Thậm chí đối với một số Nhà nghiên cứu và cán bộ công tác bảo vệ môi trường cũng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện về vấn đề khí hậu ở Việt Nam cũng như
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 : CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU……… 7
1.1 Biến đổi khí hậu………7
1.1.1 Khái niệm chung về biến đổi khí hậu……… 7
1.1.2 Nguyên nhân của biến đổi khí hậu………… 9
1.1.3 Hậu quả của biến đổi khí hậu……… 13
1.2 Pháp luật quốc tế về chống biến đổi khí hậu………28
1.2.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh vấn đề biến đổi khí hậu trong luật pháp quốc tế… 28
1.2.2 Sự phát triển của luật pháp quốc tế về biến đổi khí hậu………29
1.3 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1……… 32
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ CƠ BẢN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM………33
2.1 Các điều ước quốc tế về biến đổi khí hậu……… 33
2.1.1Công ước Viên về bảo vệ tầng Ôzôn năm 1985………33
2.1.2 Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng Ôzôn năm 1987……… 36
2.1.3 Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu năm 1992……… 39
2.1.4 Nghị định thư Kyoto về giảm phát thải khí nhà kính năm 1997……….42
2.1.5 Thỏa thuận của Hội nghị thượng đỉnh Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu tại Copenhanghen, Đan Mạch……….49
2.2 Vấn đề thực thi các điều ước quốc tế về chống biến đổi khí hậu………51
2.2.1 Trên bình diện quốc tế……….51
2.2.2 Vấn đề thực thi taị Việt Nam……… 60
2.3 Nỗ lực của thế giới nhằm xây dựng các điều ước quốc tế mới về biến đổi khí hậu………69
Trang 22.3.2 Đóng góp của Việt Nam……… 76
2.4 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2……… 79
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN LUẬT PHÁP QUỐC TẾ VỀ CHỐNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU……….80
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện luật pháp quốc tế về chống biến đổi khí hậu….80 3.2 Một số kiến nghị cụ thể………81
3.2.1 Đảm bảo việc thực thi các quy định hiện hành của luật pháp quốc tế về chống biến đổi khí hậu……….81
3.2.2 Xây dựng điều ước quốc tế mới thay thế Nghị định thư Kyoto – Nhiệm vụ cấp bách hiện nay……… 83
3.3 Các vấn đề đặt ra đối với Việt Nam………86
3.4 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3……… 90
KẾT LUẬN………91
TÀI LIỆU THAM KHẢO………94
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, thế giới đã phải hứng chịu những thảm họa thiên nhiên khủng khiếp gây thiệt hại nặng nề về người và của như những cơn bão lớn, những đợt hạn hán kéo dài, sự thay đổi bất thường của thời tiết…Nhiều nguyên nhân đã được nêu ra nhưng tựu chung lại, các nhà khoa học đều khẳng định nguyên nhân chính gây ra những hiện tượng này là biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu đã và đang gây ra những ảnh hưởng xấu tới cả giới
tự nhiên và con người Biến đổi khí hậu đang là vấn đề nóng nhất của cộng đồng thế giới trong thế kỷ XXI và chống biến đổi khí hậu cũng như hạn chế các tác động xấu của nó không phải là trách nhiệm của riêng quốc gia hay nhóm nước nào mà là trách nhiệm chung của toàn thế giới Việc giải quyết tình trạng biến đổi khí hậu đã được nêu ra trong rất nhiều các cuộc hội nghị, hội thảo của các quốc gia hay tổ chức quốc tế không đạt được hiệu quả như mong muốn Biến đổi khí hậu đòi hỏi sự tham gia giải quyết của tất cả các quốc gia trên thế giới Trong bối cảnh và sự nhận thức đó, tháng 6/1992, tại Braxin, 162 quốc gia trong đó có Việt Nam đã ký công ước Khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (United Nations Framework Convantion on Climate Change - UNFCCC) [6] Năm 1997, Nghị định thư Kyoto về giảm phát thải khí nhà kính cũng được đệ trình và đã có hiệu lực vào năm 2005 Trong đó các quốc gia công nghiệp đã cam kết giảm khí thải nhà kính trong khoảng thời gian đến năm 2012 Các nước đang phát triển và các nước công nghiệp mới có nền kinh tế phát triển nhanh chưa phải đưa ra cam kết tại Kyoto Ngoài UNFCCC và Nghị đinh Kyoto, công ước Viên về bảo vệ tầng Ôzôn (22/3/1985) và nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng
Trang 5Ôzôn (16/9/1987) cũng có liên quan đến việc hạn chế những tác động tiêu cực gây biến đổi khí hậu
Chủ đề chống biến đổi khí hậu cũng là trọng tâm của Hội nghị thượng đỉnh G8 năm 2009 Theo quan điểm của một số nước thì các nước G8 với tư cách là các quốc gia công nghiệp có nền kinh tế mạnh nhất thế giới phải đảm nhiệm vai trò đi đầu trong công cuộc bảo vệ môi trường, bảo vệ khí hậu, bảo
vệ tính đa dạng sinh học và thúc đẩy việc quản lý chất thải thân thiện với môi trường Chỉ khi nào các cường quốc công nghiệp kiên trì thực hiện mục đích đó thì các cường quốc đang phát triển mới có thể bị thuyết phục để tiến hành các biện pháp hữu hiệu Cùng với đó, chủ đề của ngày Môi trường thế
giới năm 2009 là “Trái Đất cần chúng ta! Hãy liên kết chống lại biến đổi khí hậu” Nó phản ánh tính cấp thiết đối với các quốc gia trong việc đi đến
một thỏa thuận mới tại Hội nghị khí hậu kéo dài 180 ngày ở Copenhagen (Đan Mạch)
Thông qua các điều ước quốc tế về biến đổi khí hậu, khung pháp luật quốc tế về vấn đề này đã và đang được hình thành Cơ chế thực thi cũng thực thi cũng đang được các quốc gia xây dựng và tự giác thực hiện Tuy nhiên, hệ thống thống pháp luật nhiều hạn chế và chưa đủ để chống lại sự thay đổi khí hậu cũng như hạn chế các tác động xấu của nó Chính vì vậy, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc tế về biến đổi khí hậu là vấn đề quan trọng và cấp bách của cộng đồng thế giới
Trước tình hình đó, ở Việt Nam, chống biến đổi khí hậu ngày nay đã trở thành một trong những chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước ta Bằng những chính sách và biện pháp khác nhau, Nhà nước ta đang can thiệp mạnh mẽ vào các hoạt động của cá nhân, tổ chức trong xã hội để bảo vệ các yếu tố của khí hậu Trong những biện pháp mà Nhà nước ta sử dụng trong lĩnh vực khác, pháp luật đóng vai trò đặc biệt quan trọng Sự xuất hiện và vai trò ngày càng tăng của các quy định pháp luật về chống biến đổi khí hậu
Trang 6kể từ khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường là biểu hiện rõ rệt về
sự cấp bách của vấn đề khí hậu và dẫn đến một hệ quả tất yếu là phải có những nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống về pháp luật bảo vệ khí hậu Đáng chú ý, với chính sách đối ngoại rộng mở trong thời gian qua của Nhà nước ta đã tích cực ký kết và tham gia vào nhiều điều ước quốc tế về cắt giảm khí thải, bảo vệ khí hậu quan trọng Để thực hiện cam kết quốc tế của mình, Nhà nước đã ban hành một hệ thống pháp luật về chống biến đổi khí hậu tương đương đối hoàn chỉnh, được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao Tuy nhiên, trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, vấn đề biến đổi khi hậu toàn cầu cần tiếp tục được quan tâm hơn nữa
Bởi những nguyên nhân nói trên, tôi cho rằng việc nghiên cứu đề tài:
"Pháp luật quốc tế về chống biến đổi khí hậu và vấn đề thực thi tai Việt Nam" có ý nghĩa lý luận và thực tiễn khá lớn Việc nghiên cứu đề tài này có
thể góp phần hoản thiện và nhìn nhận sâu sắc hơn nữa về vấn đề khí hậu, qua đó đóng góp cho phong phú hơn lý luận của khoa học Luật quốc tế về bảo vệ khí hậu toàn cầu
2 Tình hình nghiên cứu
Thực tế cho thấy, việc nghiên cứu pháp luật quốc tế về chống biến đổi khí hậu và việc thực thi pháp luật đó luôn là một nội dung thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và quản lý ở hầu hết các quốc gia, dù đó là quốc gia phát triển hay quốc gia đang phát triển
Đặc biệt, ở Việt Nam trong thời gian gần đây đã có nhiều tác giả và tập thể tác giả trong nghiên cứu về tác động tới khí hậu và các vấn đề pháp lý về biến đổi khí hậu Một số công trình có giá trị nghiên cứu về khung pháp luật
về chống biến đổi khí hậu cũng đã được công bố rộng rãi, chẳng hạn, đề tài: Việc thực thi các cam kết của Việt Nam về biến đổi khí hậu – Lưu Ngọc Tố Tâm, “Nghiên cứu phân tích các kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu, khu vực Đông Nam Á và các kịch bản ở Việt Nam” của Sở Khoa học Công nghệ TP
Trang 7Hồ Chí Minh, “Biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai tại Việt Nam” –
Hà Lương Thuần, Viện khoa học Thuỷ lợi, "Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực trong công tác xây dựng, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật về tài nguyên và môi trưòng" của Viện Nghiên cứu Địa chính 3/2006, hệ thống giáo trình giảng dạy về Pháp luật môi trường ở các trường Đại học và các Khoa đào tạo Cử nhân Luật Mặc dù vậy, việc nghiên cứu, hệ thống hoá các nội dung chính yếu của pháp luật quốc tế về chống biến đổi khí hậu và vấn đề thực thi ở Việt Nam lại là một vấn đề khá mới Một số khía cạnh liên quan đến vấn đề này cũng chỉ mới được nghiên cứu trong một vài năm trở lại đây khi mà vấn đề khi hậu đang trở nên nghiêm trọng với việc tăng cao của nhiệt độ làm cho trái đất dần dần nóng lên Trên thực tế số công trình ít ỏi nghiên cứu về môi trường nói chung mới chỉ từng bước tháo gỡ và giải quyết những vấn đề riêng biệt, nhiều vấn đề có ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn chưa được lý giải hoặc lý giải nhưng chưa thoả đáng Thậm chí đối với một số Nhà nghiên cứu và cán bộ công tác bảo vệ môi trường cũng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện về vấn đề khí hậu ở Việt Nam cũng như việc thực thi các công ước quốc tế về chống biến đổi khí hậu Bởi những lý do đó, việc tiến hành nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống vấn đề này là một hướng nghiên cứu thiết thực, mang tính cấp thiết
