt nguồn từ: (i) việc sáp

Trang 15

nhập của từ hai doanh nghiệp trở lên; hoặc (ii) việc mua bán quyền kiểm soát hay quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần của một hoặc nhiều doanh nghiệp, việc mua bán này được thực hiện bởi một hoặc nhiều người/ một hoặc nhiều doanh nghiệp dưới hình thức mua lại tài sản hoặc cổ phiiêú, thông qua hợp đồng hoặc thoả thuận dạng khác Tập trung kinh tế cũng xuất hiện khi thành lập một liên doanh4.”

Như vậy, cho dù được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau và diễn tả bằng những ngôn ngữ pháp lý khác nhau thì tập trung kinh tế được hiểu một cách chung nhất là khái niệm dùng để chỉ những cách thức tích tụ, tập trung của doanh nghiệp trên thị trường nhằm hình thành doanh nghiệp lớn hơn hoặc liên kết các doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, giữ vững và phát triển vị thế của mình trên thương trường

2 Đặc điểm pháp lý của tập trung kinh tế

Có thể thấy tập trung kinh tế luôn là chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm đạt được vị trí hoặc sức mạnh thị trường nhất định Các biểu hiện của nó chủ yếu như sáp nhập, hợp nhất, liên doanh, mua cổ phần, góp vốn nhằm mục đích thay đổi chủ sở hữu hoàn toàn hoặc một phần đủ để kiểm soát và cuối cùng là quyết định được hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp khác Tập trung kinh tế có những đặc điểm pháp lý sau đây:

- Thứ nhất, chủ thể của tập trung kinh tế theo quy định của pháp luật về chống hạn chế cạnh tranh là các doanh nghiệp hoạt động trên thị trường Như vậy, chỉ có các doanh nghiệp mới có thể là chủ thể của tập trung kinh tế Các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế có thể là các doanh nghiệp hoạt động trong cùng hoặc không cùng thị trường liên quan

- Thứ hai, về mục đích của tập trung kinh tế: có thể thấy tập trung kinh tế thường nhằm khai thác lợi ích kinh tế theo quy mô, qua đó tạp ra lợi thế cạnh tranh của chủ mới sau khi tập trung kinh tế Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng có thể thực hiện tập trung kinh tế nhằm mục đích sở hữu toàn bộ một doanh nghiệp khác

quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội-2007, tr.121

Trang 16

hoặc một phần đủ để kiểm soát, chi phối hoạt động của doanh nghiệp đó Điều này cũng làm cho doanh nghiệp có được lợi thế mới trong cạnh tranh trên thị trường

- Thứ ba, về giá trị tài sản: giá trị tài sản của doanh nghiệp sau khi tập trung kinh tế phải đạt đến một mức độ nhất định thì chúng mới bị coi là đối tượng xem xét của cơ quan quản lý cạnh tranh

- Thứ tư, về con đường hình thành: tập trung kinh tế có thể được tiến hành thông qua những con đường như sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên doanh giữa các doanh nghiệp Các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế đã chủ động tích tụ các nguồn lực kinh tế như vốn, lao động, kỹ thuật, năng lực quản lý, tổ chức kinh doanh…mà chúng đang nắm giữ riêng lẻ để hình thành một khối thống nhất hoặc phối hợp hình thành các nhóm doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế Dấu hiệu này giúp khoa học pháp lý phân biệt tập trung kinh tế với việc tích tụ tư bản trong kinh

tế học Tích tụ tư bản là tăng thêm tư bản dựa vào tích luỹ giá trị thặng dư, biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản Một doanh nghiệp có thể tích tụ tư bản để có được vị trí đáng kể trên thị trường, song để điều đó xảy ra đòi hỏi một khoảng thời gian khá dài vì tích tụ tư bản là quá trình phát triển nội sinh của doanh nghiệp theo thời gian bằng kết quả kinh doanh Trong khi đó tập trung kinh tế cũng có dấu hiệu của sự tích tụ nhưng không từ kết quả kinh doanh mà từ hành vi của doanh nghiệp

- Thứ năm, tập trung kinh tế hình thành nên doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tổng hợp hoặc liên kết thành nhóm doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế, từ đó làm thay đổi cấu trúc thị trường và tương quan cạnh tranh hiện có trên thị trường Điều này có thể gây ra cả mặt tích cực cũng như mặt hạn chế

3 Các hình thức tập trung kinh tế

Do sự phát triển đa dạng và phức tạp của các quan hệ trong thương mại và công nghiệp hiện nay, tập trung kinh tế diễn ra với nhiều hình thức khác nhau

Dựa vào mức độ liên kết, hành vi tập trung kinh tế được chia thành hai loại

là tập trung kinh tế chặt chẽ (tổ hợp) và tập trung kinh tế không chặt chẽ

Dựa vào vị trí của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế trong các cấp

độ kinh doanh của ngành kinh tế - kỹ thuật, tập trung kinh tế thường được phân chia

Trang 17

thành tập trung theo chiều ngang, tập trung theo chiều dọc hoặc tập trung theo khối (còn gọi là tập trung theo đường chéo, hỗn hợp, hay tập đoàn – conglomerate)

 Tập trung kinh tế theo chiều ngang: là sự sáp nhập, hợp nhất, mua lại hoặc liên doanh của các doanh nghiệp trong một thị trường liên quan (sản phẩm và không gian) Theo lý thuyết cạnh tranh thì sự gia tăng tập trung theo chiều ngang sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phối hợp hành động giữa các doanh nghiệp và từ đó dẫn đến hạn chế cạnh tranh theo giá Như vậy, đặc điểm nổi bật của tập trung kinh

tế là có sự hạn chế cạnh tranh về giá cả của sản phẩm trong một thị trường liên quan Ở đây thị trường liên quan được hiểu là liên quan đến giác độ vật chất (thị trường sản phẩm); giác độ về địa lý và giác độ thời gian Về giác độ vật chất bao gồm những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả Về giác độ địa lý tức là đề cập đến thị trường địa lý: là một khu vực địa lý cụ thể trong đó có những hàng hoá, dịch vụ có thể thay thế được cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tương tự và có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận5

 Tập trung kinh tế theo chiều dọc: là sự hợp nhất, sáp nhập, mua lại hoặc liên doanh giữa các doanh nghiệp nằm trên cùng một chuỗi giá trị, dẫn tới sự mở rộng về phía trước hoặc phía sau của công ty trên chuỗi giá trị đó Các doanh nghiệp thực hiện tập trung kinh tế theo chiều dọc thường có mối quan hệ cung ứng – tiêu thụ Tập trung kinh tế theo chiều dọc đem lại cho công ty lợi thế về đảm bảo và kiểm soát chất lượng nguồn hàng hoặc đầu ra sản phẩm, giảm chi phí trung gian, khống chế nguồn hàng hoặc đầu ra của đối thủ cạnh tranh

 Tập trung kinh tế dạng khối (conglomerate), là sự hợp nhất, sáp nhập, mua lại hoặc liên doanh của các doanh nghiệp không cùng hoạt động trên một thị trường sản phẩm hoặc không có mối quan hệ khách hàng với nhau Mục tiêu của việc hợp nhất này thường là phân bổ rủi ro vào những thị trường khác nhau hoặc từ những lý do chiến lược thị trường của các doanh nghiệp này

Trang 18

Song, dưới giác độ của pháp luật chống hạn chế cạnh tranh, để thuận lợi cho việc kiểm soát tập trung kinh tế, pháp luật quy định những hình thức tập trung cơ bản và phổ biến nhất xuất hiện trong nền kinh tế Cụ thể là Luật cạnh tranh Việt Nam quy định các hành vi được coi là tập trung kinh tế, tức là việc tập trung kinh tế được thực hiện thông qua những hình thức bao gồm: sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp, liên doanh giữa các doanh nghiệp và các hình thức tập trung kinh tế khác nhằm kiểm soát hoặc chi phối hoạt động của doanh nghiệp khác Điều 17 Luật Cạnh tranh của Việt Nam đưa ra định nghĩa cho từng hành vi tập trung kinh tế như sau:

Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn

bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập Theo tinh thần

đó, doanh nghiệp sau khi sáp nhập sẽ tồn tại trên cơ sở tiếp nhận mọi tài sản cũng như các quyền, nghĩa vụ, lợi ích của doanh nghiệp bị sáp nhập trong khi doanh nghiệp bị sáp nhập không còn tồn tại và bị xoá tên trong sổ đăng kí kinh doanh

Giả sử A là doanh nghiệp sáp nhập và B là doanh nghiệp bị sáp nhập thì hình thức sáp nhập có thể minh hoạ bằng sơ đồ sau:

Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ

tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất Dưới giác độ của pháp luật chống hạn chế cạnh tranh, việc hợp nhất doanh nghiệp khá tương đồng với sáp nhập vì chúng đều là kết quả của việc tổ chức lại doanh nghiệp

để hình thành một chủ thể mới có sức mạnh thị trường lớn hơn dựa trên thế mạnh

Trang 19

của các doanh nghiệp tham gia Nhưng khác với trường hợp sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp lại dẫn tới việc hình thành một doanh nghiệp mới (C) được hưởng tất

cả các quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp bị hợp nhất trong khi các doanh nghiệp bị hợp nhất (A,B) sẽ chấm dứt sự tồn tại của mình

A + B = C

Song hành với tiến trình này, cổ phiếu cũ của hai doanh nghiệp sẽ không còn tồn tại mà doanh nghiệp mới ra đời sẽ phát hành cổ phiếu mới thay thế

Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp (gọi là doanh nghiệp mua

lại) mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát , chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại Như vậy mua lại doanh nghiệp gồm hai trường hợp là mua lại toàn bộ và mua lại một phần doanh nghiệp Tuy nhiên, mua lại toàn bộ doanh nghiệp thì về bản chất chính là hình thức sáp nhập doanh nghiệp Bởi vì khi mua lại toàn bộ doanh nghiệp, người mua trở thành chủ sở hữu doanh nghiệp cũng như tài sản doanh nghiệp, được hưởng các quyền và nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp đó Duy có một điểm khác biệt giữa hai thức này, đó là việc doanh nghiệp bị mua lại có chấm dứt tồn tại hay không Tuỳ thuộc vào ý chỉ chủ quan của doanh nghiệp mua, nếu doanh nghiệp bị mua chấm dứt tồn tại thì đó chính là sáp nhập, còn nếu nó tiếp tục hoạt động như một chủ thể kinh doanh độc lập thì sẽ trở thành công ty con trong một tập đoàn kinh

tế Bên cạnh đó cần chú ý các hình thức mua lại không bị coi là tập trung kinh tế bao gồm: “Doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tín dụng mua lại doanh nghiệp khác nhằm mục đích bán lại trong thời hạn dài nhất là một năm; doanh nghiệp mua lại không thực hiện quyền kiểm soát hoặc chi phối doanh nghiệp bị mua lại, hoặc doanh nghệp thực hiện quyền kiểm soát, chi phối nhưng chỉ trong khuôn khổ bắt buộc để đạt được mục đích bán lại6

.”

Mua bán và sáp nhập doanh nghiệp là hai hình thức tập trung kinh tế phổ biến hiện nay, và thường được nhắc đến như một hình thức đại diện của hiện tượng

chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh

Trang 20

tập trung kinh tế Sự mua bán sáp nhập giữa hai hay nhiều công ty với nhau thường được gọi với cái tên M&A, viết tắt của hai từ tiếng Anh: Merger and Acquisition Mục tiêu cuối cùng của tất cả các thương vụ mua bán sáp nhập là tạo ra sự cộng hưởng và nâng cao giá trị lớn hơn nhiều so với giá trị của từng bên riêng lẻ Thành công của mua bán hay sáp nhập phụ thuộc vào việc có đạt được sự cộng hưởng hay không Trong M&A, một nguyên tắc chung là “1+1>2” Công thức này không được logic về mặt toán học nhưng nếu xét về ý nghĩa kinh tế, chúng nói lên “năng lực chuyển hóa” đặc biệt từ sự kết hợp của hai tổ chức để hình thành một tổ chức có giá trị lớn hơn khi đứng riêng lẻ Nghĩa là hai công ty sáp nhập cùng nhau sẽ có giá trị lớn hơn hai công ty đang hoạt động riêng lẻ Đây cũng chính là lý do dẫn đến các hoạt động mua bán và sáp nhập giữa các công ty Nguyên lý này đặc biệt hữu ích khi các công ty rơi vào những thời kỳ khó khăn do cạnh tranh, tác động thị trường hay bất kỳ yếu tố nào khác

Một hành vi tập trung kinh tế khác đó là liên doanh Điều 17 khoản 4 Luật

cạnh tranh 2004 định nghĩa: liên doanh giữa các doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới

Việc góp thêm vốn vào doanh nghiệp đang hoạt động không được coi là hình thức tập trung kinh tế Chỉ khi nào góp vốn để thành lập một doanh nghiệp thì khi

đó nó mới trở thành hành vi tập trung kinh tế dưới hình thức liên doanh Điều này

đã nhấn mạnh tới một mục đích của các bên liên doanh là thành lập một doanh nghiệp mới Sự tồn tại của doanh nghiệp mới tạo nên mối liên kết giữa các doanh nghiệp tham gia Điều này có khác ít nhiều so với cách hiểu về liên doanh nói chung trên thế giới, theo đó liên doanh được thành lập nhằm đáp ứng được mục đích của các bên tham gia mà khi các bên tham gia riêng lẻ tự mình xét về khả năng sẽ không đáp ứng được, nghĩa là hai hay nhiều hãng liên doanh với nhau để thực hiện một hoặc một số hoạt động kinh tế mà mỗi bên đạt được mục đích của mình trong đó Ngày nay có thể thấy rất nhiều các liên doanh được thành lập nhằm đạt được mục đích kinh tế của các bên tham gia, chẳng hạn Sony Ericsson là liên doanh giữa Sony

và Ericsson, công ty LG.Philips Components là liên doanh được thành lập giữa LG

Trang 21

Group và Royal Philips Electronics; NUMMI là liên doanh được thành lập giữa General Motors và Toyota…

III Tác động của tập trung kinh tế đối với môi trường cạnh tranh

Tập trung kinh tế vốn là hiện tượng mang tính hệ quả của cạnh tranh, nó có thể diễn ra ở các mức độ cao thấp khác nhau đối với các lĩnh vực khác nhau của thị trường Sự ra đời của hiện tượng tập trung kinh tế có tác động nhất định tới cơ cấu thị trường và qua đó có thể tác động rất lớn tới cạnh tranh Tuy nhiên, tác động của

tập trung kinh tế tới cạnh tranh cũng được thể hiện ở 2 mặt: tích cực và tiêu cực

1 Tác động tích cực

Đánh giá dưới 2 góc độ sau:

Bằng việc áp dụng lợi thế kinh tế nhờ quy mô mà tập trung kinh tế giúp các hãng giảm được chi phí sản xuất Điều này cũng làm cho chính các doanh nghiệp khi tham gia vào tập trung kinh tế có được mức giá cạnh tranh tốt khi đưa sản phẩm

ra thị trường

Tập trung kinh tế được coi là con đường ngắn nhất để giải quyết nhu cầu tích

tụ các nguồn lực thị trường của các nhà kinh doanh nhằm nâng cao năng lực kinh doanh và năng lực cạnh tranh Vì vậy, các biện pháp sáp nhập, hợp nhất, mua lại hoặc liên doanh, được các lý thuyết kinh tế coi là cách thức không tốn kém nhiều thời gian để hình thành nên quyền lực thị trường Nhờ tập trung kinh tế, doanh nghiệp có thể tăng cường tích tụ nguồn lực để đầu tư và thực hiện những dự án lớn đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và xã hội; tăng cường khả năng nghiên cứu và phát triển (R&D) nhằm nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh Chỉ thông qua tập trung kinh tế, các công ty mới có nguồn lực dồi dào để đầu tư cho việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ hiện đại cũng như thúc đẩy sự đổi mới công nghệ nhằm tạo ra năng suất cao và chất lượng sản phẩm tốt; đồng thời tạo ra khả năng chuyên môn hoá sâu trong sản xuất và kinh doanh- điều

mà các công ty riêng lẻ rất khó có thể thực hiện được Đây cũng là giải pháp hữu ích giúp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng quy mô kinh doanh và tăng thêm sức mạnh tài chính, tiết kiệm chi phí sử dụng nhân sự, thiết bị chuyên môn, tăng

Trang 22

năng suất lao động, chia sẻ và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh đồng thời giúp doanh nghiệp này có cơ hội thâm nhập thị trường mới Qua đó, tập trung kinh tế có thể làm tằng thêm lợi ích kinh tế - xã hội nói chung

