Từ phân tích phát hiện những bất cập trong hoạt động kinh doanh của một số công ty chứng khoán lựa chọn, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty ch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
NGUYỄN MINH VIỆT
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA MỘT SỐ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH
CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
NGUYỄN MINH VIỆT
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA MỘT SỐ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH
CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60 34 02 01
LUẬN VĂN LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ TRUNG THÀNH
XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ CHẤM LUẬN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
Tôi đã viết luận văn này một cách độc lập và không sử dụng các nguồn thông tin hay tài liệu tham khảo nào khác ngoài những tài liệu và thông tin đã đƣợc liệt kê trong Danh mục tài liệu tham khảo trích dẫn của luận văn
Luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của tôi
Số liệu trong luận văn đƣợc tổng hợp trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Ký tên
Nguyễn Minh Việt
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả quý Thầy Cô đã giảng dạy trong chương trình Đào tạo thạc sĩ K24, những người đã truyền đạt cho tôi nguồn kiến thức hữu ích về Tài chính – Ngân hàng, giúp tôi có cơ sở thực hiện tốt luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Lê Trung Thành đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các Thầy Cô trong Khoa Tài chính – Ngân hàng, sự hướng dẫn, góp ý tận tâm của các Thầy Cô đã giúp luận văn của tôi được hoàn thiện hơn
Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, Ban lãnh đạo và các đồng nghiệp tại Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 3
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
1.2 Cơ sở lý luận về công ty chứng khoán và phân tích hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán 5
1.2.1 Những vấn đề chung về công ty chứng khoán 5
1.2.2 Khái niệm phân tích hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán 18
1.2.3 Nội dung phân tích hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán 20
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán 26 CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 33
2.1 Quy trình nghiên cứu 33
2.2 Phương pháp nghiên cứu 33
2.2.1 Phương pháp thu thập và phân loại tài liệu 33
2.2.2 Phương pháp phân tích thống kê mô tả 34
2.2.3 Phương pháp so sánh 34
2.3 Nghiên cứu và xử lý số liệu 35
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA MỘT SỐ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN NIÊM YẾT 36
TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 36
3.1 Giới thiệu thị trường chứng khoán và các công ty chứng khoán Việt Nam 36 3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam từ
Trang 63.1.2 Sự ra đời và phát triển của các công ty chứng khoán Việt Nam từ 2000 đến
nay 39
3.2 Phân tích hoạt động kinh doanh của một số công ty chứng khoán niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP HCM 40
3.2.1 Giới thiệu về các công ty chứng khoán lựa chọn nghiên cứu 40
3.2.2 Phân tích hoạt động kinh doanh của một số công ty chứng khoán 42
3.2.3 Hạn chế và nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán 54
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA MỘT SỐ CTCK ĐANG NIÊM YẾT TẠI SỞ GIAO DỊCH 63
CHỨNG KHOÁN TP HỒ CHÍ MINH 63
4.1 Bối cảnh thị trường trong những năm tới 63
4.1.1 Định hướng phát triển của Chính phủ 63
4.1.2 Kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán Việt Nam 65
4.1.3 Triển vọng phát triển ngành 66
4.2 Các giải pháp nhằm phát triển hoạt động kinh doanh của một số công ty chứng khoán đang niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh 68
4.2.1 Nâng cao chất lượng đội ngũ môi giới chứng khoán 68
4.2.2 Tăng cường quản lý hoạt động tự doanh chứng khoán 69
4.2.3 Nâng cao chất lượng báo cáo phân tích thị trường và báo cáo đầu tư 70
4.2.4 Cải thiện chất lượng hoạt động Tư vấn và Bảo lãnh phát hành chứng khoán 71 4.2.5 Đối với các khối phòng ban hỗ trợ khác (khối phòng nguồn vốn, cung cấp dịch vụ tài chính) 71
4.3 Một số kiến nghị với các cơ quan chức năng 72
4.3.1 Giảm các loại phí hiện tại cho công ty chứng khoán 73
4.3.2 Đẩy nhanh tiến độ hợp nhất 2 sở giao dịch chứng khoán 73
4.3.3 Hoàn thiện hệ thống pháp lý 74
KẾT LUẬN 76 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT
AGR Công ty cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam BLPH Bảo lãnh phát hành
BSC Công ty cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Đầu tƣ và
Phát triển Việt Nam
Haseco Công ty CP Chứng khoán Hải Phòng
Hastc Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (tên gọi cũ) Hastc-Index Chỉ số giá cổ phiếu niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (tên gọi cũ) HĐQT Hội đồng quản trị
HNX Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
Hnx-Index Chỉ số giá cổ phiếu niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội HSC Công ty cổ phần chứng khoán TP Hồ Chí Minh HSX Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh
KLS Công ty chứng khoán Kim Long
LNST Lợi nhuận sau thuế
MBS Công ty chứng khoán MB
ROA Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản
Trang 8ROE Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
ROS Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
TTGDCK Trung tâm giao dịch chứng khoán
TTGDCK HN Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội
TTGDCK TPHCM Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh TVĐTCK Tư vấn đầu tư chứng khoán
UBCKNN Ủy ban chứng khoán Nhà nước
VITS Công ty chứng khoán VIT
Vn-Index Chỉ số giá cổ phiếu niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Mức độ thay đổi doanh thu của các CTCK giai đoạn 2014-2016 43
Bảng 3.2: Tỷ lệ chi phí hoạt động kinh doanh chứng khoán của các CTCK giai đoạn 2014-2016 44
Bảng 3.3: Tỷ trọng doanh thu các nghiệp vụ của các CTCK giai đoạn 2014-2016 45
Bảng 3.4: Mức độ thay đổi nguồn vốn của các CTCK giai đoạn 2014-2016 50
Bảng 3.5: Các chỉ tiêu sinh lời của các CTCK giai đoạn 2014-2016 51
Bảng 3.6: Tỷ lệ an toàn vốn khả dụng của các CTCK giai đoạn 2014-2016 52
Bảng 3.7: Nhóm chỉ số nợ và chỉ số thanh toán 53
Bảng 3.8: Chỉ số hàng tồn kho và dự phòng giảm giá chứng khoán 55
Bảng 3.9: Vốn điều lệ CTCK năm 2016 59
Bảng 3.10: Một số thành tích nổi bật của CTCK đƣợc ghi nhận 60
Bảng 3.11: Tỷ trọng trình độ nhân sự của CTCK năm 2016 61
Bảng 4.1: Những yếu tố chính tác động lên TTCK 66
Bảng 4.2: Một số phí hoạt động của CTCK 73
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Quy mô vốn thị trường giai đoạn 2000 - 2016 38
Biểu đồ 3.2: Số lượng công ty chứng khoán giai đoạn 2000 - 2016 40
Biểu đồ 3.3: Tỷ trọng doanh thu các nghiệp vụ CTCK SSI giai đoạn 2014 - 2016 46
Biểu đồ 3.4: Tỷ trọng doanh thu các nghiệp vụ CTCK HSC giai đoạn 2014 - 2016 47
Biểu đồ 3.5: Tỷ trọng doanh thu các nghiệp vụ CTCK BSC giai đoạn 2014 - 2016 48
Biểu đồ 3.6: Tỷ trọng doanh thu các nghiệp vụ CTCK AGR giai đoạn 2014 – 2016 49
Biểu đồ 3.7: Chỉ số VN-index giai đoạn 2014 – 2016 56
Biểu đồ 3.8: Thị phần CTCK sàn HOSE năm 2016 58
Biểu đồ 3.9 Thị phần CTCK sàn HNX năm 2016 59
Biểu đồ 4.1: Chỉ số P/E, P/B, ROE, ROA của thị trường chứng khoán Việt Nam so với các nước trong khu vực 67
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời đã hơn mười lăm năm Các giai đoạn phát triển đánh dấu sự phát triển vượt bậc cả chiều rộng lẫn chiều sâu và từng bước tiếp cận đến những chuẩn mực quốc tế Năm 2016, số lượng công ty chứng khoán được cấp phép hoạt động chỉ còn 81 công ty, chia xẻ với nhau thị phần của hơn 1.567 nghìn tài khoản Từ năm
2014 và 2015, TTCK Việt Nam trải qua nhiều biến động lớn của thị trường, chứng kiến sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty chứng khoán, những xu hướng tái cơ cấu, sáp nhập vẫn còn trong giai đoạn phía trước
Trước tình hình đó, việc đánh giá phân tích hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán là một việc làm hết sức cần thiết, bởi vì hiệu quả hoạt động xét cho cùng là mục tiêu cao nhất của quá trình kinh doanh.Phân tích hoạt động kinh doanh mang ý nghĩa tổng hợp kết quả kinh doanh, là cơ sở của tất cả của những quyết sách quản trị, là đáp án cho vấn đề sống còn trong kinh doanh của chính các công ty chứng khoán Dưới góc độ quản lý, các cơ quan chủ quản và nhà hoạch định chính sách có thêm cơ sở thực tế cho công việc điều hành của mình Nhưng hiện nay những nghiên cứu về hoạt động của các công ty chứng khoán vẫn còn ở mức độ hạn chế về cả số lượng đề tài và độ sâu nghiên cứu
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn “Phân tích hoạt động kinh doanh của một số công ty chứng khoán niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh" làm đề tài nghiên cứu của mình
Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu, luận văn đưa ra các câu hỏi sau:
(1) Tình hình hoạt động kinh doanh của một số công ty chứng khoán niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh như thế nào?
(2) Yếu tố nào ảnh hưởng đến tình hình hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán đó?
