1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tài liệu ôn thi môn ngữ văn lớp 12

20 534 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 58,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sinh thời Hồ Chí Minh thường tự nhủ: “Ngâm thơ ta vốn không ham”. Nhưng trên thực tế, Người đã để lại cho đời một sự nghiệp văn học lớn lao về tầm vóc, phong phú, đa dạng về thể loại và thống nhất trên tinh thần thép, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp Cách mạng. Có được điều đó không chỉ do yếu tố khách quan, năng khiếu bẩm sinh mà điều quan trọng quyết định là người đã xác định cho mình một quan điểm sáng tác đúng và tiến bộ.

Trang 1

ÔN THI NGỮ VĂN 12

CHUYÊN ĐỀ 1: NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH VÀ “TUYÊN NGÔN

ĐỘC LẬP”

A.Phần I: Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh

- Năm sinh (1890 -1969)

- Tên gọi thời niên thiếu: Nguyễn Sinh Cung

+ Thời gian dạy học ở trường Dục Thanh - Phan Thiết: Nguyễn Tất Thành (mong muốn mọi ước mơ, sự nghiệp của Người tất yếu trở thành hiện thực

- Thời kì đầu hoạt động Cách mạng ở nước ngoài: Nguyến Ái Quốc gửi gắn tình yêu tha thiết với nhân dân, đất nước

- Khi người về nước hoạt động và lãnh đạo Cách mạng, lấy tên Hồ Chí Minh (mong muốn luôn có ý chí sáng suốt và đúng đắn → mang tên Hồ Chí Minh cho đến khi từ trần

→ Mỗi cái tên gọi của Bác đều gợi lên vẻ đẹp trong nhân cách, trong tâm hồn Hồ Chí Minh

* Quê quán

- Quê cha: làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

- Quê mẹ: làng Hoàng Trù, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

→ Giàu truyền thống yêu nước, trở thành cái nôi nuôi dưỡng tình yêu đất nước sâu nặng trong con người Hồ Chí Minh

* Xuất thân trong một gia đình nhà Nho yêu nước

Trang 2

+ Cha: Nguyễn Sinh Sắc: phó bảng (phó Tiến sĩ).

+ Mẹ: Hoàng Thị Loan (con của một gia đình nhà Nho)

- Học vấn: thuở nhỏ học chữ Hán, chữ quốc ngữ và tiếng Pháp

→ Hồ Chí Minh am hiểu cả văn hóa - văn học phương Đông (Trung Quốc) và văn hóa - văn học phương Tây (Pháp)

→ Hai dòng phương Đông và phương Tây quyện chảy trong huyết mạch văn chương của Người

* Các chặng đường hoạt động

- 1910, Người dạy học ở Phan Thiết

- 1911, Người ra đi tìm đường cứu nước tại bến cảng Nhà Rồng

- Từ năm 1918 - 1922, chủ yếu hoạt động Cách mạng ở Pháp: người tích cực viết báo, viết sách tuyên truyền chống chủ nghĩa thực dân và đoàn kết các dân tộc thuộc địa

- Từ năm 1923 - 1941: Chủ yếu người hoạt động ở Liên Xô, Trung Quốc và Thái Lan

- Từ năm 1942 - 1943: Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam tại nhà ngục Quảng Tây - Trung Quốc

- Ngày 02 - 09- 1945, Người đọc tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình

→ Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại, đồng thời là nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc, với một di sản văn học vô cùng quý giá

II Quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh (3 quan điểm)

Trang 3

* Giới thiệu: Sinh thời Hồ Chí Minh thường tự nhủ: “Ngâm thơ ta vốn không

ham” Nhưng trên thực tế, Người đã để lại cho đời một sự nghiệp văn học lớn lao

về tầm vóc, phong phú, đa dạng về thể loại và thống nhất trên tinh thần thép, phục

vụ đắc lực cho sự nghiệp Cách mạng Có được điều đó không chỉ do yếu tố khách quan, năng khiếu bẩm sinh mà điều quan trọng quyết định là người đã xác định cho mình một quan điểm sáng tác đúng và tiến bộ

