Có thể nói, đây là một bước ngoặt lớn trong lịch sử lập pháp của Việt Nam bởi lần đầu tiên các quy định về giải quyết các vụ việc dân sự được quy tụ trong một văn bản pháp luật giúp cho
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hải An
HÀ NỘI - 2018
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ rang, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giả luận văn
Mè Thị Hà
Trang 4BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sự HNGĐ : Hôn nhân và gia đình KDTM : Kinh doanh thương mại NLHV : Năng lực hành vi
NLHVTTDS : Năng lực hành vi tố tụng dân sự TAND : Tòa án nhân dân
TGPL : Trợ giúp pháp lý TTDS : Tố tụng dân sự VADS : Vụ án dân sự VKS : Viện kiểm sát
Trang 5MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1.NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHỞI KIỆN VÀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ 7
1.1 Khái quát về khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự 7
1.1.1 Khái niệm, ý nghĩa của khởi kiện vụ án dân sự 7
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thụ lý vụ án dân sự 15
1.2 Một số quy định pháp luật hiện hành về khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự 19
1.2.1 Các quy định của pháp luật về khởi kiện 19
1.2.2.Các quy định của pháp luật về thụ lý vụ án 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 45
CHƯƠNG 2.THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ KHỞI KIỆN VÀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA – KIẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 46
2.1 Thực tiễn thực hiện các quy định về khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 46
2.1.1 Khái quát chung về Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 46
2.1.2 Những khó khăn, hạn chế khi thực hiện các quy định pháp luật về khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 49
2.1.3 Nguyên nhân của các hạn chế, vướng mắc trong khởi kiện, thụ lý vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 63
2.2 Một số kiến nghị hoàn thiện về khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự 66
2.2.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự 66
2.2.2 Kiến nghị thực hiện pháp luật về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện vụ án dân sự 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 74
KẾT LUẬN CHUNG 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay, bảo đảm quyền con người, quyền công dân đang là một nhiệm vụ chính trị quan trọng đặt ra cho Đảng, Nhà nước và được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 nhấn mạnh nhiệm
vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân (TAND) là cơ quan xét xử thực hiện quyền tư pháp có có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Sau khi thống nhất đất nước, trước đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống Nhà nước ta đã ban hành ba Pháp lệnh về thủ tục tố tụng: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các VADS ban hành ngày 29/11/1989 có hiệu lực ngày 01/01/1990; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án kinh tế ban hành ngày 06/03/1994; Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động ban hành ngày 11/04/1996 cùng các văn bản hướng dẫn về TTDS, kinh tế, lao động Đây là những tiền đề pháp lý quan trọng trong việc thực hiện thủ tục tố tụng tuy nhiên, các quy định về khởi kiện và thụ lý VADS còn tản mạn, chưa rõ ràng, thống nhất Đến BLTTDS năm 2004 có hiệu lực thì về cơ bản các quy định về khởi kiện thụ lý vụ án đã được xây dựng một cách thống nhất Có thể nói, đây là một bước ngoặt lớn trong lịch sử lập pháp của Việt Nam bởi lần đầu tiên các quy định về giải quyết các vụ việc dân sự được quy tụ trong một văn bản pháp luật giúp cho việc giải quyết diễn ra thống nhất, một mặt bảo đảm quyền và lợi ích cho các đương sự, mặt khác giúp Tòa án và các cơ quan tiến hành tố tụng có cơ chế hợp lý trong việc giải quyết VADS Đến năm 2011, BLTT năm 2004 được sửa đổi, bổ sung cùng với hàng loạt sự thay đổi của các Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC và các văn bản pháp luật khác Mặc dù đã có nhiều quy định được sửa đổi, bổ sung nhưng trong quá trình áp dụng BLTTDS sửa đổi năm 2011 vẫn bộc lộ nhiều hạn chế bất cập ảnh hưởng đến chất lượng khởi kiện và thụ
lý vụ án Trước tình hình đó, BLTTDS năm 2015 ban hành đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng để khắc phục kịp thời những quy định về khởi kiện và
Trang 7thụ lý VADS tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia tố tụng thuận lợi và hiệu quả nhất Khởi kiện và thụ lý VADS là những vấn đề cơ bản nhất trong pháp luật tố tụng dân sự, là cơ sở để khởi động quá trình giải quyết VADS tại Tòa
án Trên thực tế việc khởi kiện và thụ lý vụ án ở mỗi địa phương lại có những đặc thù khác nhau phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan như tình hình kinh
tế xã hội, vị trí địa lý,…Bởi vậy, việc nghiên cứu các quy định về khởi kiện
và thụ lý vụ án theo BLTTDS năm 2015 đồng thời nghiên cứu tình hình thực hiện các quy định đó tại một địa phương cụ thể là một yêu cầu cấp thiết nhằm đánh giá tính phù hợp của quy định pháp luật trong thực tiễn thi hành Trên cơ
sở đó, có thể đề xuất các giải pháp hoàn thiện để thực thi các quy định về khởi kiện và thụ lý vụ án trong BLTTDS năm 2015 đạt hiệu quả cao trên thực tế
Với những lý do trên, việc lựa chọn đề tài: “Khởi kiện, thụ lý vụ án
dân sự và thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La” để
nghiên cứu trong khuôn khổ luận văn cao học luật chuyên ngành Luật dân sự
và tố tụng dân sự là cấp thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Khởi kiện và thụ lý VADS là những vấn đề cơ bản trong pháp luật tố tụng dân sự được đề cập trực tiếp cũng như gián tiếp trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học khác nhau như Luận án Tiến sĩ Luật học; Luận văn Thạc
sỹ luật học, các sách chuyên khảo, các bài báo, tạp chí chuyên ngành Các công trình nghiên cứu về vấn đề này dưới các góc độ khác nhau vào thời điểm trước và sau khi BLTTDS năm 2015 có hiệu lực như luận văn thạc sĩ luật học
“Thụ lý VADS - một số vấn đề lý luận và thực tiễn” năm 2009 của tác giả Liễu Thị Hạnh, Luận văn thạc sĩ Luật học “Quyền khởi kiện và bảo đảm
quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự” năm 2011 của tác giả Trần Đức Thành;
luận văn thạc sĩ Luật học “Thụ lý VADS và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Điện
Biên” của tác giả Lê Hữu Khang, Luận văn thạc sĩ “Khởi kiện, thụ lý VADS
và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân quận Đống Đa” của tác giả Hồ
Thanh Tuyền; Luận văn Thạc sĩ luật học “Quyền khởi kiện với vấn đề xác
định tư cách đương sự trong tố tụng dân sự” của học viên Lê Nguyễn Hồng
Phúc bảo vệ năm 2011; Luận văn Thạc sĩ luật học của học viên Nguyễn Thị
Trang 8Hương bảo vệ năm 2012 tại Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội với để tài
“Khởi kiện VADS theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004”; Luận
văn Thạc sĩ luật học của học viên Trần Thị Lượt bảo vệ năm 2014 với để tài
“Khởi kiện VADS”, Luận văn Thạc sĩ luật học của học viên Bùi Thị Quế Anh
bảo vệ năm 2016 với đề tài “ Khởi kiện VADS và thực tiễn thực hiện tại tỉnh
Điện Biên”
- Về sách chuyên khảo: có một số công trình như Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội - NXB Công an nhân dân năm 2017; Giáo trình Luật tố tụng dân sự của Học viện Tư pháp - NXB Công an nhân dân năm 2007 cũng đã đề cập đến vấn đề khởi kiện và thụ lý vụ
án nhưng chỉ dừng lại ở mức độ đại cương Cuốn sách tham khảo “Bình luận
khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011” của
tác giả Nguyễn Đức Mai – NXB Chính trị Quốc gia năm 2012; Cuốn “Bình
luận những điểm mới trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015” của tác giả
Nguyễn Thị Hoài Phương – NXB Hông Đức - Hội Luật Gia năm 2016; “Bình
luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015” của tác giả Bùi Thị Huyền
– NXB Lao động năm 2016, “Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng dân sự của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015” của tác giả Trần Anh
Tuấn – NXB Tư pháp năm 2017 đã đưa ra những nghiên cứu các điểm mới liên quan đến quyền khởi kiện theo BLTTDS năm 2015 thông qua việc bình luận các quy định pháp luật Tuy nhiên, trong các công trình này vấn đề quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện vẫn còn tản mạn, chưa được tập trung nghiên cứu toàn diện
- Về các bài đăng trên các tạp chí: đã có những bài nghiên cứu có liên
quan đến vấn đề quyền khởi kiện như: bài viết “Vấn đề khởi kiện và thụ lý
VADS” của ThS Lê Thị Bích Lan đăng tải trên Tạp chí Luật học của Trường
Đại học Luật Hà Nội (Số Đặc san về Bộ luật TTDS, năm 2005); “Về việc rút
đơn khởi kiện của đương sự trong tố tụng dân sự” của ThS Nguyễn Triều
Dương (Tạp chí Toà án nhân dân số tháng 11/2009); "Quyền khởi kiện và việc
xác định tư cách tham gia tố tụng” của tác giả Trần Anh Tuấn (Tạp chí Tòa
án nhân dân, số 23/2008), “Những vấn đề cơ bản lưu ý khi thụ lý đơn khởi
Trang 9kiện, khởi tố, đơn yêu cầu trong giải quyết VADS” của tác giả Duy Kiên đăng
trên Tạp chí Kiểm sát số 07/2012; bài viết: “Một số ý kiến về thời hiệu khởi
kiện theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự 2004”