(3) Làm thế nào để phát triển hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán đó?
2 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ vai trò, đặc điểm, mô hình tổ chức và hoạt động nghiệp vụ của công ty
Trang 12Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán đang niêm yết
như là một loại hình doanh nghiệp bằng các nhóm chỉ tiêu cụ thể Phân tích các nguyên nhân khách quan và chủ quan tác động đến hiệu quả hoạt động của nhóm CTCK niêm yết
Từ phân tích phát hiện những bất cập trong hoạt động kinh doanh của một số công ty chứng khoán lựa chọn, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán lựa chọn đang niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động kinh doanh của một số công ty chứng khoán Việt Nam đang niêm yết tại sở chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Phạm vi lựa chọn là 4 công ty chứng khoán đang niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh: SSI, HSC, BSC và AGR trong giai đoạn 2014 – 2016
4 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, các bảng biểu, phụ lục, mục lục, danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về phân tích hoạt
động kinh doanh của các công ty chứng khoán
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh của một số công ty
chứng khoán niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Chương 4: Các giải pháp nhằm phát triển hoạt động kinh doanh của một số
công ty chứng khoán niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Trang 13CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC CÔNG TY
CHỨNG KHOÁN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Thực tiễn cho thấy, các doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển được phụ thuộc rất lớn vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó có tạo ra được doanh thu và lợi nhuận hay không Hiệu quả hoạt động kinh doanh là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp, bởi nó quyết định sự tồn tại và thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Hoạt động kinh doanh tốt sẽ tạo ra lợi nhuận, có lợi nhuận doanh nghiệp sẽ có nguồn vốn để trang trải chi phí và tái sản xuất, thực hiện các nghĩa vụ khác đối với nhà nước, đồng thời có nguồn vốn để chi trả cổ tức cho cổ đông … Bên cạnh đó việc đánh giá tình hình kinh tế nói chung và phân tích hoạt động kinh doanh nói riêng giúp cho bản thân doanh nghiệp tự đánh giá mức độ tăng trưởng và mức độ hoàn thành các kế hoạch đặt ra, từ đó tìm ra những yếu tố ảnh hưởng tích cực nhằm phát huy và loại bỏ các yếu tố tiêu cực để tăng khả năng cạnh tranh nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Đã có không ít các đề tài nghiên cứ về thị trường chứng khoán nói chung cũng như hiệu quả hoạt động kinh doanh của từng công ty chứng khoán nói riêng Các đề tài được các tác giả nghiên cứu theo các cách tiếp cận khác nhau
Trong luận án tiến sĩ với đề tài "Giải pháp đổi mới hoạt động ngân hàng thương mại nhằm góp phần phát triển thị trường chứng khoán ở Việt nam" tác giả Đặng Ngọc Đức (2002), nghiên cứu hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán trên góc độ của ngân hàng thương mại Tác giả có phân tích mối quan hệ giữa hoạt động của ngân hàng thương mại với hoạt động trên thị trường chứng khoán và chỉ
ra các hoạt động mà một ngân hàng thương mại có thể thực hiện trên thị trường chứng khoán trong chương I bao gồm: (1) Đầu tư và kinh doanh chứng khoán; (2) thanh toán
bù trừ và lưu ký chứng khoán; (3) môi giới; (4) tư vấn đầu tư chứng khoán Tuy nhiên, trong chương II, tác giả mới chỉ đánh giá khả năng, những thuận lợi, khó khăn, thách thức của ngân hàng thương mại nhà nước khi hoạt động trên thị trường chứng khoán
Trang 14có đề xuất một giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán thuộc ngân hàng thương mại nhà nước đến năm 2006
Trong luận án tiến sĩ với đề tài "toward a well functioning securities in Vietnam" (hướng tới một thị trường chứng khoán Việt nam hoạt động hiệu quả) của tác giả Nguyễn Thị Ánh Vân (2002) bao gồm 7 chương nghiên cứu về khía cạnh pháp lý điều chỉnh các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của thị trường Tác giả dành một chương (chương 4) nghiên cứu về qui chế pháp lý điều chỉnh xung đột lợi ích giữa công ty chứng khoán
và khách hàng Tác giả đã chỉ ra trong hoạt động của công ty chứng khoán có những hoạt động sẽ dẫn tới xung đột lợi ích giữa công ty chứng khoán và khách hàng, đó là hoạt động môi giới và tự doanh, hoạt động tự doanh và tư vấn đầu tư chứng khoán Để giải quyết cho vấn đề này tác giả đề xuất giải pháp trên phương diện pháp lý
Ths Hoàng Phú Cường với đề tài “ Hoàn thiện mô hình công ty chứng khoán Việt Nam” (Vụ quản lý kinh doanh chứng khoán) tập trung phân tích rõ thực trạng, nêu lên hạn chế và các nguyên nhân hạn chế trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ khi thị trường mở cửa đến năm 2013, trên cả thị trường sơ cấp và thứ cấp, từ đó định vị vị trí của thị trường chứng khoán Việt Nam trong khu vực… Và đưa ra định hướng hoàn thiện mô hình hoạt động của các công ty chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới Hay bài báo
“20 năm chứng khoán Việt Nam: Cùng xây dựng, cùng phát triển” – phát biểu của ông
Lê Hải Trà, phó tổng giám đốc phục trách sở GDCK TP Hồ Chí Minh (HOSE) về sự phát triển của thị trường chứng khoán 20 năm qua, các thành tựu cột mốc đạt được và sự
kỳ vọng về phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong tương lai
Ngoài ra, một số luận văn thạc sĩ cũng đã đề cập về hoạt động của công ty chứng khoán Việt Nam, nhưng trong các luận văn đó các tác giả mới nghiên cứu từng hoạt động riêng lẻ của từng công ty chứng khoán, cụ thể như:
- Luận văn thạc sỹ: “Phát triển hoạt động môi giới tại công ty cổ phần chứng khoán FPT” – tác giả Phan Thị Hồng Hà – trường ĐHKT ĐHQG Hà Nội tập trung hệ thống hóa các lý luận về công ty chứng khoán, môi giới chứng khoán và đặc biệt là lý luận về Sự phát triển hoạt động môi giới chứng khoán, trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các chỉ tiêu định tính và định lượng để đánh giá thực trạng hoạt động môi giới tại Công ty chứng khoán FPT
Trang 15- Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Mai Hương (2006) với đề tài "Phát triển kinh doanh các dịch vụ ở Công ty chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt nam" Tác giả đã hệ thống hóa các mảng kinh doanh tại CTCK Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và phân tích sự ảnh hưởng của các mảng kinh doanh đến tình hình phát triển của công ty Từ đó đưa ra các phương hướng,
đề xuất để phát triển dịch vụ của công ty này
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Đinh Ngọc Phương (2007) với đề tài "Phát triển hoạt động tự doanh của Công ty chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt nam" Luận văn tập trung vào mảng tự doanh của CTCK, hoạt động tiềm ẩn khá nhiều rủi ro và là một trong những mảng hoạt động mang về nhiều doanh thu nhất cho công ty Cuối cùng, tác giả đã đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện, quản lý, hạn chế rủi ro của hoạt động tự doanh của CTCK Ngân hàng Công thương Việt Nam
Như vậy có thể nói chưa có nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu một cách tổng thể và toàn diện hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán ở Việt nam cụ thể hoạt động kinh doanh của một số công ty chứng khoán niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán
TP Hồ Chí Minh, từ khi thị trường chứng khoán Việt nam thành lập đến nay Do vậy, đề
tài "Phân tích hoạt động kinh doanh của một số công ty chứng khoán niêm yết tại
sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh" hoàn toàn không trùng lặp với
những công trình nghiên cứu khoa học trước đó
1.2 Cơ sở lý luận về công ty chứng khoán và phân tích hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán
1.2.1 Những vấn đề chung về công ty chứng khoán
1.2.1.1 Khái niệm công ty chứng khoán
Khái niệm về CTCK có thể tiếp cận theo những cách khác nhau, theo giáo trình TTCK, trường Đại học KTQD, CTCK là "một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán" [**]