1 Quan điểm nghệ thuật thứ nhất : Xác định bản chất của văn học.

- Hồ Chí Minh coi văn học là một bộ phận của Cách mạng, là vũ khí chiến đấu lợi hại, phục vụ cho sự nghiệp Cách mạng Biểu hiện trong thư gửi các họa sĩ năm

1951, Bác viết: “ Văn hóa - văn nghệ là một mặt trận Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” Còn trong bài “Cảm tưởng đọc Thiên gia thi”, Người viết và chỉ rõ trong thơ phải có chất thép, nhà thơ phải như một chiến sĩ trên mặt trận biết xung phong:

“Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông

Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong”

Chất “thép” ấy chính là bản lĩnh Cách mạng, là tính chiến đấu và tinh thần chiến sĩ của nhà thơ

- Quan điểm này của Bác chính là sự kế thừa tư tưởng: “Văn dĩ tải đạo” trong truyền thống của cha ông Đồng thời cũng bắt nguồn từ quan điểm “Văn chương phải có thế trận đuổi nghìn quân giặc” (Trần Thái Tông) Rồi quan điểm “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”

Trang 4

2 Quan điểm nghệ thuật 2

- Người chú trọng đến tính chân thật và tính dân tộc trong văn chương

+ Tính chân thật: Chân thật trong cảm xúc, chân thật trong hiện thực

- Người thường chê chất thơ mộng trong văn chương và thường căn dặn văn nghệ

sĩ phải giữ cho tình cảm chân thực và “miêu tả cho hay cho chân thành, cho hùng hồn hiện thực phong phú của đời sống

* Tính dân tộc:

- Nội dung: nội dung cần hướng vào đời sống Cách mạng của toàn dân tộc, viết cho phù hợp với tâm hồn với tính cách của dân tộc, đề cao cái tốt và phê phán cái xấu, giữ cho được bản sắc của dân tộc trong tác phẩm của mình

- Hình thức - nghệ thuật: Giữ gìn được sự trong sáng của tiếng Việt Ngôn ngữ phải giản dị, gần gũi với quần chúng, tránh lối sống cầu kì, xa lạ

3 Quan điểm nghệ thuật 3: Chú trọng đến đối tượng, tiếp nhận của văn học.

- Vì văn chương là vũ khí sắc bén phục vụ cho sự nghiệp Cách mạng nên khi sáng tác Người phải xuất phát từ đối tượng tiếp nhận và mục đích sáng tác để lựa chọn

và quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm Mỗi khi cầm bút Người luôn tự

đặt ra 4 câu hỏi: “Viết cho ai?” (Xác định đối tượng), “Viết để làm gì?” (Xác định mục đích), “Viết như thế nào?” (Xác định hình thức) Tuy nhiên nếu chỉ như

vậy sẽ làm giảm nhẹ tính nghệ thuật trong văn chương Vì vậy, Người luôn căn dặn người nghệ sĩ phải là người sáng tạo và có vai trò định hướng, nâng cao trình độ nhận thức cho quần chúng nhân dân

III Sự nghiệp sáng tác văn học

Trang 5

*Giới thiệu: Với một quan điểm sáng tác đúng đắn và tiến bộ, sự chủ động tiếp

thu tinh hoa văn hóa thế giới, Hồ Chí Minh đã để lại một sự nghiệp văn học lớn lao

về tầm vóc, phong phú, đa dạng về thể loại và đặc sắc về phong cách

1 Văn chính luận

- Chia làm 2 giai đoạn:

+ Đầu thế kỉ XX:

Bút danh: Nguyễn Ái Quốc

Sáng tác một loạt các tác phẩm tiêu biểu: “Bản án chế độ thực dân Pháp”

Những bài báo đăng trên các tờ Người cùng khổ, Nhân đạo ở Pari.