của tác giả Lê Mạnh Hùng đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 10/2012; “Những
quy định mới về khởi kiện và thụ lý VADS theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự” của tác giả Nguyễn Thị Hương đăng trên
tạp chí Tòa án số 19/2011, “Về quyền khởi kiện của cá nhân không phải vợ,
chồng trong vụ án hôn nhân gia đình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2015” của tác giả Đào Thị Ngọc Thuận tại Tạp chí Kiểm sát số
4/2017.v.v
Như vậy, qua các công trình đã công bố ở trên, có thể nhận thấy đề tài "
Khởi kiện, thụ lý VADS và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La " là đề tài đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về thực tiễn
thực hiện các quy định pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS tại TAND huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, qua đó có thể đưa ra các đề xuất, kiến nghị hoàn thiện để các quy định pháp luật và việc thực hiện pháp luật về khởi kiện
và thụ lý vụ án phù hợp với tình hình kinh tế xã hội tại các tỉnh miền núi nói chung và huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La nói riêng nhằm đem lại hiệu quả tốt nhất trong thực tế cuộc sống
3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận chung, một số quy định của pháp luật Việt Nam khởi kiện và thụ lý vụ án; thực tiễn thi hành các quy định của BLTTDS năm 2015 về khởi kiện và thụ lý VADS trong những năm gần đây tại địa bàn huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La
• Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài này, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu một số quy định của BLTTDS năm 2015 về vấn đề khởi kiện và thụ lý vụ án Bên cạnh
đó, việc nghiên cứu thực tiễn thi hành các quy định của BLTTDS năm 2015
về khởi kiện và thụ lý VADS tại TAND huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La trong
Trang 10những năm gần đây, từ đó có thể đưa ra các giải pháp phù hợp hoàn thiện quy định pháp luật cũng như bảo đảm hiệu quả thi hành trên thực tế
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
• Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích được một số quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về khởi kiện và thụ lý VADS đồng thời chỉ ra những điểm còn hạn chế hoặc chưa hợp lý trong các quy định đó khi được đưa vào thực tiễn áp dụng tại địa bàn huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La Đồng thời trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực tiễn xét xử tại TAND huyện Yên Châu, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật và việc thực hiện pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tế, đặc biệt là các tỉnh miền núi của Việt Nam
• Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn phải hoàn thành một số nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận khởi kiện và thụ lý vụ án trong TTDS
- Nghiên cứu một số quy định của BLTTDS năm 2015 về khởi kiện và thụ lý vụ án VADS trên cơ sở so sánh, đánh giá những điểm mới, ưu điểm, hạn chế so với BLTTDS sửa đổi năm 2011
- Đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định về khởi kiện và thụ lý vụ án của BLTTDS năm 2015 thông qua công tác xét xử tại TAND huyện Yên Châu
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định về khởi kiện và thụ lý VADS nhằm bảo đảm việc thực thi có hiệu quả trên thực
tế
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu nói trên, việc nghiên cứu được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, chính sách của Đảng, nhà nước và
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Ngoài ra, để giải quyết vấn
Trang 11đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành khác như phương pháp phân tích hệ thống; phương pháp tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê.v.v…
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu cụ thể việc thực hiện khởi kiện và thụ lý vụ án tại TAND huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La Những đóng góp của luận văn được thể hiện trên một số phương diện sau đây:
- Lần đầu tiên khởi kiện và thụ lý vụ án được nghiên cứu cụ thể tại một huyện miền núi phía bắc điển hình từ đó chỉ ra các hạn chế trong quy định pháp luật khi thực thi việc khởi kiện và thụ lý vụ án trong thực tế, từ đó đưa ra được giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả thực thi trong cuộc sống, đặc biệt là đối với các địa phương có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số ít người
- Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho giảng viên, sinh viên chuyên ngành luật, các cán bộ làm công tác thực tiễn liên quan đến việc khởi kiện và thụ lý VADS Ngoài ra, luận văn sẽ có những gợi mở cho các cơ quan lập pháp liên quan tới việc hoàn thiện pháp luật về khởi kiện và thụ lý VADS trong BLTTDS năm 2015
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 02 chương:
Chương 1 Những vấn đề chung về khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự Chương 2 Thực tiễn thực hiện các quy định về khởi kiện và thụ lý vụ
án dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La - Kiến nghị một
số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHỞI KIỆN
VÀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ 1.1 Khái quát về khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự
1.1.1 Khái niệm, ý nghĩa của khởi kiện vụ án dân sự
1.1.1.1 Khái niệm khởi kiện vụ án dân sự
Theo Từ điển tiếng Việt: “Vụ là việc, sự việc không hay, rắc rối cần
cứu Vũ Văn Mẫu: “Dân luật (luật dân sự) là những nguyên tắc cai quản sự
– ý chỉ các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ
mang tính chất “riêng tư” của các chủ thể Trong cuộc sống thực tế, những
việc liên quan đến dân sự bao gồm những việc liên quan đến tài sản, nhân thân, hôn nhân gia đình, KDTM, lao động Khái niệm VADS cũng thay đổi qua từng thời kỳ lịch sử lập pháp Trước khi BLTTDS năm 2004 ra đời, thủ tục giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình (HNGĐ), KDTM, lao động được giải quyết theo ba loại văn bản quy phạm pháp luật: Pháp lệnh thủ tục giải quyết VADS năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án kinh tế năm 1994 Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động năm 1996 Theo quy định này, các tranh chấp trong lĩnh vực dân sự được thể hiện thông qua 3 khái niệm tách biệt đó là VADS, vụ án kinh tế, tranh chấp lao động Theo đó,
vụ án dân sự (VADS) bao gồm những tranh chấp và những việc không có tranh chấp về dân sự và HNGĐ như: tranh chấp về quyền sở hữu, hợp đồng, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, hôn nhân và gia đình6…Vụ án kinh tế bao gồm các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân,
1 Từ điển tiếng Việt thông dụng (1996), NXB Giáo dục, Hà Nội, trang 1279
2 Nguyễn Lân (chủ biên, 2000), Từ điển Từ & ngữ Việt Nam, NXB thành phố Hồ Chí Minh, trang 491
3
Nguyễn Như Ý (chủ biên, 1998), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, trang 34
4 Nguyễn Lân (chủ biên, 2000), tlđd chú thích (2), trang 2047
5 Vũ Văn Mẫu (1961), Dân luật khái luận, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, trang 161
6
Xem Điều 10 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các VADS năm 1989
Trang 13giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh; các tranh chấp giữa công
ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty; tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các tranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật7
Vụ án lao động bao gồm các tranh chấp lao động giữa cá nhân giữa người lao động và người sử dụng lao động về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác; về thực hiện hợp đồng lao động và trong quá trình học nghề; tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể người lao động và người sử dụng lao động về thực hiện thỏa ước lao động tập thể; về quyền thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn8 Như vậy, tại thời điểm ba Pháp lệnh này có hiệu lực khái niệm VADS được hiểu trong phạm vi hẹp hơn bao gồm các tranh chấp và những việc không tranh chấp về dân sự và HNGĐ, không bao gồm các tranh chấp về kinh
tế, lao động BLTTDS năm 2004 ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt lớn khi khái niệm VADS đã được mở rộng, cụ thể theo quy định tại Điều 1 BLTTDS
năm 2004 quy định “Bộ luật tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ
bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Toà án giải quyết các
vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là VADS)”, quy định này tiếp tục được kế thừa
tại BLTTDS năm 2015 Theo quy định này, VADS bao gồm các tranh chấp
về dân sự, HNGĐ, KDTM, lao động và không bao gồm những việc dân sự không có tranh chấp, Bộ luật này đã phân định rõ ràng giữa VADS và việc dân sự, theo đó thủ tục giải quyết VADS trước đây được tách thành hai thủ tục riêng biệt đó là thủ tục giải quyết VADS Như vậy, dưới góc độ pháp lý,
có thể khẳng định: “VADS bao gồm các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ
pháp luật dân sự, HNGĐ, kinh doanh, thương mại, lao động giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức và được khởi kiện đến Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự”
Trang 14Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân luôn được Nhà nước bảo vệ và được ghi nhận trong các văn bản pháp luật và được bảo đảm thực hiện thông qua các thiết chế của Nhà nước Ở
Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo
cách xử sự hoặc yêu cầu người khác xử sự theo một cách nhất định trong phạm vi pháp luật không cấm để thỏa mãn lợi ích của mình Trong pháp luật dân sự, mối quan hệ của các chủ thể được coi là mối quan hệ theo chiều ngang – luôn có sự ngang bằng về địa vị pháp lý và được hình thành từ sự thỏa thuận, tự nguyện của các bên trong quan hệ Điểm cốt lõi của quan hệ
pháp luật dân sự chính là “việc dân sự cốt ở đôi bên”, khi các chủ thể tham
gia vào quan hệ dân sự, HNGĐ, KDTM, lao động…đều hướng đến mục đích đạt được những quyền và lợi ích theo thỏa thuận Tuy nhiên, để đảm bảo cho các quyền, và lợi ích của các chủ thể này được thực hiện có hiệu quả trên thực
tế, đem lại tối đa lợi ích cho các bên trong quan hệ thì Nhà nước cần phải trao cho họ một phương tiện pháp lý để họ có thể chủ động sử dụng khi có dấu hiệu của sự tranh chấp, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình dẫn đến việc tiến hành thủ tục TTDS tại Tòa án chỉ có thể khởi động bằng chính hành
vi khởi kiện của đương sự thông qua việc làm cụ thể là gửi đơn khởi kiện và mục đích chính là giúp các chủ thể có thể bảo vệ được các quyền và lợi ích bị xâm phạm của mình, ngăn chặn và chấm dứt các hành vi trái pháp luật trong quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, KDTM, lao động Vì vậy, khi một chủ thể xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của chủ thể khác thì chủ thể bị xâm phạm phải được trao các quyền năng để bảo vệ quyền lợi của mình – quyền năng này đã có sẵn khi chủ thể được sinh ra (cá nhân) hoặc được thành lập (pháp nhân) Tuy nhiên, chỉ khi chủ thể bị xâm phạm quyết định khởi kiện thì Tòa án mới có cơ sở để suy đoán họ là nguyên đơn trong VADS Và kể từ thời điểm này VADS mới có khả năng được phát sinh khi đáp ứng các điều
9
Xem khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013
Trang 15kiện của pháp luật Theo đó, quá trình TTDS sẽ phát sinh từ khi người khởi kiện nộp đơn khởi kiện và kết thúc khi Tòa án ra bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật Có quan điểm cho rằng: “Khởi kiện VADS là việc cá nhân,
cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
hành vi đầu tiên của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS, hay nói một cách khác không có việc khởi kiện VADS sẽ không thể có các giai đoạn tiếp theo của quá trình TTDS, Tòa án chỉ giải quyết VADS khi có đơn khởi kiện của đương sự Đây cũng chính là một trong những điểm khác biệt giữa tố tụng hình sự và TTDS Để đảm bảo cho các quyền, và lợi ích của các chủ thể này được thực hiện có hiệu quả trên thực tế, đem lại tối đa lợi ích cho các bên trong quan hệ thì Nhà nước cần phải trao cho họ một phương tiện pháp lý để họ có thể chủ động sử dụng khi có dấu hiệu của sự tranh chấp, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình Chủ thể
có thể sử dụng phương tiện pháp lý này để bảo vệ quyền lợi của mình, mặt khác nhằm tạo một cơ chế an toàn ràng buộc các bên khi tham gia vào quan
hệ pháp luật dân sự, HNGĐ, KDTM, lao động Đương sự toàn quyền lựa chọn biện pháp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác trong phạm vi thẩm quyền của mình được Nhà nước trao quyền Theo nghĩa hẹp thì khởi kiện VADS được hiểu là việc của các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, HNGĐ, KDTM, lao động hoặc các chủ thể được pháp luật trao quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của mình hoặc của người khác khi có tranh chấp hoặc vi phạm Nói cách khác, Khởi kiện của các chủ thể trên được hiểu đơn giản là việc một chủ thể yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của chủ thể khác thông qua hành vi đầu tiên
là nộp đơn khởi kiện tại Tòa án để khởi động cho quá trình tố tụng tại Tòa án Như vậy, khởi kiện theo nghĩa hẹp chính là cơ sở pháp lý quan trọng làm phát sinh VADS và có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tư cách của các đương sự trong VADS đã được người khởi kiện thực hiện việc khởi kiện tại
10 Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân,
Hà Nội, trang 241
Trang 16Tòa án Theo nghĩa rộng thì Khởi kiện VADS được hiểu không những là việc của các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, HNGĐ, KDTM, lao động hoặc các chủ thể được pháp luật trao quyền trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi khi có tranh chấp hoặc xâm phạm, mà còn bao gồm cả quyền đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn và quyền đưa ra yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sau khi Tòa án thụ lý vụ án Nghĩa rộng của khởi kiện được hiểu theo nghĩa rộng xuất phát từ việc quyền bình đẳng giữa các đương sự tham gia TTDS Xuất phát từ địa vị pháp lý của các chủ thể trong pháp luật nội dung, pháp luật TTDS đã xây dựng nguyên tắc bình đẳng
về quyền và nghĩa vụ trong TTDS, theo đó mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức đều bình đẳng thực hiện quyền tố tụng trước Tòa án nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Luận văn sẽ nghiên cứu khởi kiện vụ án theo nghĩa hẹp
Theo đó: “Khởi kiện VADS là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức nộp đơn khởi
kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước khi xảy ra xâm phạm hoặc tranh chấp”
1.1.1.2 Đặc điểm của khởi kiện vụ án dân sự
Thứ nhất, khởi kiện VADS là hành vi đầu tiên của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS yêu cầu Tòa án bảo vệ các quyền và lợi ích dân sự của mình hoặc của người khi xảy ra xâm phạm hoặc tranh chấp Khởi kiện chính là một cơ chế đảm bảo được Nhà nước xây dựng dựa trên mối quan hệ giữa luật nội dung và luật tố tụng Tất cả các quan về hệ tài sản hoặc nhân thân là đối tượng được luật dân sự bảo vệ, khi bị xâm phạm, thì các chủ thể trong quan hệ tranh chấp đều có quyền khởi kiện đến Tòa án
để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quan hệ dân sự là động lực để các chủ thể thực hiện khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết khi xảy ra tranh chấp hoặc xâm phạm
Thứ hai, khởi kiện VADS thể hiện ý chí tự nguyện của chủ thể, ý chí này được thể hiện trong nhận thức và hành động, không bị ai ép buộc, các đương sự có quyền tự do định đoạt trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp
Trang 17pháp của mình Trong suốt quá trình tố tụng giải quyết VADS, quyền tự định đoạt của đương sự luôn được bảo đảm thực hiện và được đặt trong mối quan
hệ tương quan với pháp luật nội dung Pháp luật tố tụng dân sự được xây dựng dựa trên những bản chất cốt lõi nhất của pháp luật dân sự Bởi vậy, việc tôn trọng quyền tự do thỏa thuận, bình đẳng khi các bên tham gia quan hệ pháp luật dân sự cũng là mục tiêu hướng đến của pháp luật dân sự Theo đó, khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì một trong các bên tranh chấp được quyền định đoạt lựa chọn những phương thức khác nhau để giải quyết tranh chấp và khởi kiện là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp đó Việc các bên tranh chấp lựa chọn khởi kiện đến Tòa án hoàn toàn xuất phát từ ý chí chủ quan của họ mà không ai có quyền quyết định hay hạn chế một cách tùy tiện kể cả nhà nước Trong giao lưu dân sự, khi quyền
và lợi ích bị coi là xâm phạm hoặc có tranh chấp các chủ thể có quyền khởi kiện mà không bị bất kỳ một cá nhân, tổ chức hay cơ quan nhà nước nào được phép cản trở, chi phối hoặc hạn chế một cách tùy tiện Việc khởi động, thay đổi, chấm dứt quá trình tố tụng dân sự tại Tòa án hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các bên trong quan hệ tranh chấp Đây cũng là một đặc điểm giúp phân biệt tố tụng dân sự với tố tụng hình sự
Thứ ba, chủ thể thực hiện khởi kiện VADS yêu cầu Tòa án giải quyết là những chủ thể có quyền lợi bị xâm phạm hoặc được pháp luật trao quyền thực hiện Xuất phát từ nguyên tắc thỏa thuận, bình đẳng của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp dân sự nên khi một trong các bên của quan hệ xâm phạm đến quyền lợi ích của chủ thể khác thì pháp luật trao cho họ các quyền năng
để tự bảo vệ quyền lợi của mình Theo đó, chủ thể khởi kiện cần phải có năng lực pháp luật tố tụng dân sự (NLPLTTDS) và năng lực hành vi tố tụng dân sự (NLHVTTDS) Đối với người khởi kiện là cá nhân thì NLHVTTDS của họ được xác định trên cơ sở khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình trong việc tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Tuy nhiên, đối với những đương sự có đủ NLHVTTDS để thực hiện quyền khởi kiện nếu vì những lý do khác nhau mà họ không thể thực hiện được quyền khởi kiện thì pháp luật cũng có thể bảo đảm điều kiện thuận lợi cho họ thực
Trang 18hiện quyền này thông qua cơ chế uỷ quyền cho người khác đại diện thay mặt mình khởi kiện trước Toà án Việc cho phép đương sự thực hiện quyền khởi kiện thông qua đại diện theo ủy quyền là phương tiện pháp lý cần thiết tạo điều kiện cho đương sự bằng nhiều hình thức khác nhau có thể thực hiện quyền khởi kiện một cách thuận lợi nhất để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Bên cạnh việc pháp luật quy định những chủ thể có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích trực tiếp của mình thì còn có những chủ thể được Nhà nước trao quyền để bảo vệ quyền và lợi ích dân sự của các chủ thể khác, lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng Như vậy, chủ thể thực hiện khởi kiện vụ án có thể một trong các bên tham gia quan hệ pháp luật dân sự hoặc các chủ thể khác có quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật
Thứ tư, việc khởi kiện phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện khởi kiện và không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội Khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự, quyền và lợi ích của chủ thể được đặt trong mối quan hệ với quyền và lợi ích của các chủ thể khác trong quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, KDTM, lao động và các chủ thể khác trong xã hội Bởi vậy, khi thực hiện hành vi khởi kiện của mình chủ thể được
tự do thực hiện khởi kiện VADS khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc xảy ra tranh chấp nhưng khởi kiện cần phải tuân thủ các điều kiện khởi kiện theo luật định, xem xét đến các chuẩn mực xử sự đạo đức và lợi ích công công, lợi ích của Nhà nước, giảm thiểu sự lãng phí về công sức, tiền bạc, nhân lực của Tòa án cũng như của những người có liên quan đến việc khởi kiện vụ án Khởi kiện VADS tại Tòa án chỉ thực sự có giá trị pháp
lý khi các đương sự thực hiện đúng các yêu cầu về điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật hiện hành
1.1.1.3 Ý nghĩa của khởi kiện vụ án dân sự
Hiến pháp năm 2013 khẳng định pháp luật Việt Nam luôn công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội11 Bởi vậy, việc ghi nhận khởi kiện là một
11
Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
Trang 19trong những phương thức bảo vệ quyền, lợi ích dân sự trên cơ sở quyền tự định đoạt của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự, HNGĐ, KDTM, lao động là một đảm bảo của Nhà nước trong việc thực thi quyền công dân, quyền con người, đáp ứng các đòi hỏi của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền việc thực thi pháp chế xã hội chủ nghĩa Khởi kiện VADS là tiền đề pháp lý để đương sự có thể yêu cầu Tòa án khởi động quá trình tố tụng để khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp của mình Trong thực tiễn đời sống
xã hội, tranh chấp dân sự là một yếu tố khách quan mang tính quy luật, bởi vậy Nhà nước cần có những cơ chế giải quyết các tranh chấp dân sự khi xảy
ra trên thực tế Bởi vậy, thông qua các quy định về khởi kiện VADS sẽ giúp cho các chủ thể tham gia quan hệ dân sự có thêm lựa chọn để tìm ra phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện thực tế của mình, đồng thời còn tạo cơ chế chủ động tự bảo vệ của đương sự khi quyền và lợi ích của mình có nguy cơ bị xâm phạm nhằm bảo vệ tối đa lợi ích của các bên trong quan hệ dân sự
Khởi kiện VADS góp phần nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác trong quan hệ pháp luật dân sự, củng cố an ninh trật tự xã hội Thông qua quy định khởi kiện VADS yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp dân sự, HNGĐ, KDTM, lao động còn hạn chế các hành vi xâm phạm quyền và lợi ích của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự Một mặt, khởi kiện vụ án góp phần nâng cao ý thức của người dân trong việc tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, mặt khác các quy định này cũng giúp công dân tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, từ đó họ có thể điều chỉnh các hành vi, xử sự của mình sao cho phù hợp để tránh những mâu thuẫn, tranh chấp giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự Bên cạnh đó, pháp luật tố tụng dân sự ghi nhận khởi kiện còn góp phần bảo đảm sự công bằng, bình đẳng đối với các đương sự khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự, thể hiện được tính giáo dục, phòng ngừa
và ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền lợi ích hợp pháp của công dân Theo đó, bất cứ hành vi xâm phạm quyền đều có khả năng bị chủ thể khác
Trang 20khởi kiện tại Tòa án và có thể phải chịu những hậu quả pháp lý theo phán quyết của Tòa án
Khởi kiện VADS còn cơ sở để Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng tiếp theo nhằm giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, KDTM, lao động, từ đó kịp thời bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự Ngoài ra, thông qua hành vi khởi kiện VADS của đương sự, Tòa án thực thi được quyền bảo vệ công lý, bảo vệ sự
ổn định của các quan hệ xã hội theo đúng tinh thần của Hiến pháp và Luật Tổ chức TAND, đem đến sự tin tưởng của người dân đối với pháp luật, coi pháp luật là công cụ hữu hiệu để điều tiết xã hội, là phương thức tối ưu nhất để bảo
vệ được quyền và lợi ích của mình, răn đe các hành vi xâm phạm, củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thụ lý vụ án dân sự
1.1.2.1 Khái niệm thụ lý vụ án dân sự
Tại khoản 1 Điều 4 BLTTDS năm 2015 quy định: “Cơ quan, tổ chức,
cá nhân do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện VADS, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo
vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác” Tòa án là nơi biểu hiện tập
trung nhất của quyền tư pháp – nơi mà kết quả của hoạt động điều tra, công
tố, bào chữa được kiểm tra, xem xét một cách công khai thông qua thủ tục tố tụng theo luật định, để đưa ra những phán quyết cuối cùng có tính chất quyền lực Nhà nước, nơi phản ánh đầy đủ và sâu sắc nhất bản chất của nền công
lý12 Thông qua hoạt động xét xử nhân danh quyền lực Nhà nước, Tòa án sẽ xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp và tính đúng đắn của các quan hệ pháp luật Thụ lý VADS là hoạt động đầu tiên của Tòa án để khởi động quá trình giải quyết VADS tại Tòa án Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, thụ lý VADS không phải là một quyền của các chủ thể pháp luật
mà là một chuỗi các hoạt động của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
12 Phạm Hưng (1997), Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của ngành Tòa án nhân dân, Tạp chí Tòa án nhân dân số 3/1997, trang 1
Trang 21giải quyết VADS Nói một cách khác, chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền thực hiện các hoạt động thụ lý đơn khởi kiện VADS Xét dưới góc độ ngôn ngữ
học, Từ điển Tiếng Việt thì “thụ lý là tiếp nhận giải quyết vụ kiện”13 Theo
Từ điển Luật học, “Thụ lý vụ án là bắt đầu tiếp nhận một việc để xem xét và
thể về thụ lý VADS, mà chỉ quy định các hoạt động liên quan đến thụ lý vụ
án, cụ thể: “Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu
xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện
là việc Tòa án nhận đơn khởi kiện của người khởi kiện và vào sổ thụ lý VADS
Theo như khái niệm này, thụ lý vụ án là hành vi tố tụng của Tòa án có thẩm quyền chấp nhận đơn khởi kiện để giải quyết VADS, được xác định bằng hành vi ghi vào sổ thụ lý vụ án Có thể nói đây là công việc đầu tiên của Tòa án trong quá trình tố tụng, là tiền đề, cơ sở để Tòa án thực hiện các thủ tục tố tụng dân sự tiếp theo để giải quyết VADS Theo tinh thần pháp luật, thụ lý vụ án tại Tòa án có thẩm quyền cần phải có các bước cơ bản đó là nhận đơn khởi kiện, xem xét đơn khởi kiện, vào sổ thụ lý để giải quyết các
tranh chấp dân sự Từ những phân tích trên có thể kết luận “Thụ lý VADS là
hoạt động tố tụng của Tòa án có thẩm quyền trong việc nhận, xem xét đơn khởi kiện và vào sổ thụ lý vụ án để giải quyết các tranh chấp dân sự, HNGĐ, KDTM, lao động”
1.1.2.2 Đặc điểm của thụ lý vụ án dân sự
13
Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, trang 961
14 Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, NXB Bách khoa Tư pháp, Hà Nội, trang
Trang 22Thứ nhất, thụ lý VADS là hoạt động của Tòa án có thẩm quyền tiếp nhận giải quyết VADS theo yêu cầu của người khởi kiện Thụ lý vụ án tức là việc Tòa án đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện sau khi đã xem xét tính hợp lý của các điều kiện khởi kiện Như vậy, chỉ có Tòa án mới
có thẩm quyền thụ lý vụ án sau khi người khởi kiện gửi đơn khởi kiện đến Tòa án Tòa án thụ lý vụ án thông quan một chuỗi các hoạt động tố tụng được diễn ra theo trình tự và có mối liên hệ với nhau bao gồm: Nhận và xem xét đơn khởi kiện, kiểm tra điều kiện thụ lý vụ án, vào sổ thụ lý Hoạt động thụ
lý của Tòa án là bước khởi đầu để thực hiện các thủ tục tố tụng khác, là bảo đảm trách nhiệm của Tòa án đứng ra chịu trách nhiệm giải quyết các tranh chấp dân sự, HNGĐ, KDTM, lao động Thông qua thụ lý vụ án, Tòa án chính thức xác nhận thẩm quyền cũng như trách nhiệm đối với kết quả giải quyết tranh chấp, kịp thời bảo vệ quyền vào lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án
Thứ hai, thụ lý vụ án được tiến hành thông qua hoạt động của Thẩm phán được phân công thụ lý đơn khởi kiện Do việc quyết định thụ lý hay không thụ lý vụ án đều ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên tham gia quan hệ pháp luật dân sự, HNGĐ, KDTM, lao động, chính bởi vậy hoạt động thụ lý VADS cần phải được tiền hành bởi các chủ thể theo luật định có đầy đủ năng lực chuyên môn Theo quy định của pháp luật TTDS, khi tiếp nhận đơn khởi kiện của người khởi kiện, một Thẩm phán sẽ được phân công thực hiện các hoạt động như xem xét, đánh giá đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo
để ra một trong những quyết định sau: trả lại đơn khởi kiện, thụ lý VADS hoặc chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền
Thứ ba, căn cứ và trình tự thủ tục tiến hành thụ lý vụ án cần tuân thủ chặt chẽ quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việc Tòa án thụ lý vụ án đồng nghĩa với việc quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự trong VADS được hình thành kể từ thời điểm đó Bởi vậy, việc thụ lý vụ án không được tiến hành một cách tùy tiện, theo cảm tính của Thẩm phán thụ lý đơn mà phải dựa trên căn cứ pháp lý luật định để tránh gây ra sự thiếu công bằng, thống nhất, tránh khó khăn, phiền hà, nhiễu sách cho công dân khi thực hiện quyền khởi
Trang 23kiện Các căn cứ đó bao gồm: các điều kiện thụ lý vụ án như chủ thể khởi kiện, thẩm quyền giải quyết của Tòa án, vụ án chưa được giải quyết bởi cơ quan nhà nước khác, nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí của người khởi kiện Việc căn cứ vào các quy định pháp luật để thụ lý vụ án sẽ giúp Tòa án thụ lý
vụ án một cách chính xác, nhanh chóng, công bằng với các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự, làm nền tảng giải quyết triệt để các tranh chấp dân
sự
1.1.2.3 Ý nghĩa của thụ lý vụ án dân sự
Là hoạt động tố tụng đầu tiên của Tòa án sau khi tiếp nhận đơn khởi kiện nên thụ lý VADS có ý nghĩa pháp lý vô cùng quan trọng trong việc xác định việc Tòa án có thẩm quyền đã nhận trách nhiệm giải quyết vụ án, là cơ
sở pháp lý để Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng tiếp theo để giải quyết
vụ án Thụ lý VADS còn là bước khởi đầu quan trọng để Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng khác để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, là cơ
sở cho Tòa án thực thi được quyền bảo vệ công lý, bảo vệ sự ổn định của các quan hệ xã hội theo đúng tinh thần của Hiến pháp và Luật Tổ chức Tòa án nhân, đồng thời còn tạo cơ chế chủ động tự bảo vệ của đương sự khi quyền và lợi ích của mình có nguy cơ bị xâm phạm Mặt khác, thời điểm Tòa án vào sổ thụ lý vụ án cũng chính là cơ sở để Tòa án tính các thời hạn tố tụng giải quyết
vụ án theo luật định, Kể từ thời điểm thụ lý vụ án là đánh dấu khởi điểm đầu tiên của quy trình tố tụng, các hoạt động tiếp theo của Tòa án được thực hiện theo đúng quy trình tố tụng
Bên cạnh đó, thụ lý VADS có mối quan hệ chặt chẽ với các hoạt động
tố tụng khác trong việc giải quyết VADS Tòa án có thẩm quyền chỉ tiến hành được các hoạt động tố tụng khác như các hoạt động chuẩn bị xét xử, đưa vụ
án ra xét xử, các thủ tục phúc thẩm, tái thẩm, giám đốc thẩm khi Tòa án vào
sổ thụ lý và ra thông báo thụ lý vụ án cho các đương sự trong vụ án Bản chất của thụ lý vụ án là việc Tòa án chấp nhận các yêu cầu khởi kiện được trình bày trong đơn khởi kiện, qua đó làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Sau khi thụ lý VADS, về phía cơ quan tiến hành tố tụng, Tòa án phải giải quyết đúng thời
Trang 24hạn và chính xác VADS, Viện Kiểm sát phải thực hiện tốt việc kiểm sát quá trình tố tụng dân sự tại Tòa án nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự Mặt khác, sau khi có thông báo thụ lý vụ án của Tòa án, các đương sự, các chủ thể liên quan đến việc giải quyết vụ án cũng phải nghiêm túc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo đúng quy định của pháp luật để vụ án được nhanh chóng giải quyết theo đúng thời hạn, kịp thời bảo vệ triệt để quyền và lợi ích của các đương sự
Thụ lý VADS góp phần bảo vệ kịp thời các lợi ích hợp pháp trong quan
hệ pháp luật dân sự và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Thông qua việc thụ lý, các cơ quan tố tụng sẽ có hành động can thiệp kịp thời để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, thiệt hại sớm được khắc phục, ngăn chặn
và chấm dứt hành vi trái pháp luật và sớm khôi phục lại mối quan hệ thiện chí, cởi mở, giao hòa giữa các bên trong đời sống dân sự
1.2 Một số quy định pháp luật hiện hành về khởi kiện và thụ lý vụ
án dân sự
1.2.1 Các quy định của pháp luật về khởi kiện
1.2.1.1 Điều kiện khởi kiện, quyền khởi kiện
Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định quyền
khởi kiện và điều kiện khởi kiện vụ án dân sự được quy định tại Điều 186 và
điều 187 BLTTDS năm 2015, điều 186 BLTTDS năm 2015 quy định “Cơ
quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”; theo đó
các chủ thể khởi kiện phải đáp ứng các điều kiện khi thực hiện quyền khởi
kiện vụ án dân sự cụ thể:
* Về chủ thể khởi kiện Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự là các chủ thể
theo quy định của pháp luật được tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân
sự Các chủ thể này bao gồm cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức đáp ứng được những điều kiện do pháp luật quy định Đối với người khởi kiện là cá nhân thì
Trang 25phải là con người cụ thể, ngoài việc có năng lực hành vi dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự thì họ phải có quyền, lợi ích bị xâm phạm Khi họ có đầy đủ năng lực hành vi dân sự thì họ có thể tự mình thực hiện quyền khởi kiện Trong trường hợp cá nhân là người mất năng lực hành vi dân sự, người
có khó khăn về nhận thức và làm chủ hành vi dân sự thì người thực hiện quyền khởi kiện thông qua người đại diện hợp pháp của họ Pháp luật cũng đòi hỏi cá nhân khi khởi kiện vụ án dân sự phải là người có quyền, lợi ích hợp
pháp bị xâm phạm hoặc tranh chấp ( Điều 186 BLTTDS năm 2015 17 )
Đối với cơ quan, tổ chức muốn thực hiện quyền khởi kiện thì trước hết
cơ quan, tổ chức đó phải có tư cách pháp nhân; theo quy định tại điều 74 BLDS năm 201518
, ngoài các chủ thể được quy định trên đây thì hộ gia đình,
tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân cũng có quyền khởi kiện
vụ án dân sự Theo điều 101 Bộ luật dân sự năm 2015.19
Các cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp bị xâm phạm hoặc tranh chấp Ngoài ra các cơ quan tổ chức các cơ quan, tổ chức còn khởi kiện vụ án dân sự để bảo bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định của pháp luật theo quy định tại điều 187 BLTTDS năm 201520 Theo quy định tại điều luật này thì đây là nhóm chủ thể thực hiện việc khởi kiện để bảo vệ quyền hay lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách gồm: Cơ quan quy định tại khoản 1 điều
187 BLTTDS năm 2015 là các cơ quan nhà nước như: Ủy ban nhân dân các cấp, các bộ, ngành ở trung ương, các sở, ngành ở địa phương, các cơ quan chuyên môn khác ở từng lĩnh vực như cơ quan thuế, thị trường, dân số, môi trường, các cơ quan tiến hành tố tụng các cấp.v.v có tư cách pháp nhân Các
bộ phận đơn vị văn phòng đại diện của các cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm
17 Xem Điều 186 BLTTDS năm 2015
18 Xem Điều 74 BLDS năm 2015
19 Xem Điều 101 BLDS năm 2015
20
Xem Điều 187 BLTTDS năm 2015
Trang 26vụ cơ quan nhà nước, phụ thuộc vào cơ quan nhà nước không phải là pháp nhân, không có quyền khởi kiện vụ án dân sự
Các tổ chức quy định trong khoản 2 điều 187 BLTTDS năm 2015 là các tổ chức kinh tế, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp.v.v bao gồm các tổ chức có tư cách pháp nhân và các tổ chức không
có tư cách pháp nhân Các tổ chức không có tư cách pháp nhân được khởi kiện vụ án dân sự phải là những tổ chức được pháp luật quy định có quyền tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập Các tổ chức không có tư cách pháp nhân là một bộ phận của doanh nghiệp, hợp tác xã như tổ, đội, chi nhánh, văn phòng đại diện v.v không được pháp luật quy định có quyền tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập Các tổ chức không có tư cách pháp nhân là một bộ phận của doanh nghiệp, hợp tác xã như tổ, đội, chi nhánh, văn phòng đại diện v.v không được pháp luật quy định có quyền tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập thì không được tự mình khởi kiện
vụ án dân sự
Theo khoản 1 điều 187 BLTTDS năm 2015 các cơ quan này trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình có quyền khởi kiện trong trường hợp cần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của những người quy định tại khoản 5 điều 84; khoản 2 điều 86; khoản 3 điều 102; khoản 2 điều 119 Luật HNGĐ năm 2014 Đó là các trường hợp thay đổi trực tiếp nuôi con; hạn chế quyền cha, mẹ đối với con chưa thành niên; xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự; xác định con cho cha,
mẹ chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự và trường hợp buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ
đó Trong các trường hợp này, người được các cơ quan, tổ chức trên khởi kiện
để bảo vệ quyền lợi là nguyên đơn trong vụ án dân sự
Tổ chức đại diện tập thể lao động chỉ khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao
Trang 27động ủy quyền, việc khởi kiện được thực hiện theo quy định của Bộ luật lao động năm 2012 Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng
* Vụ án phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Thẩm quyền giải
quyết VADS của Tòa án là một trong các vấn đề trọng tâm của pháp luật TTDS đồng thời cũng là một điều kiện khởi kiện khi người khởi kiện nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác Thẩm quyền được hiểu là quyền chính thức được xem xét để kết luận và định một vấn đề Thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án nhân dân (Tòa án) là quyền thụ lý, xem xét, ban hành các quyết định khi giải quyết vụ việc dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự21 Theo đó Tòa án chỉ thụ lý VADS đối với các tranh chấp dân sự, HNGĐ, KDTM, lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 BLTTDS năm 2015 Việc xác định và quy định cụ thể, rõ ràng những tranh chấp thuộc thẩm quyền dân sự của Toà án và xây dựng các tiêu chí trong luật thực định nhằm phân định rạch ròi giữa thẩm quyền sơ thẩm của Toà án các cấp và các Toà án cùng cấp là cơ sở quan trọng