Theo giáo trình TTCK, trường Đại học kinh tế Tp Hồ Chí Minh, CTCK là "một định chế tài chính trung gian chuyên kinh doanh chứng khoán là đơn vị có tư cách pháp
Trang 16Theo quyết định số 04/1998/QĐ-UBCK3 ngày 13/10/1998 của UBCKNN
"CTCK là công ty cổ phần hoặc công ty TNHH thành lập hợp pháp tại Việt nam, được UBCKNN cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số các loại hình kinh doanh chứng khoán" [**]
Theo quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì CTCK "là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán" [**]
Như vậy, CTCK được hiểu là một tổ chức tài chính trung gian được thành lập theo pháp luật, thực hiện một và/hoặc một số hoạt động trên TTCK
1.2.1.2 Vai trò của CTCK
Lịch sử hình thành và phát triển của TTCK đã chứng minh vai trò không thể thiếu được của CTCK CTCK cần cho cả người phát hành, người đầu tư chứng khoán
và là một trong những nhân tố quyết định sự sôi động, phát triển của TTCK CTCK
có 3 chức năng chủ yếu sau trên thị trường tài chính:
• Tạo ra cơ chế huy động vốn bằng cách kết nối những người có tiền (nhà đầu tư) với những người muốn huy động vốn (người phát hành chứng khoán);
• Cung cấp một cơ chế giá cả nhằm giúp nhà đầu tư có được sự đánh giá đúng thực tế và chính xác về giá trị khoản đầu tư của mình;
• Cung cấp cơ chế chuyển ra tiền mặt cho các nhà đầu tư;
Thông qua việc thực hiện các chức năng của mình, CTCK thể hiện vai trò của mình đối với các đối tượng tham gia trên TTCK:
a) Vai trò huy động vốn: CTCK là trung gian tài chính có vai trò làm chiếc cầu nối
và đồng thời là kênh dẫn vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn CTCK đảm nhiệm vai trò này qua hoạt động bảo lãnh phát hành và môi giới chứng khoán
b) Vai trò cung cấp một cơ chế giá cả: CTCK, thông qua các trang báo tài chính niêm
yết giá chứng khoán hàng ngày của Sở giao dịch chứng khoán và thị trường OTC, cung cấp cho nhà đầu tư một cơ chế giá cả giúp cho nhà đầu tư có được sự đánh giá đúng thực
tế và chính xác về giá trị các khoản đầu tư của mình
Ngoài ra, theo quy định ở một số nước, CTCK bắt buộc phải dành ra một tỷ lệ nhất định giao dịch của mình để tham gia điều tiết giá chứng khoán, mua vào khi giá
Trang 17c) Vai trò cung cấp một cơ chế chuyển ra tiền mặt: CTCK đảm nhận chức năng
chuyển đổi tiền thành chứng khoán có giá và ngược lại cho nhà đầu tư mà nhà đầu tư không phải chịu khoản thiệt hại đáng kể đối với giá trị khoản đầu tư của mình
d) Vai trò tư vấn đầu tư: với chuyên môn của mình, CTCK thực hiện cập nhật, lưu
trữ và xử lý các thông tin về TTCK để cung cấp cho người đầu tư Đó chính là nghiệp
vụ tư vấn đầu tư
e) Vai trò tạo ra các sản phẩm mới: do những yếu tố về dung lượng thị trường và
biến động thị trường ngày càng lớn, nhận thức rõ ràng hơn của khách hàng đối với thị trường tài chính cùng với nỗ lực tiếp thị của các CTCK mà trong thời gian gần đây, chủng loại chứng khoán đã phát triển rất nhanh Ngoài cổ phiếu và trái phiếu, CTCK còn bán trái phiếu Chính phủ, chứng quyền, trái quyền, các hợp đồng tơng lai, quyền chọn và các sản phẩm lai tạo đa dạng khác phù hợp với sự thay đổi trên thị trường và môi trường kinh tế
vụ có mức rủi ro cao thì đòi hỏi mức vốn cao và ngược lại
• Điều kiện về nhân sự: do tính chất đặc thù của hoạt động nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán đòi hỏi người điều hành và nhân viên thực hiện nghiệp vụ phải có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn và tinh thông nghiệp vụ
• Điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị: đây là điều kiện cần thiết để bảo đảm cho hoạt động kinh doanh chứng khoán
Tại Việt Nam, CTCK kinh doanh trong lĩnh vực đặc thù nên có những đặc điểm pháp lý riêng biệt giúp phân biệt với các doanh nghiệp kinh doanh khác, cụ thể:
Về lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh: CTCK là chủ thể kinh doanh trên TTCK có hoạt động kinh doanh chính, thường xuyên và mang tính nghề nghiệp là kinh doanh
Trang 18Về hình thức tổ chức pháp lý: CTCK chỉ được tổ chức dưới hai hình thức công ty TNHH hay công ty cổ phần theo quy định của Luật Doanh nghiệp Việc quy định hình thức pháp lý như thế này đáp ứng được đòi hỏi đặc thù của hoạt động kinh doanh chứng khoán là đảm bảo độ tin cậy cao và hạn chế rủi ro, đồng thời đáp ứng yêu cầu TTCK là thị trường mang tính quốc tế cao
Về phương diện quản lý nhà nước: CTCK đặt dưới sự quản lý nhà nước trực tiếp của cơ quan quản lý chuyên trách Ở Việt Nam, CTCK chịu sự quản lý, giám sát trực tiếp bởi UBCKNN
Về pháp luật điều chỉnh: CTCK là doanh nghiệp được thành lập, hoạt động trên cơ
sở Luật Chứng khoán và các quy định của pháp luật có liên quan
1.2.1.4 Phân loại các công ty chứng khoán
Trên thế giới có ba mô hình công ty chứng khoán cơ bản:
Thứ nhất: là mô hình ngân hàng đa năng toàn phần Trong mô hình này không
có sự tách biệt nào giữa hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh chứng khoán Các ngân hàng thương mại cung cấp đầy đủ các dịch vụ ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm trong một pháp nhân duy nhất Đây là phương thức hoạt động ngân hàng đa năng cổ truyền mà điển hình được áp dụng ở CHLB Đức, Hà Lan, Thuỵ Sỹ, các nước Bắc Âu
Thứ hai: là mô hình đa năng một phần (đa năng kiểu Anh), được áp dụng ở Anh và một số nước có quan hệ gần gũi với Anh như Canada, australia Ngân hàng khi tham gia kinh doanh chứng khoán phải thành lập công ty con, có tư cách pháp nhân độc lập Các công ty con ít khi nắm giữ cổ phần của ngân hàng và thường không
có sự kết hợp giữa các công ty bảo hiểm và ngân hàng
Thứ ba: là mô hình chuyên doanh Nó được áp dụng ở nhiều nước như Mỹ, Nhật.v.v Theo mô hình này các công ty chứng khoán là các công ty chuyên doanh độc lập Các ngân hàng không được phép tham gia vào kinh doanh chứng khoán Đối với Việt Nam theo mô hình đa năng một phần, được phân loại chủ yếu như sau:
Theo tính chất sở hữu
Trang 19Để tiến hành kinh doanh, CTCK được thành lập dưới các hình thái doanh nghiệp khác nhau Với mỗi loại hình thái của CTCK có những ưu, nhược điểm nhất định Loại hình CTCK được thành lập phổ biến trên thế giới gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công ty hợp danh
a Công ty hợp danh: gồm hai hoặc ba người trở lên cùng góp vốn để tiến hành
kinh doanh, trong đó phải có ít nhất hai thành viên hợp danh ngoài ra còn có thành viên góp vốn Thành viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn, uy tín nghề nghiệp
Với hình thái doanh nghiệp này, CTCK sẽ có được bộ máy tổ chức gọn nhẹ do
số lượng thành viên ít, mức độ phân quyền có tính ổn định và công ty có độ tin cậ y cao vì thành viên hợp danh là những người có trình độ, uy tín
Tuy nhiên, công ty sẽ bị hạn chế về khả năng huy động vốn vì với hình thái này, công ty không được phép phát hành bất cứ chứng khoán nào và thành viên phải chịu trách nhiệm vô thời hạn đối với các khoản nợ của công ty
Vì vậy loại hình công ty hợp danh thường phù hợp với loại hình kinh doanh tư vấn đầu tư vì hoạt động này đòi hỏi nhân viên hành nghề phải có trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp cao Hơn nữa, do đặc thù của hoạt động tư vấn là tính trách nhiệm cao nên bên cạnh việc đảm bảo trách nhiệm về chất lượng tư vấn còn ràng buộc trách nhiệm vật chất một cách vô hạn
b Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH): Là một doanh nghiệp trong đó gồm
từ hai thành viên trở lên cùng tham gia góp vốn, thành viên có thể là cá nhân hoặc tổ chức Hình thái này có ưu điểm hơn hình thái hợp danh ở chỗ (1) Các thành viên chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ của công ty trên cơ sở số vốn góp; (2) huy động vốn đơn giản và linh hoạt hơn; và (3) đội ngũ quản lý năng động hơn không bị bó hẹp trong một số đối tác như công ty hợp danh
Tuy nhiên, hình thái công ty TNHH cũng có một số hạn chế trong vấn đề chuyển nhượng vốn góp hay việc tăng giảm số lượng thành viên cũng như công cụ được phép sử dụng để tăng thêm vốn, cụ thể:
+ Việc chuyển nhượng vốn góp được thực hiện ưu tiên theo thứ tự ưu tiên cho các thành viên hiện hữu của công ty trước sau đó mới đến các cá nhân, tổ chức ngoài
