1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BDTX năm 2015 2016

19 143 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 518,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với những Học sinh cá biệt luôn luôn có tính hiếu động, thích tìm tòi và luôn gây sự chú ý cho người khác ở bất kỳ nơi nào, thời điểm nào.Trước hết chúng ta nên nói đến tính cách của trẻ là sự kết hợp độc đáo giữa đặc điểm tâm sinh lý của trẻ với điều kiện hoàn cảnh sống nhất định.Biểu hiện của trẻ là nhanh nhẹn, hoạt bát cùng với sự nghịch ngợm, bất ổn định kèm theo , bên cạnh đó học tập có thể là học yếu hoặc trung bình, vì các em đó trong lớp ít chú ý hoặc thậm chí không chú ý khi cô giáo giảng bài, luôn quậy phá các bạn ngồi bên cạnh, gây mất trật tự trong lớp.

Trang 1

MÔ ĐUN 3 ĐẶC ĐIỂM TÂM LÍ CỦA HS YẾU KÉM CÁ BIỆT, HS GIỎI VÀ HS

NĂNG KHIẾU 1/ Đặc điểm của Học sinh cá biệt :

Đối với những Học sinh cá biệt luôn luôn có tính hiếu động, thích tìm tòi và luôn gây sự chú ý cho người khác ở bất kỳ nơi nào, thời điểm nào

Trước hết chúng ta nên nói đến tính cách của trẻ là sự kết hợp độc đáo giữa đặc điểm tâm sinh lý của trẻ với điều kiện hoàn cảnh sống nhất định

Biểu hiện của trẻ là nhanh nhẹn , hoạt bát cùng với sự nghịch ngợm, bất ổn định kèm theo , bên cạnh đó học tập có thể là học yếu hoặc trung bình, vì các em

đó trong lớp ít chú ý hoặc thậm chí không chú ý khi cô giáo giảng bài, luôn quậy phá các bạn ngồi bên cạnh, gây mất trật tự trong lớp

Biểu hiện về mặt thái độ của trẻ với chung quanh và bản thân, những đứa trẻ hiếu động này thuộc kiểu thần kinh mạnh, cân bằng và linh hoạt Biểu hiện của trẻ

là ham hoạt động, ham hiểu biết, linh hoạt, thường vui vẻ, vô tư , cảm xúc của trẻ bất ổn định, rung cảm nhưng không sâu , nhanh nhớ, mau quên Biểu hiện rõ nét nhất của đặc tính này là bất cứ điều gì hấp dẫn , thích thú vừa sức thì các em sẽ làm ngay, tập trung chú ý rất tích cực, càng trong học tập thì đòi hỏi phải kiên trì, chịu khó động não để làm bài, chiếm lĩnh kiến thức thì các em đâm ra chán nản, ít chú ý hoặc không chú ý nên kết quả học tập thấp

* Biện pháp thực hiện :

Đối với những trẻ nghịch ngợm, hay nói chuyện riêng, sau mỗi lần giảng bài xong, hoặc các em đã làm xong bài tập, các em không biết làm gì nên hay trêu chọc các bạn gây mất trật tự trong lớp Cô giáo nói không nghe, theo tôi cần giáo dục các

em như sau :

+ Thường xuyên quan tâm sâu sát hoạt động của các em

+ Thường xuyên nhắc nhở động viên kịp thời

+ Khích lệ khi em có tinh thần tập thể và lòng vị tha

+ Không nên phê bình , trách phạt

+ Không nên sĩ nhục , xúc phạm đến các em

+ Tránh hình thức áp đặc doạ dẫm , buột các em phải làm theo … vì điều đó

sẽ không đem lại kết quả gì

+ đặc biệt Giáo viên không nên để các em có thời gian rỗi

+ Kết hợp giữa ba môi trường Giáo dục Gia đình – Nhà trường và Xã hội

2 Tâm lý học sinh yếu – kém:

Có 3 nguyên nhân chính dẫn đến yếu – kém trong học tập ở học sinh tiểu học + Do hoàn cảnh gia đình