để bảo đảm quyền khởi kiện Một mặt, quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự trong việc chủ động xác định Toà án có thẩm quyền để thực hiện việc khởi kiện của mình Mặt khác, là cơ sở để xác định trách nhiệm của Toà án trong việc thụ lý vụ án, tránh việc từ chối thụ lý thiếu căn cứ hoặc đùn đẩy thụ lý vụ án vì lý do thẩm quyền Thẩm quyền của Tòa án giải quyết VADS bao gồm thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền theo lãnh thổ và thẩm
quyền theo cấp
- Thẩm quyền theo loại việc của Tòa án nhân dân
Tòa án có thẩm quyền giải quyết các vụ án phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, HNGĐ, KDTM, lao động theo quy định tại Điều 26, 28, 30, 32 BLTTDS năm 2015 Về cơ bản, thẩm quyền theo loại việc của Tòa án theo
21
Bùi Thị Huyền (2016), Bình luận Tố tụng dân sự năm 2015, NXB Lao động, trang 42
Trang 28BLTTDS năm 2015 là sự kế thừa và có bổ sung thêm một số các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án như các tranh chấp về bồi thường thiệt hại do áp dụng biện pháp ngăn chặn hành chính không đúng theo quy định của pháp luật cạnh tranh, trừ trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại được giải quyết trong vụ án hành chính, tranh chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước theo quy định của Luật tài nguyên nước, tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích sinh sản,… Như vậy, BLTTDS năm 2015 bổ sung theo hướng mở rộng thẩm quyền loại việc của Tòa án22 nhằm phù hợp với thực tiễn và pháp luật chuyên ngành như Luật HNGĐ năm 2014, Luật Cạnh tranh, Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Tài nguyên nước, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, qua
đó thêm căn cứ pháp lý để đương sự thực hiện tốt hơn việc khởi kiện của mình, bảo đảm được quyền và lợi ích của họ luôn được quan tâm và bảo vệ kịp thời
- Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án các cấp
Tòa án có thẩm quyền giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm gồm Tòa
án nhân dân cấp huyện và Tòa án nhân dân cấp tỉnh và được quy định cụ thể tại Điều 35, 36, 37, 38 BLTTDS năm 2015 Theo đó, TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm với hầu hết các tranh chấp dân sự, HNGĐ, KDTM, lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết đối với các tranh chấp có tính chất phức tạp trong các lĩnh vực dân sự, HNGĐ, KDTM, lao động đòi hỏi phải có sự am hiểu chuyên môn, nghiệp vụ cao của đội ngũ cán bộ Tòa án hoặc những tranh chấp có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài23
trừ một số trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 35 BLTTDS năm 2015 Bên cạnh đó, Tòa án nhân dân cấp tỉnh còn có thẩm quyền giải quyết những vụ án thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện khi thấy vụ việc phức tạp, việc điều tra thu thập chứng cứ
Trang 29có nhiều khó khăn hoặc cần đảm bảo tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án, phải giám định kỹ thuật phức tạp, vụ án liên quan đến nhiều đương sự, tài sản tranh chấp ở nhiều địa phương khác nhau, đương sự là cán
bộ chủ chốt của địa phương, những người có uy tín trong tôn giáo mà xét thấy việc xét xử ở Tòa án cấp huyện không có lợi về chính trị hoặc vụ việc có liên quan đến Thẩm phán, Phó Chánh án, Chánh án Tòa án cấp huyện hoặc theo
đề xuất của Tòa án nhân dân cấp huyện24
Bên cạnh đó, BLTTDS năm 2015 còn bổ sung thẩm quyền giải quyết VADS của Tòa chuyên trách thuộc TAND cấp huyện, cấp tỉnh nhằm bảo đảm chuyên môn hóa việc xét xử, giải quyết vụ
án, nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết vụ án hướng đến bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của các đương sự trong vụ án
- Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ
Pháp luật TTDS quy định về việc phân định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ nhằm xác định thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự giữa các Tòa án cùng cấp với nhau Các quy định về thẩm quyền theo lãnh thổ được xây dựng dựa trên cách thức tổ chức hệ thống Tòa án theo địa giới hành chính của nước ta Việc xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án được tiến hành dựa trên nguyên tắc bảo đảm cho vụ án được giải quyết nhanh chóng, chính xác nhất đồng thời tạo điều kiện thuận lợi nhất đương sự trong việc tham gia
tố tụng, Tòa án và các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập, xác minh các tài liệu, chứng cứ chính xác nhất Theo quy định pháp luật, đối với tranh chấp mà đối tượng tranh chấp là bất động sản thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nơi có bất động sản giải quyết Nếu các tranh chấp không phải là bất động sản thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc nơi bị đơn có trụ sở Tuy nhiên, trên thực tế việc xác định nơi cư trú của bị đơn là một vấn đề phức tạp, gặp nhiều khó khăn trong thực tế đặc biệt là đối với những người làm nghề lưu động, đồng bào dân tộc thiểu số
không có nơi ở cố định Bên cạnh đó, pháp luật TTDS quy định: “Các đương
sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của
24
Bùi Thị Huyền (2016), tlđd chú thích (18), trang 78
Trang 30nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp
về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định
bị đơn đồng thuận về việc lựa chọn Tòa án nơi nguyên đơn cư trú, có trụ sở thì trường hợp này được coi là bị đơn đã từ bỏ được quyền tham gia tố tụng tại Tòa án theo quy tắc ưu tiên Tòa án tại nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ
sở, nơi có tài sản hoặc nơi phát sinh sự việc Ngoài ra, khoản 1 Điều 40 BLTTDS năm 2015 tiếp tục kế thừa những quy định về việc cho phép nguyên đơn trong một số trường hợp có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp
về dân sự, HNGĐ, KDTM, lao động Việc nguyên đơn lựa chọn Tòa án mà không cần có sự đồng thuận của bị đơn thường xuất phát từ tính nhân đạo của pháp luật trong việc bảo vệ kẻ yếu (nguyên đơn là người lao động, người khởi kiện về cấp dưỡng, người bị thiệt hại…) hoặc trong trường hợp các quy tắc phổ biến về xác định thẩm quyền đối với các tố quyền đối nhân, đối vật trở nên quá hạn hẹp, không thể áp dụng để xác định Tòa án có thẩm quyền trong những trường hợp cụ thể.26
* Vụ án phải chưa có quyết định giải quyết của các cơ quan có thẩm
quyền hoặc các quyết định khác có hiệu lực pháp luật
* Vụ án phải còn thời hiệu khởi kiện: Thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ,
việc dân sự gồm thời hiệu khởi kiện VADS và thời hiệu yêu cầu giải quyết
vụ, việc dân sự Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ, việc dân sự và quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự để bảo về quyền lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện VADS và quyền yêu cầu giải quyết vụ, việc dân sự27
25 Điểm b khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015
26 Trần Anh Tuấn (Chủ biên, 2017), Bình luận Khoa học Bộ luật tố tụng dân sự năm, NXB Tư Pháp, Hà Nội,
tr.125 - 126
27
Xem khoản 3,4 Điều 150 BLDS năm 2015
Trang 311.2.1.2 Phạm vi khởi kiện
Theo quy định tại Điều 188 BLTTDS năm 210519 Phạm vi khởi kiện
vụ án dân sự được hiểu là giới hạn những vấn đề khởi kiện trong một vụ án dân sự So với quy định về phạm vi khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của BLTTDS năm 2004 ( sửa đổi bổ sung năm 2011) thì quy định về phạm vi khởi kiện trong quy định của BLTTDS năm 2015 về cơ bản được giữ nguyên, theo đó phạm vi khởi kiện không hạn chế một người hay nhiều người chỉ được khởi kiện đối với một hoặc nhiều người về cùng một quan hệ pháp luật
mà được mở rộng hơn so với những văn bản trước đây Điều luật quy định các trường hợp được giải quyết trong cùng một vụ án, cụ thể: cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể khởi kiện một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân khác
về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan đến nhau
để giải quyết trong cùng một vụ án; cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại Điều 187 BLTTDS năm 2015 có thể khởi kiện một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau Được coi là “ nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau” để giải quyết trong cùng một vụ án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Việc giải quyết quan hệ pháp luật này đòi hỏi phải giải quyết đồng thời quan hệ pháp luật khác Quy định này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn, tạo điều kiện cho các bên đương sự cũng như các cơ quan chức năng giải quyết vụ việc được linh hoạt; tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án giải quyết các yêu cầu của đương sự phát sinh từ các quan hệ pháp luật khác nhau trong cùng một vụ án, từ đó đảm bảo việc giải quyết các vụ án dân sự được nhanh chóng và đúng đắn, giúp tiết kiệm thời gian tiền của công sức đương sự và các cơ quan tiến hành tố tụng
Trang 32- Việc giải quyết các quan hệ pháp luật có cùng đương sự và về cùng loại tranh chấp quy định trong cùng điều luật tương ứng tại một trong các Điều 26,28,30,32 của BLTTDS năm 201528