Trang 20+ Việc tăng hay giảm số lượng thành viên cũng bị hạn chế bởi các qui định pháp luật và sự chấp thuận của các thành viên hiện hữu trong công ty
+ Công ty không được phép phát hành cổ phiếu để tăng thêm vốn
Với ưu điểm trên, loại hình công ty này được thành lập phổ biến hơn loại hình công ty hợp danh
c Công ty cổ phần: Là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành
nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Người sở hữu cổ phần gọi là cổ đông của công
ty Cổ đông có thể là cá nhân hoặc tổ chức, tối thiểu là ba người và không hạn chế tối
đa đây là loại hình doanh nghiệp có ưu điểm nổi trội hơn hẳn hai hình thái doanh nghiệp nêu trên, cụ thể: (1) là loại hình doanh nghiệp duy nhất được phép huy động vốn bằng cổ phiếu, do đó khả năng tăng thêm vốn cho quá trình kinh doanh dễ dàng hơn; (2) sự tồn tại của công ty là liên tục không phụ thuộc vào việc thay đổi cổ đông; (3) rủi ro mà cổ đông gánh chịu được hạn chế ở mức nhất định trên cơ sở số vốn góp; (4) việc chuyển đổi quyền sở hữu được thực hiện dễ dàng thông qua việc mua bán cổ phiếu theo pháp luật qui định; (5) hình thức tổ chức quản lý, chế độ báo cáo và công
bố thông tin tốt hơn hai loại hình công ty trên
Tuy nhiên, đối với hình thái doanh nghiệp này thì tính ổn định về mặt tổ chức của công ty không cao bằng công ty TNHH
Với các loại hình công ty khác nhau sẽ phù hợp với loại hình kinh doanh mà
CTCK tiến hành đăng ký kinh doanh Tuy nhiên, với một CTCK thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ thì loại hình công ty cổ phần là thích hợp hơn cả
Theo nghiệp vụ kinh doanh
Một CTCK tham gia trên thị trường có thể thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động nghiệp vụ của một CTCK Tuỳ theo loại hoạt động nghiệp vụ CTCK tiến hành thực hiện mà CTCK có thể được xếp vào loại CTCK tổng hợp hay CTCK chuyên môn hoá
a Công ty chứng khoán tổng hợp
Là công ty thực hiện tất cả các hoạt động nghiệp vụ của một CTCK Với hình thức CTCK tổng hợp, các hoạt động của công ty có thể hỗ trợ nhau cùng phát triển Tuy nhiên, để có thể trở thành CTCK tổng hợp đòi hỏi các CTCK phải có tiềm lực về
Trang 21tài chính, đội ngũ nhân viên giỏi và hệ thống cơ sở vật chất đủ mạnh để tiến hành một cách tốt nhất các hoạt động nghiệp vụ
b Công ty chứng khoán chuyên doanh
Là CTCK chỉ thực hiện một hoặc hai hoạt động nghiệp vụ Với loại hình CTCK này thì các hoạt động mà CTCK tiến hành thực hiện phải là những hoạt động
mà không dẫn tới xung đột về lợi ích giữa quyền lợi của khách hàng và quyền lợi của CTCK, ví dụ như hoạt động môi giới với hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán hay hoạt động bảo lãnh phát hành với hoạt động tự doanh CTCK chuyên môn hóa sẽ có
bộ máy tổ chức gọn nhẹ hơn, qui mô vốn cũng thấp hơn CTCK tổng hợp và có thể tập trung nguồn lực phát triển
Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của CTCK phụ thuộc vào loại hình nghiệp vụ mà CTCK đó thực hiện và quy mô hoạt động kinh doanh của nó Tuy nhiên, CTCK phải đảm bảo tách biệt giữa hoạt động tự doanh với hoạt động môi giới Cơ cấu tổ chức của CTCK là hệ thống các phòng ban chức năng được chia ra làm hai khối tương ứng với hai khối công việc mà CTCK đảm nhận:
• Khối I (Front Office): là các bộ phận trực tiếp tạo ra thu nhập cho CTCK Front Office tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, thực hiện các giao dịch kinh doanh chứng khoán: môi giới giao dịch, tư vấn đầu tư, phát triển kinh doanh, tự doanh, bảo lãnh phát hành
• Khối II (Back Office): là các bộ phận không trực tiếp tạo ra thu nhập, hỗ trợ cho Front Office như: nghiên cứu phân tích, hành chính nhân sự, kế toán tài chính, công nghệ thông tin, pháp chế và kiểm soát nội bộ
• Đôi khi người ta gọi một số chức năng như quản lý rủi ro, tài chính, kiểm soát nội bộ là Middle Office, do công việc của các bộ phận này tương tác cả với Khối I (Front Office) và Khối II (Back Office)
1.2.1.5 Khái quát các mảng hoạt động kinh doanh của CTCK
Ở Việt Nam, CTCK thực hiện các nghiệp vụ dưới sự điều chỉnh của các văn
Trang 22CTCK (Quy chế tổ chức và hoạt động của CTCK ban hành theo QĐ 27) Hoạt động chính của CTCK bao gồm: hoạt động môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn
đầu tư và tư vấn tài chính
Môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó CTCK làm trung gian giúp cho khách hàng, thực hiện mua hoặc bán chứng khoán và được hưởng hoa hồng từ hoạt động đó
CTCK với lợi thế có mạng lưới thông tin rộng khắp trên cả thị trường chính thức lẫn phi chính thức có thể cung cấp cho nhà đầu tư một bức tranh toàn cảnh về TTCK và giúp khách hàng có thể mua bán được chứng khoán ở bất kỳ thị trường nào
Như vậy, hoạt động môi giới chứng khoán là hoạt động kết nối giữa những người cần mua và những người cần bán chứng khoán
Theo luật chứng khoán, môi giới chứng khoán là việc CTCK làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng [**]
Sau mỗi giao dịch mua bán chứng khoán được thành công, cả bên mua và bên bán đều trả cho CTCK một khoản tiền, khoản tiền này được gọi là phí môi giới giao dịch Cách tính phí môi giới giao dịch tùy theo việc CTCK tiến hành mua bán hộ chứng khoán cho khách hàng trên thị trường nào Nếu mua bán chứng khoán trên thị trường chính thức (sở giao dịch), thông thường phí môi giới giao dịch sẽ được tính là một tỷ
lệ phần trăm trên tổng giá trị giao dịch Nếu trên thị trường phi chính thức (OTC), phí giao dịch được tính kèm vào giá (markup)
Phí môi giới giao dịch là một trong những nguồn thu của CTCK Phí này có được thông qua việc CTCK thực hiện mua bán chứng khoán cho khách hàng Do đó,
số lượng khách hàng tiến hành mua bán qua công ty càng nhiều thì doanh thu từ hoạt động môi giới càng lớn Vì vậy, vấn đề đặt ra cho CTCK là làm thế nào để thu hút và giữ được khách hàng đến với công ty
Khi thực hiện hoạt động này, CTCK phải tuân thủ các nghĩa vụ sau:
CTCK phải mở tài khoản giao dịch chứng khoán và tiền cho từng khách hàng trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa khách hàng và công ty
Trang 23Khi tư vấn cho khách hàng giao dịch chứng khoán, CTCK phải thu thập đầy đủ thông tin về khách hàng, không được đảm bảo giá trị chứng khoán mà mình khuyến nghị đầu tư
CTCK có nghĩa vụ cập nhật các thông tin về khả năng tài chính, khả năng chịu đựng rủi ro, kỳ vọng lợi nhuận, nhân thân của khách hàng tối thiếu 6 tháng/lần
CTCK phải quản lý tách biệt tiền và chứng khoán của khách hàng tách biệt khỏi tiền và chứng khoán của CTCK
CTCK chỉ nhận lệnh khi phiếu lệnh được điền chính xác và đầy đủ các thông tin; chỉ nhận lệnh của khách hàng có đủ tiền và chứng khoán theo quy định và phải có biện pháp cần thiết để đảm bảo khả năng thanh toán của khách hàng khi lệnh giao dịch được thực hiện CTCK phải thực hiện một cách nhanh chóng và chính xác lệnh giao dịch của khách hàng
Chức năng của hoạt động môi giới chứng khoán:
• Cung cấp dịch vụ với hai tư cách:
- Nối liền khách hàng với bộ phận nghiên cứu đầu tư: cung cấp báo cáo nghiên cứu và khuyến nghị đầu tư cho khách hàng
- Nối liền những người bán và những người mua
• Đáp ứng nhu cầu tâm lý của khách hàng: chia sẻ, động viên, khắc phục trạng thái xúc cảm quá mức (tham lam hay sợ hãi);
• Đề xuất thời điểm bán hàng
Tự doanh chứng khoán
Là một trong các hoạt động cơ bản của CTCK Hoạt động này được xem như là hoạt động đầu tư của CTCK vì khi tiến hành tự doanh CTCK phải bỏ tiền ra mua, công
ty sẽ có lãi khi giá chứng khoán tăng và ngược lại, sẽ lỗ khi giá chứng khoán giảm Do
đó, hoạt động tự doanh của CTCK cũng chứa đựng tiềm ẩn rủi ro về sự biến động giá chứng khoán trên thị trường Như vậy, hoạt động tự doanh là việc CTCK mua bán chứng khoán bằng nguồn vốn của mình để hưởng lợi, đồng thời cũng chấp nhận rủi ro từ hoạt động đó
Khi tiến hành hoạt động tự doanh, lợi nhuận mà CTCK có được có thể từ việc chênh lệch giữa giá mua và giá bán hoặc từ cổ tức, trái tức mà nhà phát hành trả
Trang 24Tùy theo mục đích, tính chất đầu tư mà hoạt động tự doanh của CTCK bao gồm các hoạt động cụ thể như tự doanh với mục đích hưởng lợi, nắm quyền kiểm soát, quản
