Các CTCK sẽ thực hiện vai tròtrung gian cho cả người đầu tư và nhà phát hành, và khi thực hiện côngviệc này thì CTCK đã tạo ra cơ chế huy động vốn cho nền kinh tế thôngqua thị trường chứ
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN I - LỜI NÓI ĐẦU………
………1
PHẦN II - NỘI DUNG………
……… 2
1 Những vấn đề chung về CTCK……… 2
Vai trò, chức năng của CTCK……… … 2
Mô hình, tổ chức của CTCK……… ……4
2 Các nghiệp vụ của CTCK………
………… 6
Các nghiệp vụ chính……… … 6
Các nghiệp vụ phụ trợ……… 9
3 Các CTCK tại Việt Nam……… 10
Tổng quan về CTCK tại Việt Nam……… …… 10
Một số quy định theo Luật chứng khoán đối với các CTCK… … 11
Một số nguyên tắc chung về tổ chức và hoạt động của CTCK tại Việt Nam……….12
Một số thách thức đối với CTCK tại Việt Nam hiện nay……… 13
PHẦN III - TỔNG KẾT………17
Trang 2PHẨN I - LỜI MỞ ĐẦU
Để hình thành và phát triển thị trường chứng khoán có hiệu quả, mộtyếu tố không thể thiếu được là các chủ thể tham gia kinh doanh trên thịtrường chứng khoán Mục tiêu của việc hình thành thị trường chứngkhoán là thu hút vốn đầu tư dài hạn cho phát triển kinh tế và tạo ra tínhthanh khoản cho các loại chứng khoán Do vậy, để thúc đẩy thị trườngchứng khoán hoạt động một cách có trật tự, công bằng và hiệu quả thìcần có sự ra đời và hoạt động của các công ty chứng khoán (CTCK).Mặt khác, nguyên tắc trung gian là một trong những nguyên tắc hoạtđộng cơ bản nhất của thị trường chứng khoán Theo nguyên tắc này, mọihoạt động mua bán diễn ra trên thị trường chứng khoán tập trung đềuphải thông qua tổ chức trung gian, đó là CTCK CTCK là tác nhân quantrọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của thị trườngchứng khoán nói riêng Nhờ các CTCK mà các cổ phiếu và trái phiếu lưuthông buôn bán tấp nập trên thị trường chứng khoán, qua đó một lượngvốn khổng lồ được đưa vào đầu tư
Chính tầm quan trọng vô cùng to lớn của CTCK như vậy nên việc rađời và hoạt động ngày càng phát triển là một tất yếu của nền kinh tế thịtrường
Trang 3PHẦN II - NỘI DUNG
1 Những vấn đề chung về CTCK
Vai trò, chức năng của CTCK
Chức năng cơ bản của CTCK
CTCK là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tếnói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng Nhờ các CTCK màchứng khoán được lưu thông từ nhà phát hành tới người đầu tư và có tínhthanh khoản, qua đó huy động nguồn vốn từ nơi nhàn rỗi để phân bổ vàonhững nơi sử dụng có hiệu quả Vì vậy, CTCK có những chức năng cơbản sau:
+ Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗiđến người sử dụng vốn ( thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh pháthành)
+ Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch (thông qua hệ thống khớp giáhoặc khớp lệnh)
+ Tạo tính thanh khoản cho chứng khoán ( hoán đổi chứng khoán ratiền mặt, và ngược lại từ tiền mặt ra chứng khoán một cách dễ dàng)
Trang 4+ Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường (thông qua hoạt động tựdoanh hoặc vai trò của nhà tạo lập thị trường).
