1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

ĐIỀU KIỆN THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ

16 1,8K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 38,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC 1. Điều kiện về chủ thể khởi kiện 2 2. Sự việc chưa được Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết bằng một bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án nhưng người khởi kiện có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự 4 3. Điều kiện về thẩm quyền của tòa án 5 3.1. Thẩm quyền theo loại việc 5 3.2. Thẩm quyền của Tòa án các cấp 9 3.3. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ 10 4. Điều kiện về hòa giải tiền tố tụng 11 5. Điều kiện do pháp luật nội dung quy định hoặc các bên có thỏa thuận 12 6. Điều kiện về nộp tiền tạm ứng án phí trừ trường hợp được miễn nộp toàn bộ tiền án phí hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí 13

Trang 1

CÁC ĐIỀU KIỆN THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ

MỤC LỤC

Trang 2

CÁC ĐIỀU KIỆN THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ

Kiểm tra, xác định các điều kiện thụ lý vụ án dân sự không tách rời với hoạt động kiểm tra đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo Đây là hoạt động tư duy của Thẩm phán và là hoạt động nghiệp vụ quan trọng trong việc thụ lý vụ án dân sự Thẩm phán được phân công thụ lý vụ án dân sự phải tiến hành kiểm tra các điều kiện thụ lý để quyết định có thụ lý hay không thụ lý vụ án Để thực hiện quá trình này được đúng đắn cần phải căn cứ vào quy định của pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng dân sự

1 Điều kiện về chủ thể khởi kiện

Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự phải có quyền khởi kiện và năng lực hành vi tố tụng dân sự đầy đủ Hai yếu tố này tạo thành điều kiện cần và đủ đối với điều kiện về chủ thể khởi kiện vụ án Về quyền khởi kiện của người khởi kiện Thẩm phán cần kiểm tra, xác định các yếu tố:

- Người khởi kiện có quyền và lợi ích hợp pháp về dân sự không? Về nguyên tắc, quyền và lợi ích hợp pháp về dân sự chỉ có được khi các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật nội dung (quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình…) Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, quyền khởi kiện vụ án dân sự có thể do chủ thể có quyền lợi bị tranh chấp tự mình thực hiện hoặc thông qua người đại diện hợp pháp Do đó, đối với trường hợp cá nhân khởi kiện thông qua người đại diện theo pháp luật thì người đại diện là người khởi kiện nhưng Thẩm phán cần phải kiểm tra xác định quyền và lợi ích hợp pháp dân sự của cá nhân Quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc tranh chấp có thể là quyền tài sản hoặc quyền nhân thân

- Quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khởi kiện có bị xâm phạm hoặc có tranh chấp chưa? Có quyền và lợi ích dân sự hợp pháp của chủ thể khởi kiện chỉ là điều kiện cần trong quyền khởi kiện của chủ thể khởi kiện Mặc dù người khởi kiện có quyền và lợi

Trang 3

ích dân sự nhưng quyền đó chưa bị xâm phạm thì cũng chưa đủ điều kiện về chủ thể khởi kiện

Do việc xác định quyền lợi của chủ thể có bị xâm hại hay không phải được khẳng định trong bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Khi bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật khẳng định vấn đề đó, thì quyền và lợi ích hợp

pháp của người khởi kiện mới chỉ dừng lại là giả thiết bị xâm phạm

Như vậy, quyền và lợi ích hợp pháp về dân sự của chủ thể khởi kiện bị xâm phạm hoặc có tranh chấp là điều kiện cần và đủ của quyền khởi kiện Tòa án thụ lý vụ án khi người khởi kiện có căn cứ ban đầu chứng minh được mình có quyền và lợi ích hợp pháp

bị xâm phạm hoặc có tranh chấp

Ngoài điều kiện kiện về quyền khởi kiện, người khởi kiện phải có năng lực hành vi

tố tụng dân sự Không phải tất cả các chủ thể khởi kiện đều được tham gia thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng tại Tòa án Chủ thể khởi kiện trong tố tụng dân sự phải có đầy

đủ năng lực hành vi tố tụng Việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng bởi những người không có năng lực hành vi tố tụng thì không có hiệu lực Người khởi kiện trong vụ