+ Sau Cách mạng tháng 8 thành công

Bút danh: Hồ Chí Minh

Sáng tác tiêu biểu: “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”; “Tuyên ngôn độc lập”;

“Không có gì quý hơn độc lập tự do”

- Nội dung: + Đấu tranh trực diện với kẻ thù.

+ Ca ngợi và khẳng định ý chí chiến đấu, tinh thần khát khao độc lập của dân tộc

- Nghệ thuật:

+ Hàm xúc và ngắn gọn, bộc lộ tư duy sáng suốt, trí tuệ uyên bác, văn phong chặt chẽ, hào sảng, giàu tính luận chiến

2 Truyện và ký

Trang 6

- Chia làm 2 giai đoạn

+ Khi Người hoạt động ở Pháp: “Lời than vãn của bà Trưng Trắc” (1922); “Vi hành” (1923); “ Những trò lố hay là Vaden và Phan Bội Châu”(1925)

+ Sau Cách mạng tháng Tám: Với bút danh T.Lan, Hồ Chí Minh viết tập ký: “Vừa

đi đường vừa kể chuyện” (1963)

- Nội dung:

+ Vạch trần bộ mặt vô nhân đạo của bọn thực dân Pháp và tay sai phong kiến Việt Nam

+ Ca ngợi những tấm gương yêu nước và tinh thần cách mạng của dân tộc

- Nghệ thuật:

+ Ngắn gọn, sắc sảo, biến hóa linh hoạt mang đầy tính châm biếm, thâm trầm, sâu sắc

3 Thơ ca

- Chia làm 3 giai đoạn:

+ Nhật kí trong tù

+ Thời gian sáng tác: Mùa thu năm 1942 đến mùa thu năm 1943

+ Mục đích sáng tác: “Ngày dài ngâm ngợi cho khuây” để giãi bày tâm trạng +Nội dung: Vạch trần bộ mặt thật chế độ nhà tù Tưởng Giới Thạch

- Chân dung tinh thần con người Hồ Chí Minh bản lĩnh, luôn hướng về quê hương, nhạy cảm với con người, thiên nhiên)

Trang 7

+ Thơ “Việt Bắc”.

+ Thời gian: Từ năm 1941 đến 1945

+ Mục đích viết: Tuyên truyền Cách mạng và thể hiện những tâm sự “nỗi nước nhà” của một vị lãnh tụ yêu nước, ái dân

+ Tác phẩm tiêu biểu: Thơ tuyên truyền: Hòn đá to, Ca công nhân, Ca sợi chỉ, Ca người lính, Ca dân cày

Thơ nghệ thuật: Rằm tháng giêng, Cảnh khuya, Tức cảnh Pác Bó

Thơ chúc Tết: Thời gian từ năm 1946 đến khi Người qua đời

+ Mục đích: Chúc Tết và động viên tinh thần chiến đấu của nhân dân

- Nội dung:

+ Khắc họa lên chân dung của nhân vật trữ tình luôn mang nặng nỗi nước nhà, tâm hồn luôn hòa hợp với tự nhiên và làm chủ hoàn cảnh

- Nghệ thuật:

Thơ tuyên truyền: ngắn, giản dị, dễ nhớ

Thơ nghệ thuật luôn luôn có sự kết hợp hài hòa giữa cổ điển và hiện đại, giữa thép

và tình

IV Phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh

1 Khái niệm

- Là sự lặp lại tới mức thống nhất về những yếu tố có tính khái quát nhưng lại có

sự vận động khác biệt ở yếu tố cụ thể trong sáng tác hoặc trong từng giai đoạn sáng tác của nhà văn

Trang 8

2 Phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh

- Vừa đa dạng lại vừa thống nhất

a Phong cách: Đa dạng (Phong phú về thể loại, đa dạng về phong cách).