Tập trung kinh tế tạo ra khả năng hợp tác sâu sắc trong kinh doanh Thông qua các hành vi mua lại, liên doanh, các doanh nghiệp tham gia hình thành nên các liên minh kinh doanh hoặc các nhóm doanh nghiệp có mối quan hệ sở hữu hoặc đầu

tư với nhau, cho dù dưới góc độ pháp lý, chúng vẫn là những chủ thể có tư cách độc lập Sự tồn tại của nhóm kinh doanh tạo ra các hình thức hợp tác kinh doanh khép kín nếu như sự tập trung diễn ra theo chiều dọc (giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành kinh tế - kỹ thuật nhưng ở những công đoạn khác nhau của quá trình kinh doanh); hoặc hỗ trợ trong quản lý, thực hiện chiến lược mở rộng, phát triển thị trường; hoặc hợp tác chia sẻ rủi ro khi thị trường có những biến động lớn nhằm tìm kiếm cơ hội vượt qua các cuộc khủng hoảng Điều này nghĩa là, các doanh nghiệp thông qua hành vi tập trung kinh tế có thể tạo ra khả năng hợp tác sâu trong kinh doanh, mặc dù có thể chúng vẫn hoạt động độc lập về mặt pháp lý

Khi tập trung kinh tế diễn ra giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành và

ở cùng một công đoạn của quá trình kinh doanh (cùng thị trường liên quan), kết quả

sẽ luôn là giữa chúng không còn tồn tại cạnh tranh, bởi sau khi sáp nhập, hợp nhất, các doanh nghiệp đã trở thành một chủ thể duy nhất, hoặc tạo ra mối quan hệ một nhà bằng hành vi mua lại hoặc liên doanh

Tập trung kinh tế có thể là giải pháp hiệu quả cho các doanh nghiệp trong việc cơ cấu lại hoạt động kinh doanh Sự tác động từ thị truờng có thể tạo ra cho doanh nghiệp nhiều khó khăn và thuận lợi trong kinh doanh mà từ đó, họ cần thực hiện các chiến lược cơ cấu lại cho phù hợp với những thay đổi từ thị trường nhằm bảo đảm tính hiệu quả của hoạt động kinh doanh

Tập trung kinh tế góp phần làm cho mức độ cạnh tranh trên thị trường sâu sắc hơn do sức cạnh tranh của các doanh nghiệp mạnh mẽ hơn Bởi dựa vào tập trung kinh tế, các doanh nghiệp tham gia có thể khai thác được những lợi thế để cải thiện năng lực cạnh tranh của chính mình

Trang 23

Tập trung kinh tế khiến các nguồn lực thị trường sẽ được sử dụng tập trung

và hiệu quả hơn, tránh tình trạng manh mún, nhỏ lẻ của quá trình kinh doanh Sự manh mún của quy mô đầu tư có thể sẽ làm cho thị trường kém phát triển, lúc đó, tập trung kinh tế lại được coi như giải pháp cho việc cơ cấu lại quy mô kinh doanh trên thị trường Chính các lý thuyết về thị trường đôi khi cũng coi sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên doanh như là các biện pháp cơ cấu lại thị trường

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, việc phải đương đầu với các tập đoàn kinh tế đa quốc gia có tiềm lực tài chính và kinh nghiệm kinh doanh lâu đời sẽ

là thách thức khá lớn đối với các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các quốc gia

có nền kinh tế thị trường chuyển đổi Một trong những biện pháp mà nhiều nước (trong đó có cả các nước phát triển) sử dụng là tập trung các nguồn lực kinh tế để hình thành nên các tập đoàn hoặc liên minh có sức mạnh về tài chính, kỹ thuật, công nghệ Các biện pháp sáp nhập, hợp nhất, mua lại doanh nghiệp một mặt có thể đáp những nhu cầu trên, mặt khác góp phần cơ cấu lại các doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả song không làm giảm đi giá trị đầu tư của thị trường Trong pháp luật kinh doanh, các chế định về giải thể và phá sản doanh nghiệp được coi như những phương thức giải quyết số phận của các doanh nghiệp gặp khó khăn và kinh doanh kém hiệu quả Tuy nhiên, việc sử dụng triệt để hai biện pháp nói trên có thể gây ra hậu quả là, sau khi các doanh nghiệp bị giải thể, phá sản, chấm dứt tồn tại thì các giá trị đầu tư của họ sẽ chỉ được dùng để giải quyết trách nhiệm tài sản của doanh nghiệp và trả lại cho các chủ đầu tư Khi đó, giá trị đầu tư chung trên thị trường liên quan sẽ giảm đi tương ứng Trong khi đó, sự sáp nhập, mua lại, hợp nhất có thể diễn

ra với vai trò điều phối các nguồn lực kinh tế từ những người sử dụng kém hiệu quả

để tập trung vào doanh nghiệp có khả năng sử dụng tốt hơn Lúc này số lượng doanh nghiệp có thể giảm đi song giá trị đầu tư của thị trường không giảm sút

2 Tác động tiêu cực

Bên cạnh những tác động tích cực đã nêu thì không thể không nhắc tới những tác động tiêu cực của tập trung kinh tế

Trang 24

Trước hết, tập trung kinh tế làm thay đổi số lượng doanh nghiệp hiện có trên thị trường Khi đó cơ cấu cạnh tranh vốn có trên thị trường sẽ thay đổi về mặt cấu trúc - số lượng doanh nghiệp

Tập trung kinh tế khiến tương quan cạnh tranh trên thị trường thay đổi Sự tích tụ hoặc liên minh các nguồn lực kinh tế giữa các doanh nghiệp thông qua các biện pháp tập trung kinh tế đã đột ngột làm xuất hiện một doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh là tổng năng lực cạnh tranh của tất cả doanh nghiệp tham gia Về căn bản, tập trung kinh tế sẽ không trực tiếp làm giảm vị trí cạnh tranh trên thị trường của các doanh nghiệp không tham gia, song chúng lại làm thay đổi quan hệ cạnh tranh giữa họ với doanh nghiệp sau khi tập trung kinh tế so với trước đó

Ngoài ra, dưới tác động của tập trung kinh tế, hình thái thị trường cạnh tranh

có thể sẽ thay đổi và chuyển sang mô hình độc quyền nhóm hoặc hình thành các doanh nghiệp có quyền lực thị trường Bởi tập trung kinh tế là sự tập hợp các nguồn lực kinh tế bằng hành vi sáp nhập, hợp nhất, mua lại hoặc liên doanh mà không phải

là quá trình tích tụ tư bản thông thường Nói cách khác, thông qua tập trung kinh tế, các doanh nghiệp nâng cao được năng lực cạnh tranh song không phải từ hiệu quả kinh doanh của từng doanh nghiệp Do vậy, thực tế đã cho thấy, các biện pháp tập trung kinh tế đôi khi được sử dụng để hình thành nên các thế lực thống lĩnh hoặc độc quyền trên thị trường

Khi đã có sức mạnh thị trường, doanh nghiệp rất dễ lạm dụng sức mạnh thị trường để tạo lợi thế cạnh tranh vượt trội cho mình Điều này làm cạnh tranh trên thị truờng bị sai lệch hoặc bị tổn hại Bên cạnh đó, việc tập trung kinh tế có thể dẫn đến độc quyền nhóm, làm cho cơ cấu thị trường bị mất cân đối Cạnh tranh qua đó dễ bị tổn hại Việc cản trở sự phát triển của cạnh tranh sẽ làm tổn hại đến lợi ích của người tiêu dùng

Do tác động tiêu cực của tập trung kinh tế, nên chiến lược này thường bị coi

là gây hạn chế cạnh tranh của doanh nghiệp Pháp luật cạnh tranh của quốc gia đều

có quy định kiểm soát đối với hành vi tập trung kinh tế nhằm khai thác những mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của nó đối với thị trường

Trang 25

Có thể chỉ ra tác động tiêu cực cụ thể của một số hình thức tập trung kinh tế đối với môi trường cạnh tranh:

- Tập trung kinh tế theo chiều ngang: Việc tập trung kinh tế theo chiều

ngang, về lý thuyết, có thể tạo ra những tác động tiêu cực lớn Vì mục tiêu của hình thức này là khống chế thị trường hoặc tạo rào cản thị trường dựa vào hiệu quả kinh

tế nhờ quy mô, hoặc muốn tạo ý nghĩa chính trị (hình thành một “đế chế”) Theo lý thuyết cạnh tranh thì sự gia tăng hợp nhất theo chiều ngang sẽ tạo điều kiện cho việc phối hợp hành động giữa các doanh nghiệp, từ đó dẫn đến hạn chế cạnh tranh theo giá và giảm động lực sáng tạo, gây bất lợi cho các đối thủ cạnh tranh và tiềm

ẩn nguy cơ gây thiệt hại cho người tiêu dùng

- Tập trung kinh tế theo chiều dọc: Tập trung kinh tế theo chiều dọc có thể

dẫn đến những tác động tiêu cực ảnh hưởng đến cạnh tranh vì khi một doanh nghiệp nắm được vị thế thị trường rất mạnh ở một phân đoạn nào đó trong chuỗi kinh doanh thì họ có thể lợi dụng sức mạnh thị trường này để gây sức ép đối với khâu có liên quan trước và sau đó (upstream và downstream) và tạo khó khăn cho những đối thủ cạnh tranh không cùng liên kết Hơn nữa, các đối thủ cạnh tranh có ý định gia nhập thị trường cũng sẽ chịu bất lợi vì rào cản tài chính và công nghệ sẽ cao hơn do doanh nghiệp sau khi tập trung kinh tế sẽ có được

khối cũng có thể gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường cạnh tranh như:

(i) Các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế dạng khối có thể gây ảnh hưởng đến chính trị, vận động hậu trường hoặc trong công tác đối ngoại, quan hệ công chúng, do có cơ sở tiềm lực hùng mạnh về tài chính

(ii) Thông qua những hoạt động kinh doanh, chính vì các doanh nghiệp hợp nhất dạng khối có thể hạn chế rủi ro về chi phí và thị trường, có được những điều kiện kinh doanh rất thuận tiện nên sẽ gây bất lợi cho những đối thủ cạnh tranh nhỏ hơn Hiện tượng này sẽ làm vô hiệu hoá nguyên tắc chọn lọc của nền kinh tế thị trường; và tóm lại, việc hình thành một thế lực quá hùng mạnh trên thị trường trên nhiều phương diện sẽ tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất lợi cho các chủ thể tham gia trên

Trang 26

thị trường đồng thời sẽ tác động tới người tiêu dùng một cách trực tiếp cũng như gián tiếp

IV Kiểm soát tập trung kinh tế

1 Sự cần thiết phải kiểm soát tập trung kinh tế

Mặc dù tồn tại cả những tác động tiêu cực nhưng không thể phủ định rằng trong nền kinh tế thị trường, việc tập trung kinh tế là nhu cầu khách quan của các doanh nghiệp nhằm tăng cường tiềm lực kinh tế, phát huy thế mạnh Dưới góc độ kinh tế, các biện pháp sáp nhập, hợp nhất, liên doanh hay mua lại xuất phát và phục

vụ cho nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp, cho nên chúng thuộc phạm vi của quyền tự do kinh doanh mà pháp luật đã thừa nhận và bảo hộ Vì lẽ ấy, Luật cạnh tranh của các quốc gia đều không loại bỏ các hành vi tập trung kinh tế ra khỏi sinh hoạt của thị trường Tuy nhiên, như đã phân tích, tập trung kinh tế có thể tiềm ẩn nguy cơ hình thành các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền; mà việc một doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường sẽ dẫn đến hạn chế cạnh tranh còn nếu tồn tại doanh nghiệp có vị trí độc quyền thì chắc chắn sẽ dẫn đến thủ tiêu cạnh tranh, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế Bởi trong chính trị cũng như kinh tế, ở đâu tập trung quá nhiều quyền lực thì xét về phương diện khách quan, ở đó sẽ nảy sinh nguy cơ lạm dụng quyền lực trong mối quan hệ với kẻ yếu Do đó, nhà nước cần có cơ chế để kiểm soát tập trung kinh tế trong những trường hợp nhất định nhằm mục đích kiểm soát quá trình dẫn đến độc quyền thông qua tập trung kinh tế

Để ứng xử với hiện tượng này, nhà nước có thể lựa chọn nhiều phương cách:

- Hoặc tin vào sự tự điều chỉnh của thị trường, tin vào sự hợp lý của quá trình tập trung kinh tế hướng tới độc quyền mà chủ trương không can dự (chủ nghĩa

tự do – laissez faire)

- Hoặc can thiệp để tạo điều kiện cho cạnh tranh diễn ra bằng cách ngăn chặn độc quyền, chia nhỏ doanh nghiệp độc quyền, cấm thoả thuận để tạo vị thế thống lĩnh thị trường (quan điểm can thiệp để duy trì cạnh tranh – structure approach)

Trang 27

- Hoặc chấp nhận vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền của một số doanh nghiệp song giám sát, ngăn ngừa sự lạm dụng vị trí đó (quan điểm giám sát để điều tiết – regulation approach)

- Hoặc công hữu hoá doanh nghiệp có vị trí độc quyền, đặt chúng dưới sự quản lý của các cơ quan công quản và định hướng hoạt động của chúng vì lợi ích chung (quan điểm công hoá để điều tiết – ownership approach)

Trên thực tế, các quốc gia đều tìm cách phối hợp các phương án kể trên Trong đó, giải pháp chính vẫn là phối hợp giữa biện pháp can thiệp để duy trì cạnh tranh, và khi độc quyền đã diễn ra, tìm cách giám sát để điều tiết, hạn chế việc lạm dụng vị thế độc quyền7

Từ những năm 1970, ở Hoa Kỳ xuất hiện nhiều học thuyết về cạnh tranh mới, trong đó có đề cập nhiều tới vai trò của nhà nước trong kiểm soát tập trung kinh tế Trong các học thuyết đó, trường phái Chicago về kiểm soát độc quyền đã gây được ảnh hưởng mạnh mẽ Theo trường phái này, cạnh tranh là cuộc chạy đua

để xác định những doanh nghiệp hoạt động hiệu quả nhất, nhà nước có vai trò đảm bảo trật tự chung và chỉ nên can thiệp vào cạnh tranh một cách hạn chế Để bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, các cơ quan kiểm soát độc quyền (trong đó có kiểm soát tập trung kinh tế) nên xem xét ảnh hưởng của hành vi độc quyền dưới hai tiêu chí

cơ bản là đối với sự phân bổ có hiệu quả của mọi nguồn lực kinh tế và đối với hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp – xét từ chi phí giao dịch hoặc quy mô sản xuất Các trường phái khác, ví dụ như trường phái Havard mở rộng mục đích của cạnh tranh Theo đó, cạnh tranh không chỉ phục vụ lợi ích của người tiêu dùng

mà còn có nhiều chức năng khác như phân phối, xác định nhu cầu, khuyến khích phát triển công nghệ và phi tập trung hoá quyền lực kinh tế Bởi vậy, các trường phái này yêu cầu nhà nước can thiệp mạnh mẽ và linh hoạt hơn, ví dụ gia tăng giám sát thoả thuận hạn chế cạnh tranh, kiểm soát sáp nhập và thôn tính, thực hiện chính sách chia nhỏ doanh nghiệp có vị trí độc quyền

Trang 28

Một lý do khác chứng minh cho sự cần thiết phải thiết lập cơ chế kiểm soát tập trung kinh tế là do những lợi ích kinh tế mà tập trung kinh tế đem lại không phải

là điều hiển nhiên xảy đến Khi đứng trước những dự án kinh tế mới, cần đảm bảo được rằng những dự án đó không có nguy cơ hạn chế cạnh tranh lâu dài hoặc vĩnh viễn cạnh tranh, đồng thời phải có khả năng đem lại nhiều lợi ích, ví dụ như lợi thế trong cạnh tranh quốc tế Ngoài ra, phải thiết lập các công cụ kiểm soát mang tính phòng ngừa đối với tập trung kinh tế là vì tập trung kinh tế có thể sử dụng để phục vụ cho chủ nghĩa kinh tế của Malthus - chủ nghĩa kinh tế chủ trương hạn chế sản xuất8

Cạnh tranh làm phát sinh tập trung kinh tế, còn tập trung kinh tế lại có thể gây tác động tiêu cực hạn chế cạnh tranh Các Mác là người đã nêu lên nghịch lý này, một nghịch lý mà ông cho là không thể đảo ngược được Tuy nhiên, ít nhất cũng có một cách để hạn chế nghịch lý đó là đưa vào trong chính sách bảo vệ cạnh tranh một cơ chế kiểm soát tập trung kinh tế thật hiệu quả

Tập trung kinh tế giữa các doanh nghiệp không những làm hạn chế cạnh tranh trên thị trường trực tiếp có liên quan, mà hơn thế nữa, còn có thể kéo theo sự hạn chế cạnh tranh trên những thị trường khác mà ở đó các tập đoàn hoặc doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế có hoạt động cạnh tranh với nhau Chính vì lý do

đó nên việc kiểm soát trực tiếp hoạt động tập trung kinh tế đã được quy định trong pháp luật Hoa Kỳ ngay từ năm 1914 - Luật Clayton Tại Cộng hoà Liên bang Đức, Luật chống hành vi hạn chế cạnh tranh ban hành năm 1957 đã được sửa đổi, bổ sung gần đây nhất vào năm 2004, và từ đó kiểm soát tập trung kinh tế đã trở thành nội dung trọng tâm trong hệ thống bảo vệ cạnh tranh của Đức Cơ chế kiểm soát tập trung kinh tế cũng tồn tại ở các nước công nghiệp phát triển khác có mong muốn bảo đảm những điều kiện cần thiết cho cạnh tranh thực tế như Nhật Bản, Canađa, Vương quốc Anh Đặc biệt là gần đây, trước tốc độ của các hoạt động tập trung kinh tế, gần như tất cả các đạo luật về cạnh tranh của các nước mới ban hành đều quy định vấn đề này

về Hợp tác kinh tế quốc tế, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2005, tr.90