3 Mục đích, ý nghĩa của việc nghiên cứu
Đề tài nhằm mục đích thống nhất một số vấn đề lý luận và tiến triển của việc thực thi pháp luật quốc tế về biến đổi khí hậu mà Việt Nam đã tham gia trong thời gian qua trên cơ sở xác định những luận cứ khoa học làm tiền
đề cho việc đảm bảo thi hành các cam kết quốc tế đó
Thực hiện đề tài này, tác giả hy vọng đóng góp một phần năng lực nghiên cứu của mình vào việc thiết lập một hệ thống cơ sở lý luận về vấn đề xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật trong nước về chống biến đổi
Trang 8khí hậu, dựa trên các văn bản điều ước đa phương mà Chính phủ Việt Nam
đã ký kết trong thời gian vừa qua
4 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Trước hết, luận văn sẽ làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật về chống biến đổi khí hậu toàn cầu nói chung
và khí hậu Việt Nam nói riêng, đồng thời đưa ra một số kiến nghị cho việc hoàn thiện pháp luật thực định cũng như thúc đẩy thực thi những quy định này trong công tác bảo vệ khí hậu hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề mang tính cơ bản nhất của lý luận Luật quốc tế về chống biển đối khí hậu Việc nghiên cứu được giới hạn ở một số điều ước quốc tế cơ bản về bảo vệ khí hậu mà Việt Nam đã ký kết tham gia trong thời gian qua Thông qua đó khẳng định việc tham gia các điều ước quốc tế chống biến đối khí hậu và hoàn thiện pháp luật trong nước trong lĩnh vực này là một tất yếu khách quan và là một vấn đề hết sức cấp bách không chỉ nhằm đáp ứng các yêu cầu của cộng đồng quốc tế mà nhằm mong lại lợi ích thiết thực cho từng cá nhân trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay
- Phương pháp nghiêm cứu: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích
và tổng hợp, thống kê; phương pháp kế thừa có chọn lọc, phương pháp khảo sát thực tế, đồng thời so sánh đối chiếu các quy phạm thực định về chống biến đổi khí hậu Việt Nam với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết nói riêng và pháp luật quốc tế về bảo vệ khí hậu nói chung
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có 3 chương sau đây:
Chương 1: Những vấn đề chung về Biến đổi khí hậu
Chương 2: Một số Điều ước quốc tế cơ bản về biến đổi khí hậu và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam
Trang 9Chương 3: Hoàn thiện pháp luật quốc tế về chống biến đổi khí hậu và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam
Trang 10CHƯƠNG 1
CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Trong mấy thập kỷ qua, nhân loại đã và đang trải qua các biến động bất thường của khí hậu toàn cầu Trên bề mặt Trái đất, khí quyền và thủy quyển không ngừng nóng lên làm xáo động môi trường sinh thái, đã và đang gây ra nhiều hệ lụy với đời sống loài người Vậy biến đổi khí hậu là gì? Nguyên nhân, biểu hiện và hậu quả của nó ra sao? Pháp luật quốc tế đề cập tới vấn đề này như thế nào? Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu các vấn đề trên
1.1 Biến đổi khí hậu
1.1.1 Khái niệm chung về biến đổi khí hậu
a Khí hậu
Khí hậu thường được định nghĩa là trung bình của thời tiết trong một khoảng thời gian và không gian nhất định (tức là ở mức độ trung bình của các yếu tố của thời tiết, thường là 30 năm) Có những năm yếu tố chủ yếu để hình thành một chế độ khí hậu đó là: bức xạ mặt trời, nhiệt, độ ẩm, hòan lưu (gió) và vị trí địa lý, địa hình, mặt đệm Những yếu tố này không tách rời nhau Khi khí hậu có sự thay đổi thì năm yếu tố trên cũng thay đổi theo Thời tiết là trạng thái khí quyển tại một địa điểm nhất định được xác định bằng tổ hợp các yếu tố: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa… Khí quyển là bầu không khí bao quanh trái đất Nó chứa nhiều loại chất khí và các phân tử của nhiều chất khác Trong các loại chất khí, niơ chiếm 78%, oxy 21%, đioxít cácbon 0,03% và agon 0,9% Bầu khí quyển cung có các phân tử hơi nước, Mêtan, monoxít, hydro, ôzôn, hêli, nêon, kripton và xênon Ngoài ra, còn có các phân tử cát, khói, phân tử muối, phân
tử tro núi lửa, bụi thiên thạch và phấn hoa khí quyển phủ dầy đặc ở gần bệ mặt trái đất và nồng độ loãng dần ở phía ngoài [4]
Trang 11Bầu khí quyển trái đất có vai trò hết sức quan trọng đối với sự sống còn trên trái đất cũng như sự ổn định của khí hậu Bức xạ mặt trời chiếu xuống trái đất bị hơi nước và khí ôzôn trong khí quyển hấp thụ khoảng 23% lượng bức xạ này Bề mặt trái đất và khí quyển nhận được bức xạ mặt trời rồi phát trở lại vào khoảng trung nhưng ở các bức sóng dài hơn Phần hồng ngoại của bức xạ tái phát này sẽ bị các khí có trong không khí như đioxít cácboníc (CO2), mêtan (CH4), ôxít nitrơ (N20), clorofluocacbon (CFC) (gọi là khí nhà kính) hay bay hơi nước chặn lại và hấp thụ không cho thoát
ra ngoài vũ trụ, do đó làm tăng nhiệt độ của trái đất và khí quyển, đó là hiệu ứng nhà kính Nếu không có hiệu ứng nhà kính thì theo các tính tóan, trái đất
sẽ không giữ được độ nóng nhận từ mặt trời và nhiệt độ trung bình của trái đất sẽ ở mức -180C Tuy nhiên, do quá trình phát triển kinh tế xã hội, khí nhà kính có nguồn gốc từ các hoạt động của con người đã tăng lên nhanh chóng trong bầu khí quyển trái đất Sự gia tăng quá mức của khí nhà kính là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hiện tượng biến đổi khí hậu ngày nay
b Biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu là sự biến đối trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn Biến đổi khí hậu có thể do các quá trình
tự nhiên bên trong hoặc các tác động của bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành hần của khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất
Xét dưới góc độ khoa học môi trường, biến đổi khí hậu có nghĩa rộng được hiểu là tất cả các sự khác nhau giữa những số liệu thống kê dài hạn các yếu tố khí tượng ở những thời kỳ khác nhau của một khu vực, không bị phụ thuộc vào phép thống kê và nguyên nhân đã gây ra sự khác biệt đó Còn biến đổi khí hậu theo nghĩa hẹp dùng để mô tả những thay đổi rõ nét về giá trị trung bình của các yếu tố khí tượng, chủ yếu là nhiệt độ và lượng mưa, trong
Trang 12khoảng thời gian xác định như một tháng, một mùa hay vài năm, so với giá trị trung bình thời gian dài (từ vài chục năm trở lên) của một khu vực Những biến đổi đó có thể gây ra những hậu quả về kinh tế, xã hội hoặc môi
trường sinh thái của khu vực Dưới góc độ pháp lý quốc tế, biến đổi khí hậu
nghĩa là biến đổi của khí hậu được quy trực tiếp hoặc gián tiếp cho hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và sự thay đổi này được cộng thêm vào khả năng biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời kỳ có thể so sánh dược (Khoản 2 - Điều 1
Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu năm 1992) Như vậy, dưới góc độ pháp luật quốc tế, biến đổi khí hậu được hiểu là những thay đổi của khí hậu mà nguyên nhân chủ yếu là do các hoạt động con người Các biểu hiện của sự biến đổi khí hậu trái đất gồm:
Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung
Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trát đất
Sự dâng cao mực nước biển do tan băng dẫn tới sự ngập úng của các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển
Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn năm trên các vùng khác nhau của trái đất dẫn tói nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người
Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hóa khác
Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thủy quyển, sinh quyển, các địa quyển
1.1.2 Nguyên nhân của biến đổi khí hậu
Theo các nghiên cứu khoa học biến đổi khí hậu xảy ra do hai nguyên nhân sau:
Trang 13a Quá trình vận động của tự nhiên
Tài liệu địa chất cho thấy đã có những biến đổi sâu sắc trong khí hậu xảy ra trong quá khứ Những biến đổi này xảy ra từ khi con người còn chưa xuất hiện Nếu coi khí quyển, đại dương và bề mặt trái đất như là những nhân tố bên trong của hệ thống khí hậu, thì những nhân tố trong lòng trái đất
và bên ngoài trái đất là nhân tố bên ngòai của hệ thống khí hậu Bởi vậy, sự biến đổi của các nhân tố này sẽ làm khí hậu thay đổi theo Ví dụ như sự biến đổi của hằng số mặt trời, quỹ đạo trái đất quanh mặt trời … đều tác động đến khí hậu trái đất Lục địa trôi cũng có thể được xem là một ngoại lực tác động tới khí hậu làm thay đổi khí hậu