án dân sự là cá nhân (công dân Việt Nam, người nước ngoài và người không có quốc tịch) Họ phải là người đạt độ tuổi nhất định, sức khỏe bình thường, không bị mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình Đánh giá năng lực hành vi tụng dân sự của cá nhân phải căn cứ vào quy định tại Điều 57 BLTTDS Để kiểm tra điều kiện này Thẩm phán căn cứ vào giấy tờ tùy thân, các giấy tờ chứng minh quan hệ đại diện Người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thực hiện quyền và nghĩa vụ khởi kiện thông qua người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng Nếu cơ quan, tổ chức bị sáp nhập, phân chia, giải thể thì

cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ thực hiện quyền khởi kiện Kiểm tra

tư cách chủ thể khởi kiện này, đối với trường hợp có việc ủy quyền khởi kiện, Thẩm phán cần lưu ý kiểm tra thủ tục ủy quyền theo đúng quy định của pháp luật

Trang 4

2 Sự việc chưa được Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết bằng một bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án nhưng người khởi kiện có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự

Để đảm bảo việc thực hiện bản án, quyết định, điểm c khoản 1 Điều 168 BLTTDS quy định nếu vụ án dân sự đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì các đương sự không được quyền khởi kiện nữa, trừ một số trường hợp sau đây:

- Trường hợp Tòa án đã bác đơn xin ly hôn của người chồng xin ly hôn vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi, thì Tòa án chỉ thụ lý lại vụ án xin ly hôn của người chồng khi đã đáp ứng đủ điều kiện khởi kiện quy định tại khoản 2 Điều 85 của Luật Hôn nhân và Gia đình ;

- Trường hợp bản án, quyết định về ly hôn có giải quyết quan hệ về con, mức cấp dưỡng Sau khi bản án, quyết định này có hiệu lực pháp luật, nếu điều kiện nuôi con thay đổi, thì người bố hoặc mẹ có quyền khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu thay đổi người nuôi con Hoặc nếu có yêu cầu thay đổi về mức cấp dưỡng thì các bên có quyền yêu cầu Tòa

án giải quyết;

- Vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn; đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Toà án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện, thì khi đã đủ điều kiện do pháp luật quy định, nguyên đơn có thể khởi kiện lại;

- Trong các vụ án bồi thường thiệt hại, đương sự có thể khởi kiện lại yêu cầu Tòa án xem xét lại mức bồi thường

Ngoài ra, trường hợp Toà án quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c, e và g khoản 1 Điều 192 BLTTDS bao gồm: Người khởi kiện rút đõn khởi kiện và đýợc Toà án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện; nguyên đõn đýợc

Trang 5

triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt; đã có quyết định của Toà án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ

án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó thì theo quy định tại khoản 1 Điều 193 BLTTDS đương sự có quyền khởi kiện lại

Do vậy, Toà án chỉ được giải quyết những việc trước đó chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định của Toà án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã

có hiệu lực pháp luật hoặc trong trường hợp được quyền khởi kiện lại Điều kiện này nhằm đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định, sự ổn định của các quan hệ xã hội Trên

cơ sở các quy định của pháp luật, khi xác định điều kiện này Toà án phải căn cứ vào các tài liệu do đương sự cung cấp về quá trình xảy ra tranh chấp để xác định sự việc đã giải quyết hay chưa

3 Điều kiện về thẩm quyền của tòa án

Xác định thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án là một trong những yêu cầu quan trọng khi kiểm tra điều kiện thụ lý vụ án dân sự Việc kiểm tra điều kiện thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự, Thẩm phán cần phải kiểm tra xác định rõ thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền theo cấp xét xử và thẩm quyền theo lãnh thổ Kiểm tra điều kiện này Thẩm phán cũng cần phải căn cứ quy định của luật tố tụng và luật nội dung

3.1 Thẩm quyền theo loại việc

Việc xác định đúng thẩm quyền theo loại việc của Tòa án có ý nghĩa quan trọng trong suốt quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án Theo các điều 25, 27, 29 và 31 BLTTDS, Toà án có thẩm quyền giải quyết các vụ án phát sinh từ bốn loại quan hệ pháp luật như những vụ án phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, những vụ án phát sinh từ quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình, những vụ án phát sinh từ quan hệ pháp luật kinh doanh- thương mại, những vụ án phát sinh từ quan hệ pháp luật lao động

Kiểm tra điều kiện về thẩm quyền theo loại việc, Thẩm phán cần phải có kỹ năng phân biệt rõ thẩm quyền của Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục tố tụng dân sự và tố

Trang 6

tụng hành chính Thẩm quyền của Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục tố tụng dân sự và thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính nhà nước

Ví dụ khi giải quyết các tranh chấp về đất đai thì theo Luật Đất đai năm 2003, Tòa