+ Do mất căn bản

+ Chưa nhận thức được nhiệm vụ học tập hay nói thông thường là học sinh lười học, không chăm chỉ chuyên cần

Trang 2

* Các biện pháp khắc phục - giúp đỡ học sinh yếu kém:

a Xây dựng động cơ học tập cho học sinh yếu chính là xác định học sinh hiểu học

để làm gì? Vì sao phải học?

b Người ta phân chia động cơ học tập của học sinh ra thành nhiều loại như sau: + Động cơ mang tính xã hội: học để sau này góp phần xây dựng đất nước,xây dựng quê hương

+ Động cơ mang tính cá nhân: học vì lợi ích riêng của mình ,muốn hơn người, muốn sau này có vị trí cao trong xã hội…

+ Động cơ bên trong:xuất phát từ chính việc học, nghĩa là học để nắm được kiến thức, vận dụng nó vào thực tế một cách khoa học

+ Động cơ bên ngoài: Học vì muốn có điểm tốt ,muốn thầy cô và cha mẹ vui lòng…

Có động cơ học tập đúng đắn nghĩa là động cơ xuất phát từ chính việc học,học sinh học tập để có kết quả tốt Do vậy sẽ tạo cho học sinh yêu thích việc học,có hứng thú trong học tập.Động cơ tạo nên động lực học đó chính là thành tố quan trọng trong cấu trúc hoạt động học tập của học sinh

* Đối với học sinh yếu do hoàn cảnh gia đình

- Hợp tác giữa giáo viên và phụ huynh là điều cần thiết để học sinh học tập và rèn luyện.Qua đó,giáo viên sẽ thông tin kịp thời đến phụ huynh về kết quả học tập,hạnh kiểm,các mặt tham gia hoạt động …của con em mình thông qua sổ liên lạc…Giáo viên và phụ huynh cần phải có sự liên kết hai chiều nhằm có biện pháp tác động phù hợp.Động viên khuyến khích khi các em tiến bộ,nhắc nhở kịp thời khi các em

có biểu hiện cần uốn nắn

- Giáo viên chỉ mời phụ huynh khi cần thiết để bàn bạc biện pháp giáo dục các em (không nên lạm dụng)

- Giáo viên tạo điều kiện tốt nhất về thời gian để học sinh có thể hoàn thành bài học ngay lại lớp

* Đối với học sinh yếu do mất căn bản:

- Phân hóa đối tượng học sinh

- Quan sát và theo dõi từng hoạt động của các em,bằng nhiều hình thức tổ chức (thi đua cá nhân,thi đua tổ nhóm,đố vui,giải trí,…) Kết hợp kiểm tra thường xuyên việc học của các em mỗi ngày nhằm rèn thói quen học bài và làm bài, kích thích hoạt động trí tuệ cho các em

- Động viên, khích lệ, tuyên dương kịp thời với tác dụng :

• Xác nhận sự tiến bộ ở học sinh

• Kích thích sự say mê,hứng thú học tập của học sinh

• Thúc đẩy hành động theo chuẩn mực

• Giúp học sinh tự tin là mình học được,mình có thể giỏi như các bạn…

• Sửa chữa hành vi sai lệch của học sinh

• Kèm chế sự bộc phát,tập thói quen chu đáo và cẩn thận

• Ngược lại nếu lạm dụng trách phạt sẽ hạn chế sự độc lập, sáng tạo của học sinh

Ta thấy rằng, con người luôn luôn có hai nhu cầu đối lập nhau là tự khẳng định

Trang 3

mình và đồng nhất mình với người khác Do vậy, trong giảng dạy giáo viên cần nắm vững đều này để kích thích học sinh hứng thú say mê học tập

* Học sinh yếu do lười, học không chăm chỉ ,không chuyên cần hoặc chưa nhận thức được nhiệm vụ học tập :

