1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BTHK TTDS 2020 điều KIỆN THỤ lý vụ án dân sự và KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

17 156 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 48,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy định cụ thể Tòa án giải quyết các vụ án dân sự chỉ trừ những vụ án pháp luật quy định thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan khác để áp dụng thống nhất trên thực tiễn...14 2.5 Quy đ

Trang 1

MỤC LỤC

A ĐẶT VẤN ĐỀ 1

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2

I Khái quát lý thuyết về thụ lý vụ án và điều kiện thụ lý vụ án dân sự 2

1 Khái niệm thụ lý vụ án dân sự 2

2 Điều kiện thụ lý vụ án dân sự 3

2.1 Khái niệm điều kiện thụ lý vụ án dân sự 3

2.2 Cơ sở hình thành những điều kiện thụ lý vụ án dân sự 3

II Pháp luật hiện hành về thụ lý đơn khởi kiện 4

1 Các quy định của pháp luật hiện hành về điều kiện thụ lý vụ án dân sự 4

1.1 Quy định về điều kiện đối với chủ thể khởi kiện 4

1.2 Điều kiện về thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án 7

1.3 Sự việc chưa được giải quyết bằng một bản án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật 7

1.4 Điều kiện đương sự phải đáp ứng các thủ tục tiền tố tụng và một số điều kiện do pháp luật nội dung quy định 8

1.5 Điều kiện về đơn khởi kiện 10

1.5.1 Hình thức đơn khởi kiện 10

1.5.2 Điều kiện về tài liệu, chứng cứ gửi kèm theo đơn khởi kiện 10

1.6 Điều kiện về tiền tạm tiền án phí 11

2 Vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện các quy định về thụ lý đơn khởi kiện.11 2.1 Thứ nhất, cần sửa đổi quy định liên quan đến tiền nộp tạm ứng án phí 12

2.2 TANDTC cần hướng dẫn cụ thể về tiêu chí xác định chủ thể có quyền, lợi ích bị xâm phạm có quyền khởi kiện 13

2.3 Đề xuất hướng dẫn cụ thể về cách thức thực hiện quyền khởi kiện của các cơ quan có thẩm quyền khởi kiện vì lợi ích của người khác để tương thích với Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 13

2.4 Quy định cụ thể Tòa án giải quyết các vụ án dân sự chỉ trừ những vụ án pháp luật quy định thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan khác để áp dụng thống nhất trên thực tiễn 14

2.5 Quy định cụ thể về thời hạn gửi thông báo xác nhận đã nhận đơn khởi kiện trong trường hợp người khởi kiện gửi đơn trực tuyến 14

C KẾT LUẬN 15

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 3

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Kinh tế - xã hội của Việt Nam ngày càng phát triển đã khiến những mối quan

hệ trong xã hội gia tăng về số lượng và tính chất của những mối quan hệ dân sự, kinh tế, lao động và nhu cầu được giải quyết các tranh chấp phát sinh từ những mối quan hệ đó bằng con đường pháp luật thông qua Tòa án dân sự ngày càng gia tăng

Từ đó đặt ra yêu cầu có một hệ thống pháp luật phù hợp, tạo cơ sở pháp lý giải quyết những tranh chấp trên một cách hiệu quả Ngoài quy định pháp luật nội dung thì việc quy định pháp luật hình thức - cụ thể là quy định của Bộ luật Tố tụng Dân

sự - về trình tự thủ tục giải quyết vụ án dân sự là căn cứ các chủ thể thực hiện quyền khởi kiện của mình Để vụ án được giải quyết, một trong những thủ tục quan trọng ban đầu là được tòa án thụ lý giải quyết vụ án Sau khi vào sổ thụ lý, tức là tòa đã chấp nhận giải quyết yêu cầu của người khởi kiện, bắt đầu phát sinh mối quan hệ tố tụng dân sự giữa các đương sự và Tòa án

Sau đây, bài viết sẽ tập trung tìm hiểu về các điều kiện Tòa án thụ lý vụ án dân

sự thông qua đề tài số 14 “Điều kiện thụ lý vụ án dân sự và kiến nghị hoàn thành”

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Khái quát lý thuyết về thụ lý vụ án và điều kiện thụ lý vụ án dân sự

1 Khái niệm thụ lý vụ án dân sự

Thụ lý vụ án dân sự là một tổ hợp các hoạt đông của cơ quan có thẩm quyền giải quyết các vụ án dân sự Theo Giáo trình Luật TTDS, trường Đại học Luật Hà