lý lý ngân quĩ hay tạo lập thị trường…
+ Tự doanh với mục đích hưởng lợi: là một trong những mục tiêu chính của CTCK khi tiến hành hoạt động tự doanh
+ Tự doanh với mục đích nắm quyền kiểm soát: Trong một số trường hợp, CTCK tiến hành tự doanh một loại chứng khoán nào đó với mục tiêu có được một số lượng cổ phiếu tối thiểu nhất định để có thể tham gia vào quá trình điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức phát hành (TCPH) đó Khi theo đuổi mục tiêu này, CTCK có thể
bỏ qua mục tiêu lợi nhuận trong ngắn hạn
+ Tự doanh với mục đích quản lý ngân quĩ: Cũng giống như các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khác, các CTCK cũng cần phải quản lý lượng tiền mặt tại công ty sao cho vừa đảm bảo khả năng chi trả đồng thời vừa đảm bảo khả năng sinh lời của đồng vốn Do vậy, CTCK tiến hành đầu tư vào chứng khoán ngắn hạn để đảm bảo 2 mục tiêu trong quản lý ngân quĩ của doanh nghiệp
+ Tự doanh với mục đích đảm đương vai trò nhà tạo lập thị trường: một trong những mục tiêu quan trọng khi CTCK thực hiện hoạt động tự doanh đó là đảm đương vai trò nhà tạo lập thị trường Khi đảm đương vai trò này, CTCK luôn phải nắm giữ một
số lượng chứng khoán đủ lớn để sẵn sàng bán khi có nhu cầu đặt mua đồng thời phải dự trữ một lượng tiền nhất định để mua chứng khoán khi nhà đầu tư có nhu cầu bán
Xuất phát từ các mục đích trên, hoạt động tự doanh của CTCK có những đặc điểm sau:
+ Qui mô đầu tư lớn CTCK phải có một lượng vốn (dưới dạng tiền mặt và chứng khoán) lớn để có thể thực hiện được các mục tiêu trong hoạt động tự doanh
+ Đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn, tính nhạy cảm cao trong công việc, khả năng phân tích và đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý
Trong các hoạt động có thể sẽ dẫn tới xung đột với hoạt động tự doanh về lợi ích của khách hàng và của CTCK Do vậy, khi tiến hành hoạt động tự doanh, CTCK phải đáp ứng các yêu cầu do luật pháp qui định, cụ thể:
Trang 25Thứ nhất, phải có sự tách biệt giữa hoạt động tự doanh với hoạt động môi giới, giữa hoạt động tự doanh với hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán
Khi CTCK vừa thực hiện hoạt động môi giới vừa thực hiện hoạt động tự doanh
dễ phát sinh xung đột lợi ích giữa CTCK và khách hàng Vì vậy để tránh xung đột lợi ích hợp pháp và để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng trong hoạt động các nước đều yêu cầu CTCK tách biệt hoạt động môi giới và tự doanh Sự tách biệt này bao gồm: tách biệt
về yếu tố con người có nghĩa là nhân viên của CTCK không được phép vừa làm trong bộ phận môi giới vừa làm trong bộ phận tự doanh; tách biệt về qui trình nghiệp vụ; tách biệt
về tài sản và vốn của khách hàng và công ty tức là công ty không được phép dùng vốn
và tài sản của khách hàng để kinh doanh cho công ty mà phải dùng chính nguồn vốn của công ty để tiến hành kinh doanh Có nước không cho phép CTCK vừa thực hiện hoạt động môi giới trên thị trường tập trung vừa thực hiện hoạt động tự doanh
Bên cạnh đó, hoạt động tự doanh cũng còn phải có sự tách biệt với hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán, nếu không quyền lợi của các nhà đầu tư sẽ không được đảm bảo Khi bộ phận tự doanh muốn mua chứng khoán nào đó thì bộ phận tư vấn sẽ khuyên khách hàng bán chứng khoán đó, và ngược lại, khi muốn bán họ lại tư vấn cho khách hàng mua chứng khoán đó
Thứ hai, ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước lệnh của CTCK Do có tính đặc thù về khả năng tiếp cận thông tin và khả năng phân tích thị trường tốt hơn các khách hàng cá nhân nên CTCK có nhiều ưu thế hơn các nhà đầu tư cá nhân trong quyết định mua bán chứng khoán Vì vậy, để đảm bảo sự công bằng giữa các nhà đầu tư cá nhân với các CTCK (nhà đầu tư chuyên nghiệp), CTCK phải tuân thủ nguyên tắc ưu tiên khớp lệnh của khách hàng trước lệnh của công ty điều đó có nghĩa trong trường hợp lệnh giao dịch của khách hàng và lệnh tự doanh của CTCK đến cùng một lúc thì lệnh giao dịch của khách hàng phải được xử lý trước lệnh tự doanh của CTCK
Thứ ba, bình ổn giá cả thị trường Theo đó, khi thị trường có sự sụt giảm giá chứng khoán thì CTCK có trách nhiệm mua vào, khi giá chứng khoán tăng đột biến thì CTCK có trách nhiệm bán ra nhằm giữ giá chứng khoán ổn định Khi thực hiện chức năng bình ổn giá chứng khoán trên thị trường, CTCK bỏ qua mục tiêu lợi nhuận để thực hiện được yêu cầu này, các nước thường qui định CTCK phải dành một tỷ lệ phần trăm nhất định các giao dịch của mình cho mục tiêu bình ổn thị trường
Trang 26Thứ tư, tạo thị trường cho chứng khoán mới phát hành Khi chứng khoán mới được phát hành chưa có thị trường giao dịch, để tạo thị trường cho các chứng khoán này, các CTCK thực hiện hoạt động tự doanh thông qua việc mua và bán chứng khoán sẽ tạo tính thanh khoản cho chứng khoán đó trên thị trường thứ cấp Trên thị trường OTC, CTCK liên tục có những báo giá để mua hoặc bán chứng khoán với các nhà kinh doanh khác, qua đó, CTCK đã tạo ra và duy trì một thị trường liên tục cho chứng khoán mà họ kinh doanh
Tư vấn đầu tư chứng khoán (TVĐTCK)
Khi TTCK càng phát triển số lượng nhà đầu tư cá nhân tham gia thị trường ngày càng gia tăng nhưng không phải nhà đầu tư nào cũng có trình độ, kinh nghiệm để có quyết định đúng đắn trong đầu tư chứng khoán Do vậy, các CTCK với đội ngũ nhân viên có trình độ, kinh nghiệm sẽ cung cấp dịch vụ tư vấn nhằm giúp các nhà đầu tư đầu
tư có hiệu quả hơn
Với kinh nghiệm cũng như chuyên môn, các nhân viên tư vấn sẽ tư vấn cho khách hàng nên mua/bán loại chứng khoán nào và vào thời điểm nào cũng như tư vấn chiến lược và kỹ thuật giao dịch; cung cấp kết quả phân tích chứng khoán và thị trường chứng khoán Bởi vậy, hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán đòi hỏi nhiều kiến thức và
kỹ thuật chuyên môn Những báo cáo phân tích của nhà tư vấn có tác động rất lớn tới tâm lý của người được tư vấn và có thể làm cho họ có lợi nhuận hoặc bị thiệt hại còn người tư vấn thu về cho mình khoản phí dịch vụ tư vấn và không chịu trách nhiệm về kết quả của việc đầu tư
Bảo lãnh phát hành chứng khoán
Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng
Tổ chức phát hành được hưởng phí bảo lãnh hoặc một tỷ lệ hoa hồng nhất định trên
số tiền thu được từ đợt phát hành Hiện nay trên thế giới có 4 hình thức bảo lãnh phát hành: bảo lãnh cam kết chắc chắn, bảo lãnh cố gắng tối đa, bảo lãnh tất cả hoặc không và
Trang 27lãnh với cam kết chắc chắn, là hình thức bảo lãnh mà tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết
sẽ mua toàn bộ chứng khoán phát hành cho dù có phân phối hết hay không
UBCKNN chỉ xét cấp giấy phép thực hiện bảo lãnh phát hành cho CTCK đã xin phép hoạt động tự doanh
CTCK được thực hiện bảo lãnh phát hành chứng khoán theo hình thức cam kết chắc chắn nếu đáp ứng các điều kiện sau:
1 Được phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán;
2 Không vi phạm pháp luật chứng khoán trong 06 tháng liên tục liền trước thời điểm bảo lãnh;
3 Tổng giá trị bảo lãnh phát hành không được lớn hơn 50% vốn chủ sở hữu của tổ chức bảo lãnh phát hành vào thời điểm cuối quý gần nhất tính đến ngày ký hợp đồng bảo lãnh phát hành, trừ trường hợp bảo lãnh phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh;
4 Có tỷ lệ vốn khả dụng trên nợ điều chỉnh trên 6% trong ba (03) tháng liền trước thời điểm nhận bảo lãnh phát hành
Tổ chức bảo lãnh phát hành không được bảo lãnh phát hành theo hình thức cam kết chắc chắn trong các trường hợp sau đây:
1 Tổ chức bảo lãnh phát hành độc lập hoặc cùng các công ty con của tổ chức bảo lãnh phát hành có sở hữu từ 10% trở lên vốn điều lệ của tổ chức phát hành;
2 Tối thiểu 30% vốn điều lệ của tổ chức bảo lãnh phát hành và của tổ chức phát hành
là do cùng một tổ chức nắm giữ
Trường hợp đợt phát hành có tổng giá trị cam kết bảo lãnh lớn hơn hai (02) lần vốn chủ sở hữu của tổ chức bảo lãnh phát hành, phải lập tổ hợp bảo lãnh phát hành Trong trường hợp này, tổ chức bảo lãnh phát hành chính chịu trách nhiệm ký hợp đồng bảo lãnh với tổ chức phát hành, hoàn tất hồ sơ pháp lý về việc bảo lãnh phát hành và ký hợp đồng bảo lãnh phát hành với các tổ chức bảo lãnh phát hành khác