Những học sinh rơi vào tình trạng trên là do : không học bài , không làm bài , thường xuyên để quen tập ở nhà, vừa học vừa chơi , không tập chung , …Để các

em có hứng thú học tập , giáo viên phải nắm vững và phối hợp nhịp nhàng các phương pháp dạy học,thay đổi bằng hình thức trò chơi, sử dụng phong phú đồ dung học tập … Giúp các em hiểu bài, tự bản thân mình giải quyết các bài tập cô giao Ngoài ra , giáo viên động viên các bạn trong tổ nhắc nhở và giúp đỡ lẫn nhau mỗi khi các em vấp phải những lỗi trên Chúng ta phải hiểu , một học sinh yếu – kém không đòi hỏi các em phải giỏi ngay được Mà điều , chúng ta mong muốn là sự tiến bộ từng bước ở các em so với thời gian trước Phương pháp này không dùng để giáo dục học sinh yếu – kém do hoàn cảnh gia đình được

Ngoài ra ,giáo viên cần phải trao đổi trực tiếp đến từng đối tượng học sinh bằng lời nói , cử chỉ , mệnh lệnh thật thuyết phục đến các em

Chính những tác động trực tiếp thường tạo ra dấu ấn tức thì về sự chuyển biến tâm

lí như thái độ, hành vi ,tình cảm…học sinh sẽ dần tiến bộ

3 Tâm lý của học sinh khá giỏi, học sinh năng khiếu:

Năng khiếu : Là mầm mống của tài năng , tương lai Nếu được phát hiện bồi

dưỡng kịp thời có phương pháp và hệ thống thì năng khiếu được phát triển và đạt tới đỉnh cao của năng lực, ngược lại thì năng khiếu sẽ bị thui chột

Người có năng lực năng khiếu thì thị giác thính giác xúc giác vị giác khứu giác có những cảm giác tri giác đặc biệt ( ngoại cảm )

Cảm giác , tri giác, ghi nhớ tưởng tượng và tư duy có chất lượng cao sẽ quyết định năng khiếu và tài năng của mỗi con người

Năng lực là : Con người vốn có tiềm năng nội lực hoặc ở mặt này , mặt khác kể cả

những người có khuyết tật Cần có điều kiện thích ứng để năng lực được bộc lộ và hoàn thiện Cho nên năng lực là những đặc điểm tâm lý cá biệt ở mỗi người tạo thành chiều sâu cường độ lĩnh hội tri thức , hình thành kỹ năng kỹ xảo để đáp ứng

yêu cầu và hoàn thành xuất sắc một hoạt động nhất định

Vậy Năng lực vừa là trí ( Trí khôn , thông minh ) là tâm đức thống nhất trong một cấu trúc thích ứng

Gần đây theo điều tra về chỉ số trí tuệ của người Việt nam người ta thấy có từ 2- 5

% là những người xuất sắc, Khoảng 25- 30 % là khá, Khoảng 25- 30% trung bình yếu , 2- 5 % yếu Số còn lại là Trung bình

Về học sinh : 3- 5 % là học sinh giỏi ( Trong 20 vạn học sinh )

Vì thế việc phát hiện bồi dưỡng sử dụng các năng khiếu và tài năng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nhà trường và xã hội

c H ọc sinh giỏi:

“HSG là học sinh chứng minh được trí tuệ ở trình độ cao/và có khả năng sáng

tạo, thể hiện một động cơ học tập mãnh liệt/và đạt xuất sắc trong lĩnh vực lý

Trang 4

thuyết/khoa học; người cần một sự giáo dục đặc biệt/ và sự phục vụ đặc biệt để đạt được trình độ tương ứng với năng lực của người đó” Đó là những học sinh có khả năng thể hiện xuất sắc hoặc năng lực nổi trội trong các lĩnh vực trí tuệ, sự sáng tạo, khả năng lãnh đạo, nghệ thuật, hoặc các lĩnh vực lí thuyết chuyên biệt Những HS này thể hiện tài năng đặc biệt của mình từ tất cả các bình diện xã hội, văn hóa và kinh tế” HSG là những đứa trẻ có năng lực trong các lĩnh vực trí tuệ, sáng tạo, nghệ thuật và năng lực lãnh đạo hoặc lĩnh vực lí thuyết Những học sinh này cần có

sự phục vụ và những hoạt động không theo những điều kiện thông thường của nhà trường nhằm phát triển đầy đủ các năng lực vừa nêu trên