Một trong những nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán lànguyên tắc trung gian Nguyên tắc này yêu cầu những nhà đầu tư vànhững nhà phát hành không được mua bán trực tiếp chứng khoán màphải thông qua các trung gian mua bán Các CTCK sẽ thực hiện vai tròtrung gian cho cả người đầu tư và nhà phát hành, và khi thực hiện côngviệc này thì CTCK đã tạo ra cơ chế huy động vốn cho nền kinh tế thôngqua thị trường chứng khoán
+ Đối với các nhà đầu tư: Thông qua các hoạt động như môi giới, tưvấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư, CTCK có vai trò làm giảm chi phí
và thời gian giao dịch, do đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư Đốivới hànghoá thông thường, mua bán qua trung gian sẽ làm tăng chi phícho người mua và bán Tuy nhiên, đối với thị trường chứng khoán, sựbiến động thường xuyên của giá cả chứng khoán cũng như mức độ rủi rocao sẽ làm cho những nhà đầu tư tốn kém chi phí, công sức và thời giantìm hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư Nhưng thông qua cácCTCK, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp cácnhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một các hiệu quả
+ Đối với thị trường chứng khoán: CTCK thể hiện 2 vai trò chính:
Trang 5 Góp phần tạo lập giá và điều tiết thị trường Giá cả chứng khoán là
do thị trường quyết định Tuy nhiên, để đưa ra mức giá cuối cùng, ngườimua và bán phải thông qua các CTCK vì họ không được tham gia trựctiếp vào quá trình mua bán Các CTCK là những thành viên của thịtrường, do vậy họ cũng góp phần tạo lập giá cả thị trường thông qua đấugiá
Góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính
Thị trường chứng khoán có vai trò là môi trường làm tăng tính thanhkhoản của các tài sản tài chính Nhưng các CTCK mới là người thực hiệntốt vai trò đó vì CTCK tạo ra cơ chế giao dịch trên thị trường Trên thịtrường cấp 1, do thực hiện các hoạt động như bảo lãnh phát hành, chứngkhoán hoá, các CTCK không những huy động được một lượng vốn lớnđưa vào sản xuất kinh doanh cho nhà phát hành mà còn làm tăng tínhthanh khoản cho các tài sản tài chính được đầu tư vì các chứng khoánqua đợt phát hành sẽ được mua bán giao dịch trên thị trường cấp 2 Điềunày làm giảm rủi ro, tạo tâm lý yên tâm cho người đầu tư Trên thịtrường cấp 2, do thực hiện các giao dịch mua và bán các CTCK giúp chongười đầu tư chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại.Những hoạt động đó có thể làm tăng tính thanh khoản của những tài sảntài chính
+ Đối với các cơ quan quản lý thị trường: CTCK có vai trò cung cấpthông tin về thị trường chứng khoán cho các cơ quan quản lý thị trường
để thực hiện mục tiêu đó Các CTCK thực hiện được vai trò này bởi vì
họ vừa là người bảo lãnh phát hành cho các chứng khoán mới, vừa làtrung gian mua bán và thực hiện các giao dịch trên thị trường Một trongnhững yêu cầu của thị truờng chứng khoán là các thông tin cần phảiđược công khai hoá dưới sự giám sát của các cơ quan quản lý thị trường.Việc cung cấp thông tin vừa là quy định của hệ thống luật pháp, vừa là
Trang 6nguyên tắc nghề nghiệp của CTCK vì CTCK cần phải minh bạch vàcông khai trong hoạt động
Các thông tin CTCK có thể cung cấp bao gồm thông tin về các giao dịchmua, bán trên thị trường, thông tin về các cổ phiếu, trái phiếu và tổ chứcphát hành, thông tin về các nhà đầu tư… Nhờ các thông tin này, các cơquan quản lý thị trường có thể kiểm soát và chống các hiện tượng thaotúng, lũng đoạn, bóp méo thị trường