án có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự là các tranh chấp về đất đai mà đất đó có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1, 2 và khoản 5 Điều 50 Luật đất đai năm 2003 Đối với đất tranh chấp đất đai mà đất đó không có các loại giấy tờ nêu trên thì thẩm quyền giải quyết thuộc UBND Tuy nhiên, Luật Đất đai năm 2013, có hiệu lực từ ngày 01/7/2014 đã mở rộng hơn thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp

về tài sản gắn liền với đất Đối với tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức hoặc là nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền Như vậy, theo quy định mới này thì Tòa án cũng có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc một trong các loại giấy

tờ quy định tại Điều 100, nếu đương sự lựa chọn khởi kiện ra Tòa

Trong trường hợp người sử dụng đất không có Giấy chứng nhận hoặc một trong các giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 nhưng họ lại có các hành vi như xây dựng trái phép công trình trên đất không được phép của UBND và đã bị UBND xử lý hành chính như buộc tháo dỡ công trình… thì đương sự có quyền khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính đó đối với chủ tịch UBND cấp có thẩm quyền hoặc khởi kiện ra Tòa hành chính để giải quyết theo thủ tục tố tụng hành chính Trường hợp đất đó không có Giấy chứng nhận hoặc một trong các giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 nhưng trên đất có các tài sản như nhà ở, cây cối lưu niên… đương sự không tranh chấp quyền sử dụng đất mà chỉ tranh chấp về tài sản trên đất và có yêu cầu Tòa án giải quyết thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân theo thủ tục tố tụng dân sự,

Trang 7

nếu đương sự không tranh chấp về tài sản trên đất mà chỉ tranh chấp về quyền sử dụng đất đó thì đương sự có quyền lựa chọn yêu cầu UBND giải quyết hoặc khởi kiện ra Tòa

án

Bên cạnh đó cũng cần phân biệt thẩm quyền của Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục tố tụng dân sự với thẩm quyền giải quyết của Trọng tài thương mại như các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại nếu các bên đã có thỏa thuận trọng tài thì thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài Khoản 1 Điều 5 Luật Trọng tài thương

mại quy định “Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận

trọng tài Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp”

Khi một bên khởi kiện tại Tòa án thì Toà án phải từ chối thụ lý vụ án trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được

Ngoài ra cần lưu ý là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011 quy định bổ sung Điều 32a về thẩm quyền của Tòa án đối với quyết định cá biệt của cơ quan,

tổ chức như sau:

“1 Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt rõ ràng

trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết Trong trường hợp này, cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng.

2 Trường hợp vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định cá biệt bị yêu cầu hủy quy định tại khoản 1 Điều này, thì quyết định cá biệt đó được Tòa án xem xét trong cùng

vụ việc dân sự Thẩm quyền của cấp Tòa án giải quyết vụ việc dân sự đó được xác định theo quy định tại Điều 29 và Điều 30 của Luật tố tụng hành chính.”

Thực tiễn xét xử các vụ án dân sự theo quy định của BLTTDS năm 2004 đã bộc lộ những bất cập cần phải bổ sung theo quy định tại Điều 32a BLTTDS năm 2011 Trong quá trình xét xử nhiều vụ án dân sự Tòa án xét thấy có những quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó rõ ràng trái pháp luật, xâm

Trang 8

phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án dân sự và đương sự có yêu cầu hủy, nhưng Tòa án không có căn cứ để giải quyết Trước đây, theo quy định tại Điều

12 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì Tòa án có quyền hủy quyết định

này: “Khi xét xử vụ án dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định rõ ràng là trái pháp luật

của cơ quan tổ chức khác xâm phạm quyền lợi hợp pháp của đương sự trong vụ án mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết”, nhưng BLTTDS năm 2004 không quy định vấn đề này,

nên Tòa án không có thẩm quyền hủy quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật của cơ quan, tổ chức khác Vì vậy, đương sự nếu có yêu cầu hủy quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật của cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó thì họ phải khởi kiện vụ án hành chính Mặt khác, trong những trường hợp như vậy nhiều vụ án dân sự phải tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án bởi cần phải đợi kết quả giải quyết vụ án hành chính mới có thể tiếp tục giải quyết được vụ án dân sự nên gây phiền hà cho đương

sự và kéo dài việc giải quyết vụ án

Một kỹ năng rất quan trọng khi thụ lý giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến việc hủy quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức

đó là việc nhận biết quyết định cá biệt là gì? Quyết định đó có rõ ràng trái pháp luật hay không? Và đương sự có yêu cầu hủy quyết định cá biệt đó không? Chúng ta có thể hiểu Quyết định cá biệt có thể bị Tòa án tuyên hủy vì rõ ràng trái pháp luật là các quyết định thuộc đối tượng có thể bị khiếu kiện theo quy định tại Điều 28 Luật Tố tụng hành chính

và theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính Quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật khi quyết định đó được ban hành không đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục hoặc nội dung do pháp luật quy định xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự Tòa án đang có nhiệm vụ giải quyết; có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giải quyết vụ việc dân sự đó Tòa