* Biện pháp với HS khá giỏi, năng khiếu

- Rà soát Phát hiện đi đôi với bồi dưỡng GV Theo dõi nắm bắt đối tượng học sinh Phân loại học sinh ngay trong tháng 8 Tập hợp và nắm số liệu học sinh giỏi

- Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi ngay từ đầu năm học

- Việc bồi dưỡng phải được tiến hành thường xuyên trong mỗi bài, mỗi chương

- Với học sinh khá giỏi phải biết khơi dậy trong các em tính ham học, thích tìm tòi, hiểu biết Phải biết nắm chắc kiến thức cơ bản Từ đó mà phát triển nâng dần kiến thức cao hơn

- Giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh khá giỏi cách học, phương pháp học, chú trọng việc tự học, tự bồi dưỡng và ý thức tự giác học tập

- Thường xuyên kiểm tra định kỳ Qua kiểm tra để thấy được học sinh còn hổng chỗ nào để kịp thời có kế hoạch bồi dưỡng phù hợp

- Kết hợp với phụ huynh để nâng cao chất lượng Việc kết hợp giáo dục giữa giáo viên và gia đình là một điều không thể thiếu trong việc nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi

3 Phương pháp bồi dưỡng

- Bồi dưỡng qua dự các lớp tập huấn do Sở Giáo dục; Phòng Giáo dục tổ chức

- Bồi dưỡng thông qua dự các chuyên đề do tổ, trường tổ chức

- Bồi dưỡng thông qua dự các chuyên đề liên trường, cụm trường

- Bồi dưỡng qua việc tự học, tự nghiên cứu các văn bản, chỉ thị, nghị quyết, các tạp chí, tập san, băng đĩa, tài liệu của ngành

- Bồi dưỡng qua việc khai thác thông tin trên mạng…

Trang 5

MÔ ĐUN 9 HƯỚNG DẪN TƯ VẤN CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

Bài thu hoạch: Hãy tìm hiểu nhu cầu và một số khó khăn trong học tập của học

sinh tiểu học?

Bài Làm:

Một số khó khăn trong học tập của học sinh tiểu học:

Do ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế-xã hội ngày càng sâu sắc, đa dạng và phức tạp, đời sống tâm lý học sinh nói chung, học sinh tiểu học nói riêng đang có những biến động to lớn với nhiều biểu hiện đáng lo ngại Các em thường gặp những khúc mắc trong học tập, tâm sinh lí, trong mối quan hệ với thầy cô, gia đình, bạn bè…nếu không được điều chỉnh, giải tỏa kịp thời, thì rất dễ dẫn đến hậu quả đáng tiếc : nhẹ thì chán học, bỏ học; nặng thì trầm cảm, bạo lực học đường,

Trẻ tiểu học có tâm hồn đa cảm, rất dễ xúc động, do đó, bất cứ hành động thô bạo nào đối với chính bản thân các em sẽ để lại trong tâm trí các em những ấn tượng sấu rất khó xóa mờ Mặt khác, bên cạnh sự đa cảm, các em vẫn còn thiên nhiều về giác quan, rất vui thích khi được thưởng cụ thể bằng vật chất hơn là khen ngợi tuyên dương suông

Năng lượng ở độ tuổi đang tăng trưởng nơi các em luôn dồi dào, khiến các em hoạt động không ngời Trong khi người lớn đang bận việc, rất ghét sự ồn ào náo động, lại cho rằng các em đang chơi những trò quá hiếu động, có hại về sức khỏe và tâm

lý, nên thường ngăn cấm các em mà không biết rằng điều này đã đẩy các em sớm rơi vào tình trạng dồn nén, có thể tạo ra những tình cảm rối loạn, có thể dẫn đến stress