Tóm lại, CTCK là một tổ chức chuyên nghiệp trên thị trường chứngkhoán, có vai trò cần thiết và quan trọng đối với các nhà đầu tư, các nhàphát hành đối với cơ quan quản lý thị trường và đối với thị trường chứngkhoán nói chung
1.2 Mô hình, tổ chức của CTCK
1.2.1 Mô hình CTCK
1.2.1.1 Mô hình chứng khoán đa năng
Theo mô hình này, CTCK được tổ chức dưới hình thức một tổ hợpdịch vụ tài chính tổng hợp bao gồm kinh doanh chứng khoán, kinh doanhtiền tệ và các dịch vụ tài chính Theo đó, các ngân hang thương mại hoạtđộng với tư cách là chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinhdoanh tiền tệ Mô hình này được biều hiện dưới 2 hình thức sau:
+ Loại đa năng một phần: Ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán,bảo hiểm phải lập công ty độc lập Mô hình này được gọi là mô hìnhngân hàng kiểu Anh
+ Loại đa năng toàn phần: Ngân hàng kinh doanh chứng khoán, bảohiểm bên cạnh kinh doanh tiền tệ Mô hình này gọi là mô hình ngân hàngkiểu Đức
Ưu điểm của mô hình này là các ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnhvực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro trong hoạt động kinh doanh bằngviệc đa dạng hoá đầu tư Ngoài ra nó còn làm tăng khả năng chịu đựng
Trang 7của ngân hàng trước những biến động trên thị trường tài chính Mặtkhác, các ngân hàng sẽ tận dụng được lợi thế của mình là tổ chức kinhdoanh tiền tệ có vốn lớn, cơ sở vật chất hiện đại và hiểu biết rõ về kháchhàng cũng như các doanh nghiệp khi họ thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng
và tài trợ dự án
Tuy nhiên, mô hình cũng có những hạn chế, đó là do vừa là tổ chứctín dụng vừa là tổ chức kinh doanh chứng khoán, do đó khả năng chuyênmôn không sâu như các CTCK chuyên doanh Điều này làm cho thịtrường chứng khoán kém phát triển vì các ngân hàng thường có xuhướng bảo thủ và thích hoạt động cho vay hơn là thực hiện các nghiệp vụcủa thị trường chứng khoán như: bảo lãnh phát hành chứng khoán, tưvấn đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư Đồng thời, do khótách bạch hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh chứng khoán,trong môi trường pháp luật không lành mạnh, các ngân hàng dễ gây nêntình trạng lũng đoạn thị trường, và khi đó các biến động trên thị trườngchứng khoán sẽ tác động mạnh tới kinh doanh tiền tệ, gây tác động dâychuyền và dẫn đến khủng hoảng thị trường tài chính Bên cạnh đó, dokhông có sự tách biệt rõ ràng giữa các nguồn vốn nên các ngân hang cóthể sử dụng tiền gửi tiết kiệm của dân cư để đầu tư chứng khoán, và khithị trường chứng khoán biến động theo chiều hướng xấu sẽ tác động tớicông chúng thông qua việc ồ ạt rút tiền gửi, làm cho ngân hàng mất khảnăng chi trả
1.2.1.2 Mô hình CTCK chuyên doanh
Hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập vàchuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm trách, các ngân hàngkhông được tham gia kinh doanh chứng khoán
Trang 8Ưu điểm của mô hình này là hạn chế được rủi ro cho hệ thống ngânhàng, tạo điều kiện cho các công ty chứng khoán đi vào chuyên môn hoásâu trong lĩnh vực chứng khoán để thúc đẩy thị trường phát triển.
Nhưng nó còn có mặt hạn chế, đó là không tận dụng được các ưuđiểm của ngân hàng (vốn, chuyên môn…)