1.2.1.3 Hình thức, nội dung khởi kiện
Nếu như khởi kiện là hành vi đầu tiên của người khởi kiện nhằm khởi động quá trình tố tụng dân sự tại Tòa án thì đơn khởi kiện được coi là phương thức giúp người khởi kiện chuyển tải đến Tòa án những yêu cầu mà họ mong muốn được giải quyết nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ hoặc của người khác khi xảy ra tranh chấp hoặc xâm phạm Đồng thời, thông qua đơn khởi kiện Tòa án sẽ nắm bắt được những thông tin cần thiết cũng như tâm tư nguyện vọng cần được bảo vệ của người khởi kiện So với BLTTDS sửa đổi,
bổ sung năm 2011, các quy định về đơn khởi kiện trong BLTTDS năm 2015 vẫn kế thừa những những quy định về hình thức và nội dung đơn khởi kiện đồng thời có những sửa đổi, bổ sung theo hướng chi tiết, cụ thể hơn đối với từng đối tượng nộp đơn cụ thể Mẫu đơn khởi kiện VADS được thực hiện thống nhất trong cả nước theo mẫu số 23-DS trong Nghị quyết số 01/2017/NQ – HĐTP, ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự29 Việc ban hành mẫu đơn khởi kiện thống nhất cùng với hướng dẫn chi tiết sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người khởi kiện trình bày yêu cầu khởi kiện của mình, hạn chế được việc đương sự phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần, giúp cho đương
sự và Tòa án tiết kiệm được thời gian, tiền bạc, bảo đảm cho việc khởi kiện và thụ lý vụ án diễn ra nhanh chóng, thuận lợi Khoản 2 Điều 189 BLTTDS năm
2015 đã có những bổ sung quan trọng theo hướng tạo điều kiện cho người khởi kiện trong những trường hợp yếu thế vẫn có thể thực hiện được quyền
khởi kiện của mình, cụ thể: “b) Cá nhân là người chưa thành niên, người mất
năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm
hộ đơn khởi kiện vụ án Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện
28 Bùi Thị Huyền (2016), Bình luận tố tụng dân sự 2015, NXB Lao động, trang 242
29 Xem chi tiết mẫu đơn số 23-DS trong Nghị quyết số 01/2017/NQ – HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự
Trang 33trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của người đại diện hợp pháp của
cá nhân đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký tên hoặc điểm chỉ; c) Cá nhân thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này là người không biết chữ, người khuyết tật nhìn, người không thể tự mình làm đơn khởi kiện, người không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì có thể nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện và phải có người có đủ năng lực tố tụng
Đối với các chủ thể khởi kiện yếu thế, đặc biệt là các đồng bào dân tộc thiểu
số ít người không biết viết, biết nói tiếng phổ thông không thể tự trình bày được đơn khởi kiện quy định này thể hiện được sự quan tâm của Nhà nước trong việc tạo mọi điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện được quyền khởi kiện tiếp cận công lý của mình Bên cạnh đó, xuất phát từ thực tiễn xã hội khi trình độ hiểu biết của người khởi kiện không đồng đều dẫn đến việc họ có thể trình bày đơn khởi kiện không đúng quy định pháp luật nên BLTTDS năm
2015 đã có quy định về việc cho phép người khởi kiện có thể sửa đổi, bổ sung
đơn khởi kiện, cụ thể: “Trường hợp đơn khởi kiện không có đủ các nội dung
quy định tại khoản 4 Điều 189 của Bộ luật này thì Thẩm phán thông báo bằng văn bản nêu rõ những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung cho người khởi kiện để họ sửa đổi, bổ sung trong thời hạn do Thẩm phán ấn định nhưng không quá 01 tháng; trường hợp đặc biệt, Thẩm phán có thể gia hạn nhưng không quá 15 ngày Văn bản thông báo có thể được giao trực tiếp, gửi trực tuyến hoặc gửi cho người khởi kiện qua dịch vụ bưu chính và phải ghi chú vào sổ nhận đơn
để theo dõi Thời hạn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện không
đơn theo đúng yêu cầu của Tòa án, Thẩm phán sẽ tiếp tục thụ lý vụ án, nếu họ không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu thì Thẩm phán sẽ trả lại đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ đã nộp cho đương sự trừ trường hợp quy định tại điểm e khoản 2 Điều 192 BLTTDS năm 2015 Mặc dù quy định này được xây dựng dựa trên thực tiễn tiếp nhận đơn khởi kiện VADS trên thực tế khi nhiều người khởi kiện gửi đơn đến Tòa án sai cả về hình thức và nội dung, tuy nhiên trong
30 Xem điểm b, c khoản 2 Điều 189 BLTTDS năm 2015
31
Xem Điều 193 BLTTDS năm 2015
Trang 34trường hợp người khởi kiện là người dân tộc thiểu số không thông thạo tiếng phổ thông, sống trong những khu vực có địa hình địa lý hiểm trở rất khó khăn cho việc đi lại thì việc sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng yêu cầu của Tòa án là rất khó khăn dẫn đến việc họ có thể không sửa đổi, bổ sung đúng thời hạn quy định dẫn đến việc đơn khởi kiện của họ có thể bị trả lại không được thụ lý, từ đó quyền và lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ kịp thời
1.2.1.4.Thủ tục khởi kiện
Theo quy định tại Điều 190 BLTTDS năm 201532 việc nộp đơn khởi kiện có các hình thức nộp trực tiếp tại Tòa án; Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính; Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án ( nếu có), quy định thủ tục khởi kiện tại BLTTDS năm
2015 còn đánh dấu một bước ngoặt lớn trong việc cho phép áp dụng công nghệ thông tin vào việc gửi đơn khởi kiện Theo đó, ngoài hai phương thức truyền thống là nộp đơn khởi kiện trực tiếp tại Tòa án hoặc thông qua dịch vụ bưu chính, người khởi kiện còn có thể được nộp đơn bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có) Hiện nay, phương thức gửi đơn khởi kiện trực tuyến đã được TANDTC hướng dẫn cụ thể tại Nghị quyết
số 04/2016/NQ – HĐTP, ngày 30/12/2016, Hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS số 92/2015/QH13, Luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 về gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bằng phương tiện điện tử Như vậy pháp luật TTDS cho phép người khởi kiện có thể linh hoạt sửa dụng các phương thức khởi kiện đến Tòa án, giúp cho việc gửi đơn khởi kiện có thể nhanh chóng và thuận tiện hơn Mục đích của việc bổ sung quy định gửi đơn khởi kiện trực tuyến nhằm giúp các đương sự có thể tiết kiệm được thời gian, công sức, tiền bạc đặc biệt là đối với các khu vực địa lý có địa địa hình trắc trở việc di chuyển khó khăn, tốn kém, bảo đảm quyền khởi kiện được thực thi có hiệu quả, thực hiện triệt để quyền tự định đoạt của đương sự khi tham gia hoạt động TTDS tại Tòa án Tuy nhiên, trên thực tế phương thức khởi kiện trực
32
Xem điều 190 BLTTDS năm 2015
Trang 35tuyến còn gặp nhiều khó khăn khi điều kiện kinh tế xã hội ở một số địa phương chưa cho phép Tòa án thực hiện phương thức này Chính bởi vậy, các quy định về phương thức khởi kiện thông qua Cổng thông tin điện tử còn chưa có hiệu quả thực thi cao trên thực tế
1.2.1.5 Quy định trách nhiệm của Tòa án trong việc tiếp nhận và xem xét đơn khởi kiện vụ án dân sự
Thụ lý VADS có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm được quyền khởi kiện, quyền tiếp cận công lý của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân
sự, HNGĐ, KDTM, lao động khi có tranh chấp Khi đương sự gửi đơn khởi kiện đến Tòa án, việc tiếp nhận đơn khởi kiện của Tòa án phải tuân thủ theo
đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 191 BLTTDS năm 2015, cụ thể: “Tòa
án qua bộ phận tiếp nhận đơn phải nhận đơn khởi kiện do người khởi kiện nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính và phải ghi vào sổ nhận đơn; trường hợp Tòa án nhận đơn khởi kiện được gửi bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án in ra bản giấy và phải ghi vào sổ nhận đơn Khi nhận đơn khởi kiện nộp trực tiếp, Tòa án có trách nhiệm cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện Đối với trường hợp nhận đơn qua dịch vụ bưu chính thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện Trường hợp nhận đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa
cán bộ Tòa án đều phải vào sổ nhận đơn nhằm tránh việc Tòa án đã nhận đơn của đương sự nhưng tùy tiện kéo dài thời gian xem xét đơn khởi kiện làm ảnh hưởng đến quyền khởi kiện vụ án của đương sự Bên cạnh đó, việc ghi vào sổ nhận đơn ngày, tháng, năm nhận đơn là căn cứ pháp lý quan trọng trong việc xác đinh ngày khởi kiện VADS, xác định thời hiệu khởi kiện cũng như trách nhiệm của Tòa án đối với các thủ tục tố tụng tiếp theo
Sau khi vào sổ nhận đơn, Tòa án có trách nhiệm nhanh chóng xem xét
33
Khoản 1 Điều 191 BLTTDS năm 2015
Trang 36và xử lý đơn khởi kiện Trong vòng 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và ra các quyết định xử lý đơn khởi kiện34 So với quy định tại BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011, BLTTDS năm 2015 đã có
sự phân công cụ thể trách nhiệm thụ lý cho một Thẩm phán thực hiện và có sự phân biệt trách nhiệm, quyền hạn của Thẩm phán thụ lý với Thẩm phán giải quyết VADS, đồng thời bổ sung thêm một quyết định mà Thẩm phán được đưa ra đó là yêu cầu người khởi kiện sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện nhằm giúp đương sự thực hiện tốt nhất việc khởi kiện của mình Trong quá trình xem xét đơn khởi kiện, trường hợp Tòa án phát hiện VADS không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì phải làm thủ tục chuyển đơn khởi kiện cho Tòa