Về sinh hoạt học tập, các em cũng rất dễ hào hứng để cho cuốn theo các ý tưởng, các kiến thức lý thú mới lạ, để không ngừng đặt ra các câu hỏi tò mò thắc mắc Ở điểm này, đôi khi cha mẹ và thầy cô giáo không đủ bình tĩnh và kiên nhẫn trả lời đầy đủ các câu hỏi của các em, thậm chí bực mình và khó chịu Điều này có thể dẫn các em đến sự thu mình, sợ hãi khi đối mặt với người lớn trong những tình huống khó khăn

** Những nhân tố liên quan đến việc ảnh hưởng tâm lý của học sinh tiểu học

- Áp lực trong học tập ở học sinh

- Phương pháp sư phạm của giáo viên

- Môi trường sư phạm nhà trường

- Phương pháp giáo dục và môi trường gia đình

- Sự phát triển với tốc độ nhanh và đầy biến động của nền kinh tế - xã hội, các yêu cầu ngày càng cao của nhà trường và cả những điều bất cập trong thực tiễn giáo dục; thêm vào đó là sự kỳ vọng quá cao của cha mẹ, thầy cô đang tạo ra những áp lực rất lớn và gây căng thẳng cho HS trong cuộc sống, trong học tập và trong quá trình phát triển Mặt khác, sự hiểu biết của HS về bản thân mình cũng như kỹ năng

Trang 6

sống của các em vẫn còn hạn chế trước những sức ép nói trên Thực tế cho thấy HS tiểu học có thể có những rối loạn về phát triển tâm lý, rối loạn phát triển các kỹ năng nhà trường (như đọc, viết, tính toán…), những rối loạn về cảm xúc như lo âu, trầm cảm hay những rối loạn về hành vi (như vô kỷ luật, bỏ học, trốn học, trộm cắp, hung bạo…) Hậu quả là ngày càng có nhiều HS tiểu học gặp không ít khó khăn trong học tập, tu dưỡng đạo đức, xây dựng lý tưởng sống cho mình cũng như xác định cách thức ứng xử cho phù hợp trong các mối quan hệ xung quanh.Vì vậy, những HS này rất cần được sự trợ giúp của các nhà chuyên môn, của thầy cô giáo

và cha mẹ

* Nhu cầu trong học tập của học sinh Tiểu học

Đứng trước thực trạng trên cho thấy rất cần có những hoạt động trợ giúp tâm lý học đường cho HS Việc xây dựng các hoạt động trợ giúp tâm lý cho HS trong nhà trường sẽ giúp cho giáo viên và HS hiểu biết rõ hơn về những vấn đề liên quan tới

sự hình thành và phát triển nhân cách của các em để giúp đỡ và hướng cho các em phát triển một cách đúng đắn, lành mạnh, hiểu về bản thân và người khác tốt hơn Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta, các hoạt động trợ giúp tâm lý trong trường học còn chưa được thực hiện một cách phổ biến

Tuy nhiên, để cho việc tư vấn học đường trở thành một hoạt động phổ biến trong trường học thì đòi hỏi phải có thời gian và sự nỗ lực lớn của không chỉ các giáo viên làm nhiệm vụ tư vấn mà còn của toàn xã hội, việc đánh giá (phòng ngừa) nhằm phát hiện những học sinh có thể có khó khăn về nhận thức, cảm xúc, xã hội, hay hành vi; phát triển và thực hiện các chương trình can thiệp tâm lý học cho học sinh thì có thể thực hiện các phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp phỏng vấn sâu

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- phương pháp thu thập thông tin

- Phương pháp xử lý thông tin: Phương pháp thống kê toán học

Các giải pháp thực hiện:

1 Tổ chức hoạt động tham vấn tâm lý, nhằm lắng nghe, khơi dậy nội lực, giúp học sinh tiểu học tự phát triển thể chất tinh thần, tránh những sự phát triển lệch lạc không đáng có