Trang 29

2 Quy định về kiểm soát tập trung kinh tế tại một số quốc gia

Trên thế giới hiện nay tồn tại 3 loại hệ thống thông báo sáp nhập chống độc quyền, bao gồm: hệ thống thông báo bắt buộc tiền sáp nhập, hệ thống thông báo hậu sáp nhập và hệ thống thông báo tự nguyện Trong đó, Hoa Kỳ, Pháp, Đức là những nước phát triển có lịch sử tập trung kinh tế lâu đời và có cùng hệ thống thông báo tiền sáp nhập giống như Việt Nam (thông báo trước khi diễn ra tập trung kinh tế)

Vì vậy trong giới hạn cho phép, khoá luận sẽ nghiên cứu các mô hình kiểm soát tập trung kinh tế tại những quốc gia này trong mối quan hệ so sánh với kiểm soát tập trung kinh tế tại Việt Nam

2.1 Kiểm soát tập trung kinh tế tại Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên ban hành những đạo luật chống tờrớt -kiểm soát, khống chế độc quyền và phá bỏ cản trở cạnh tranh Các văn bản liên quan đến kiểm soát tập trung kinh tế ở Hoa Kỳ bao gồm đạo luật Clayton, đạo luật Sherman và đạo luật nâng cao chống độc quyền Hart-Scott-Rodino (HRS) Đạo luật Clayton là cơ sở pháp lý chủ yếu điều tiết các vấn đề cạnh tranh phát sinh do tập trung kinh tế Luật này ngăn cấm các vụ sáp nhập có thể dẫn tới hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể, hoặc có xu hướng dẫn tới độc quyền Các công ty liên doanh cũng thuộc phạm vi điều chỉnh theo đạo luật Clayton, mặc dù họ cũng có thể được điều chỉnh theo đạo luật Sherman theo các quy định ngăn cấm những hạn chế bất hợp lý về thương mại

và sự hình thành độc quyền Đạo luật nâng cao chống độc quyền HRS là cơ sở pháp

lý điều chỉnh các khía cạnh về thủ tục rà soát của chính phủ trong các vụ sáp nhập

và thâu tóm

Quy định về ngưỡng áp dụng: Tất cả các vụ tập trung kinh tế, bất kể quy mô, đều là đối tượng điều chỉnh của Đạo luật Clayton Còn với các giao dịch chịu sự điều chỉnh theo Đạo luật HRS thì các bên phải nộp hồ sơ thông báo tập trung kinh

tế để cơ quan cạnh tranh xem xét xem có được phép hay không trước khi hoàn tất giao dịch Ngưỡng quy mô được xác định như sau:

+ Doanh thu thuần hàng năm được xác định trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp lệ gần nhất

+ Tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán hợp lệ mới nhất

Trang 30

Để xác định liệu ngưỡng về quy mô giao dịch có được đáp ứng hay không, các đạo luật quy định rằng bên thâu tóm phải tính toán giá trị chứng khoán và tài sản có quyền bỏ phiếu có thể sẽ được nắm giữ sau một vụ thâu tóm trong thời điểm hiện tại, mà có thể gồm cả giá trị hiện tại của chứng khoán và tài sản đã được họ mua từ trước đó

2.2 Kiểm soát tập trung kinh tế tại Pháp

Pháp luật của Pháp về kiểm soát tập trung kinh tế quy định chỉ kiểm soát những dự án tập trung kinh tế đạt tới một số ngưỡng nhất định và không thực hiện trên quy mô cộng đồng châu Âu (nay là Liên minh châu Âu EU)

Dự án tập trung kinh tế bị kiểm soát bởi pháp luật của Pháp không được có quy

mô EU Bởi vì khi đã có quy mô EU, nếu một dự án tập trung kinh tế đã được Ủy ban thụ lý xem xét thì sẽ không áp dụng cơ chế kiểm soát của pháp luật Pháp đối với dự án

đó nữa (chỉ trừ trường hợp Ủy ban Châu Âu EC chuyển giao một phần hoặc toàn bộ hồ

sơ cho một quốc gia thành viên giải quyết9, cụ thể ở đây là Pháp)

Từ năm 2001, Pháp đã không áp dụng tiêu chí kiểm soát cũ được thể hiện bằng giá trị thị phần mà thay vào đó là tiêu chí kiểm soát theo những giá trị định lượng tuyệt đối, tức là doanh thu Điều L.430-2 Bộ luật Thương mại Pháp quy định một dự án tập trung kinh tế sẽ phải chịu áp dụng thủ tục kiểm soát nếu:

“+ Tổng doanh thu chưa tính thuế trên phạm vi toàn cầu của toàn bộ các doanh nghiệp hoặc các nhóm thể nhân hoặc pháp nhân tham gia vụ tập trung kinh tế đạt trên 150 triệu euro

+ Tổng doanh thu chưa tính thuế thực hiện trên lãnh thổ Pháp bởi ít nhất hai doanh nghiệp hoặc hai nhóm thể nhân hoặc pháp nhân liên quan đạt trên 15 triệu euro10.”

tại sách Chính sách và thực tiễn Pháp luật cạnh tranh của cộng hoà Pháp, tập 1, NXB

Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 2005

Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 2005, tr.103

Trang 31

Giữa hai khoản trên có sự khác biệt giữa các nhóm đối tượng được quy định Các nhóm thể nhân hoặc pháp nhân “liên quan” được hiểu rộng hơn các nhóm thể nhân hoặc pháp nhân “tham gia vụ tập trung kinh tế” Khái niệm doanh nghiệp liên quan không chỉ bao gồm các doanh nghiệp tham gia vào vụ tập trung kinh tế hoặc là đối tượng của vụ tập trung kinh tế, mà còn bao gồm cả những doanh nghiệp khác có liên hệ về mặt kinh tế với các doanh nghiệp đó, ví dụ như các công ty mẹ hoặc chi nhánh Và doanh thu của các doanh nghiệp có liên hệ này chỉ được tính nếu chúng hoạt động tích cực trên thị trường liên quan

2.3 Kiểm soát tập trung kinh tế tại Đức

Tại Đức, bên cạnh những quy định chung cấm tập trung kinh tế và độc quyền

có một loạt những trường hợp ngoại lệ, giảm nhẹ Trước chiến tranh Thế giới thứ II, nước Đức là nước của các tập đoàn và cartel Sau chiến tranh , những cartel bị giải tán Những tư tưởng của pháp luật chống độ c quyền của Mỹ đã có tác động mạnh đến việc xây dựng chính sách cạnh tranh ở Đức Luật Chống hạn chế cạnh tranh ra đời năm 1957 và đã được sửa đổi , bổ sung nhiều lần Nội dung cơ bản của Luật Chống hạn chế cạnh tranh Đ ức bao gồm cấm cartel , kiểm soát sáp nhập và giám sát việc lạm dụng vị trí thống lĩnh Các Luật về cạnh tranh của Đức nằm trong một hệ thống tổng thể gồm nhiều đạo luật khác nhau

Theo Luật Chống hạn chế cạnh tranh của Đức, các giao dịch sau đây được coi là hợp nhất, sáp nhập: mua phần tài sản cơ bản của doanh nghiệp khác; mua cổ phần và quyền bỏ phiếu của doanh nghiệp để chiếm 25 tới 50% cổ phần hoặc bảo đảm có quyền lợi chính; một số hình thức liên doanh nhất định; thoả thuận thành lập tập đoàn; hoặc tiếp tục hoạt động vì quyền lợi của doanh nghiệp khác; hoặc chuyển lợi nhuận cho doanh nghiệp khác; hoặc cho thuê hay chuyển thiết bị cho doanh nghiệp khác Việc hợp nhất, sáp nhập bị kiểm soát hay không phụ thuộc chủ yếu vào mức vốn của công ty Vượt quá mức vốn nhất định theo qui định của Luật này, hợp nhất, sáp nhập phải được thông báo cho cơ quan có thẩm quyền trước hoặc sau khi hoàn thành việc hợp nhất Các mức vốn đặc biệt được áp dụng cho các lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, xuất bản Các dự án hợp nhất, sáp nhập phải được thông báo trước khi được Văn phòng Chống độc quyền Liên Bang cho phép Các giao dịch vi

Trang 32

phạm các qui định cấm là vô hiệu và có thể bị xử phạt Việc hợp nhất, sáp nhập bị cấm nếu tạo ra hoặc thúc đẩy một ví trí thống trị trên thị trường