án khác có thẩm quyền đồng thời thông báo việc chuyển đơn khởi kiện cho người khởi kiện để họ tiếp tục thực hiện quyền khởi kiện của mình Quy định này là một cơ chế bảo đảm quyền khởi kiện của đương sự được thực hiện một cách hiệu quả trong thực tế Việc sớm phát hiện và thông báo cho người khởi kiện biết Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu khởi kiện của mình một mặt giúp người khởi kiện nhanh chóng tìm đúng cơ quan có thẩm quyền bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi xảy ra tranh chấp, giúp họ tiết kiệm được thời gian, công sức, tiền bạc Mặt khác việc chuyển đơn khởi kiện giúp Tòa án tránh được việc lãng phí thời gian, nhân lực giải quyết vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình bảo vệ tối đa lợi ích của các đương sự trong VADS
1.2.1.6 Quy định về việc trả lại đơn khởi kiện
Tòa án chỉ được trả lại đơn khởi kiện khi có những căn cứ theo quy định của pháp luật tố tụng bởi việc trả lại đơn khởi kiện đồng nghĩa với việc Tòa án từ chối giải quyết yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, dẫn đến việc quyền và lợi ích hợp pháp của họ sẽ không được Tòa án bảo vệ kịp thời BLTTDS năm 2015 quy định rõ những căn cứ trả lại đơn khởi kiện tại Điều
192 như: người khởi kiện không có quyền khởi kiện, người khởi kiện chưa có
34
Xem Khoản 2, 3 Điều 191 BLTTDS năm 2015
Trang 37đủ điều kiện khởi kiện, sự việc đã được giải quyết bằng một bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trừ một số trường hợp luật định, người khởi kiện không nộp biên lai thu tạm ứng án phí, vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán, người khởi kiện rút đơn khởi kiện Khi trả lại đơn khởi kiện, Tòa án cần phải có văn bản nêu rõ lý do trả lại đơn cho người khởi kiện và VKS cùng cấp để người khởi kiện có thể nắm rõ ràng được thông tin việc bị trả lại đơn khởi kiện để họ có thể kịp thời khiếu nại với Tòa án về việc trả lại đơn không đúng Việc ra quyết định trả lại đơn khởi kiện không đúng sẽ ảnh hưởng đến quyền khởi kiện của các đương sự trong VADS
Theo quy tại BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 trong trường hợp khi người khởi kiện nộp đơn khởi kiện đên ghi rõ địa chỉ của bị đơn, kèm giấy xác nhận chứng minh nơi cư trú của bị đơn của chính quyền địa phương, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán tiến hành xác minh lại thì được biết bị đơn trong vụ án vắng mặt khỏi địa phương trước thời điểm Tòa
án thụ lý nên đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm i khoản 1 Điều 192 BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 Pháp luật tố tụng dân sự trước đây quy định trong đơn khởi kiện, người khởi kiện, nguyên đơn phải ghi đầy
đủ tên, địa chỉ cư trú hiện tại của bị đơn Trường hợp nguyên đơn không ghi đầy đủ, đúng tên, địa chỉ của bị đơn thì tòa trả lại đơn Tòa không được tự thông báo tìm bị đơn vì đây là nghĩa vụ của nguyên đơn Vấn đề là việc nguyên đơn phải tự tìm địa chỉ của bị đơn khi họ thường xuyên thay đổi nơi
cư trú, chứng minh họ không thông báo địa chỉ mới nhằm giấu địa chỉ… là việc rất khó cho nguyên đơn Thực trạng này đã gây rất nhiều khó khăn cho người khởi kiện, nhất là khi bị đi khỏi địa phương hoặc cố tình che giấu địa chỉ nơi cư trú dưới hình thức liên tục thay đổi địa chỉ cư trú nhằm trốn tránh nghĩa vụ dẫn đến vụ án không thể giải quyết được Việc Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp này đã dẫn đến việc quyền và lợi ích của nguyên đơn không được bảo vệ triệt để Chính bởi vậy, để khắc phục hạn chế
Trang 38này trong BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011, tại điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 đã quy định về trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung Quy định này nhằm bảo vệ tốt hơn quyền khởi kiện của nguyên đơn trong trường hợp người khởi kiện không thể sửa đổi, bổ sung địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vì những lý do khách quan khi những chủ thể này cố ý cản trở việc người khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, khẳng định trách nhiệm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân của Tòa án
1.2.1.7 Quy định về việc giao nộp tài liệu, chứng cứ khi đương sự gửi đơn khởi kiện vụ án dân sự
Trong quá trình TTDS tại Tòa án, chứng cứ luôn đóng vai trò trung tâm
và quan trọng ảnh hưởng đến kết quả phán quyết của Tòa án Có thể nói mọi hoạt động trong quá trình giải quyết vụ án chủ yếu xoay quanh vấn đề chứng
cứ, các giai đoạn TTDS mở ra, kết thúc và kết quả đều phụ thuộc phần lớn vào nội dung chứng cứ mà các bên đương sự cung cấp hoặc Tòa án thu thập trong một số trường hợp cần thiết Dựa vào chứng cứ, các đương sự có cơ sở xác đáng chứng minh bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, còn các cơ quan tiến hành tố tụng cũng xem xét được tính đúng đắn của sự việc để đưa ra được những kết luận chính xác bảo vệ được lợi ích của người dân cũng như giữ gìn được sự công minh của pháp luật Theo quy định tại khoản 5 Điều 189
BLTTDS năm 2015 quy định: “Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu,
chứng cứ, chứng minh quyền lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy
Trang 39đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng
cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án” Quy định này
cũng được áp dụng tương tự đối với bị đơn có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Trong VADS nếu đương sự
có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình thì đương
sự có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Toà án để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, là hợp pháp và phải tự chịu trách nhiệm, hậu quả
về việc không có chứng cứ, không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ Việc Tòa án yêu cầu chủ thể có quyền khởi kiện phải giao nộp tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện phù hợp với tính chất của quan hệ TTDS cũng như nghĩa vụ chứng minh của đương sự khi yêu cầu Tòa án giải
quyết VADS BLTTDS năm 2015 đã sửa đổi cụm từ tài liệu, chứng cứ “ban
thành tài liệu, chứng cứ “hiện có” 36 nhằm bảo đảm tốt hơn cho việc thực hiện việc khởi kiện của các chủ thể trong thực tế, tránh sự tùy tiện trả lại đơn khởi kiện của Tòa án có thẩm quyền Bên cạnh đó, tại Giải đáp số 01/GĐ – TANDTC ngày 25/7/2016 của Tòa án nhân dân tối cao về một số vấn đề về hình sự, tố tụng hình sự, dân sự, tố tụng dân sự có hướng dẫn trong trường hợp khi nộp đơn khởi kiện, người khởi kiện không nộp kèm theo bất cứ tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì phải có văn bản tường trình, giải thích lý do không có tài liệu, chứng
cứ để nộp cho Tòa án hoặc không thể thu tập được tài liệu, chứng cứ và yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ Trường hợp lý do việc không nộp được tài liệu, chứng cứ là chính đáng thì Tòa án tiến hành thụ lý vụ án và thực hiện việc thu thập tài liệu theo quy định tại khoản 2 Điều 97 BLTTDS năm 2015 Như vậy, pháp luật TTDS hiện hành đang tạo mọi điều kiện tốt nhất để bảo đảm cho đương sự có thể thực hiện được quyền khởi kiện của mình trên thực
tế, kịp thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình Mặc dù pháp
Trang 40luật TTDS luôn cố gắng tạo mọi điều kiện để đương sự có thể thực hiện tốt nhất việc khởi kiện VADS, tuy nhiên do nhiều lý do khách quan, chủ quan nên các chủ thể khởi kiện không thực hiện đúng các quy định về việc giao nộp tài liệu chứng cứ dẫn đến việc thụ lý giải quyết vụ án gặp nhiều khó khăn trên thực tế Bất cập đó xuất phát từ BLTTDS chưa có quy định về chế tài áp dụng trong trường hợp người khởi kiện không nộp hoặc nộp không đầy đủ tài liệu chứng cứ dẫn đến việc áp dụng chưa thống nhất tại các Tòa án địa phương Có nơi, Tòa án trả lại đơn khởi kiện; có nơi, Tòa án vẫn nhận hồ sơ thụ lý Tuy nhiên, nếu thụ lý vào giải quyết thì Tòa án sẽ gặp khó khăn sau này Còn nếu trả đơn khởi kiện thì Điều 168 BLTTDS không quy định trường hợp này Vì vậy, để nâng cao ý thức của các chủ thể khi tham gia khởi kiện, nâng cao hiệu quả thụ lý giải quyết VADS và có sự áp dụng thống nhất toàn ngành, BLTTDS năm 2015 cần thiết có các quy định về chế tài trong trường hợp đương sự không nộp tài liệu, chứng cứ kèm theo
1.2.1.8 Quy định về trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ cho đương sự thực hiện quyền khởi kiện
Tài liệu, chứng cứ đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết chính xác, đúng đắn VADS Tuy nhiên, không phải lúc nào đương sự cũng có trong tay những tài liệu, chứng cứ để làm sang tỏ những tình tiết khách quan của vụ
án Chính bởi vậy, việc pháp luật quy định các cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ chứng cứ, tài liệu có trách nhiệm, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án cho các đương sự khi có yêu cầu nhằm bảo đảm việc khởi kiện của họ luôn được đảm bảo và có khả năng được thực thi trong thực tế Pháp luật TTDS luôn quan tâm và tạo mọi điều kiện tốt nhất để các đương sự
có thể thực hiện thuận lợi việc thu thập các tài liệu chứng cứ từ các cá nhân,
cơ quan, tổ chức khác đang quản lý, lưu trữ chứng cứ Tại Điều 7 BLTTDS năm 2015 quy định rõ trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền, cụ thể: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Tòa án, VKSND tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, VKS theo quy định của Bộ