Khi một công ty chứng khoán bảo lãnh phát hành chứng khoán, công ty chứng khoán phải mở một tài khoản riêng biệt tại một ngân hàng đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam để nhận tiền đặt mua chứng khoán của khách hàng
Trang 28Lưu ký chứng khoán là việc nhận ký gửi, bảo quản, chuyển giao chứng khoán cho khách hàng, giúp khách hàng thực hiện các quyền liên quan đến sở hữu chứng khoán
Công ty chứng khoán được cấp Giấy chứng nhận hoạt động lưu ký được thực hiện cung cấp các dịch vụ: cung cấp dịch vụ lưu ký và thanh toán các giao dịch chứng khoán cho khách hàng; cung cấp dịch vụ đăng ký chứng khoán đối với các chứng khoán phát hành riêng lẻ; làm đại lý chuyển nhượng theo yêu cầu của tổ chức phát hành đối với các chứng khoán phát hành riêng lẻ
Ngoài các nghiệp vụ được cấp phép, công ty chứng khoán được phép thực hiện nghiệp vụ tư vấn tài chính bao gồm:
a) Tư vấn tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp, thâu tóm, sáp nhập doanh nghiệp, tư vấn quản trị công ty cổ phần;
b) Tư vấn chào bán, niêm yết chứng khoán;
c) Tư vấn cổ phần hoá, xác định giá trị doanh nghiệp;
d) Tư vấn tài chính khác phù hợp với quy định pháp luật
1.2.2 Khái niệm phân tích hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán
Đối với cách hiểu thông thường, Kinh doanh là hoạt động kinh tế đa dạng thể chế có tổ chức như : tập đoàn, doanh nghiệp, công ty hay cá nhân liên kết hợp tác cùng phát triển với mục đích đem lại lợi nhuận Vào mỗi giai đoạn để đánh giá lại việc kinh doanh nhằm đạt hiệu quả cao hơn Việc phân tích hoạt động kinh doanh là cơ sở quan trọng để đưa ra các quyết định kinh doanh, là công cụ hiệu quả trong quản trị doanh nghiệp cũng như là biện pháp phòng ngừa rủi ro và dự đoán điều chỉnh các kế hoạch kinh doanh
Đối với CTCK cũng như các doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận khác, đều cần phải đánh giá hoạt động kinh doanh của mình Hiệu quả kinh doanh cũng phải gắn với mục tiêu cụ thể, mà trước hết là mục tiêu của công ty, sau đó là mục tiêu của ngành chứng khoán và toàn bộ nền kinh tế Hiệu quả kinh tế có thể được xem xét dưới dạng số tuyệt đối hoặc số tương đối
Sự khác biệt khi tính toán hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh chứng khoán của CTCK so với các doanh nghiệp khác xuất phát từ đặc thù ngành nghề kinh
Trang 29thu thu phí giao dịch chứng khoán và các chi phí liên quan đến doanh thu đó như chi phí giao dịch chứng khoán phải trả cho sở giao dịch chứng khoán, chi phí nhân viên trực tiếp, thiết bị đường truyền Tương tự, hiệu quả kinh tế của hoạt động tự doanh là
sự so sánh doanh thu (khoản lời) tự doanh và chi phí như: khoản lỗ bán chứng khoán tự doanh, phí giao dịch, lưu ký chứng khoán tự doanh, chi phí nhân viên trực tiếp, thiết bị vật liệu văn phòng
CTCK có thể thực hiện một hay nhiều nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán, cho nên, hiệu quả kinh tế hoạt động kinh doanh của CTCK là chỉ tiêu tổng hợp của hiệu quả kinh tế mang lại từ các hoạt động nghiệp vụ đó
1.2.2.1 Vai trò của phân tích hoạt động kinh doanh của CTCK
Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ để phát triển những khả năng tiềm
ẩn trong kinh doanh và còn là công cụ để cải tiến cơ chế quản lý trong kinh doanh
Bất kì mảng hoạt động kinh doanh ở CTCK các điều kiện khác nhau như thế nào đi nữa cũng đều có những tiềm ẩn, còn những khả năng tiềm tàng chưa được phát hiện, chỉ thông qua phân tích hoạt động doanh nghiệp mới phát hiện được Từ đó ta sẽ
có cách khai thác để mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn, thông qua phân tích hoạt động doanh nghiệp ta mới thấy rõ những nguyên nhân và nguồn gốc của các vấn đề phát sinh từ đó có những giải pháp thích hợp cải tiến trong hoạt động quản lý để mang lại hiệu quả cao hơn
Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ cung cấp thông tin cho các nhà quản trị doanh nghiệp để điều hành hoạt động kinh doanh
Trong điều kiện hoạt động kinh doanh đơn giản với quy mô nhỏ, nhu cầu thông tin cho các nhà quản lý chưa nhiều thì quá trình phân tích cũng được tiến hành đơn giản,
có thể được thực hiện ngay trong công tác hạch toán Khi hoạt động kinh doanh ngày càng phát triển với quy mô lớn, nhu cầu thông tin cho các nhà quản lý ngày càng nhiều,
đa dạng và phức tạp Những thông tin có giá trị và thích hợp cần thiết này thường không
có sẵn trong các báo cáo tài chính hoặc trong bất cứ tài liệu nào ở doanh nghiệp Để có được những thông tin này phải thông qua quá trình phân tích, vì vậy phân tích hoạt động kinh doanh hình thành và phát triển không ngừng
Phân tích hoạt động kinh doanh là cơ sở quan trọng để có thể đề ra các quyết định kinh doanh
Trang 30Thông qua các tài liệu phân tích cho phép các nhà doanh nghiệp nhận thức đúng đắn về khả năng, mặt mạnh cũng như mặt yếu của doanh nghiệp mình Dựa vào cơ sở đó
để doanh nghiệp đưa ra các quyết định chính xác cho các mục tiêu,chiến lược kinh doanh Do đó, người ta xem phân tích như là một hoạt động thực tiễn, bởi vì phân tích hoạt động kinh doanh luôn đi trước quyết định và là cơ sở cho các quyết định kinh doanh Phân tích hoạt động kinh doanh như một ngành khoa học, nó nghiên cứu các phương pháp có hệ thống và tìm ra các giải pháp áp dụng chúng vào mỗi doanh nghiệp
Phân tích hoạt động kinh doanh là biện pháp quan trọng để phòng rủi ro trong kinh doanh
Một doanh nghiệp hoạt động đều bị ảnh hưởng bởi các điều kiện bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp.Vì vậy, ngoài việc phân tích các điều kiện bên trong doanh nghiệp như về tài chính, lao động, vật tư,… doanh nghiệp còn quan tâm phân tích các điều kiện tác động ở bên ngoài như khách hàng, thị trường, đối thủ cạnh tranh… Trên
cơ sở phân tích trên, doanh nghiệp dự đoán được các rủi ro trong kinh doanh có thể xảy
ra và có các phương án phòng ngừa trước khi chúng xảy ra Để có những dự đoán chính xác thì doanh nghiệp phải thường xuyên phân tích hoạt động kinh doanh Phân tích dựa trên các tài liệu có được thì doanh nghiệp có thể dự đoán các điều kiện kinh doanh trong thời gian sắp tới, từ đó đề ra các chiến lược kinh doanh thật phù hợp
1.2.3 Nội dung phân tích hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán
Kết quả hoạt động kinh doanh là biểu hiện cao nhất của hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, vì xét cho cùng mục đích của kinh doanh là lợi nhuận Kết quả hoạt động của CTCK được đo bằng lượng lợi nhuận mang lại trên một đơn vị yếu tố đầu vào hay lượng lợi nhuận mang lại trên một đơn vị chi phí đầu vào hoặc lượng lợi nhuận mang lại trên một đơn vị đầu ra phản ánh kết quả kinh doanh Ở góc độ này, kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh khả năng sinh lợi của CTCK Do đó, các chỉ tiêu đánh giá về sức sinh lợi sẽ đánh giá chính xác nhất hiệu quả hoạt động của CTCK
Dưới góc độ phân tích từ nhà đơn vị quản lý CTCK nhằm xem xét, đánh giá hoạt động của các CTCK, tác giả sử dụng một số chỉ tiêu sau :
1.2.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động kinh doanh chung
Trang 31Mức độ thay đổi về nguồn vốn giữa năm nay và năm trước là một chỉ tiêu quan trọng, được sử dụng để xác định mức độ cải thiện hoặc suy giảm về khả năng tài chính của CTCK trong năm
Chỉ tiêu về thay đổi doanh thu
Chỉ tiêu thay đổi doanh thu của công ty chứng khoán đánh giá mức độ tăng trưởng
về doanh thu của năm nay so với năm trước
Mức độ tăng
doanh thu (%) =
Chênh lệch doanh thu năm trước và
Doanh thu năm trước
Chỉ tiêu tỷ lệ chi phí trong hoạt động kinh doanh chứng khoán
Tỷ lệ chi phí là một trong những chỉ tiêu thể hiện khả năng cạnh tranh của công ty chứng khoán, thông qua việc khống chế các chi phí ở mức hợp lý mà vẫn đảm bảo hiệu quả kinh doanh Tỷ lệ chi phí có ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh và ảnh hưởng bất lợi đến lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh chứng khoán của công ty chứng khoán
Chỉ tiêu khác có liên quan đến hiệu quả hoạt động kinh doanh