Mặt khác, trong quá trình tiến hóa và phát triển, sự thối rữa của xác động vật và thực vật chết ở tự nhiên cũng thải ra các chất khí gây ô nhiễm, ảnh hưởng tới sự vận động các yếu tố khí hậu
Bên cạnh đó, với sự vận động của tự nhiên, các núi lửa hoạt động, dòng nham thạch tràn ra làm tăng nhiệt độ tại một tiểu khu vực cũng thúc đẩy sự vận động mạnh mẽ của các dòng khí nóng, lạnh và quá trình hoàn lưu của khí quyển , tạo ra sự đột biến trong phạm vi lớn Sự hoạt động của núi lửa cũng tạo ra rất nhiều các hoạt chất gây ô nhiễm, như các sol khí (là các hạt bụi và các hạt lơ lủng) Những sol khí làm giảm độ trong suốt của khí quyển, đồng thời cũng là tác nhân gây ảnh hưởng mạnh mẽ tới thời tiết và khí hậu Các nhà khoa học đã tính toán rằng các loại sol khí phát sinh từ núi lửa chiếm khối lượng từ 25 đến 150 tấn/năm trên toàn thế giới Các sol khí còn được tạo ra từ bụi rừng, bụi biển, từ đất, từ hoc thực vật, từ các sinh vậy
và từ các sản phẩm của chính thời tiết Chỉ tính riêng nguồn gốc từ thiên nhiên, các loại sol khí chiếm một khối lượng khổng lồ, từ khoảng 773 đến
2200 tấn sol khí/năm [20,tr10]
Như vậy, chính bản thân thiên nhiên cũng đã và đang góp phần vào quá trình tạo ra sự biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn cầu Tuy nhiên, cần
Trang 14phải nhấn mạnh rằng, sự tác động của thiên nhiên tạo ra sự biến đổi từ từ, chậm chạp Tự thiên nhiên có thể lấy lại được thế cân bằng nếu không có sự tác động mạnh mẽ của con người Điều mà pháp luật quốc tế đề cập tới khi muốn hạn chế tác hại của biến đổi khí hậu chính là những tác động tiêu cực của con người góp phần nghiêm trọng vào quá trình thay đổi này
b Tác động của con người
Con người nhằm phục vụ sự phát triển sản xuất cũng như các nhu cầu ngày càng cao của mình đã và đang góp phần chủ yếu vào quá trình biến đổi khí hậu Quá trình công nghiệp hóa, sự tăng nhanh của số lượng các phương tiện giao thông vận tải, sự phát triển của ngành công nghiệp khai thác, việc
sử dụng các nguyên liệu hóa thạch để tạo ra năng lượng, sự thiêu đốt các chất thải sinh hoạt, sự tích lũy ngày càng nhiều các chất thải công nghiệp…
là các tác nhân gây ra sự biến đổi khí hậu ngày nay
Bằng các hoạt động sản xuất của mình, con người đã thải ra một lượng lớn các khí thải độc hại gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới bầu khí quyển (như CO2, CH4, N2O, HFCs…) Trong đó CO2 do con người thải ra là một trong những thủ phạm chính làm trái đất nóng lên dẫn tới sự thay đổi về khí hậu Ngoài ra còn có khí CFCs là nguyên nhân chủ yếu phá hủy tầng ôzôn, đây là chất mới có trong khí quyển do con người sản xuất ra kể từ khi công nghiệp làm lạnh, hóa mỹ phẩm phát triển
Bên cạnh các tác hại của các khí thải nguy hiểm mà con thải ra môi trường thì một khối lượng khổng lồ các chất thải rắn mà con người đổ vào môi trường cũng là một nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu Nếu các chất thải này được xử lý bằng việc tiêu hủy thì sẽ ảnh hưởng rất xấu đến bầu khí quyển, Nền nông nghiệp hiện đại cũng là một trong các nguyên nhân trực tiếp gây ra biến đổi khí hậu Việc sử dụng phân bón hóa học với khối lượng lớn và việc sử dụng rộng rãi thuốc trừ cỏ, trừ sâu làm năng suất nông nghiệp
Trang 15tăng lên đáng kể nhưng lại gây ô nhiễm đất, ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường, gây biến đổi khí hậu trên diện rộng
Cũng cần kể đến một nguyên nhân quan trọng nữa là hoạt động của các phương tiện giao thông vận tải Trong những năm gần đây, số lượng các phương tiện giao thông ngày càng nhiều (nhất là ôtô, xe máy) và phần lớn chúng đều sử dụng động cơ đốt trong là xăng hay dầu điezen, Khí thải của những động cơ này như cácboníc, cacbon mônôxitz (CO), NOx, SOx hay hợp chất của chì … đều là các chất gây ô nhiễm khí quyển, sinh quyển, thạch quyển làm khí hậu thay đổi
Đồng thời việc dân số tăng liên tục cũng là một nhân tô gây biến đổi khí hậu thế giới, vì càng nhiều người sinh sống trên trái đất sẽ càng thải ra nhiều lượng khí CO2 gây hiệu ứng nhà kính Ngay trước Hội nghị thượng đình khí hậu thế giới ở Côpenhagen (tháng 12/2009), Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) đã cảnh báo dân số thế giới tăng sẽ gây hậu quả nghiêm trọng đối với biến đổi khí hậu Báo cáo của UNFPA công bố tại Berlin ngày 18/11/2009 khẳng định, việc dân số tăng trong quá khứ phải chịu trách nhiệm đối với khoảng 50% lượng phát thải CO2 trên thế giới Hiện trên trái đất có gần 7 tỷ người sinh sống; dự đoán tới năm 2050 sẽ tăng lên hơn 9 tỷ người Tuy nhiên, nếu có hạn chế được dân số ở mức 8 tỷ người thì sẽ giảm bớt được 2 tỷ tấn khí thải CO2 [37]
Ngoài ra, các hoạt động khác của con người như khai thác mỏ, việc chuyển đổi sử dụng đầt, khai thác rừng quá mức … cũng là nguyên nhân gây
ra biến đổi khí hậu
Theo các nghiên cứu khoa học, thời kỳ tiền công nghiệp làm lượng khí CO2 đạy khoảng 280 ppm (phần triệu) Từ khoảng năm 1800, hàm lượng khí CO2 bắt đầu tăng lên, vượt con số 300ppm và 379ppm vào năm 2005, nghĩa là tăng khoảng 31% so với thời kỳ tiền công nghiệp Hàm lượng các khí nhà kính khác như khí mêtan (CH4), ôxit nitơ (N2O) cũng tăng lần lượt
Trang 16từ 715 ppb (phần tỷ) và 270 ppb trong thơi kỳ tiền công nghiệp lên 1774 ppb (151%) và 319ppb (17%) vào năm 2005 Đánh giá khoa học của Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) cho thấy, việc tiêu thụ năng lượng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng … đóng góp khoảng một nửa (46%) vào sự nóng lên toàn cầu, phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng (18%) sản xuất nông nghiệp khoảng 9%, các ngành sản xuất hóa chất (CFC, HCFC) khoảng 24%, còn lại (3%) là từ các hoạt động khác [25]
1.1.3 Hậu quả của biến đổi khí hậu
a Đối với thế giới
Biến đổi khí hậu đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng tới tự nhiên
và con người khí hậu trái đất đã ổn định tương đối kể từ thời đại băng hà cuối cùng (trong suốt 10.000 năm qua) Từ khi con người quan tâm đến nhiệt độ trái đất và bắt đầu có các số liệu quan trắc, thì hiện nay là giai đoạn đang có những nhiệt độ cao nhất trong lịch sử Trong khoảng thời gian một thế kỷ trở lại đây, nhiệt độ trái đất đã tăng 0,740C với một tốc độ gia tăng chưa từng có [14] Các khí thải tạo ra hiện tượng nhà kính là nguyên nhân của biến đổi khí hậu mà biểu hiện rõ nét nhất là việc trái đất ấm dần lên Sự gia tăng nhiệt độ của trái đất sẽ ảnh hưởng tới đời sống hiện đại và tương lai của con người sống trên hành tinh Việc nhiệt độ trái đất tăng lên sẽ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như băng tan, nước biển dâng cao, bão tố và các trận lụt, lốc xoáy sẽ xẩy ra thường xuyên hơn… Cùng với đó, hiện tượng El Ninô (hiện tượng vùng biển ở khu vực nhiệt đới Thái Bình Dương ấm lên một cách bất thường gây nên những ảnh hưởng đến thời tiết trên quy mô toàn cầu) và La Lina (ngược với El Ninô) sẽ diễn biến phức tạp và gây ta nhiều hậu quả nghiêm trọng Nhiệt độ trái đất tăng nhanh cũng làm thúc đẩy nhanh quá trình chuyển hoa sinh học và hóa học, gây nên sự mất cân bằng
về lượng và chất trong cơ thể sống
Trang 17Băng tan và nước biển dâng là một trong những biểu hiện rõ nét và rất nguy hiển của biến đổi khí hậu ngày nay Trên trái đất, băng giá chiễm 10%
bề mặt một cách thường xuyên, chủ yếu là các lục địa Nam cực hay Greenland Băng cũng bao phủ tren 7% diện tích biển Vào mùa đông, tuyết phủ đến 49% bề mặt Bắc Bán cầu Đặc điểm của băng tuyết là có hệ số phản
xạ rất cao,bức xạ từ mặt trời bị phản chiếu lại tới 90% Do dó, băng tuyết có một tác động hồi tiếp rất cao trong biến đối khí hậu Việc diện tích băng bị giảm đi do trái đất ấm lên sẽ làm giảm khả năng phản chiếu bức xạ mặt trời của trái đất, làm nhiệt độ trái đất tăng thêm Bên cạnh đó, sự tan băng dưới tác động của nhiệt độ cũng sẽ làm cho mực nước biển dâng lên cao Các quan sát vệ tinh trong giai đoạn 1966-2005 cho thấy bề mặt phủ tuyết ở Bắn Bán cầu giảm đi mỗi tháng Tính trung bình các năm thì từ cuối thập kỷ
1980, bề mặt này giảm đi 5% Trong thế kỉ 20, các chòm sao băng ở hai cực
và các sông băng cũng tan đi ít nhiều gây hiện tượng dâng cao của mực nước biển Sự tan băng của các chòm băng và sông băng (trừ Greedland và Nam cực) trong khoảng thời gian 1962-2003 tương đương với mực nước biển dâng cao khoảng 0,5mm hàng năm, còn trong khoảng thời gian 1991-
2003 thì tương đương với mức nước biển dâng cao hằng năm khoảng 0,77
mm Ngòai ra, sự giãn nở của nước do nhiệt độ tăng cũng là nguyên nhân của việc nước biển dâng cao [35]
Bước vào thế kỷ 21, trên cơ sở nghiên cứu của 600 nhà khoa học thuộc 40 quốc gia Nhóm công tác 1 - Ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) đã đưa ra bản Báo cáo biến đổi khí hậu trong đó khẳng định: Sự