2.4 Pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế ở Việt Nam

Ở Việt Nam, xuất phát từ sự cần thiết phải kiểm soát các hoạt động tập trung kinh tế để tránh tình trạng hình thành các doanh nghiệp lớn có sức mạnh khống chế thị trường, Luật Cạnh tranh 2004 có nhiều điều khoản tạo hành lang pháp lý cho phép các cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế Tuy nhiên, Luật Cạnh tranh không kiểm soát tất cả các hoạt động tập trung kinh tế mà chỉ tập trung vào một số trường hợp trên cơ sở đánh giá quy mô của doanh nghiệp hình thành sau hoạt động tập trung kinh tế Cụ thể là:

- Đối với các trường hợp trong đó thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của các doanh nghiệp tham gia dưới 30% hoặc trường hợp doanh nghiệp hình thành sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật thì các doanh nghiệp được tiến hành tập trung kinh tế mà không cần phải thực hiện thủ tục thông báo bắt buộc

- Đối với các trường hợp trong đó thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của các doanh nghiệp tham gia từ 30% đến 50% thì các doanh nghiệp được tiến hành tập trung kinh tế tuy nhiên đại diện hợp pháp của các doanh nghiệp đó phải thực hiện thủ tục thông báo cho Cục Quản lý Cạnh tranh trước khi tiến hành tập trung kinh tế Để tiến hành thủ tục thông báo, các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế cần hoàn thiện hồ sơ thông báo tập trung kinh tế theo mẫu do Cục Quản lý cạnh tranh ban hành Luật Cạnh tranh có quy định cấm thực hiện tập trung kinh tế đối với các trường hợp trong đó thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của các doanh nghiệp tham gia chiếm trên 50% trên thị trường liên quan và doanh nghiệp hình thành sau hoạt động tập trung kinh tế không thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật (Điều 18, Luật Cạnh tranh) Tuy nhiên, các vụ việc tập trung kinh tế thuộc diện bị cấm cũng có thể được xem xét và miễn trừ trong hai trường hợp:

(i) Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản;

Trang 33

(ii) Việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ (Điều 19, Luật Cạnh tranh) Để được miễn trừ, các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế cần nộp Hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ theo mẫu do Cục Quản lý cạnh tranh ban hành Các quy định cụ thể liên quan đến Tập trung kinh tế được quy định tại Mục 5, Nghị định 116/2005/NĐ-

CP Thủ tục thực hiện các trường hợp miễn trừ được quy định tại Mục 4, Luật Cạnh tranh và chi tiết tại Mục 6, Nghị định 116/2005/NĐ-CP Vi phạm quy định của pháp luật về tập trung kinh tế có thể bao gồm:

- Hành vi không thông báo về tập trung kinh tế

- Tập trung kinh tế trước khi có quyết định cho hưởng miễn trừ của cơ quan

có thẩm quyền

Trên cơ sở xem xét các yếu tố như mức độ gây hạn chế cạnh tranh do hành

vi vi phạm gây ra, mức độ thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra, khả năng gây hạn chế cạnh tranh của các đối tượng vi phạm, thời gian thực hiện hành vi vi phạm, khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm và các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng (Điều 7, Nghị định số 120/2005/NĐ-CP), các doanh nghiệp vi phạm quy định về tập trung kinh tế có thể phải chịu các hình thức xử lý vi phạm sau:

i) Phạt tiền tùy theo hành vi vi phạm và mức độ nghiêm trọng của hành vi Mức phạt tối đa là 10% tổng doanh thu của doanh nghiệp vi phạm trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm Cụ thể là:

- phạt tiền đến 5% tổng doanh thu trong năm tài chính trước khi tiến hành tập trung kinh tế đối với sáp nhập, hợp nhất, mua lại liên doanh bị cấm;

- phạt tiền từ 5% đến 10% tổng doanh thu trong năm tài chính trước khi tiến hành tập trung kinh tế đối với sáp nhập, mua lại bị cấm trong trường hợp có dấu hiệu chèn ép, buộc doanh nghiệp khác phải sáp nhập hoặc bán toàn bộ hoặc một phần tài sản;

- phạt tiền từ 5% đến 10% tổng doanh thu trong năm tài chính trước khi tiến hành tập trung kinh tế đối với hợp nhất, liên doanh bị cấm trong trường hợp làm tăng giá hàng hóa, dịch vụ trên thị trường liên quan một cách đáng kể;

Trang 34

- phạt tiền từ 1% đến 3% tổng doanh thu trong năm tài chính trước khi tiến hành tập trung kinh tế trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ thông báo theo quy định của Luật Cạnh tranh

ii) Phạt bổ sung: như thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đã cấp cho doanh nghiệp hợp nhất, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với các liên doanh vi phạm pháp luật cạnh tranh

iii) Các biện pháp khắc phục hậu quả như chia, tách doanh nghiệp đã sáp nhập, hợp nhất; bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; buộc bán lại phần tài sản đã mua…

(Điều 25 đến điều 29 Nghị định 120/2005/NĐ-CP ngày 30 tháng 09 năm

2005 về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh)

Như vậy, qua tham khảo một số mô hình kiểm soát tập trung kinh tế trong pháp luật của các nước phát triển như Hoa Kỳ, Đức, Pháp, có thể nhận thấy một đặc điểm chung là pháp luật tại các nước này đều đặt ra các ngưỡng để kiểm soát, và đều lấy tiêu chí doanh thu của doanh nghiệp - thể hiện bằng con số tuyệt đối Tại Đức, việc kiểm soát dựa vào mức vốn của công ty, còn tại Hoa Kỳ và Pháp, tiêu chí kiểm soát là doanh thu của doanh nghiệp Đây là các con số tuyệt đối, dễ xác định hơn tiêu chí thị phần như trong quy định kiểm soát của Việt Nam

Trang 35

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TẬP TRUNG KINH TẾ ĐẶT RA TẠI VIỆT NAM

I Thực trạng tập trung kinh tế tại Việt Nam

Tại Việt Nam, tập trung kinh tế mới được nhắc tới nhiều trong những năm gần đây; trong khi đó hiện tượng tập trung kinh tế trên thế giới đã xuất hiện từ lâu Tuy nhiên, trong các năm qua, hoạt động tập trung kinh tế tại Việt Nam đã gia tăng mạnh mẽ cùng với nhu cầu tái cơ cấu của nội tại các doanh nghiệp, sự gia tăng nhanh của thị trường chứng khoán Tổng giá trị của 113 vụ tập trung kinh tế tại Việt Nam được công bố trong năm 2007 đã đạt giá trị 1753 triệu USD, vượt xa con số 38

vụ với giá trị 299 triệu USD trong năm 2006 và tăng gấp nhiều lần so với năm

2005 Trong đó, trên ¾ tổng giá trị giao dịch (tương đương 1350 triệu USD) thuộc lĩnh vực dịch vụ tài chính Đến năm 2008, tổng giá trị của những giao dịch chỉ đạt 1.009 triệu USD, nhưng tổng số lượng giao dịch mua bán công ty tại năm này là

146 vụ, nhiều hơn 26% so với năm 2007 Điều này có thể được giải thích bởi nguyên nhân một số diễn biến không thuận lợi của nền kinh tế làm cho các giao dịch có giá trị thấp hơn, nhiều giao dịch bị dừng hoặc không công bố rộng rãi

Một đặc điểm là tại Việt Nam, hoạt động tập trung kinh tế chủ yếu diễn ra dưới hình thức các vụ thâu tóm một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp và rất ít khi ở mức độ cao hơn như hợp nhất - hình thức đòi hỏi trình độ quản lý và hợp tác cao Rất nhiều vụ được xếp vào hoạt động M&A: mua bán và sáp nhập doanh nghiệp, nhưng thực chất thiên về đầu tư tài chính Đó chỉ là những trường hợp nắm vốn của nhau, mua cổ phần để trở thành đối tác chiến lược mà chưa nhằm đến việc thâu tóm

để khống chế sở hữu và điều hành công ty Bên cạnh đó, hình thức tập trung kinh tế vẫn còn ở mức độ đơn giản một phần là do tỷ lệ sở hữu cổ phần bị khống chế đối với doanh nghiệp nước ngoài trong một số lĩnh vực (ngân hàng 30%, công ty niêm yết 49%), như trường hợp ANZ -SSI, Sacombank; Standard Chatter – Ngân hàng ACB Ngoài ra, ở Việt Nam cũng chưa có trường hợp thâu tóm để thống lĩnh thị trường như ở các nước khác Một phần vì hoạt động tập trung kinh tế tại Việt Nam phần lớn đều thể hiện sự hợp tác giữa các bên tham gia So với thế giới, các vụ tập

Trang 36

trung kinh tế ở Việt Nam mang tính thân thiện nhiều hơn; và ở một góc độ nào đó

có thể nói, vẫn mang hơi hướng của hình thức liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài trước đây