2 Cung cấp một số kiến thức cũng như tổ chức các lớp rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh

3.Tăng cường tổ chức các hoạt động sinh hoạt tập thể, hoạt động vì cộng đồng, hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao cho các em

4 Cần rèn cho học sinh khả năng thích ứng học tập và rèn luyện bản lĩnh học tập

Trang 7

5 Cần rèn kỹ năng giao tiếp, hợp tác, lắng nghe, biết trình bày… cho học sinh

6 Cung cấp các kiến thức, kỹ năng bảo vệ sức khỏe, ……,cho học sinh

7 Cần có hoạt động bảo vệ, tạo điều kiện hòa nhập cho những trẻ có hoàn cảnh khó khăn, hoàn cảnh đặc biệt

8 Không chỉ tư vấn cho học sinh mà còn tư vấn các vấn đề phát triển của trẻ

em với những lực lượng giáo dục, lực lượng xã hội có liên quan trong vấn đề giáo dục, bảo vệ trẻ em

- Đối với học sinh: những học sinh đang có khó khăn tâm lý, đặc biệt là những học sinh “thường xuyên lo lắng và bất an” nên nỗ lực tìm cách vượt qua hoặc tìm kiếm dịch vụtrợ giúp phù hợp để tránh những tác động tiêu cực do khó khăn tâm lý gây

ra Ý thức được sự cần thiết của việc trau dồi các kiến thức tâm lý học và các kiến thức xã hội khác để hiểu được tâm lý của bản thân và tự nhận ra vấn đề/ khó khăn của mình Học sinh nên chuẩn bị tâm thế trước mọi hoàn cảnh, sẵn sàng đón nhận thử thách, khó khăn trong cuộc sống, học tập và nỗ lực tìm cách khắc phục chúng

- Về phía giáo viên: nên quan tâm, tìm cách trợ giúp cho nhóm học sinh đang

“thường xuyên lo lắng và bất an” , đồng thời cũng nên tìm giải pháp hỗ trợ cho những học sinh “thỉnh thoảng” Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý học sinh mình đang giảng dạy, trên cơ sở đó lựa chọn phương pháp, hình thức dạy học phù hợp Gần gũi học sinh hơn nữa, không chỉ thông qua giao lưu trong tiết học mà nên chủ động trò chuyện, quan tâm tới học sinh để xóa đi khoảng cách giữa người học và người dạy; để thấu hiểu học sinh; biết được nhu cầu và nguyện vọng của học sinh; tránh gây áp lực không cần thiết lên học sinh Tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của học sinh;

để hỗ trợ học sinh phòng ngừa, phát hiện sớm những khó khăn tâm lý và trợ giúp kịp thời

- Về phía nhà trường: tạo điều kiện hỗ trợ các học sinh đang có khó khăn tâm lý hiện nay Thành lập phòng tư vấn tâm lý học đường trong trường học Quan tâm đầu tư cả nguồn nhân lực (chất xám) và tài chính cho việc đào tạo chuyên sâu đội ngũ giáo viên tư vấn tâm lý học đường không chỉ giúp học sinh giải quyết những khó khăn tâm lý gặp phải mà họ còn giúp phòng ngừa những khó khăn có thể xảy ra; đặc biệt là phát hiện và can thiệp sớm những khó khăn tâm lý mới xuất hiện Nhà trường và cả phụ huynh học sinh trong việc chăm sóc cho các em có đời sống tâm trí khỏe

Trang 8

MÔ ĐUM 16 MỘT SỐ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC Ở TIỂU HỌC

1 Thế nào là KTDH và KTDH tích cực

Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của GV và HS trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học Sự phân biệt giữa KTDH và PPDH nhiều khi không rõ rang Có thể hiểu rằng: Khi sử dụng PPDH ta cần phải có các kĩ thuật dạy học Ví dụ: Khi sử dụng PP đàm thoại GV phải có kĩ thuật đặt câu hỏi…

KTDH tích cực là thuật ngữ dùng để chỉ các kĩ thuật dạy học có tác dụng phát huy tính tích cực học tập của HS VD: Kĩ thuật khăn trải bàn; KT mảnh ghép; KT hỏi

và trả lời; KT động não…

2 Tìm hiểu một số KTDH tích cực

2.1 Kĩ thuật đặt câu hỏi:

* Người GV đặt câu hỏi khi nào? Mục đích đặt câu hỏi là gì?