Nội “Thụ lý vụ án dân sự là việc Tòa án nhận đơn khởi kiện của người khởi kiện và

vào sổ thụ lý vụ án để giải quyết”

Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các chủ thể gửi đơn khởi kiện để yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp Sau khi nhận được đơn khởi kiện

và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, tòa án sẽ xem xét các yếu tố liên quan đến chủ thể khởi kiện, nội dung tranh chấp và đơn khởi kiện, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm

Trang 4

quyền giải quyết của mình thì Tòa án thông báo cho người khởi kiện biết để nộp tiền tạm ứng án phí Sau khi người khởi kiện nôp cho tòa án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí thì tòa án vào sổ thụ lý VADS Các hoạt động đó là trình tự, thủ tục thụ

lý đơn kiện

Như vậy, thụ lý vụ án dân sự là các hoạt động của tòa án nhằm tiếp chấp

nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện được thể hiện bằng hành vi vào sổ thụ

lý VADS.

2 Điều kiện thụ lý vụ án dân sự

2.1 Khái niệm điều kiện thụ lý vụ án dân sự

Theo từ điển Tiếng Việt, điều kiện có nghĩa là “cái cần phải có để cho một cái khác có thể có hoặc có thể xảy ra”1 Điều kiện thụ lý vụ án dân sự là các tiêu chí, yếu tố mà chỉ khi đáp ứng đầy đủ thì tòa án mới thụ lý đơn kiện Các điều kiện đó bao gồm: Điều kiện về chủ thể khởi kiện, điều kiện loại việc có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án dân sự không?,

2.2 Cơ sở hình thành những điều kiện thụ lý vụ án dân sự

Quyền yêu cầu nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình là một trong những quyền cơ bản nhất của con người được cụ thể biểu hiện bằng quyền khởi kiện vụ án dân sự Quy định thụ lý vụ án dân sự xuất phát từ quyền con người, quyền công dân được Nhà nước ghi nhận Điều 3 Hiến pháp quy định “Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân ” Do đó, khi bị xâm phạm về quyền và lợi ích, các chủ thể có quyền khởi kiện vụ án dân sự

để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết

Quy định thụ lý VADS nhằm đảm bảo quyền khởi kiện dân sự của các đương

sự Các yêu cầu giải quyết VADS của các đương sự chỉ được Tòa án giải quyết khi được tòa án chấp nhận giải quyết thông qua thủ tục vào sổ thụ lý đơn khởi kiện Chỉ

1 http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/%C4%90i%E1%BB%81u_ki%E1%BB%87n

Trang 5

khi đó, mới phát sinh quan hệ tố tụng dân sự giữa Tòa án và các đương sự trong vụ án

II Pháp luật hiện hành về thụ lý đơn khởi kiện

1 Các quy định của pháp luật hiện hành về điều kiện thụ lý vụ án dân sự

Mặc dù, BLTTDS không quy định cụ thể về điều kiện thụ lý VADS tuy nhiên, qua nghiên cứu các quy định của BLTTDS về khởi kiện và trả lại đơn khởi kiện cho thấy, để đơn khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức được Tòa án thụ lý cần phải đáp ứng các điều kiện sau :

1.1 Quy định về điều kiện đối với chủ thể khởi kiện

Theo Điều 186, Điều 187 của BLTTDS năm 2015 quy định cá nhân, cơ quan,

tổ chức có quyền khởi kiện trong 03 nhóm chủ thể tương ứng: khởi kiện vì lợi ích của chính mình; khởi kiện vì lợi ích của người khác và khởi kiện vì lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng thuộc lĩnh vực mình phụ trách

- Nhóm chủ thể thứ nhất: Các chủ thể khởi kiện vì lợi ích của chính mình Các chủ thể này được giả sử quyền lợi của họ bị tranh chấp hoặc vi phạm và phải là chủ thể có năng lực hành vi TTDS đầy đủ

Điều 69 BLTTDS năm 2015 quy định “Cá nhân có năng lực hành vi TTDS

đầy đủ là người từ đủ 18 tuổi trở lên và không bị mất năng lực hành vi dân sự đầy đủ” “Đương sự là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó, tức là trong trường hợp này họ là người có năng lực hành vi TTDS đầy đủ” Cơ quan, tổ chức khởi kiện vì lợi ích của chính mình thì

việc khởi kiện được thực hiện thông qua người đại diện của pháp nhân theo quy định tại Điều 137 BLDS năm 2015