Mặc dù vậy, điểm lại tình hình tập trung kinh tế tại Việt Nam thời gian qua

có thể thấy những thực tế lớn sau:

1 Về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp

Hầu hết pháp luật về cạnh tranh của các nước đều thống nhất coi mua bán, sáp nhập doanh nghiệp là một hành vi tập trung kinh tế điển hình; và tại Việt Nam, mua bán sáp nhập cũng là hoạt động diễn ra phổ biến trong tập trung kinh tế

Trong những năm gần đây, khi mua bán, sáp nhập doanh nghiệp phát triển mạnh và có tốc độ tăng trưởng khá cao thì một đặc điểm nổi bật là đa số các giao dịch có giá trị cao đều có yếu tố nước ngoài, hay nói cách khác, chiếm tỷ trọng lớn đều có sự tham gia của ít nhất một bên là doanh nghiệp nước ngoài Ví dụ trường hợp doanh nghiệp nước ngoài mua lại toàn bộ cổ phần hoặc cổ phiếu chiến lược của doanh nghiệp trong nước như: ANZ đầu tư vào Ngân hàng Sacombank và Công ty chứng khoán SSI; HSBC mua cổ phần Techcombank; công ty TNHH Daikin Industries của Nhật Bản đã mua công ty Việt Kim - một nhà bán lẻ máy lạnh tại Tp.HCM; Dragon Capital mua cổ phần Vinamilk; Qantas (Australia) mua cổ phần của Pacific Airlines sau đó đổi tên thành hãng hàng không Jetstar; và gần đây nhất, tháng 12 năm 2008, công ty Watson Wyatt Worldwide, một công ty tư vấn toàn cầu, thông báo đã mua công ty TNHH Nguồn nhân lực Việt Nam Smart (Smart HR), một công ty tư vấn các dịch vụ nhân sự Ngoài ra, công ty Lotte đã mua lại tới 35,6% vốn điều lệ của Bibica và kiểm soát doanh nghiệp niêm yết có sản lượng và thương hiệu xếp thứ 2 tại Việt Nam này11

Theo công bố thông tin từ doanh nghiệp, với việc kiểm soát cộng nghệ, kỹ thuật, chiến lược này, Lotte có thể sản xuất ngay trên nhà máy của Bibica Miền Đông, dây chuyền sản xuất cao cấp Mục tiêu trở thành nhà kinh doanh lớn nhất Việt Nam của Lotte có thể đạt được với mạng lưới phân phối sẵn có của Bibica lên đến 20.000 cửa hàng, chiếm 10% thị phần bánh kẹo

Trang 37

ở Việt Nam Trước mắt, từ tháng 5/2008, sản phẩm bánh Chocopie của Lotte đã được phân phối qua hệ thống của Bibica, và những dãy sản phẩm tiếp theo của tập đoàn này đang chuẩn bị được đưa vào Việt Nam12

Không chỉ các doanh nghiệp nước ngoài, ngay cả các công ty Việt Nam cũng coi M&A là hình thức nhanh chóng để mở rộng thị phần, tận dụng hệ thống phân phối sẵn có Kinh Đô là một trường hợp điển hình Năm 2003, công ty này đã mua lại toàn bộ nhà máy sản xuất và hệ thống kinh doanh kem Wall”s từ Unilever Bestfoods Vietnam, sang năm 2005 và 2007, thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán, họ đã mua được một phần lớn quyền sở hữu (trên 30%) các công ty

CP nước giải khát Sài Gòn (Tribeco) và công ty CP Thực phẩm dinh dưỡng Đồng Tâm (Nutifood) Nhờ đó, Kinh Đô đã kiểm soát được hệ thống phân phối tương đối rộng trên cả nước, ngoài hệ thống phân phối sẵn có của họ Trong năm 2008, Kinh

Đô đã có kế hoạch sáp nhập với công ty Kinh Đô miền Bắc13 Cả hai công ty này đều được cho là có thị phần tương đối lớn trên thị trường bánh ngọt trung và cao cấp14

Đối với trường hợp thâu tóm giữa hai doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; xét theo địa bàn, các tỉnh, thành phố có nhiều khu công nghiệp là nơi có nhiều vụ sáp nhập của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhất Chỉ riêng 3 tỉnh, thành phố tại miền Nam là Tp.HCM, Đồng Nai và Bình Dương đã chiếm tới 59% tổng số vụ sáp nhập theo dạng này Có thể nhắc tới vụ Savills mua Chesterton Petty Vietnam và trường hợp công ty TNHH Máy tính Compaq Việt Nam giải thể, sáp nhập với HP Việt Nam Và một giao dịch lớn đáng nhớ trong lịch sử đó là 3 công ty liên doanh của Coca Cola tại Việt Nam được chuyển đổi thành công ty 100% vốn nước ngoài; đồng thời sáp nhập thành công ty TNHH nước giải khát Coca Cola Việt Nam

4b0f9

Trang 38

Dưới đây là bảng tổng kết so sánh giá trị các giao dịch mua bán qua các năm (từ năm 2003 đến năm 2008)

Nguồn: Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương

Thực trạng tại Việt Nam cho thấy sau các ngành công nghiệp thì M&A trong ngành tài chính vẫn năng động nhất Ngoài ra, ngành truyền thông và giải trí cũng tăng trưởng trong năm 2008, chiếm 12% tổng các giao dịch mua bán, đặc biệt là ngành quảng cáo, tiếp thị và Internet

Nguồn: Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương

Qua các giao dịch mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, có thể thấy rằng, hoạt động này đã diễn ra mạnh mẽ và khá đa dạng; xuất phát từ chính nhu cầu tái cơ cấu, đổi mới doanh nghiệp Nổi bật là rất nhiều các tập đoàn tài chính trên thế giới đã có mặt tại Việt Nam Cách nhanh nhất nhằm được mục đích thâm nhập cũng như thể hiện sức mạnh của mình trên thị trường chính là việc mua lại một phần, góp vốn hay thậm chí mua đứt các doanh nghiệp Việt Nam Điều đó cho thấy hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam thực sự là một thị trường tiềm năng

2 Về việc tập trung kinh tế thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán

Tại Việt Nam, năm 2006 là thời điểm cả thị trường chứng khoán niêm yết và thị trường phi tập trung đều bùng nổ Cơ hội thu hút vốn đầy tiềm năng từ thị trường chứng khoán cùng sự kiện Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Đầu tư năm 2005 được thực hiện từ tháng 7/2006 thực sự đã thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước và nỗ lực mở rộng kinh doanh của khu vực tư nhân, tạo nguồn cung và cầu “hàng hóa - công ty” dồi dào cho các hoạt động đầu tư, tài chính Trên một sân chơi phổ biến hơn và khuôn khổ pháp lý đã trở nên thuận lợi hơn, các doanh nghiệp Việt Nam của tất cả các thành phần kinh tế nhanh chóng làm quen và sử dụng M&A như một công cụ chiến lược để phát triển hay cơ cấu lại doanh nghiệp của mình, đối phó với sức nóng cạnh tranh ngày càng lớn trên thị trường Các công ty được quyền tự do chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần để

Trang 39

thâu tóm quyền sở hữu hoặc tham gia quản lý công ty mục tiêu Phần vốn góp, cổ phần đã trở thành “hàng hóa” có thể chuyển nhượng một cách tương đối tự do, đơn giản và hợp pháp

Đặc điểm đáng chú ý của các giao dịch thâu tóm cổ phiếu trên thị trường chứng khoán là: các giao dịch mua thường do các quỹ đầu tư hoặc các định chế tài chính nước ngoài tiến hành và với mục đích chủ yếu là đầu tư sinh lợi dựa trên sự biến động giá chứng khoán Chỉ có một số không nhiều trường hợp thâu tóm cổ phiếu của một doanh nghiệp để tham gia điều hành, quản lý doanh nghiệp đó (như ANZ, Daiwa với SSI, Swiss Reinsurance với Vinare,…) Các công ty bán 49% cổ phần đều là các công ty có quy mô vừa và nhỏ, thị phần còn khiêm tốn cả về hoạt động môi giới và tư vấn tài chính doanh nghiệp Các loại cổ phiếu mà các nhà đầu

tư nước ngoài thường tập trung giao dịch là các cổ phiếu có giá trị vốn hóa lớn, tính thanh khoản cao (như FPT, REE, Vinamilk, ACB, STB, SJS, SAM) Tỷ lệ sở hữu nước ngoài trong các công ty dạng này thường rất cao: 30% đối với ngân hàng niêm yết và 49% đối với doanh nghiệp khác (giới hạn được phép sở hữu theo đúng quy định 238/2005/QĐ-TTg) Việc các tổ chức tài chính lớn trên thế giới đẩy mạnh mua 49% cổ phần tại công ty chứng khoán Việt Nam cho thấy đây là con đường tắt nhanh nhất dẫn họ đến thị trường tiềm năng này