ấm lên của hệ thống khí hậu là rõ ràng; nhiệt độ không khí và nhiệt độ nhiệt các đại dương tính trung bình trên tòan cầu đang tăng lên; các lớp tuyết, băng đang tan chảy trên diện rộng; mực nước biển trung bình trên tòan cầu đang dâng cao Theo các kịch bản phát thải khí nhà kính do IPCC đưa ra, các mô hình sử dụng kỹ thuật số dự tính trong hai thập kỷ tới thì cứ mỗi thập
Trang 18kỷ, nhiệt độ trung bình của trái đất sẽ tăng lên 0,20C Thậm chí nếu khống chế được sự phát thải khí nhà kính (chủ yếu là các chất sunphát sơ cấp,các bon hữu cơ, các bon đen, nitơrát và bụi) được duy trì ở mức năm 2000, thì trái đất vẫn nóng lên khoảng 0,10C mỗi thập kỷ Báo cáo cũng cảnh báo rằng khí hậu toàn cầu sẽ nóng lên khoảng 1,30C và mực nước biển dâng cao tương đương 23 cm vào năm 2040 [32,tr.204]
Lỗ thủng tầng Ôzôn cũng là một vấn đề đáng lo ngại khác Tầng Ôzôn
là vỏ bọc bảo vệ sự sống trên trái đất khỏi các tia cực tím gây hại của từ mặt trời Những hoạt động của con người ngày nay làm suy yếu dữ dội tấm chắn
Ôz ôn này Thủ phạm chính là các phân tử chlorine tìm thấy trong các chất hoá học công nghiệp, gọi là hydrôcácbon bị halôgen hoá Phổ biến nhất trong số các chất hoá học ngày là chất CFC chủ yếu được sử dụng trong thuốc trừ sâu, ướp lạnh và hệ thống điều hoà nhiệt độ Tầng Ôzôn suy yếu nhất là ở vùng Nam Cực và Bắc Âu Nơi tỷ lệ bệnh nhân mắc các bệnh ung thư da và các bệnh về mắt cao nhất trên thế giới Lỗ thủng tầng Ôzôn xuất hiện cũng đồng nghĩa với bệnh tật ở người, thực vật phát triển chậm, mưa axit tăng lên, cây trồng vật nuôi bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Ngoài hiệu ứng nhà kính, suy giảm tầng Ôzôn, thì các hiện tượng cực đoan về thời tiết như bão, lũ, hạn hán cũng gây những hậu quả rất nghiêm trọng cho con người và thiên nhiên Theo các báo cáo gần đây, số lượng và cường độ các trận bão nhiệt đới ra tăng đáng kể do trái đất bị nóng lên Theo các nhà khoa học, mỗi khi nhiệt độ nước biển tăng lên 10C thì số các cơn bão mạnh (cấp 4 – 5 theo thang đo của Mỹ) tăng lên 31%
Tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu tới tự nhiên
Nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rắng biến đổi khí hậu sẽ làm thay đổi cấu trúc, chức năng của các hệ sinh thái và làm suy giảm đa dạng sinh học Qua nghiên cứu các lớp địa tầng, người ta thấy rằng các hệ sinh thái đã có những thích nghi nhất định với những biến đổi khí hậu đã qua
Trang 19Tuy nhiên, sự thích nghi ấy đã bị ảnh hưởng bởi một lượng dân số ngày càng cao, những đòi hỏi và áp lực lên hệ sinh thái ngày càng lớn
Mất đa dạng sinh học ngày nay đang diễn ra một cách nhanh chóng chưa từng có, kể từ thời kỳ các loài khủng long bị tiêu diệt cách đây khoảng
65 triệu năm và tốc độ biến mất của các loài hiện nay ước tính gấp khoảng
100 lần so với tốc độ mất các loài trong lịch sử Trái đất, và trong những thập
kỷ sắp tới mức độ biến mất của các loài sẽ gấp 1.000 -10.000 lần (MA 2005) Có khoảng 10% các loài đã biết được trên thế giới đang cần phải có những biện pháp bảo vệ, trong đó có khoảng 16.000 loài được xem là đang có nguy
cơ bị tiêu diệt Trong số các loài thuộc các nhóm động vật có xương sống chính đã được nghiên cứu khá kỹ, có hơn 30% các loài ếch nhái, 23% các loài thú và 12% các loài chim (IUCN 2005), nhưng thực tế số loài đang nguy cấp lớn hơn rất nhiều Tình trạng nguy cấp của các loài không phân bố đều giữa các vùng trên thế giới Các vùng rừng ẩm nhiết đới có số loài nguy cấp nhiều nhất, trong đó có nước ta, rồi đến các vùng rừng khô nhiệt đới, vùng đồng cỏ miền núi Sự phân bố của các loài nguy cấp nước ngọt chưa được nghiên cứu kỹ, nhưng kết quả nghiên cứu ở một số vùng cho biết rằng các loài ở nước ngọt nhìn chung có nguy cơ bị tiêu diệt cao hơn rất nhiều so với các loài ở trên đất liền (Smith và Darwall 2006, Stein và cs 2000) Nghề khai thác thuỷ sản đã bị suy thoái nghiêm trọng, và đã có đến 75% ngư trường trên thế giới đã bị khai thác cạn kiệt hay khai thác quá mức ( GEO 4, 2007) Ước tính đã có khoảng 60% khả năng dịch vụ cho sự sống trên Trái đất của các hệ sinh thái – như nguồn nước ngọt, nguồn cá, điều chỉnh không khí và nước, điều chỉnh khí hậu vùng, điều chỉnh các thiên tai và dịch bệnh
tự nhiên đã bị suy thoái hay sử dụng một cách không bền vững Các nhà khoa học cũng đã cảnh báo rằng tác độngtiêu cực của những suy thoái nói trên sẽ phát triển nhanh chóng trong khoảng 50 năm sắp tới [6]
Trang 20Các nhà khoa học cũng thống nhất y kiến cho rằng sau năm 2100, khả nang thích nghi sẽ không còn nữa trước những biến đổi và những tác động chưa từng có của khí hậu trên trái đất Các hệ sinh thái sẽ phải đối mặt với những nồng độ khí CO2 rất cao kể từ 650.000 trở lại đây và những nhiệt độ trung bình lớn nhất trong 740.000 năm Nếu nhiệt độ tăng từ 1,50C đến 2,50C thì sẽ có khoảng 20-30% loại động vật sẽ bị tuyệt chủng Theo các mô hình khí hậu với kịch bản khí thải nhà kính phát tán ở nồng độ cao thì một vài vùng của Châu Âu vào năm 2080, có đến 60% loài động, thực vật sẽ biến mất Các tác động của khí hậu lên hệ sinh thái ở Nam và Bắc cực sẽ rất lớn nếu các rừng nhiệt đới ở Nam Mỹ bị phá huỷ và các côn trùng dịch bệnh, các vụ cháy rừng ở Bắc Mỹ tăng lên Hệ sinh thái của các bãi san hô ở Châu Úc vào năm 2020 sẽ bị đảo lôn nghiêm trọng do hiện tượng nước biển
ấm lên và có độ axit cao hơn trước Cũng do việc tăng nhiệt độ của nước mà các hệ sinh thái biển bị đảo lộn, ảnh hưởng đến sự sinh sản của các loại tảo, sinh vật phù du, các loại cá và nhất là các đường di cư của cá [6,tr.107] Cùng với đó, sự dâng cao mực nước biển do tác động của biến đổi khí hậu cũng có ảnh hưởng lớn tới các loại động thực vật sinh sống ở ven biển hay ở các vùng biển gần bờ, thí dụ như các bãi đá ngầm, các bãi cỏ ven biển, các rừng tràm, rừng đước, các vùng đất ngập nước, ngập mặn…
Biến đổi khí hậu có thể làm tăng sức ép về nước tại các vùng khô cằn cũng như bán khô và một số khu vực sẽ bị tác động do các trận lũ lụt tăng thêm Biến đổi khí hậu có liên quan mật thiết với các dự báo thay đổi về lượng mưa có thể làm tăng tần suất và mức độ hạn tại một số nơi, đặc biệt là các vùng Trung Á, Bắc và Nam Phi, Trung Đông và Úc
Tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu tới con người
Hiện nay, biến đổi khí hậu đã gây nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với con người và trong tương lai, những ảnh hưởng xấu của biến đổi khí hậu sẽ còn nghiêm trọng hơn
Trang 21Kết quả nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đối với con người
do Tổ chức Global Humanitarian Forum của cựu tổng Thư ký Liên Hợp Quốc Kofi Annan vừa công bố cho biết, hiện nay, biến đổi khí hậu đã cướp
đi mạng sống của 300.000 người mỗi năm và ảnh hưởng đến cuộc sống của
300 triệu người trên trái đất do tác động từ những đợt năng nóng, lũ lụt và cháy rừng gây ra [32]
- Hàng triệu người sống trong các khu nhà ổ chuột trở thành nạn nhân tiềm tàng của các cơn bão hoặc cuồng phong Cơn bão Katrina đã làm thiệt mạng 1850 người ở Mỹ, còn cơn bão Nargis đã lấy đi sinh mạng của gần 150.000 người ở hơn 70.000 người chết Đến năm 2100 nhiệt độ mùa hè tại đông bắc Ấn Độ và Australia sẽ vượt quá 50 độ C.Tại tây nam và nam châu
Âu, nhiệt độ sẽ lên tới bệnh tật hoặc tử vong- đối với dân châu Phi sẽ khắc nghiệt hơn 500 lần so với dân châu Âu [32]
- Các nhà khoa học ước tính rằng sự tăng nhiệt độ lên 1 độ C sẽ khiến cho năng lực sản xuất lương thực giảm tới 17% Do vậy, giá lương thực sẽ tăng cao và nạn đói sẽ gia tăng ở các quốc gia hiện đang phải đối mặt với những vấn đề này “Ngày nay có một tỷ người đang thiếu dinh dưỡng Nếu như xuất hiện bùng nổ dân số ở Trung Quốc hay Ấn Độ vào cuối thế kỷ này thì một nửa dân số thế giới có thể lâm vào tình trạng thiếu ăn”
- Những căn bệnh hiện nay đang hoành hành chủ yếu tại các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới như sốt rét, viêm màng não, sốt xuất huyết sẽ lan rộng ra trên phạm vi toàn cầu Đến năm 2080 số người mắc bệnh sốt rét sẽ tăng thêm 260-320 triệu người Sẽ có 6 triệu người mắc bệnh sốt xuất huyết ( hiện tại con số này là 3,5 triệu người) Điều này đòi hỏi phải có sự tổ chức lại hệ thống chăm sóc sức khỏe, trong đó có huấn luyện nhân viên y tế để họ
có thể đối phó với những căn bệnh nguy hiểm nói trên [32]
- Đến năm 2020 trên 250 triệu dân châu Phi sẽ không được đáp ứng đầy
đủ nhu cầu về nước sạch Việc thiếu nước làm gia tăng các bệnh truyền
Trang 22nhiễm và các bệnh về đường hô hấp Tổ chức WaterAid từng thông báo rằng bệnh tả do thiếu vệ sinh và thiếu nước sạch là nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ
tử vong ở trẻ em và tỷ lệ này còn cao hơn tỷ lệ tử vong do AIDS, sốt rét và lao cộng lại Trên thế giới hiện có khoảng 1,5 tỷ người không tiếp cận được với nguồn nước sạch “Nếu không hành động ngay thì trong vòng từ 50 tới
100 năm nữa con cháu chúng ta sẽ phải trả giá cho hậu quả của thay đổi khí hậu do cách sống phung phí của chúng ta hiện nay Đây là mối đe dọa cho
sự tồn vong của chính con người.”