Trang 6

- Nhóm chủ thể thứ hai: Các chủ thể có quyền khởi kiện vì lợi ích của người khác, có hai trường hợp:

+ Trường hợp người có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm là người không có năng lực hành vi TTDS đầy đủ như: người chưa thành niên (trừ trường hợp theo khoản 1 Điều 69 BLTTDS năm 2015) và người mất năng lực hành vi dân

sự Các chủ thể này mặc dù có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc có tranh chấp nhưng do không có hoặc không có đầy đủ năng lực hành vi TTDS nên

họ không thể thực hiện được việc khởi kiện

+ Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức là pháp nhân khởi kiện theo quy định tại Điều 187 BLTTDS năm 2015 Đó là các trường hợp sau:

i) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình như: xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên ; con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự; xác định con cho cha, mẹ chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự trong các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101 của LHN&GĐ năm 2014; Người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên Tuy nhiên, hiện nay không

có văn bản pháp luật nào giải thích rõ cơ quan quản lý Nhà nước về dân số - gia đình và trẻ em có quyền khởi kiện các vụ án về hôn nhân và gia đình là cơ quan nào và ở cấp nào?

ii) Đối với các tổ chức, đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể, người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền theo quy định của pháp luật

Trang 7

iii) Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trong trường hợp công đoàn cấp trên, cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình

và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ có yêu cầu Toà án giải quyết các vụ việc nêu trên thì các chủ thể này tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện theo pháp luật của đương sự

- Nhóm chủ thể thứ ba khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách:

Do lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước là lợi ích chung của toàn xã hội, vi phạm hai lợi ích này là ảnh hưởng tới quyền lợi của số đông người vậy nên mức độ

vi phạm, phạm vi ảnh hưởng rất lớn Nếu các cá nhân nếu đứng ra khởi kiện vì lợi ích chung này: thứ nhất không có đủ khả năng thu thập chứng cứ; thứ hai, sự tác động về quyền lợi không chỉ đối với một người hay một số người nên không thể đủ

tư cách đại diện khởi kiện; thứ ba, cá nhân sẽ không có tiềm lực đủ mạnh để theo đuổi vụ kiện tới cùng Vậy nên, xuất phát từ lý do trên, chủ thể khởi kiện để bảo về lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước phải là cơ quan, tổ chức được nhà nước trao quyền và thuộc lĩnh vực mình phụ trách

Chẳng hạn, Cơ quan Tài Nguyên và Môi trường có quyền khởi kiện VADS để yêu cầu Toà án buộc cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi gây ô nhiễm môi trường phải bồi thường thiệt hại, khắc phục sự cố gây ô nhiễm môi trường công cộng; cơ quan Văn hoá - Thông tin có quyền khởi kiện VADS để yêu cầu Toà án buộc cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi xâm phạm di sản văn hoá thuộc sở hữu toàn dân phải bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra

Trang 8

1.2 Điều kiện về thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án

Để Tòa án thụ lý VADS, đơn khởi kiện phải gửi đơn đến đúng Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật, bao gồm cả thẩm quyền theo loại việc, theo cấp và theo lãnh thổ

Việc đơn khởi kiện gửi đến Toà án có đúng thẩm quyền giải quyết là một yếu

tố rất quan trọng để xem xét việc thụ lý vụ án Có thể nhận xét, đơn khởi kiện gửi đúng thẩm quyền theo loại việc của Tòa án là quan trọng nhất Vì nếu vụ án không thuộc loại việc được Tòa án giải quyết thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện theo Điều

192 nhưng nếu đơn khởi kiện gửi đến sai Toà án có thẩm quyền xét xử theo cấp hay lãnh thổ thì Tòa án sẽ chuyển đơn khởi kiện theo Khoản 3 Điều 192 - đương sự vẫn được giải quyết tại Tòa án dân sự và chỉ phải mất thêm thời gian để chuyển đơn khởi kiện

1.3 Sự việc chưa được giải quyết bằng một bản án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Để đảm bảo tránh tình trạng chồng chéo khi cùng một sự việc mà nhiều cơ quan, Toà án tiến hành giải quyết, đồng thời tránh việc cố tình kéo dài quá trình khiếu kiện của đương sự và để đảm bảo hiệu lực và tính ổn định của bản án, quyết định của Tòa án thì nếu sự việc đã được Toà án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết bằng bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật, đương sự không có quyền khởi kiện lại vụ án đó nữa