Tuy nhiên, do xu thế hình thành nên các tập đoàn tài chính khổng lồnên ngày nay một số thị trường cũng cho phép kinh doanh trên nhiềulĩnh vực tiền tệ, chứng khoán, bảo hiểm, nhưng được tổ chức thành cáccông ty mẹ, công ty con và có sự quản lý, giám sát chặt chẽ và hoạt độngtương đối độc lập với nhau
1.2.2 Tổ chức của CTCK
1.2.2.1 Công ty hợp danh
Công ty hợp danh là loại hình kinh doanh từ hai chủ sở hữu trở lên.Thành viên tham gia vào quá trình ra quyết định quản lý được gọi làthành viên hợp danh Các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vôhạn, tức là phải chịu trách nhiệm với những khoản nợ của công ty hợpdanh bằng toàn bộ tài sản của mình Ngược lại, các thành viên khôngtham gia điều hành công ty được gọi là thành viên góp vốn, họ chỉ chịutrách nhiệm với những khoản nợ của công ty trong giới hạn vốn góp của
họ Thông thường khả năng huy động vốn của công ty hợp danh bị giớihạn trong số vốn mà các hội viên có thể đóng góp
1.2.2.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn
Đây là loại công ty đòi hỏi trách nhiệm của những thành viên giớihạn trong số vốn mà họ đã góp Vì thế điều này gây tâm lý nhẹ nhànghơn đối với người đầu tư Mặt khác, về phương diện huy động vốn, cũngđơn giản và linh hoạt hơn so với công ty hợp danh Đồng thời, vấn đềtuyển đội ngũ quản lý cũng năng động hơn, không bị bó hẹp trong một
số đối tác như công ty hợp danh
Trang 91.2.2.3 Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập, với các chủ sở hữu là các
cổ đông Đại hội đồng cổ đông có quyền bầu hội đồng quản trị Hội đồngnày sẽ định ra các chính sách của công ty và chỉ định giám đốc cùng cácchức vụ quản lý khác để điều hành công ty theo các sách lược kinhdoanh đã đề ra Công ty vẫn tồn tại khi quyền sở hữu của công ty bị thayđổi
Các ưu điểm của công ty cổ phần:
+ Đây là loại hình công ty tồn tại liên tục không phụ thuộc vào việcthay đổi cổ đông hoăc cổ đông nghỉ hưu hay qua đời
+ Rủi ro mà chủ sở hữu của công ty phải chịu được hạn chế ở mứcnhất định hay là trách nhiệm hữu hạn trong vốn góp
+ Quyền sở hữu được chuyển nhượng dễ dàng thông qua việc muabán cổ phiếu
+ Nếu tổ chức theo hình thức công ty cổ phần và được niêm yết tại sởgiao dịch thì họ đã được quảng cáo miễn phí
+ Linh hoạt trong việc thay đổi quy mô
Do các ưu điểm trên, ngày nay các công ty chứng khoán chủ yếu tồntại dưới hình thức công ty cổ phần
Cơ cấu tổ chức của CTCK:
Cơ cấu tổ chức của CTCK phụ thuộc vào loại hình nghiệp vụ chứngkhoán mà công ty thực hiện cũng như quy mô hoạt động kinh doanhchứng khoán của nó Tuy nhiên, nhìn chung thì cơ cấu tổ chức củaCTCK có mô hình như sau:
Trang 102 Các nghiệp vụ của CTCK
2.1 Các nghiệp vụ chính
2.1.1 Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian hoặc đại diện mua,bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng Theo đó, công tychứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơchế giao dịch tại SGDCK hoặc thị trường OTC mà chính khách hàngphải chịu trách nhiệm đối với giao dịch của mình
Đặc điểm của nghiệp vụ môi giới chứng khoán:
Đối với CTCK:
+ Giúp lệnh mua/ bán của khách hàng gặp nhau
+ Cung cấp thông tin chứng khoán cho khách hang, nó được thểhiện ở các bảng tin ở các CTCK
+ Tư vấn cho khách hàng đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý nhưloại chứng khoán, giá cả, thời điểm mua bán thích hợp…Khắc phục
Phòng phân tích
và tư vấn
Phòng bảo lãnh và phát hành
Phòng
kế toán
và lưu ký
Phòng
tổ chức hành chính
Trang 11trạng thái xúc cảm quá mức để khách hang đưa ra quyết định đầu tư tỉnhtáo.