Trước hết, biến đổi khí hậu ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ con người Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, các đợt nóng, lạnh sẽ diễn biến phức tạp hơn cả về tần số và cường độ Các đợt nóng và lạnh tác động trực tiếp lên sức khoẻ của người dân Số dân chết trong những giai đoạn nhiệt độ lên quá cao hay quá thấp thất thường có xu hướng tăng lên
Đợt năng nóng vào tháng 8 năm 2003 được coi là đợt nắng nóng kỷ lục
ở Bắc bán cầu, số người chết vì năng nóng cũng được ghi nhận là kỷ lục, riêng ở Pháp đã có 14.402 người chết vì đợt nắng nóng này, số người chết ở Đức là 7.000 người, ở Tây Ban Nha và Italia khoảng 4.200 người Theo báo cáo của tổ chức Y tế thế giới, số người chết hàng năm do nắng nóng sẽ tăng gấp đôi trong 20 năm tới [26]
Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu cũng tác động tới tình hình dịch bệnh trên thế giới (nhất là dịch bệnh do côn trùng mang như bệnh sốt Dengue và sốt rét) do biến đổi khí hậu ảnh hưởng tới sự phát triển của loài côn trùng Điều này đã xảy ra với một loại bọ chét ở Đức, trong những năm qua chúng
đã phát triển dữ dội và gia tăng truyền bệnh Boreliose nguy hiểm, điều mà theo nhiều nhà khoa học là do biến đổi khí hậu gây ra Theo nghiên cứu của
tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2002 thì hàng năm có khoảng 150.000 người chết vì khí hậu nóng, phần lớn họ chết vì tim mạch, tiêu chảy, sốt rét
và những bệnh truyền nhiễm khác hoặc do thiếu ăn [35]
Trang 23Sự gia tăng các hiện tượng thời tiết bất thường do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu cũng gây ta nhiều tổn thất cho thế giới Theo các quan chức Liên hợp quốc, thiệt hại do hạn hán và bão lụt gây ra trong năm 2005 lên tới 210
tỷ USD và có thể lên tới hàng nhàn tỷ USD vào năm 2040 Trong năm 2006, thiệt hại do cơn báo Katrina tại Hoa Kỳ đã lên tới 120 tỷ USD Tại Châu Phi, riêng nạn hạn hán và lụt lội diễn ra ở Êtôpia và Xooomali đã làm cho 280.000 người mất nhà ở, gây ảnh hưởng tới cuộc sống của hơn 3 triệu người [32, tr.209] Theo Cơ quan giảm thiểu thiên tai quốc tế của Liên hợp quốc, 300 vụ thảm hỏa trong năm 2008 đã cướp đi sinh mạng của khoảng
236 nghìn người và gây thiệt hại khoảng 180 tỷ USD [9]
Diễn đàn Nhân đạo Toàn cầu (GHF), ngày 29/5/2009 đã đưa ra con số cảnh báo về tác hại của biến đổi khí hậu, biểu hiện dưới dạng các thiên tai như hạn hán lũ lụt, cháy rừng… đã cướp đi mạng sống của khoảng 315.000 người và ảnh hưởng tới đời sống của hơn 300 triệu người dân trên thế giới mỗi năm Tính chung tổng thiệt hại về vật chất vào khoảng 125 tỷ USD GHF cũng dự báo rằng, trong vòng 20 năm tới, số người thiệt hại do biến đổi khí hậu có thể tăng lên 500.000 người/năm, đồng thời số người bị ảnh hưởng sẽ tăng tới hơn 600 triệu người/năm và thiệt hại kinh tế là trên 600 tỷ USD/năm [35]
Cùng với đó, việc nước biển dâng cao cũng ảnh hưởng nghiêm trọng tới các quốc gia ven biển Theo các báo cáo khoa học, nếu nước biển dâng cao 1m thì có 2,2 triệu km2 đất bị ngập trên toàn thế giới, gần 150 triệu người chịu ảnh hưởng, 994 tỷ USD-MER (Market Exchange Rate – tỷ xuất hối đoái thị trường và 1.114 tỷ USD-PPP (Purchasing – Power Parity – giá trị mãi lực tương đương) bị thiệt hại [26]
b Đối với Việt Nam
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, Việt Nam là một trong năm quốc gia sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do biến đổi khí hậu Chương trình
Trang 24mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm 2008 đã nhận định thực trạng, xu thế và tác động của biến đổi khí hậu ở Việt Nam như sau:
Thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Theo số liệu quan trắc, biến đổi của các yếu tố khí hậu ở Việt Nam có những điểm đáng lưu ý sau [32]:
- Nhiệt độ: Trong khoảng 50 năm qua (1951-2000), nhiệt độ trung
bình năm ở Việt Nam đã tăng lên 0,70C
- Lượng mưa: Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa
trung bình năm trong 9 thập kỷ vừa qua (1911-2000) không rõ rệt theo các thời kỳ và trên các vùng khác nhau: có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống
- Mực nước biển: Theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ở
các trạm Cửa Ông và Hòn Dấu, mực nước biển trung bình đã tăng lên khoảng 20 cm, phù hợp với xu thế chung của tòan cầu
- Bão: Vào những năm gần đây, số cơn bão có cường độ mạnh nhiều
hơn, quỹ đạo bão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía nam và mùa bão kết thúc muộn hơn, nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển dị thường hơn
Xu thế biến đổi khí hậu ở Việt Nam
- Nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng lên 30C vào năm 2100
- Lượng mưa có xu thế biến đổi không đồng đều giữa các vùng có thể tăng ( từ 0% đến 105) vào mùa mưa và giảm (từ 0% đến 5%) vào mùa khô Tính biến động của mưa tăng lên
- Mực nước biển trung bình trên toàn dải bờ biển Việt Nam có thể dâng lên 1 m vào năm 2100
Tác động của biến đổi khí hậu tới Việt Nam
Trang 25Những tác động nghiêm trọng nhất của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam có thể được tóm tắt như sau:
- Tác động của nước biển dâng:
Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, hơn một triệu km2 lãnh hải và trên 3.000 hòn đảo gần bờ và hai quần đảo xa bờ, nhiều vùng đất thấp ven biển Những vùng này hàng năm phải chịu ngập lụt nặng nề trong mùa mưa và hạn hán, xâm nhập mặn trong mùa khô Biến đổi khí hậu và nước biển dâng
sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng nói trên, tăng diện tích ngập lụt, gây khó khăn cho thoát nước, tăng xói lở bờ biển và nhiễm mặn nguồn nước ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt, gây rủi ro lớn đối với các công trình xây dựng ven biển như đê biển, đường giao thông, bến cảng, các nhà máy, các đô thị và khu dân cư ven biển Mực nước biển dâng và nhiệt độ nước biển tăng ảnh hưởng đến các hệ sinh thái biển và ven biển, gây nguy cơ đối với các rạn san hô và rừng ngập mặn, ảnh hưởng xấu đến nền tảng sinh học cho các hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản ven biển
Nếu mực nước biển dân 1 m, khoảng 40 nghìn km2 đồng bằng ven biển Việt Nam sẽ bị ngập lụt hàng năm, trong đó 90% diện tích thuộc các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long bị ngập hầu như hoàn tòan Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (2007), Việt Nam là một trong năm nước sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng và sông Mê Công bị ngập chìm nặng nhất Nếu mực nước biển dâng 1 m sẽ có khoảng 10% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp, tổn thất đối với GDP khoảng 10% Nếu nước biển dâng 3 m sẽ có khoảng 25% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp và tổn thất [4]
Việt Nam là một trong 5 nước sẽ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng Theo tính toán của các chuyên gia nghiên cứu biến đối khí hậu, đến năm 2100, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam
Trang 26có thể tăng lên 30C và mực nước biển có thể dâng 1m Theo đó, khoảng 40 nghìn km2 đồng bằng ven biển Việt Nam sẽ bị ngập Theo dự đoán của Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), các tác động trên sẽ gây thiệt hại khoảng 17 tỉ đồng mỗi năm và khiến khoảng 17 triệu người không
có nhà Còn Văn phòng quản lý điều tra tài nguyên biển và môi trường (thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường) dự báo: mực nước biển ở Việt Nam sẽ dâng cao 3- 15 cm vào năm 2010, dâng từ 15 - 90 cm vào năm 2070 Các vùng ảnh hưởng là Cà Mau, Kiên Giang, Bà Rịa- Vũng Tàu, Thanh Hóa, Nam Định, Thái Bình Đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng
là những vùng trũng nên bị ảnh hưởng nhiều nhất khi xảy ra ngập lụt, xâm nhập mặn và các hiện tượng thời tiết xấu Trong đó 90% diện tích thuộc các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long bị ngập hầu như bộ, và có khoảng 10% dân
số bị ảnh hưởng trực tiếp, tổn thất đối với GDP khoảng 10% Nếu nước biển dâng 3m sẽ có khoảng 25% dân số bị ảnh hưởng như đợt xâm nhập mặn vào năm 2005 Đồng bằng sông Cửu Long sẽ là vùng bị ảnh hưởng mạnh nhất, nước biển dâng cao hơn sẽ làm cho nhiều vùng đồng bằng nước ngọt hiện nay trở thành vùng nước lợ, hàng triệu người sẽ có nguy cơ bị mất chỗ ở, từ
đó làm gia tăng sức ép lên sự phát triển của các vùng lân cận, làm thay đổi chế độ thủy văn dòng chảy và gây áp lực đến 90% diện tích ngập nước Vì theo dự báo, trong vài chục năm tới, nước biển sẽ dâng cao làm ngập lụt phần lớn đồng bằng sông Cửu Long vốn đã bị ngập lụt hàng năm, dẫn đến mất nhiều đất nông nghiệp Sẽ có từ 15.000 – 20.000 km2 đất thấp ven biển