Trong qua trình DH, GV đặt câu hỏi khi sử dụng PP vắn đáp, phương pháp thảo luận Mục đíc của việc đặt câu hỏi rất khác nhau: có lúc để kiểm tra việc nắm kiến thức, KN của HS ; có lúc để hướng dẫn tìm tòi, khám phá tri thức; có lúc để giúp các em cũng cố, hệ thống kiến thức đã học

* Đặt câu Hỏi phụ thuộc vào yếu tố nào?

Chủ yếu vào chất lượng câu hỏi và cách ứng xử của giáo viên khi hỏi HS

* KT đặt câu hỏi theo các cấp độ nhận thức như thế nào?

Biết; hiểu; vận dụng; phân tích; tổng hợp; đánh giá

Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa HS – GV và HS –

HS Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham gia của HS càng nhiều; HS sẽ học tập tích cực hơn Trong dạy học theo PP cùng tham gia, GV thường phải sử dụng câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt HS tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kĩ năng mới Để đánh giá kết quả học tập của HS, HS cũng phải sử dụng câu hỏi để hỏi lại, hỏi thêm GV và các HS khác về những nội dung bài học chưa sáng tỏ

*Khi đặt câu hỏi cần đảm bảo các yêu cầu sau: 1.Câu hỏi phải liên quan đến việc thực hiện mục tiêu bài học; 2.Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu; 3.Đúng lúc, đúng chỗ; 4.Phù hợp với trình độ HS; 5.Kích thích suy nghĩ của HS; 6.Phù hợp với thời gian thực tế; 7.Sắp xếp theo trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp; 8.Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi móc xích; 9.Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc

* Khi nêu câu hỏi cho HS cần chú ý: 1.Đưa ra câu hỏi với một thái độ khuyến khích, với giọng nói ôn tồn, nhẹ nhàng 2.Thu hút sự chú ý của HS trước khi nêu câu hỏi 3.Chú ý phân bố hợp lí số HS được chỉ định trả lời 4.Chú ý khuyến khích những HS rụt rè, chậm chạp 5.Sử dụng câu hỏi mở và câu hỏi đóng phù hợp với từng trường hợp 6.Khi kiểm tra sử dụng câu hỏi đóng; 7 Khi cần mở rộng ý ta

Trang 9

dùng câu hỏi mở Ví dụ: Em có nhận xét gì về bức tranh Thiếu nữ bên hoa huệ? 8.Không nên nêu những câu hỏi quá đơn giản Ví dụ : Đối với HS lớp 4, 5 mà GV nêu: Các em xem có mấy hình vẽ? Hoặc hỏi HS: Hiểu chưa?

2.2 Kĩ thuật dạy học theo góc

Học theo góc là một hình thức tổ chức hoạt động học tập theo đó người học thực hiện các nhiệm vụ khác nhau tại vị trí cụ thể trong không gian lớp học, đáp ứng nhiều phong cách học khác nhau Học theo góc người học được lựa chọn họat động

và phong cách học: Cơ hội “Khám phá”, „Thực hành”; Cơ hội mở rộng, phát triển, sáng tạo; Cơ hội đọc hiểu các nhiệm vụ và hướng dẫn bằng văn bản của người dạy;

Cơ hội cá nhân tự áp dụng và trải nghiệm

+ Do vậy, học theo góc kích thích người học tích cực thông qua hoạt động; Mở rộng sự tham gia, nâng cao hứng thú và cảm giác thoải mái, đảm bảo học sâu, hiệu quả bền vững, tương tác mang tính cá nhân cao giữa thầy và trò, tránh tình trạng người học phải chờ đợi Ví dụ: Với chủ đề môi trường hoặc giao thông có thể tổ chức các góc: Viết; Đọc; Vẽ tranh: Xem băng hình; Thảo luận về nội dung chủ đề