Tính từ năm 2005 đến nay, các vụ mua bán, sáp nhập (M&A) trong lĩnh vực chứng khoán tại Việt Nam có xu hướng tăng lên cả về số lượng và giá trị giao dịch, với sự tham gia ngày càng nhiều từ các tổ chức nước ngoài

Nối tiếp sự kiện Morgan Stanley mua 48,33% cổ phần của Công ty chứng khoán Hướng Việt và CTCK này đổi tên thành CTCK Morgan Stanley - Hướng Việt, CTCK Âu Lạc bán 49% cổ phần cho công ty Technology CX (quần đảo Cayman) Ngân hàng đầu tư RHB (Malaysia) mua 49% cổ phần của CTCK Việt Nam với giá trị giao dịch khoảng 68 tỷ đồng Và gần đây nhất, CTCK Seamico của Thái Lan mua 49% cổ phần của CTCK Thành Công

Như vậy, sử dụng M&A để thiết lập hoạt động của mình tại thị trường Việt Nam đang được coi là một việc làm khôn khéo của một số tổ chức tài chính nước ngoài hiện nay Vì xét cho cùng, mua lại cổ phần tới 49%, thì cũng gần như nắm

Trang 40

quyền quyết định trong công ty, lại dễ dàng và đơn giản, đỡ tốn kém hơn rất nhiều so với việc xin cấp phép và thành lập công ty chứng khoán mới 100% vốn nước ngoài

3 Về liên doanh

Tại Việt Nam, doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công

ty trách nhiệm hữu hạn Mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn cam kết góp vào vốn pháp định của doanh nghiệp Vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư Đặc điểm nổi bật của doanh nghiệp liên doanh là có sự phối hợp cùng góp vốn đầu tư sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư Việt nam Tỷ lệ góp vốn của mỗi bên

sẽ quyết định tới mức độ tham gia quản lý doanh nghiệp, tỷ lệ lợi nhuận được hưởng cũng như rủi ro mỗi bên tham gia liên doanh phải gánh chịu Gần đây, sự ra đời của Công ty phân phối Việt Nam (VDC) là kết quả của liên doanh giữa 4 đại gia phân phối – bán lẻ lớn: Satra, Hapro, Saigon Coop và Phú Thái Đây được coi là một bước đi mạnh mẽ của các nhà phân phối, bán lẻ trong nước để ứng phó với sự cạnh tranh của các nhà phân phối, bán lẻ nước ngoài đã có hiện diện tại Việt Nam hoặc chuẩn bị tham gia thị trường

Dưới giác độ của đầu tư, doanh nghiệp liên doanh là hình thức doanh nghiệp thực sự đem lại nhiều lợi thế cho cả nhà đầu tư việt nam và nhà đầu tư nước ngoài Đối với các nhà đầu tư Việt Nam, khi tham gia doanh nghiệp liên doanh, ngoài việc phân chia lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp, nhà đầu tư việt nam còn có điều kiện tiếp cận với công nghệ hiện đại, phong cách và trình độ quản lý kinh tế tiên tiến Đối với bên nước ngoài, lợi thế được hưởng là được đảm bảo khả năng thành công cao hơn

do môi trường kinh doanh, pháp lý hoàn toàn xa lạ nêu không có bên việt nam thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn Tuy nhiên, hình thức doanh nghiệp liên doanh cũng có sự bất lợi là có sự ràng buộc chặt chẽ trong một pháp nhân chung giữa các bên hoàn toàn khác nhau không chỉ về ngôn ngữ mà còn về truyền thống, phong tục, tập quán, phong cách kinh doanh, do vậy có thể phát sinh những mâu thuẫn không dễ giải quyết

4 Về hợp nhất

Ngày đăng: 17/04/2014, 13:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1) Đoàn Trung Kiên (2008), Pháp luật về cạnh tranh ở Việt Nam trong tiến trình tự do hoá thương mại, Tạp chí Luật học, số 10, trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về cạnh tranh ở Việt Nam trong tiến trình tự do hoá thương mại," Tạp chí "Luật học
Tác giả: Đoàn Trung Kiên
Năm: 2008
2) Bùi Thanh Lam (2008), Điều kiện xây dựng, phát triển thị trường mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 4, trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều kiện xây dựng, phát triển thị trường mua bán và sáp nhập doanh nghiệp ở Việt Nam," Tạp chí "Luật học
Tác giả: Bùi Thanh Lam
Năm: 2008
3) Đinh Thị Mỹ Loan (2008), Tập trung kinh tế theo quy định của Pháp luật Cạnh tranh, Tài liệu hội thảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập trung kinh tế theo quy định của Pháp luật Cạnh tranh
Tác giả: Đinh Thị Mỹ Loan
Năm: 2008
4) Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo Luật Kinh tế, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên khảo Luật Kinh tế
Tác giả: Phạm Duy Nghĩa
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
5) Tăng Văn Nghĩa (chủ nhiệm đề tài) (2007), Một số vấn đề đặt ra đối với việc thực thi Luật cạnh tranh, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 7 (231), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đặt ra đối với việc thực thi Luật cạnh tranh", Tạp chí "Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Tăng Văn Nghĩa (chủ nhiệm đề tài)
Năm: 2007
6) Tăng Văn Nghĩa (2007), Những vấn đề đặt ra và giải pháp thực thi có hiệu quả Luật Cạnh tranh trong thực tiễn, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề đặt ra và giải pháp thực thi có hiệu quả Luật Cạnh tranh trong thực tiễn
Tác giả: Tăng Văn Nghĩa
Năm: 2007
7) Tăng Văn Nghĩa (2008), Tài liệu học tập môn Pháp luật cạnh tranh, Trường Đại học Ngoại Thương - Khoa Quản trị kinh doanh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập môn Pháp luật cạnh tranh
Tác giả: Tăng Văn Nghĩa
Năm: 2008
8) Phan Thảo Nguyên (2007), Một số lý luận về tập đoàn kinh tế - thương mại, Tạp chí Công nghệ Thông tin và Truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số lý luận về tập đoàn kinh tế - thương mại", Tạp chí
Tác giả: Phan Thảo Nguyên
Năm: 2007
9) Nguyễn Ngọc Sơn (2006) , Kiểm soát tập trung kinh tế theo pháp luật cạnh tranh và vấn đề của Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7, Văn phòng Quốc hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm soát tập trung kinh tế theo pháp luật cạnh tranh và vấn đề của Việt Nam, "Tạp chí "Nghiên cứu lập pháp
11) Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1998), Từ diển tiếng Việt, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ diển tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Như Ý (chủ biên)
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin
Năm: 1998
12) Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương (2009), Báo cáo tập trung kinh tế tại Việt Nam: Hiện trạng và Dự báo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tập trung kinh tế tại Việt Nam: Hiện trạng và Dự báo
Tác giả: Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương
Năm: 2009
13) Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương (2007), Kiểm soát tập trung kinh tế - Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm soát tập trung kinh tế - Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam
Tác giả: Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
14) Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật Thương mại, tập 1, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Thương mại
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an Nhân dân
Năm: 2006
15) Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Tạp chí Luật học, Chuyên đề về Luật Cạnh tranh, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật học, Chuyên đề về Luật Cạnh tranh
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2006
16) Thời báo Kinh tế Việt Nam (2009), Thành lập tập đoàn kinh tế mới: chưa có quy định cụ thể về chủ sở hữu, số 113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành lập tập đoàn kinh tế mới: "chưa có quy định cụ thể về chủ sở hữu
Tác giả: Thời báo Kinh tế Việt Nam
Năm: 2009
17) Ủy ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế (2005), Chính sách và thực tiễn pháp luật cạnh tranh của Cộng hoà Pháp, tập 1, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách và thực tiễn pháp luật cạnh tranh của Cộng hoà Pháp
Tác giả: Ủy ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
18) Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW. Trung tâm Thông tin - Tư liệu, Tập đoàn kinh tế Việt Nam: Hiện trạng và xu hướng phát triển.B. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập đoàn kinh tế Việt Nam: Hiện trạng và xu hướng phát triển
19) C uts HRC ( 2008), Competition Law in Vietnam: A Toolkit, Hanoi 20) Michael Craig, 50 Best & Worst Business Deals of All Time Sách, tạp chí
Tiêu đề: Competition Law in Vietnam: A Toolkit
Tác giả: C uts HRC
Nhà XB: Hanoi
Năm: 2008
21)Berin Mihai, Economic concentration in the context of the world economy globalization, University of Oradea, Faculty of Economic Sciences, Romania Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic concentration in the context of the world economy globalization

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w