Do đặc thù loại hình kinh doanh của CTCK bên cạnh đánh giá các chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động của công ty thông thường Ta cần xem xét một sổ chỉ tiêu khác phản ánh sự phát triển hoạt động của CTCK, các chỉ tiêu cơ bản thường được sử dụng bao gồm:
+ Số lượng tài khoản được mở tại các CTCK Chỉ tiêu này vừa phản ánh qui mô khách hàng tới mở tài khoản vừa phản ánh chất lượng dịch vụ, thị phần môi giới của CTCK
Trang 32+ Giá trị môi giới giao dịch: Chỉ tiêu này phản ánh thực tế giá trị các nhà đầu tư tiến hành mua bán chứng khoán qua CTCK
+ Giá trị giao dịch tự doanh: phản ánh mức độ và khả năng tài chính của CTCK khi tiến hành hoạt động tự doanh
+ Giá trị BLPH: phản ánh qui mô của các đợt phát hành, uy tín của CTCK về mảng BLPH cho tổ chức phát hành
+ Doanh thu: Tổng doanh thu của CTCK có được từ việc triển khai thực hiện các hoạt động Do vậy, chỉ tiêu này sẽ phản ánh mức độ tăng trưởng chung của CTCK
Trong đó: Ti là tỷ trọng của doanh thu từ hoạt động thứ i trong tổng doanh thu của CTCK
+ Tính chính xác: Trong quá trình nhận và truyền lệnh của khách hàng, các CTCK phải đảm bảo tính chính xác trong các giao dịch mua bán của nhà đầu tư Mức độ chính xác càng cao giúp cho CTCK giảm được sai sót càng nhiều và giảm được tổn thất
+ Mức độ an toàn: Tài sản của khách hàng được CTCK đảm bảo quản lý một cách an toàn không bị lợi dụng cho mục đích của công ty, đảm bảo bí mật về thông tin
cá nhân
Ti = DTi x 100
DTi
Trang 33+ Mức độ nhanh chóng, thuận tiện: Khi khách hành tới giao dịch tại CTCK khách hàng sẽ nhận được sự hỗ trợ thuận tiện nhất từ phía công ty, đó là các thủ tục liên quan tới việc mở tài khoản, thủ tục sử dụng các dịch vụ của CTCK, đặc biệt là trong việc nhận lệnh của nhà đầu tư Việc tạo điều kiện từ phía các CTCK giúp cho các nhà đầu tư có thể đặt lệnh mua bán chứng khoán bất cứ họ ở đâu và với hình thức đặt lệnh nào
1.2.3.2 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá về lợi nhuận
Các chỉ tiêu lợi nhuận là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động của công
ty chứng khoán trong một thời kỳ nhất định; là căn cứ để xây dựng kế hoạch tài chính trong tương lai Nhóm chỉ tiêu này bao gồm:
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu phản ánh một đồng doanh thu mà công ty chứng khoán thực hiện trong kỳ đạt được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêu này thể hiện hiệu quả kinh doanh của công ty chứng khoán
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
=
Lợi nhuận sau thuế
x 100 Doanh thu thuần
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản là chỉ tiêu đo lường mức độ sinh lời của đồng vốn trên tổng tài sản bỏ ra
Tỷ suất lợi nhuận
trên tổng tài sản =
Lợi nhuận sau thuế
x 100 Tổng tài sản
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên VCSH (ROE)
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đánh giá mức độ thực hiện lợi nhuận ròng của công ty chứng khoán trong hoạt động kinh doanh Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn chủ sở hữu đem vào sử dụng sinh ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận
trên vốn chủ sở =
Lợi nhuận sau thuế
x 100 Vốn chủ sở hữu bình
Trang 341.2.3.3 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá về tính thanh khoản
Đây là nhóm chỉ tiêu đánh giả về khả năng chi trả thanh toán của công ty trong các thời điểm nhất định
Chỉ tiêu về tỷ lệ vốn khả dụng
Theo thông tư số 226/2010/TT-BTC ngày 31/12/2010 của Bộ Tài chính quy định chỉ tiêu an toàn tài chính và biện pháp xử lý đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán không đáp ứng chỉ tiêu an toàn tài chính
Theo quy định trên thì tỷ lệ vốn khả dụng là căn cứ để Ủy ban chứng khoán nhà nước đưa ra quyết định có áp dụng tình trạng kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức kinh doanh chứng khoán hay không; tỷ lệ này được xác định theo nguyên tắc:
Tỷ lệ vốn khả
Vốn khả dụng
x 100 Tổng giá trị rủi ro
Trong đó, vốn khả dụng là vốn chủ sở hữu có thể chuyển đổi thành tiền trong vòng chín mươi (90) ngày; Giá trị rủi ro bao gồm 03 loại: giá trị rủi ro hoạt động, giá trị rủi ro thị trường và giá trị rủi ro thanh toán
Tỷ lệ này an toàn khi khi tỷ lệ vốn khả dụng đạt và vượt 180% của các kỳ báo cáo Nếu tỷ lệ vốn khả dụng dao động từ 120% tới 150% trong tất cả các kỳ báo cáo trong ba (03) tháng liên tục UBCKNN sẽ đưa CTCK vào diện kiểm soát Đối với những trường hợp tỷ lệ này dưới 120% CTCK sẽ bị đưa vào diện kiểm soát đặc biệt
Chỉ tiêu công nợ trên tài sản có tính thanh khoản
Chỉ tiêu công nợ trên tài sản có tính thanh khoản là thước đo khả năng đáp ứng các nhu cầu về tài chính của công ty chứng khoán Chỉ tiêu này cũng xác định khả năng chi trả cho người đầu tư chứng khoán trong trường hợp cần thiết Trong các loại tài sản của công ty chứng khoán khi được phân loại, đánh giá lại giá trị theo kỳ hạn phải thanh toán, loại trừ các loại cổ phiếu và tài sản khác không có khả năng chuyển hoá thành tiền mặt thì
có thể dẫn đến tình trạng công ty chứng khoán mất khả năng thanh toán tạm thời tại các thời điểm nhất định
Trang 35khoản
Trong đó: Tổng nợ phải được phân loại theo kỳ hạn nợ phải thanh toán và TS có
tính thanh khoản được phân theo kỳ hạn TS có khả năng chuyển hóa thành tiền mặt
Chỉ tiêu này là thước đo khả năng đáp ứng nhu cầu tài chính của CTCK và khả năng chi trả cho nhà đầu tư CK trong trường hợp cần thiết Nếu tại một thời điểm
TS có tính thanh khoản của CTCK nhỏ hơn nợ phải thanh toán cùng kỳ hạn thì có thể dẫn đến tình trạng CTCK mất khả năng thanh toán tạm thời
Trong thực tế, người ta có thể đo lường khả năng thanh khoản ở những cấp độ cụ thể hơn, tùy thuộc mức độ chuyển hóa nhanh hay chậm của các khoản mục tài sản lưu động Có 3 hệ số phổ biến sau:
Hệ số thanh toán ngắn hạn =
Tài sản lưu động ngắn
hạn
Nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán nhanh =
Tài sản lưu động ngắn hạn - (Hàng tồn kho + TSĐB khác)
Nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán tiền mặt =
Tiền mặt
Nợ ngắn hạn Chỉ tiêu công nợ trên tài sản có tính thanh khoản
Chỉ tiêu nợ trong thanh toán giao dịch chứng khoán trên nguồn vốn cho biết mức
độ phụ thuộc của khả năng thanh toán của công ty chứng khoán vào một loại tài sản thường không thể chuyển đổi thành tiền (phải thu của người đầu tư chứng khoán) trong
Trang 36trường hợp công ty chứng khoán bị giải thể Chỉ tiêu này cũng để phân biệt công ty chứng khoán hoạt động lành mạnh với công ty chứng khoán có khó khăn về tài chính
Tỷ lệ % nợ phải thu từ nhà đầu tư
Sự ổn định về kinh tế giúp cho các doanh nghiệp mở rộng qui mô sản xuất, góp phần tăng cung hàng hoá trên TTCK Việc Chính phủ tạo ra và duy trì một nền kinh tế vĩ
mô ổn định là điều kiện tất yếu, cần phải đảm bảo cho cơ chế giá cả không bị bóp méo và
có điều kiện ổn định, thuận lợi về tài chính và tiền tệ Có như vậy mới khuyến khích được các thành phần trong nền kinh tế tiến hành kinh doanh và thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư không những trong nước mà còn cả nhà đầu tư nước ngoài
Hệ thống luật pháp có ý nghĩa quyết định trong việc hạn chế hoặc cần thúc đẩy
và khuyến khích phát triển trong lĩnh vực nào đó Hệ thống luật pháp điều chỉnh các quan hệ kinh tế ở đây không chỉ là hệ thống luật pháp của nước sở tại mà còn là hệ thống luật pháp quốc tế khi mà hoạt động của các CTCK không dừng lại ở phạm vi
Trang 37quốc gia Với một hệ thống pháp luật chặt chẽ sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng giữa các CTCK, thúc đẩy các CTCK phát triển
Môi trường pháp lý thông thoáng sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nói chung và cho các CTCK nói riêng phát triển hoạt động của mình Các CTCK hoạt động ngoài việc chịu sự điều tiết bởi các luật có liên quan còn phải tuân thủ theo các quy định của luật chuyên ngành - luật chứng khoán và thị trường chứng khoán Do
đó, sự thống nhất giữa các luật hiện hành là yêu cầu tất yếu cho mọi hoạt động Vì vậy, môi trường pháp lý cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển hoạt động của các CTCK
Các chính sách phát triển thị trường sẽ có những tác động nhất định tới quyết định của các đầu tư hoặc sẽ tiếp tục tham gia hoặc sẽ rút lui khỏi thị trường điều này