án đồng thời giải quyết việc hủy quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật đó trong cùng

vụ án dân sự khi có yêu cầu của đương sự và tòa án phải đưa cơ quan, tổ chức, người có

Trang 9

thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Tuy nhiên, trong quá trình thụ lý vụ án dân sự cần xem xét yêu cầu hủy quyết định

cá biệt thì đương sự đã khởi kiện vụ án hành chính hay khiếu nại theo thủ tục hành chính

về quyết định cá biệt đó hay chưa? Trong trường hợp đương sự không khởi kiện vụ án hành chính hay khiếu nại theo thủ tục hành chính thì Tòa án mới xem xét yêu cầu hủy quyết định cá biệt đó trong cùng một vụ án dân sự Trong trường hợp một vụ án dân sự

có một người vừa có yêu cầu hủy quyết định cá biệt vừa khiếu nại theo thủ tục hành chính và khởi kiện vụ án hành chính thì Tòa án phải yêu cầu đương sự lựa chọn một trong ba loại tài phán đó Trường hợp quyết định cá biệt có liên quan đến nhiều người mà

có người khởi kiện vụ việc dân sự, có người có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, có người khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án có thẩm quyền, thì Toà án có văn bản yêu cầu các đương sự thỏa thuận bằng văn bản lựa chọn hình thức giải quyết đối với quyết định cá biệt để khẳng định việc sẽ tiếp tục khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, hay khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án có thẩm quyền hay đề nghị giải quyết trong vụ việc dân sự để từ đó tòa án có căn cứ để tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại khoản 4 Điều 189 BLTTDS để chờ kết quả giải quyết vụ án hành chính hay kết quả giải quyết khiếu nại theo thủ tục hành chính hoặc tiếp tục giải quyết yêu cầu hủy quyết định rõ ràng trái pháp luật trong vụ án dân sự

3.2 Thẩm quyền của Tòa án các cấp

Theo các điều 33 và 34 BLTTDS, Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm gồm có Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp huyện Theo các quy định nêu trên hầu hết các loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án đều thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện

Xác định thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh và cấp huyện cần căn cứ vào Điều 33, 34 BLTTDS và hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất

“những quy định chung” của BLTTDS (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số

Trang 10

03/2012/NQ-HĐTP) Hiện nay, theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS thẩm quyền của Tòa án cấp huyện đã được mở rộng hơn so với BLTTDS 2004 Nhiều tranh chấp kinh doanh -thương mại thuộc thẩm quyền của toà án cấp tỉnh trước đây, nay theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS thuộc thẩm quyền của toà án cấp huyện giải quyết Theo quy định tại Điều 33 BLTTDS năm 2004 thì Toà án nhân dân cấp huyện chỉ có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại từ điểm a đến điểm i Khoản 1 Điều 29 BLTTDS giữa các tổ chức, cá nhân có đăng

ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận Song, theo Luật sửa đổi, Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết tất cả các tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc Khoản 1 Điều 29 BLTTDS và theo Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP thì các chủ thể có đăng ký kinh doanh hay không nhưng nếu đều có mục đích lợi nhuận thì xác định là các tranh chấp về kinh doanh thương mại Vì thế, các tranh chấp liên quan đến mua bán cổ phiếu, trái phiếu; những tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng tín dụng có liên quan đến ngân hàng; những tranh chấp từ hợp đồng bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm trách nhiệm dân sự hiện nay thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án nhân dân cấp huyện Đây chính là việc tăng thẩm quyền cho toà án cấp huyện giải quyết các tranh chấp dân sự theo lộ trình tăng thẩm quyền mà Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra

Kiểm tra điều kiện về thẩm quyền của Tòa án nhân dân các cấp, Thẩm phán cần lưu

ý quy định riêng biệt tại khoản 3 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình về thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện đối với các tranh chấp về ly hôn, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam

3.3 Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

Xác định thẩm quyền của tòa án theo lãnh thổ phải căn cứ vào Điều 35 và Điều 36 BLTTDS và hướng dẫn tại Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP Ví dụ: Đối với tranh chấp mà đối tượng tranh chấp là bất động sản thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nơi có bất động sản giải quyết Bất động sản được xác định theo quy định của Bộ luật dân sự

Ngày đăng: 16/04/2016, 20:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w