+ Văn chính luận: Văn phong ngắn gọn, bộc lộ tư duy sắc sảo, lập luận chặt chẽ, lí

lẽ đanh thép, bằng chứng thuyết phục , giàu tính luận chiến, đa dạng về bút pháp

* Truyện và kí: Tính hiện đại và tính chiến đấu mạnh mẽ, nghệ thuật trào phúng sắc bén, thâm thúy , đậm chất phương Đông, hài hước, hóm hỉnh, đậm chất

phương Tây Tình huống truyện sáng tạo và độc đáo

* Thơ ca:

- Thơ tuyên truyền: Lời lẽ giản dị, mang màu sắc dân gian hiện đại, dễ thuộc, dễ nhớ

- Thơ nghệ thuật: kết hợp hài hòa giữa bút pháp cổ điển và hiện đại, giữa chất thép

và chất tình

b Thống nhất:

- Dù viết ở thể loại nào thì văn phong của Người cũng rất hàm súc, cô đọng, thâm thúy và tinh tế Ngòi bút của Người luôn chủ động, linh hoạt, hình tượng nghệ thuật luôn hướng về Cách mạng, về ánh sáng và niềm vui

- Nghệ thuật có sự kết hợp giữa truyền thống, hiện đại, giàu tri thức văn hóa, mang đậm chất trí tuệ người phương Đông

Trang 9

B: TÁC PHẨM TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP - Hồ Chí Minh

I Giới thiệu chung

1 Hoàn cảnh, đối tượng và mục đích sáng tác “Tuyên ngôn độc lập”

a Hoàn cảnh sáng tác

- 19 - 08 -1943, Cách mạng tháng Tám thành công làm thay đổi toàn bộ bộ mặt xã hội Việt Nam, từ chế độ quản chủ sang dân chủ, từ nô lệ sang làm chủ, nhưng đất nước vẫn đứng trước muôn vàn khó khăn, kẻ thù vẫn chưa từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta

- Phía Nam, quân đội Anh núp sau Anh là Thực dân Pháp

- Phía Bắc: quân Tàu Tưởng, núp sau là đế quốc Mĩ

Trang 10

- Hơn nữa, thực dân Pháp còn láo lếu tung ra dư luận tuyên bố rằng: “Đông

Dương là đất bảo hộ của Pháp, nay Nhật đầu hàng thì Đông Dương phải thuộc về tay Pháp”

- 26 - 08 - 1945, Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội

- 28 - 08 -1945, tại số nhà 48, phố Hàng Ngang, Hà Nội Người đã soạn thảo

“Tuyên ngôn độc lập”

- 02 - 09 - 1945, đứng trước hơn 2 vạn đồng bào, Hồ Chí Minh trong bộ kaki trắng giản dị trên lễ đài, người đã thay mặt cho chính phủ lâm thời đọc “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

b Đối tượng

- Bản tuyên ngôn hướng tới đồng bào cả nước, những người mà hơn 80 năm qua đang rên xiết trong ách xâm lược của thực dân Pháp và phát xít Nhật Khi chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, phát xít Nhật đầu hàng đồng minh, nhân dân Việt Nam đứng dậy dưới sự lãnh đạo của Việt Minh giành chính quyền trong cả nước vào tháng 8 năm 1945

- Đối tượng hướng tới của bản tuyên ngôn còn là nhân dân trên toàn thế giới Nhân dân trên thế giới họ chưa biết đến một đất nước Việt Nam độc lập hoàn toàn mà chỉ biết rằng Việt Nam là thuộc địa, là nô lệ của Thực dân Pháp, vì thế bản tuyên ngôn trịnh trọng tuyên bố với thế giới về sự ra đời của một nước Việt Nam độc lập, tự

do, thống nhất, có chủ quyền

- Từ hoàn cảnh ra đời của tuyên ngôn chúng ta nhận thấy đối tượng hướng tới của tác phẩm còn là các thế lực thù địch và bọn cơ hội quốc tế đang lăm le tái chiếm nước ta Cụ thể thực dân Pháp và đế quốc Mĩ