bị hoàn toàn Lưu lượng nước sông Mêkông giảm từ 2 – 24% trong mùa khô, tăng từ 7- 15% vào mùa lũ Hạn hán sẽ xuất hiện nhiều hơn Nước lũ sẽ cao hơn tại các tỉnh An Giang, Tháp, Long An, Tiền Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long, TP Thơ, Hậu Giang, thời gian ngập lũ tại đây sẽ kéo dài hơn hiện nay Việc tiêu thoát nước mùa mưa lũ cũng khó khăn Suy giảm tài nguyên nước sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp, nghề cá
Trang 27Quá trình xâm nhập mặn vào nội đồng sẽ sâu hơn, tập trung tại các tỉnh ven biển gồm Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, An
và nước ngọt sẽ khan hiếm [32]
Tóm lại, khan hiếm và thiếu nước là mối đe dọa rất nghiêm trọng đối với sự tồn tại của con người trong tương lai Vì lẽ đó, cần có các giải pháp quản lý, khai thác và bảo vệ tốt tài nguyên nước Trước hết, cần phải củng
cố, bổ sung mạng lưới điều tra quan trắc tài nguyên nước, bao gồm cả nước mặt và nước dưới đất, cả lượng và chất, hình thành mạng lưới quan trắc điều tra tài nguyên nước thống nhất trong phạm vi cả nước, tiến hành kiểm kê đánh giá tài nguyên nước trong các lưu vực sông, các vùng và toàn lãnh thổ Trên cơ sở kiểm kê đánh giá tài nguyên nước và cân bằng kinh tế nước mà xây dựng chiến lược, chính sách phát triển bền vững tài nguyên nước quốc gia nói chung và cho các lưu vực nói riêng Cần thực hiện nghiêm chỉnh Luật Tài nguyên Nước và đẩy mạnh hoạt động của Hội đồng Tài nguyên Nước Quốc gia và Ban quản lý lưu vực các sông
Cùng với đó, hiện tượng nước biển dâng cũng làm nghiêm trọng hơn tình trạng nước mặn xâm thực, đặc biệt là ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
Tình trạng nước biển mặn xâm thực vào hệ thống sông ngòi ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đang trong tình trạng báo động Trong tháng 4/2010, tại các tỉnh Sóc Trăng, Bến Tre, nước mặn đã xâm nhập vào đất liền khoảng từ 40-45 km Tại tỉnh Hậu Giang, tòan tỉnh đã bị nhiễm mặn với độ mặn 5-7% Tại thị xã Vị Thanh, nước mặn đã ở mức từ 2-4,5% và nguồn nước tại thị xã đã không thể dùng trong nước sinh hoạt được Tình trạng nước mặn xâm thực sâu vào đất liền gây thiếu nước ngọt phục vụ sản xuất nông nghiệp Nông dân nhiều địa phương dừng sản xuất lúa xuân - hè vì sợ không đủ nước, tốn chí phí bơm nước vào đồng ruộng Các trạm bơm không hoạt động vì sợ bơm nước mặn lên sẽ làm chết lúa Ước tính, toàn vùng
Trang 28Đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 100.000 ha lúa đông - xuân bị ảnh hưởng mặn làm giảm năng suất [6]
- Tác động của sự nóng lên toàn cầu
Nhiệt độ tăng lên ảnh hưởng đến các hệ sinh thái tự nhiên, làm dịch chuyển các ranh giới nhiệt của các hệ sinh thái lục địa và hệ sinh thái nước ngoạt, làm thay đổi cơ cấu các loài thực vật và động vật ở một số vùng, một
số loài có nguồn gốc ôn đới và nhiệt đới có thể bị mất đia dẫn đến suy giảm tính đa dạng sinh học
Đối với sản xuất nông nghiệp, cơ cấu cây trồng, vật nuôi và mùa vụ
có thể bị thay đổi ở một số vùng, trong đó vụ đông ở miền Bắc có thể bị rút ngắn lại hoặc thậm chí không còn vụ đông; vụ mùa kéo dài hơn Điều đó đòi hỏi phải thay đổi kỹ thuật canh tác Nhiệt độ tăng và tính biến động của nhiệt độ lớn hơn, kể cả các nhiệt độ cực đại và cực tiểu, cùng với biến động của các yếu tố thời tiết khác và thiên tai làm tăng khả năng phát triển sâu bệnh, dịch bệnh dẫn đến giảm năng suất và sản lượng, tăng nguy cơ và rủi ro đối với nông nghiệp và an ninh lương thực
Nhiệt độ tăng, độ ảm cao làm gia tăng sức ép về nhiệt đối với cơ thể con người, nhất là người già và trẻ em, làm tăng bệnh tật, đặc biệt là các bệnh nhiệt đới, bệnh truyền nhiễm thông qua sự phát triển của các loài vi khuẩn, các côn trùng và vật chủ mang bệnh, chế độ dinh dưỡng và vệ sinh môi trường suy giảm
Thời gian qua, Việt Nam đã bùng phát nhiều bệnh và dịch bệnh (sốt xuất huyết, tiêu chảy, cúm …) Ví dụ như trận lũ kinh hoàng tháng 6/2007 tại Hương Khê (Hà Tĩnh), đã có tới 3.000 người mắc bệnh ăn chân do nấm, 600
ca tiêu chảy và trên 2.000 người bị đau mắt hột Từ đầu năm 2009 đến cuối
tháng 10/2009, cả nước đã ghi nhạn 72.155 người bị sốt xuất huyết, có 58 trường hợp tử vong, số mắc tăng 7,1% so với cùng kỳ năm 2008, riêng miền Bắc, số mắc tăng 4,6 lần so với cùng kỳ năm 2008 [32]
Trang 29Sự gia tăng của nhiệt độ còn ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác như năng lượng, giao thông vận tải, công nghiệp, xây dựng, du lịch, thương mại… liên quan đến chi phí gia tăng cho việc làm mát, thông gió, bảo quản
và vận hành thiết bị, phương tiện, sức bền vật liệu
- Tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan và thiên tai
Sự gia tăng của các hiện tượng khí hậu cực đoan và thiên tai, cả về tần
số và cường độ do biến đổi khí hậu là mối đe dọa thường xuyên, trước mắt
và lâu dài đối với tất các các lĩnh vực, các vùng và các cộng đồng Bão, lũ lụt, hạn hán, mưa lớn, nắng nóng, tố lốc là thiên tai xảy ra hàng năm ở nhiều vùng trong cả nước, gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống Điển hình như trận lụt lịch sử ở Hà Nội cuối năm 2008 đã gây thiệt hại nhiều tỷ đồng
Do thiếu mưa và nguồn nước về suy giảm nên dòng chảy sông Hồng
từ biên giới về các sông và hồ thủy điện của Việt Nam giảm nhanh từ cuối tháng 6/2009 và thấp hơn trung bình nhiều năm khoảng 35-65% Các số liệu quan trắc còn cho thấy từ tháng 11/2009 đến tháng 3/2010, mực nước hạ lưu sông Hồng liên tục đạt những trị số nhỏ nhất lịch sử của từng tháng Tổng lượng dòng chảy trên phần lớn các sông của khu vực Trung Bộ ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm cùng kỳ, riêng hạ lưu các sông khu vực Bắc Trung
Bộ đã ở mức thấp trong chuỗi số liệu quan trắc Cùng với số phận với các sông ở Bắc Bộ và Trung Bộ, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, khu vực Nam Bộ nắng nóng kéo dài, lượng mưa ít đã làm dòng chảy trên sông Mêkong giảm nhanh và luôn ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm cùng kỳ Tại một số nơi vùng thượng nguồn, mực nước đã xuống mức thấp nhất trong
số liệu quan trắc [9]
So với hiện nay, năm 2070, dòng chảy năm của sông Hồng biến đổi từ +5,8 đến -19% và của sông Mê Koong từ +4,2 đến -14,5%; dòng chảy mùa cạn của sông Hồng biến đổi từ -10,3 đến -14,5% và của sông Mê Koong từ -2,0 đến -24%; dòng chảy lũ biến động tương ứng là +12 đến -5,0% và +5
Trang 30đến +7% Như vậy trên cả 2 sông lớn, tác động biến đổi khí hậu làm cho dòng chảy năm của sông Hồng và sông Cửu Long giảm đi Điều đó có nghĩa
là khả năng luc trong mùa mưa và cạn kiệt trong mùa khô đều trở nên khắc nghiệt hơn (chưa tính đến khả năng khai thác nước ở thượng nguồn các sông này tăng lên do biến đổi khí hậu) [25]
Biến đổi khí hậu sẽ làm cho các thiên tai nói trên trở lên ác liệt hơn và
có thể trở thành thảm hoạ, gây rủi ro lớn cho phát triển kinh tế, xã hội hoặc xoá đi những thành quả nhiều năm của sự phát triển, trong đó có những thành quả thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ Những vùng/khu vực được dự tính chịu tác động lớn nhất của các hiện tượng khí hậu cực đoan nói trên là dải ven biển Trung Bộ, vùng núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ, vùng đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long
Năm 2006 Việt Nam phải hứng 10 cơn bão lớn, gây thiệt hại kinh tế 18.000 tỷ đồng “Năm 2007, hiện tượng El Nino đã gây ra hạn hán nghiêm trọng tại các tỉnh Tây Nguyên, Nam Bộ với thiệt hại 312 triệu USD Ở Trung Bộ, trong những năm có La Nina, số lượng trận lũ tăng 1,4 lần, hạn hán đông xuân thường xảy ra nghiêm trọng Theo số liệu thống kê, năm
2007 tổng thiệt hại do thiên tai gây ra ở 50 tỉnh thành phố ở nước ta ước tính lên tới 1.600 tỷ đồng Cùng với đó là gần 440 người chết,mất tích; hàng trăm nghìn ha lúa bị hư hại; hàng chục nghìn công trình dân sinh, thủy lợi bị phá hủy; tình trạng thiếu đói xảy ra liên miên;…” [27] “Năm 2007, từ đầu tháng
10 đến 15-11, miền Trung đã có 5 trận luc lớn, làm 155 người chết, 13 người mất tích, 147 người bị thương, thiệt hại về cơ sở vật chất, hoa màu lên đến 4.434 tỷ đồng” [8]
- Tác động đến sức khỏe con người
Biến đổi khí hậu không chỉ ảnh hưởng tới tự nhiên mà còn ảnh hưởng sâu sắc tới sức khỏe con người Ảnh hưởng này thể hiện ở khía cạnh:
Trang 31+ Những đối tượng dễ bị tổn thương nhất là những nông dân nghèo, các dân tộc thiểu số ở miền núi, người già, trẻ em và phụ nữ
+ Tình trạng nóng lên làm thay đổi cấu trúc mùa nhiệt hàng năm Ở miền Bắc, mùa đông sẽ ấm lên, dẫn tới thay đổi đặc tính trong nhịp sinh học của con người
+ Nhiệt độ tăng làm tăng tác động tiêu cực đối với sức khoẻ con người, dẫn đến gia tăng một số nguy cơ đối với tuổi già, người mắc bệnh tim mạch, bệnh thần kinh
+ Thiên tai như bão, tố, nước dâng, ngập lụt, hạn hán, mưa lớn và sạt lở đất v.v… gia tăng về cường độ và tần số làm tăng số người bị thiệt mạng và ảnh hưởng gián tiếp đến sức khoẻ thông qua ô nhiễm môi trường, suy dinh dưỡng, bệnh tật
+ Biến đổi khí hậu làm tăng khả năng xảy ra một số bệnh nhiệt đới: sốt rét, sốt xuất huyết, làm tăng tốc độ sinh trưởng và phát triển nhiều loại vi khuẩn và côn trùng, vật chủ mang bệnh, làm tăng số lượng người bị bệnh nhiễm khuẩn dễ lây lan
1.2 Pháp luật quốc tế về chống biến đổi khí hậu
1.2.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh vấn đề biến đổi khí hậu trong luật pháp quốc tế
Biến đổi khí hậu là vấn đề của toàn xã hội Biến đổi khí hậu ảnh hưởng tới mọi quốc gia không phân biệt đó là quốc gia phát triển, đang phát triển hay chậm phát triển Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của nó đến các quốc gia cũng có sự khác nhau.Các quốc gia đang phát triển và chậm phát triển có lẽ
sẽ chịu ảnh hưởng nhiều hơn do biến đổi khí hậu ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế của họ và trình độ khoa học kỹ thuật còn chưa cao nên việc thích nghi và ứng phó với biến đổi khí hậu sẽ gặp nhiều khó khăn Ngòai ra, sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu còn phụ thuộc vào vị trí địa lý của từng quốc gia, các quốc gia ven biển, các quốc đảo sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của
Trang 32biến đổi khí hậu do nước biển dâng Do đó, các quốc gia cần phải có sự hợp tác và chia sẻ với nhau để cùng giải quyết các vấn đề này
Như đã nói trên, nguyên nhân của biến đổi khí hậu ngày nay chủ yếu
là do các hoạt động của con người thải ra một lượng khổng lồ các khí nhà kính Mặc dù ở mỗi nước, lượng khí thải nhà kính vào môi trường có sự khác nhau (các nước giàu chỉ chiếm 15% dân số thế giới, nhưng tổng lượng phát thải của họ chiếm 45% tổng lượng phát thải tòan cầu; các nước Châu Phi và cận Sahara với 11% dân số thế giới chỉ phát thải 2% và các nước kém phát triển với 1/3 dân số thế giới chỉ phát thải 7% tổng lượng phát thải toàn cầu) tuy nhiên, mọi quốc gia đều phải chịu trách nhiệm trước vấn đề này [8]
Vì vậy, cần phải xây dựng một khung pháp lý quốc tế để xác định trách nhiệm cho từng quốc gia trên cơ sở công bằng, phù hợp với trách nhiệm chung nhưng có phân biệt Các quốc gia phát triển phải đi đầu trong việc chống biến đổi khí hậu và có trách nhiệm giúp đỡ các nước đang phát triển
và chậm phát triển Đồng thời, các quốc gia khác cũng phải có các hành động phù hợp với khả năng và trách nhiệm của mình để chống biến đổi khí hậu
Ngoài ra, chống biến đổi khí hậu là việc rất khó khăn, cần phải có sự hợp tác toàn diện của tất cả các quốc gia mới thực hiện được Chính vì vậy việc xây dựng một hệ thống pháp luật quốc tế điều chỉnh vấn đề biến đổi khí hậu là tất yếu và là cơ sở để con người có thể thích nghi và ứng phó được với biến đổi khí hậu
1.2.2 Sự phát triển của luật pháp quốc tế về biến đổi khí hậu
Khoảng cuối những năm 1960, cùng với việc xuất hiện đạo luật đầu tiền về môi trường trên thế giới, người dân cũng như Chính phủ các nước đã bắt đầu có sự quan tâm nhất định tới vấn đề môi trường
Nhằm giải quyết những vấn đề toàn cầu về biến đổi khí hậu, các quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế đều nhận thấy cần phải có những hành động
Trang 33thiết thực để loại bỏ các nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu bất thường Những thỏa thuận quốc tế có liên quan đến biến đổi khí hậu đã được ký kết Khởi đầu là vào năm 1979, theo đề xuất của các nước Bắc Âu và dưới sự bảo trợ của Ủy ban kinh tế Liên hợp quốc về Châu Âu, Công ước chống gây
ô nhiễm không khí qua biên giới tầm xa đã được các nước Châu Âu ký kết Năm 1985, hai nghị định thư ban hành kèm theo Công ước này cũng đã được thông qua Sau đó là Công ước viên về bảo vệ tầng Ôzôn (1985), Nghị định Môntreal 1987 về các chất làm suy giảm tầng Ôzôn (được bổ sung năm 1990) Đến năm 1888, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã chính thức thông qua Nghị quyết số 43/53, thừa nhận sự biến đổi khí hậu là một vấn đề thực sự cần sự quan tâm của cả nhân loại Cũng trong năm đó, Chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) và Tổ chức khí tượng thế giới (WMO) đã thành lập nhóm chuyên gia Liên chính phủ để nghiên cứu sự biến đổi khí hậu (IPCC), đánh giá mức độ ảnh hưởng có thể có đối với toàn cầu và đề ra chiến lược đối phó với hiện tượng này Đến năm 1990, IPCC dã xuất bản báo cáo kết luận rằng sự tích tụ của khí nhà kính dẫn đến nhiệt độ trung bình
bề mặt trái đất nóng lên trong thế kỷ sau Báo cáo cũng khẳng định biến đổi khí hậu là mối đe dọa toàn cầu và kêu gọi cần phải có điều ước quốc tế nhằm giải quyết vấn đề này Cuối năm 1990, Hội nghị khí hậu thế giới cũng đưa ra lời kêu gọi tương tự Người ta thấy rằng cần phải đi đến một thỏa thuận quốc
tế để phối hợp hành động của các quốc gia để giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu [8]
Tuy nhiên, phải đến năm 1991, trong Hội nghị thượng đỉnh trái đất về bảo vệ môi trường tại Riô - De Janeirô, Công ước khung về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc mới chính thức ra đời Để triển khai thực hiện công ước, tại Hội nghị các bên lần thứ 3 (COP3) tổ chức vào tháng 12 năm 1997, Nghị định thư Kyôtô đã được đưa ra Tuy nhiên, những cam kết trong nghị định thư Kyôtô không có cơ hội được thực hiện trong thế kỷ XX do bốn nước là
Trang 34Hoa Kỳ, Ôxtrâylia, Lichtenxten và Monaco (trong đó Hoa Kỳ và Ôxtrâylia
đã phát thải hơn 1/3 tổng lượng khí nhà kính trên toàn cầu) không tham gia Nghị định thư bất chấp sự lên án của dư luận quốc tế Với những nỗ lực to lớn của cộng đồng quốc tế, đếnngày 16 tháng 2 năm 2005, Nghị định thư Kyôtô đã có hiệu lực sau khi Liên bang Nga phê chuẩn [18] Sau đó, nhằm xây dựng một điều ước quốc tế mới thay thế Nghị định thư Kyoto sẽ hết hiệu lực vào năm 2012, Hội nghị các bên của Công ước lần thứ 13 tại Bali
đã thông qua lộ trình Bali để hướng tới việc thông qua một điều ước quốc tế mới thay thế nghị định thư Kyôtô vào Hội nghị các bên lần thứ 15 tại Copenhagen, Đan Mạch Tại hội nghị này, việc một điều ước quốc tế mới có tính pháp lý ràng buộc các bên đã không được thông qua Các quốc gia chỉ đạt được một thỏa thuận (Hiệp ước Côpenhagen - Copenhagen Accord) mang tính chính trị thuần túy và được các nhà lãnh đạo tham dự hội nghị thừa nhận là không đủ mạnh để ngăn chặn trái đất nóng lên Việc xây dựng một điều ước quốc tế mới thay thế Nghị định thư Kyôtô sẽ được các nước tiếp tục đàm phán trong các hội nghị lần sau
Trang 351.3 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong mấy thập kỷ qua, nhân loại đã và đang trải qua các biến động bất thưởng của khí hậu toàn cầu Trên bề mặt Trái đất, khí quyền và thủy quyển không ngừng nóng lên làm xao động môi trường sinh thái, đã và đang gây ra nhiều hệ lụy với đời sống loài người
Trong bối cảnh đó, luật quốc tế về chống biến đổi khí hậu đã phát triển rất nhanh chóng Xuất phát từ những lợi ích khác nhau giữa các quốc gia trong vấn đề chống biến đổi khí hậu việc nghiên cứu nguyên nhân, tác động, hậu quả của biến đổi khí hậu là vấn đề cần thiết cho việc ban hành các văn bản pháp luật mang tính quốc tế
Trong phần này, tôi muốn nhấn mạnh rằng nhìn từ góc độ nào đó không có biên giới bởi một lẽ hết sức đơn giản là: các thành phần tự nhiên của nó đều có quan hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau Sự tác động vào khí hậu ở một nơi nào đó trên thế giới đều có ảnh hưởng ở mức độ nhất định đến các khu vực khác Bởi vậy, việc điều chỉnh pháp lý quốc tế các vấn đề chống biến đổi khí hậu có tầm quan trọng đặc biệt, thông qua việc ký kết các điều ước quốc tế giữa các chủ thể Luật quốc tế
Trang 362.1 Các điều ƣớc quốc tế về biến đổi khí hậu
Nhìn tổng thể, trên thế giới hiện nay có hai công ước quốc tế liên quan đến vấn đề biến đổi khí hậu là Công ước Viên về bảo vệ tầng Ôzôn (Gọi tắt