+ Thu phí môi giới từ khách hàng Đây là hình thức mà các CTCKcạnh tranh với nhau để thu hút khách hàng
+ Phải trả phí môi giới cho CTCK
Đối với nhân viên làm nghề môi giới:
+ Công việc vất vả nhưng trái lại thù lao mà họ nhận được lại rấttương xứng
+ Phẩm chất: kiên nhẫn, giỏi phân tích tâm lý, ứng xử
+ Nỗ lực cá nhân song song với hỗ trợ của công ty
Bên cạnh các đặc điểm về công việc môi giới chứng khoán thì ngườilàm công việc môi giới chứng khoán cần phải có các kỹ năng như: kỹnăng truyền đạt thông tin, kỹ năng tìm kiếm khách hàng,kỹ năng khaithác thông tin, kỹ năng bán hàng…
2.1.2 Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán
Tự doanh là việc CTCK tự tiến hành các giao dịch mua/ bán chứngkhoán cho chính CTCK, vì lợi ích của chính công ty
Nghiệp vụ này hoạt động song hành với nghiệp vụ môi giới, vừaphục vụ lệnh cho khách hàng đồng thời cũng phục vụ cho chính mình, vìvậy trong quá trình hoạt động có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa thựchiện lợi ích cho khách hàng và cho bản thân công ty Do đó, luật phápcủa các nước đều yêu cầu tách biệt rõ ràng giữa các nghiệp vụ môi giới
và tự doanh
Trang 12Vì vậy có các yêu cầu đối với các CTCK:
+ Tách biệt quản lý: Các CTCK phải có sự tách biệt giữa nghiệp vụ
tự doanh và nghiệp vụ môi giới để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràngtrong hoạt động Sự tách biệt này bao gồm tách biệt về: yếu tố conngười, quy trình nghiệp vụ, vốn và tài sản của khách hàng và công ty.+ Ưu tiên khách hàng: CTCK phải tuân thủ nguyên tắc ưu tiên kháchhàng khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh Nguyên tắc này đảm bảo sự côngbằng cho khách hàng trong quá trình giao dịch chứng khoán
+ Góp phần bình ổn thị trường: Các CTCK hoạt động tự doanh nhằmgóp phần bình ổn giá cả thị trường Trong trường hợp này, hoạt động tựdoanh được tiến hành bắt buộc theo luật định Các CTCK có nghĩa vụmua vào khi giá chứng khoán giảm và bán ra khi giá chứng khoán lênnhằm giữ giá chứng khoán ổn định
+ Hoạt động tạo thị trường: Khi được phát hành, các chứng khoánmới chưa có thị trường giao dịch Để tạo thị trường cho các chứng khoánnày, các CTCK thực hiện tự doanh thông qua việc mua và bán chứngkhoán, tạo tính thanh khoản trên thị trường cấp 2
2.1.3 Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành là việc CTCK có chức năng bảo lãnhgiúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứngkhoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứngkhoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành Hiện nay, nghiệp vụ bảolãnh phát hành của các CTCK là nghiệp vụ chiếm tỷ lệ doanh thu khácao trong tổng doanh thu của CTCK
Quy trình của hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán:
Bước 1: Thực hiện tư vấn
Bước 2: Hoàn tất hồ sơ và làm thủ tục xin phép bảo lãnh
Trang 13+ Thành lập tổ hợp bảo lãnh phát hành: thỏa thuận phí quản lý, phínhượng bán, phí bảo lãnh (phí bảo lãnh từ 3% đến 5%).
+ Ký kết hợp đồng bảo lãnh phát hành: xác định giá chào bán và cáchthức bảo lãnh (bảo lãnh toàn bộ, bảo lãnh từng phần…)
+ Hoàn tất hồ sơ bảo lãnh phát hành và nộp cho cơ quan quản lý.Bước 3: Thăm dò thị trường, tổ chức roadshow
Bước 4: Phân phối và kết thúc
2.1.4 Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán
Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc CTCK thông qua hoạt động phântích để đưa ra các lời khuyên, phân tích các tình huống và có thể thựchiện một số công việc dịch vụ khác liên quan đến phát hành, đầu tư và cơcấu tài chính cho khách hàng
Các nguyên tắc chung :
+ Chuyên viên tư vấn có kiến thức chuyên môn sâu rộng
+ Không bảo đảm chắc chắn về giá trị của chứng khoán
+ Luôn nhắc nhở khách hàng rằng những lời tư vấn có thể sẽ khônghoàn toàn chính xác và nhà đầu tư phải tự chịu trách nhiệm về quyết địnhđầu tư
+ Không được cung cấp thông tin sai sự thật Không dụ dỗ, mời gọikhách hàng mua hay bán một loại chứng khoán nào đó
+ Không được quyết định thay cho khách hàng
+ Phải tư vấn đầu tư phù hợp với mục tiêu và tình hình tài chính củakhách hàng
Nội dung tư vấn:
+ Tư vấn chiến lược (nên đầu tư vào cổ phiếu nào? Ngắn hạn hay dàihạn?) và kỹ thuật giao dịch
+ Cung cấp kết quả phân tích chứng khoán và thị trường chứngkhoán