sẽ ảnh hưởng tới hoạt động của các CTCK Nếu một chính sách có lợi, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư sẽ thu hút được các nhà đầu tư tham gia thị trường, từ đó các CTCK có điều kiện phát triển các hoạt động của mình Ngược lại, một chính sách bất lợi, hạn chế sự phát triển của thị trường sẽ có ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động của các CTCK trên thị trường
Sự phát triển của TTCK
Nhân tố có tác động trực tiếp tới sự phát triển hoạt động của các CTCK Sự phát triển ở đây bao hàm phát triển cả về hàng hoá trên thị trường và sự tham gia đông đảo của các nhà đầu tư TTCK phát triển tất yếu sẽ nảy sinh ra các loại hàng hoá mới làm đa dạng về chủng loại cho các nhà đầu tư có thể lựa chọn đầu tư, ví dụ như các loại chứng khoán phái sinh: hợp đồng tương lai, quyền chọn…, đó chính là điều kiện để các CTCK phát triển các hoạt động của mình nhằm đáp ứng yêu cầu đầu
tư của khách hàng Khi thị trường phát triển, có nghĩa là sự tham gia của các nhà đầu
tư cũng tăng lên, nhu cầu về đầu tư cũng được đa dạng hoá, nhu cầu sử dụng các dịch
vụ từ phía CTCK cũng tăng lên; các doanh nghiệp cũng có nhu cầu phát hành chứng khoán và tư vấn về tài chính… và đây chính là điều kiện tốt để các CTCK không ngừng phát triển, mở rộng phạm vi hoạt động của mình
Sự phát triển của TTCK không chỉ dừng lại trong phạm vi quốc gia mà nó sẽ vươn ra thế giới Lúc đó, các CTCK không chỉ còn hoạt động trong nước mà cũng sẽ
Trang 38hoặc liên doanh liên kết với CTCK nước ngoài Như vậy, các hoạt động nghiệp vụ của CTCK càng có cơ hội phát triển
TTCK có ảnh hưởng đến chuyên môn, sản phẩm, dịch vụ và khả năng thu lợi nhuận của CTCK TTCK càng phát triển thì càng có khả năng tạo thêm các công vụ tài chính và đa dạng hóa dịch vụ, qua đó, các CTCK có thêm các cơ hội thu lợi nhuận và ngược lại, khi TTCK kém phát triển thì các CTCK không có điều kiện tạo thêm sản phẩm, dịch vụ dẫn đến khả năng thu lợi nhuận bị hạn chế
Môi trường công nghệ
Sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, đặc biệt là CNTT đã tạo điều kiện cho TTCK phát triển nói chung và CTCK nói riêng trong việc nâng cao hiệu quả trong quản lý và kinh doanh Nhờ có CNTT mà CTCK có thể cung cấp dịch vụ từ
xa cho khách hàng với độ chính xác và an toàn cao, tiết kiệm chi phí quản lý, chi phí hoạt động kinh doanh chứng khoán, từ đó giảm chi phí cung cấp dịch vụ cho khách hàng, gia tăng hiệu quả hoạt động và nâng cao khả năng cạnh tranh của CTCK Tuy nhiên, nhân tố này cũng đòi hỏi các CTCK phải chủ động nắm bắt được xu thế mới trong ngành chứng khoán do những thay đổi của khoa học công nghệ mang lại
Môi trường đặc thù
Khác với các loại môi trường có tính chất tổng quát đã trình bày ở trên, môi trường đặc thù bao gồm các yếu tố tác động đến hoạt động kinh doanh của CTCK một cách trực tiếp và rõ ràng hơn Hơn nữa, CTCK có thể tác động hoặc kiểm soát các yếu tố này ở một mức độ nhất định Thuộc về môi trường đặc thù có các yếu tố như: khách hàng, các đối thủ cạnh tranh, cơ chế kiểm tra giám sát của cơ quan Nhà nước đối với CTCK
• Tác nhân từ phía khách hàng: Khách hàng là yếu tố quyết định đối với đầu
ra sản phẩm, dịch vụ của CTCK Thông thường, khách hàng sẽ chi phối hoạt động, nhưng cũng có trường hợp khách hàng lại bị lệ thuộc vào khả năng cung cấp sản phẩm, dịch vụ của công ty Nếu khả năng cung dịch vụ của CTCK cao hơn cầu của khách hàng sử dụng dịch vụ, thì nảy sinh cạnh tranh giữa các CTCK giành khách hàng, dẫn đến trường hợp khách hàng sẽ chi phối hoạt động của CTCK Khách hàng của CTCK
có thể là nhà phát hành, nhà đầu tư; có thể là khách hàng hiện tại nhưng cũng có thể là
Trang 39• Tác nhân từ CTCK khác: sự cạnh tranh giữa các CTCK cũng là nhân tố
ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của CTCK Để có được các lợi thế trong cạnh tranh về giá cả, chất lượng dịch vụ, các CTCK phải quan tâm đầu tư cho nghiên cứu thị trường, đổi mới thiết bị, nâng cao trình độ của nhân viên…, từ đây làm ảnh hưởng đến chi phí kinh doanh và lợi nhuận của CTCK
• Trong cơ chế thị trường, các công ty nói chung được quyền chủ động trong kinh doanh Tuy nhiên, sự hoạt động của CTCK luôn phải chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước như UBCKNN, Sở/TTGD CK, thuế, thanh tra, là những đối tượng chi phối mạnh mẽ đến hoạt động và hiệu quả hoạt động của CTCK
1.2.4.2 Nhân tố chủ quan
Loại hình sở hữu
Hình thức sở hữu của CTCK có thể là công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh hay công ty cổ phần Các loại hình sở hữu này sẽ tác động tới hoạt động của CTCK khi CTCK muốn phát triển, mở rộng hoạt động của mình thông qua việc huy động vốn Trong quá trình kinh doanh các CTCK đều muốn mở rộng quy mô, phát triển các hoạt động nhằm thích ứng với sự phát triển của thị trường Tuy nhiên, sự phát triển này lại phụ thuộc một phần vào qui mô vốn của công ty CTCK có thể tăng thêm vốn để đáp ứng yêu cầu đó nhưng việc tăng thêm vốn này lại bị ảnh hưởng bởi hình thức sở hữu của công ty vì với các hình thức sở hữu khác nhau thì khả năng huy động vốn khác nhau Do
đó, điều này sẽ tác động trực tiếp tới việc phát triển thêm các hoạt động khi CTCK tồn tại với hình thức sở hữu mà bị hạn chế trong việc tăng thêm vốn
Tiềm lực tài chính
Tiềm lực tài chính là thước đo sức mạnh của một công ty và được thể hiện qua các chỉ tiêu về quy mô vốn, tài sản, tính thanh khoản của tài sản và chất lượng các khoản đầu tư
Một trong những điều kiện để được cấp phép hoạt động, CTCK phải có vốn điều
lệ thực góp tối thiểu bằng mức vốn pháp định theo quy định của Chính phủ (Điều 18 NĐ 14.)
• Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Việt Nam;
Trang 40• Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng Việt Nam;
• Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Việt Nam
Trường hợp tổ chức đề nghị cấp giấy phép cho nhiều nghiệp vụ kinh doanh, vốn pháp định là tổng số vốn pháp định tương ứng với từng nghiệp vụ xin cấp phép
Ngoài ra, pháp luật hiện hành quy định CTCK phải chấp hành các quy định về
an toàn tài chính (QĐ 27.)
• CTCK phải duy trì tỷ lệ vốn khả dụng trên tổng vốn nợ điều chỉnh tối thiểu bằng 5%;
• Vốn chủ sở hữu ảnh hưởng đến hạn mức vay của CTCK;
• CTCK được mua, đầu tư vào tài sản cố định của mình theo nguyên tắc giá trị còn lại của tài sản cố định không được vượt quá 50% vốn điều lệ của công ty chứng khoán
• Hạn mức đầu tư vào CTCK khác, vào công ty niêm yết, tổ chức không niêm yết,
công ty trách nhiệm hoặc tổ chức khác
Vốn chủ sở hữu có vai trò như tấm chắn hấp thụ những khoản lỗ phát sinh không thể dự tính trước được trong bối cảnh kinh doanh khó khăn, đồng thời nó còn
là đòn bẩy tài chính trong điều kiện kinh doanh thuận lợi Vốn chủ sở hữu c àng lớn
sẽ tạo điều kiện cho CTCK áp dụng những chiến lược kinh doanh có mức độ mạo hiểm cao nhằm thu được lợi nhuận kỳ vọng cao hơn, trong khi đó, nếu vốn chủ sở hữu thấp sẽ giảm đi đáng kể tính năng động của CTCK Vốn chủ sở hữu càng lớn sẽ giúp cho CTCK có điều kiện trang bị thêm những tài sản cố định như máy móc thiết bị, công nghệ quản lý hiện đại Ngoài ra, nếu vốn chủ sở hữu càng lớn thì CTCK càng có ưu thế trong đàm phán những khoản bảo lãnh hay các hợp đồng lớn
Chính vì những lý do nêu trên, tiềm lực tài chính là tiền đề để CTCK có thể đi vào hoạt động an toàn và lành mạnh, vừa là đòn bẩy để CTCK mở rộng quy mô hoạt động, tận dụng lợi thế chi phí theo quy mô và/hoặc đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, đầu tư để giảm rủi ro trong hoạt động của mình
Thương hiệu và uy tín hoạt động
Uy tín hoạt động của một CTCK trên thị trường được thể hiện ở sự ổn định khách hàng, sự gia tăng thị phần và doanh thu từ các hoạt động Uy tín hoạt động là sự đánh giá của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ của công ty nhưng nó lại được hình thành bởi nhiều yếu tố khác nhau từ bên trong công ty như: năng lực và uy tín của ban lãnh đạo, kinh nghiệm hoạt động, khả năng tài chính, chất lượng sản phẩm dịch vụ, trình độ chuyên môn, đạo đức của nhân viên… Uy tín của một CTCK là tài sản vô hình mang lại lợi thế hoạt