là Công ước Viên) năm 1985 và Công ước Khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (Gọi là Công ước Khung) năm 1992 cùng với các Nghị định thư liên quan Trong đó Công ước Khung về biến đổi khí hậu được coi
là nền tảng để xây dựng các điều ước quốc tế nhằm chống lại biến đổi khí hậu trong thế kỷ XXI (hạn chế các khí thải nhà kính làm khí hậu trái đất nóng lên)
2.1.1 Công ước Viên về bảo vệ tầng Ôzôn năm 1985
Ôzôn là lớp khí quyển mỏng, chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong thành phần không khí bao quanh quả đất Các nhà khoa học tính rằng cứ 10 triệu phân
tử không khí, trung bình chỉ có ba phân tử Ôzôn Mặc dù không nhiều, nhưng các phân tử Ôzôn lại có đặc tính quý báu là hấp thụ bức xạ tia cực tím (UV) của mặt trời, đặc tính không có ở bất kỳ một chất khí nào khác trong khí quyển Với đặc tính này, Ôzôn thật sự trở thành tấm lá chắn quan trọng
Trang 37bảo vệ con người và các loài sinh vật trên mặt đất khỏi tác hại của tia cực tím Ôzôn được tạo thành trong tầng bình lưu do sự tác động của bức xạ mặt trời lên phân tử oxy; là một phân tử không bền vững được tạo thành từ ba nguyên tử oxy (O3) Phân tử Ôzôn có màu xanh, tập trung chủ yếu ở tầng bình lưu, độ cao từ 16 đến 48 km cách mặt đất, tạo thành tầng Ôzôn, có độ dày 24 km Các nhà khoa học đã khám phá ra các hợp chất hóa học có chứa clo và brôm có tính bền vững có trong thành phần Clo-rua-phlo-rua-các-bon (CFCs), chất khí thoát ra từ các bình phun, thiết bị làm lạnh như tủ lạnh, máy điều hòa nhiệt độ; chất tẩy công nghiệp là nguyên nhân chủ yếu gây
ra sự phá hủy tầng Ôzôn Khi tầng Ôzôn suy giảm, lượng bức xạ của UV tới quả đất tăng lên Khi lượng khí Ôzôn giảm 1% thì lượng bức xạ UV tăng 1,3% Sự tăng lên của bức xạ UV làm tăng khả năng bị ung thư da, đục nhân mắt, phá hủy hệ thống miễn dịch của con người, làm giảm năng suất cây trồng và mất cân bằng hệ sinh thái biển [18] Theo Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) và Chương trình môi trường LHQ (UNEP) tầng ôzôn của quả đất suy giảm mạnh trong những thập niên gần đây Lỗ hổng tầng ôzôn được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1986, thường xuất hiện vào tháng 8 và đạt mức lớn nhất vào cuối tháng 9 hằng năm ở Nam Cực, trung bình tới 10 triệu dặm vuông (một dặm = 1,6 km); đặc biệt năm 2003 đạt 11,2 triệu dặm vuông Nhận thức được những hiểm họa do tầng ôzôn suy giảm gây ra, cộng đồng quốc tế đã kêu gọi tất cả các nước hạn chế sản xuất và sử dụng các chất phá hủy tầng ôzôn (ODS).Với cố gắng của UNEP và WMO, sau nhiều năm đàm phán căng thẳng, tháng 3-1985, Công ước Viên về bảo vệ tầng ôzôn đã được 21 quốc gia đầu tiên hưởng ứng ký kết Năm 1987, Nghị định thư Montreal được ký kết, đến nay có 189 nước thành viên, nhằm cụ thể hóa các giải pháp và những cam kết của các bên Công ước Viên, bảo đảm cho công ước được thi hành có hiệu quả [5]
Trang 38Công ước Viên ra đời trong hòan cảnh đó với tư cách là một công ước khung hướng tới mục đích hạn chế sự phát thải của các chất khí có hại tới tầng Ôzôn thay vì xác lập một cam kết chung cho các thành viên để bảo vệ tầng Ôzôn Công ước cũng tạo ra một khuôn mẫu cho việc nghiên cứu mang tính quốc tế về sự suy giảm tầng Ôzôn và cam kết các bên cùng chia sẻ thông tin có liên quan đến vấn đề này
Công ước đã được các bên nhất trí đi đến một số nội dung sau:
- Các quốc gia phải có những biện pháp thích hợp để bảo vệ sức khỏe con người và môi trường chống lại những ảnh hưởng có hại phát sinh hoặc
dễ phát sinh từ những hoạt động của con người Các biện pháp được nhấn mạnh là ngăn ngừa để kiểm soát cũng như hạn chế việc sử dụng một số loại hóa chất hay khí có thể làm suy giảm tầng Ôzôn (các chất có chứa Cacbon, các chất Notrogien, các chất Clorin, Hydrogien…)
- Các bên tham gia Công ước, khi thích hợp và phù hợp với các Công ước phải đảm nhiệm, hợp tác bằng các quan trắc có hệ thống; nghiên cứu, trao đổi thông tin để hiểu rõ và đánh giá tốt hơn những ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường do biến đổi tầng Ôzôn; phối hợp các chính sách thích hợp để kiểm soát, hạn chế, giảm bớt hoặc ngăn chặn những hoạt động của con người có hoặc dễ có những ảnh hưởng có hại đến tầng Ôzôn Các quốc gia ngày cũng phải hợp tác trong lĩnh vực pháp lý, khoa học và kỹ thuật nhằm hạn chế việc sử dụng một số chất khí nhất định, phải tiến hành báo cáo việc sản xuất, nhập khẩu hay xuất khẩu các chất làm suy giảm tầng Ôzôn cho Ban thư ký
- Ngoài ra, Công ước cũng nhấn mạnh trách nhiệm của các nước phát triển trong việc khắc phục những hậu quả của việc suy giảm tầng Ôzôn bởi những quốc gia này chính là thủ phạm chủ yếu của việc hủy hoại tài nguyên
và thải các chất độc hại trong quá trình phát triển kinh tế của họ từ nhiều thập niên trước Do đó, các nước phát triển phải đi đầu trong việc cắt giảm
Trang 39các chất làm suy giảm tầng Ôzôn cũng như có trách nhiệm hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và tài chính giúp các nước đang phát triển thực hiện các quy định Công ước
Như vậy, sau ba năm đàm phán căng thẳng dưới sự điều phối của UNEP, Công ước Viên về bảo vệ tầng Ôzôn đã được thông qua vào tháng 3-
1985 tại Viên, Áo Công ước gồm 21 điều, thúc đẩy các bên để bảo vệ sức khỏe con người và môi trường trước tiên hãy bảo vệ tầng Ôzôn Nội dung của Công ước viên về bảo vệ tầng Ôzôn đã đề cập đến trách nhiệm của những nước thành viên một cách tương đối cụ thể và chặt chẽ Không chỉ điều chỉnh các hoạt động hợp tác kinh tế, kỹ thuật xuyên biên giới, mà ngay trong phạm vi lãnh thổ của mình thì các bên cũng phải tích cực loại bỏ các hoạt động có nguy cơ gây ảnh hưởng làm suy giảm tầng Ôzôn
2.1.2 Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng Ôzôn năm
1987
Nhằm thực hiện Công ước Viên một cách có hiệu quả hơn, hai năm sau
đó, Nghị định thư Montreal 1987 về các chất làm suy giảm tầng Ôzôn đã được kỹ kết Nghị định thư này được điều chỉnh, bổ sung nhiều lần, tại cuộc họp lần thứ hai của các bên tại Luân Đôn (27-29/6/1990), tại cuộc họp lần thứ IV các bên tại Côpenhagen (23-25/11/1992), tại cuộc họp lần thứ VII của các bên tại Viên (5-7/12/1995), tại cuộc họp lần thứ IX của các bên tại Montreal (1997) và được điều chỉnh tiếp tục tại cuộc họp lần thứ IX của các bên tại Bắc Kinh (1999) Nghị định thư đặt ra mục tiêu cắt giảm hoàn toàn việc sản xuất và tiêu thụ CFCs (chất làm suy giảm tầng Ôzôn) vào 01/01/2010 và từ ngày 01/01/2010 sẽ tiến hành cắt giảm HCFC (chất tạm thời thay thế CFCs) [18]
Nghị định thư Montreal được sửa đổi nhằm tăng cường kế hoạch loại trừ các chất ODS (chất gây phá hủy tầng Ôzôn) theo từng giai đoạn, theo nguyên tắc không gây thiệt hại cho người tiêu dùng trong việc cắt giảm các
Trang 40chất ODS Các nước đang phát triển, được gia hạn thêm mười năm so với các nước phát triển trong việc loại trừ các chất ODS, yêu cầu được hỗ trợ tài chính và được chuyển giao công nghệ không sử dụng ODS để thực hiện việc cắt giảm các chất này theo các điều khoản của Nghị định thư Montreal Bình quân mỗi năm Quỹ đa phương chi khoảng 150 triệu USD giúp các công ty ở các nước đang phát triển chuyển từ sản xuất các sản phẩm có chứa CFC2 sang các sản phẩm sử dụng các chất không phá hủy (hoặc phá hủy ở mức độ
ít hơn) tầng Ôzôn như HCFC2, HFC2 và các loại hóa chất khác trong các sản phẩm như bình xịt tóc, điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh 2,1 tỷ USD đã được chi những năm qua nhằm bảo vệ tầng Ôzôn của trái đất [18]
Nghị định thư cũng đề ra rất nhiều điều khoản nhằm xác định các biện pháp cần thiết để các Bên tham gia hạn chế và kiểm soát việc sản xuất, tiêu thụ các chất làm suy giảm tầng Ôzôn (ODS) Các bên không nhập khẩu hay xuất khẩu các chất bị hạn chế khỏi quốc gia không tham gia công ước Ngoài
ra, hàng năm các thành viên cần cung cấp các số liệu thống kê cho Ban thư
ký về việc làm giảm các chất nguy hại của nước mình cũng như việc xuất khẩu hay nhập khẩu các chất đã được kiểm soát Các thành viên phải cùng nhau hợp tác phát triển, trao đổi thông tin và nâng cao nhận thức của công chúng trong việc bảo vệ tầng Ôzôn, đặc biệt là theo nhu cầu của các nước đang phát triển
Theo Nghị định thư, bắt đầu từ năm 1990, ít nhất 4 năm một lần, các bên sẽ tiến hành đánh giá các biện pháp kiểm duyệt cũng như việc xuất khẩu, nhập khẩu các chất quá độ (các chất tạm thời thay thế CFCs)
Một cơ chế tài chính bao gồm “Quỹ đa phương” (Do các nước phát triển đóng góp) được thiết lập nhằm cung cấp cho các nước đang phát triển
sự trợ giúp kỹ thuật và tài chính