Tuy nhiên, trong một số trường hợp để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự, mặc dù bản án, quyết định giải quyết vụ việc đã có hiệu lực pháp luật thì pháp luật TTDS quy định cho họ có quyền khởi kiện lại vụ án, cụ thể: bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn,

Trang 9

đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại2 - bởi yêu cầu khởi kiện của các đương sự chưa được Tòa án giải quyết hoặc do thời gian, tính chất của quan hệ pháp luật tranh chấp thay đổi nên các đương sự có quyền khởi kiện lại

1.4 Điều kiện đương sự phải đáp ứng các thủ tục tiền tố tụng và một số điều kiện do pháp luật nội dung quy định

Để giải quyết tranh chấp nhanh chóng, hiệu quả và tránh được những mâu thuẫn, xung đột, dung hòa mối quan hệ giữa các bên tranh chấp một số những tranh chấp trước khi giải quyết bằng Tòa án phải bắt buộc được giải quyết bằng một thủ tục tiền tố tụng, sau đó, nếu như vẫn không giải quyết được tranh chấp thì mới được khởi kiện tới Tòa án; một số những trường hợp, để bảo vệ lợi ích của nhóm người yếu thế thì người khởi kiện cũng không thể thực hiện quyền này Cụ thể: + Đối với tranh chấp đất đai: Điều 202 Luật Đất đai năm 2013 quy định:

“tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã , phường , thị trấn nơi có đất tranh chấp để hòa giải” Tuy nhiên, không phải bât cứ tranh chấp nào liên quan đến đất đai đều phải thông qua hòa giải tại UBND cấp xã, chỉ có những tranh chấp liên quan đến “Ai là người có quyền sử dụng đất” mới phải thông qua thủ tục này Các tranh chấp khác như: tranh chấp về hợp đồng đòi tiền thuê đất, tranh chấp chia thừa kế có đối tượng là đất không nhất thiết phải thông qua hòa giải3

+ Tranh chấp lao động: Trừ các tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật lao động năm 2012, các tranh chấp tranh chấp lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động quy định tại khoản 4 Điều 201 Bộ luật lao động năm 2012 bắt buộc phải thông qua hòa giải cơ sở trước khi khởi kiện lên Tòa án Tranh chấp

2 Khoản 3 Điều 192 BLTTDS năm 2015

3 Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 04/ 2017/ NQ - HĐTP của HĐTPTATC ngày 05/5/ 2017 hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 BLTTDS năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện

Trang 10

lao động tập thể về quyền giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động theo quy định tại khoản 3 Điều 205 Bộ luật lao động năm 2012 thì sau khi tranh chấp đã được Chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết mà các bên không đồng ý với quyết định này hoặc quá thời hạn mà Chủ tịch UBND cấp huyện không giải quyết thì mới được yêu cầu Toà án giải quyết

+ Tranh chấp về bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tố tụng gây ra: Theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước năm 2017, trường hợp cá nhân tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong quá trình hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án và có văn bản của cơ quan

có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật thì chỉ

có thể khởi kiện tranh chấp bồi thường thiệt hại ra Tòa án sau khi đã yêu cầu cơ quan có trách nhiệm bồi thường giải quyết việc bồi thường mà cơ quan đó không ra quyết định trong thời hạn luật định hoặc họ không đồng ý với quyết định giải quyết

đó4

+ Ngoài ra, vụ án thuộc các trường hợp bị hạn chế quyền khởi kiện thì Tòa án chỉ thụ lý khi quyền khởi kiện không bị hạn chế nữa Theo quy định của pháp luật TTDS có những vụ án tuy đương sự có đầy đủ các điều kiện trên như đã phân tích, nhưng tại một thời điểm nhất định, họ chưa được thực hiện quyền khởi kiện của mình Chẳng hạn như khoản 3 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi” Tức là, nếu người chồng nộp đơn yêu cầu ly hôn thuộc trường hợp hạn chế ly hôn sẽ không được Toà án chấp nhận thụ lý giải quyết

4 Từ Điều 33 đên Điều 40 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017

Ngày đăng: 27/04/2020, 16:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w