Trang 11

C Mục đích

- Tuyên ngôn độc lập ra đời nhằm tuyên bố xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến Khẳng định quyền tự chủ và vị thế bình đẳng của dân tộc ta trên toàn thế giới

- Nhằm đập tan những luận điệu xảo trá của kẻ thù và những âm mưu xâm lược của chúng, đồng thời khẳng định và kêu gọi nhân dân cả nước luôn sẵn sàng đương đầu với âm mưu xâm lược mới của kẻ thù

2 Thể loại

3 Bố cục: 3 phần

- Phần 1: Cơ sở pháp lí của bản tuyên ngôn (Từ đầu đến “đó là lẽ phải không ai có thể chối cãi được”)

- Phần 2: Cơ sở thực tiễn và tội ác của Thực dân Pháp, quá trình nổi dậy của nhân dân ta (Tiếp đến “Lập nên chế độ dân chủ cộng hòa”)

- Phần 3: Lời tuyên ngôn (phần còn lại)

=> Nhận xét về bố cục:

- Mục đích của “Tuyên ngôn độc lập” không phải chỉ để tuyên bố mà còn bẻ gãy những luận điệu xảo trá của kẻ thù, vì vậy bản tuyên ngôn trước hết phải xác định

cơ sở pháp lí để làm điểm tựa vững trãi, vạch tội kẻ thù, sau đó chỉ ra tính chất phi nghĩa của chúng và chính nghĩa của ta Rồi cuối cùng mới đanh thép khẳng định xóa bỏ chế độ quân chủ, thoát li quan hệ với thực dân Pháp, xóa bỏ những hiệp ước

đã kí về thực dân Pháp =>> Bố cục logic và chặt chẽ

II Phân tích

1 Cơ sở pháp lí của bản tuyên ngôn

Trang 12

* Mở đầu bản tuyên ngôn: Người không nêu ra pháp lí quốc tế trực tiếp mà lại

trích dẫn 2 bản tuyên ngôn:

+ Bản tuyên ngôn của Mĩ: 1776

+ Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp: 1791

=>> Cả hai bản tuyên ngôn đều hướng tới quyền tự do, bình đẳng, quyền được sống, quyền được sung sướng và quyền mưu cầu hạnh phúc Khẳng định: “Đó là lẽ phải không ai có thể chối cãi được”

*Ý nghĩa của cách nêu này

- Nêu ra được pháp lí quốc tế: Lấy những lí lẽ đã trở thành chân lí được cả thế giới thừa nhận để làm nền cho việc thế giới buộc phải công nhận quyền độc lập của dân tộc ta

- Bộc lộ được niềm tự hào kín đáo của Bác khi đặt 3 bản tuyên ngôn, 3 cuộc cách mạng ngang hàng nhau Ở thế kỷ XV, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi đã sử dụng đăng đối cân xứng để khẳng định tầm vóc của dân tộc mình:

“Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương”

Nay trong Bản tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh, cuộc vùng dậy phá tan xiềng xích của dân tộc ta được sánh với những cuộc cách mạng của các dân tộc thuộc địa: Bắc Mĩ đấu tranh thoát khỏi thực dân Anh và cách mạng dân quyền, nhân quyền của Pháp, đấu tranh thoát khỏi chế độ quân chủ ở Pháp cuối thế kỷ XVIII

- Đây chính là chiến thuật “gậy ông đập lưng ông” dùng lí lẽ của đối thủ để bác bỏ chính lí lẽ của đối thủ Người dường như tiên cảm được toan tính, dã tâm tìm cách

Trang 13

luận ngầm lẽ phải của kẻ thù Muốn chối cãi lẽ phải ư? Thì đây, hãy đọc lại lời lẽ

mà tổ tiên mình đã từng nói

- Trích 2 bản tuyên ngôn này, Người đã tạo ra được 1 hàng rào pháp lí vừa khéo léo, mềm mỏng vừa cương quyết, vừa cứng cỏi

+ Khéo léo, mềm mỏng: Bởi Bác chẳng những trích dẫn tuyên ngôn của họ mà còn trân trọng, đánh giá đó là những điều bất hủ

+ Xong lại cứng cỏi và kiên quyết khi Người chốt lại: “Đó là lẽ phải không ai có thể chối cãi được” Nếu họ cố tình đi ngược lại tức là họ đã phủ nhận chính tổ tiên mình, làm vấy bùn lên lá cờ nhân đạo đã từng là niềm tự hào của cha ông họ

*Đóng góp của Hồ Chí Minh trong cách nêu này

- Nếu 2 bản tuyên ngôn mà Người trích dẫn chỉ dừng lại ở quyền con người thì ở đây Bác đã dùng phép suy luận tương đồng để phát triển thành quyền lợi của dân tộc Có thể nói rằng cống hiến của Người nằm trọn trong 3 chữ: “Suy rộng ra” để thấy “Tất cả các dân tộc trên thế giới thì đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” Lời suy rộng được đánh giá là một đóng góp quan trọng của Hồ Chí Minh cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới Nó là phát súng lệnh mở đầu cho cơn bão táp Cách mạng, làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân, giành độc lập cho các nước thuộc địa ở Á, Phi, Mĩ, La Tinh

2 Cơ sở thực tiễn của bản tuyên ngôn (Tố cáo tội ác và quá trình nổi dậy của nhân dân ta)

A.Tố cáo tội ác của thực dân Pháp

*Tại sao??

Trang 14

- Bởi thực dân Pháp lúc đó là kẻ thù trực tiếp đe dọa đến nền độc lập của ta Đồng thời vào thời điểm tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam hoàn toàn non trẻ, Việt Nam rất cần sự đồng tình ủng hộ của nhân loại tiến bộ Vì vậy bản tuyên ngôn đã đập tan từng luận điệu xảo trá của bọn cướp nước

*Cách kết tội thực dân Pháp

- Thực dân Pháp đưa ra luận điệu 1: Pháp đến Việt Nam để khai hóa Đông Dương thì bản tuyên ngôn vạch trần bản chất thực dân của chúng bằng những lí lẽ, dẫn chứng đanh thép, hùng hồn

+ Khẳng định lí lẽ: “Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự

do, bình đẳng, bác ái đến cướp nước ta, áp bức đồng bào ta Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”

+ Khẳng định bằng lí lẽ chưa đủ mà Người còn đưa thêm dẫn chứng khiến kẻ thù không thể chối cãi được: “Trong 80 năm chúng thống trị dân ta, chúng đã gây ra những tội ác gì? Chúng thủ tiêu quyền tự do dân chủ, chia rẽ 3 kì Bắc, Trung, Nam; Tắm máu các phong trào yêu nước và cách mạng của dân tộc ta, thi hành chính sách ngu dân, đầu độc dân bằng thuốc phiện, rượu cồn, bóc lột, vơ vét đến tận cùng xương tủy Cuối cùng gây ra nạn đói “từ Quảng Trị đến Bắc Kì hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đói”

=>Thực dân Pháp không phải có công khai hóa mà là có tội cướp nước

- Nghệ thuật kết tội: Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật liệt kê để kể tội thực dân trên toàn lĩnh vực khiến người đọc có cảm giác đâu đâu cũng hiển diện tội ác chất chồng của kẻ thù Mỗi ý liệt kê lại được tách ra thành từng đoạn thơ văn riêng biệt để tô đậm ấn tượng, đặc biệt 14 câu văn kể tội đều bắt đầu bằng từ chúng, những từ chúng nặng nề gợi tội ác của kẻ thù trút xuống đầu nhân dân ta như búa

Ngày đăng: 14/04/2016, 17:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w