*Áp dụng: Tổ chức học theo góc trong tiết ôn tập về toán Góc HS giỏi; Góc HS còn yếu; Góc HS trung bình đến khá

2.3 Kĩ thuật “Khăn trải bàn”

a Thế nào là kĩ thuật “khăn trải bàn”? Là hình thức tổ chức hoạt động mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm: 1- Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực; 2- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của

cá nhân HS; 3- Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS

b Cách tiến hành kĩ thuật “Khăn trải bàn”

- Hoạt động theo nhóm (4 người /nhóm)(có thể nhiều người hơn)

- Mỗi người ngồi vào vị trí như hình vẽ minh họa (xem sơ đồ ở file đính kèm)

- Tập trung vào câu hỏi (hoặc chủ đề,…)

- Viết vào ô mang số của bạn câu trả lời hoặc ý kiến của bạn (về chủ đề ) Mỗi

cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút

- Kết thúc thời gian làm việc cá nhân, các thành viên chia sẻ, thảo luận và thống nhất các câu trả lời

- Viết những ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn (giấy A0) Cách tổ chức: Kĩ thuật khăn trải bàn:

- Chia giấy A0 thành phần chính giữa và phần xung quanh Chia phần xung quanh thành các phần theo số thành viên của nhóm

- Cá nhân trả lời câu hỏi và viết trên phần xung quanh

- Thảo luận nhóm, thống nhất ý kiến và viết vào phần chính giữa

- Treo SP, trình bày

2.4 Kĩ thuật “Các mảnh ghép”

Thế nào là kĩ thuật “Các mảnh ghép” là hình thức học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm:

+ Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp

+ Kích thích sự tham gia tích cực của HS:

Trang 10

Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ hoàn thành nhiệm

vụ ở Vòng 1 mà còn phải truyền đạt lại kết quả vòng 1 và hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 2)

Cách tiến hành kĩ thuật “Các mảnh ghép”

VÒNG 1 Hoạt động theo nhóm 3 người Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ (Ví

dụ : nhóm 1 : nhiệm vụ A; nhóm 2: nhiệm vụ B, nhóm 3: nhiệm vụ C) Đảm bảo mỗi thành viên trong nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao Mỗi thành viên đều trình bày được kết quả câu trả lời của nhóm

VÒNG 2: Hình thành nhóm 3 người mới (1người từ nhóm 1, 1 người từ nhóm 2

và 1 người từ nhóm 3)

Các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên nhóm mới chia sẻ đầy

đủ với nhau

Nhiệm vụ mới sẽ được giao cho nhóm vừa thành lập để giải quyết

Lời giải được ghi rõ trên bảng

Ví dụ Chủ đề: Câu tiếng Việt: * Vòng 1:

Nhiệm vụ 1: Thế nào là câu đơn? Nêu và phân tích VD minh họa

Nhiệm vụ 2: Thế nào là câu ghép? Nêu và phân tích VD minh họa

Nhiệm vụ 3: Thế nào là câu phức? Nêu và phân tích VD minh họa

* Vòng 2: Câu đơn, câu phức và câu ghép khác nhau ở điểm nào? Phân tích VD minh hoạ

2.5 Kĩ thuật sơ đồ tư duy

Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy Đây là cách dễ nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não; là phương tiện ghi chép sáng tạo, hiệu quả nhằm sắp xếp ý nghĩa

- Mục tiêu là giúp phát triển tư duy logic, khả năng phân tích tổng hợp; HS hiểu bài nhớ lâu

- Tác dụng là giúp HS hệ thống hóa kiến thức tìm ra mối liên hệ giữa các kiến thức; hiểu bài nhớ lâu, phát triển tư duy logic; mang lại hiệu quả dạy học cao

- Cách lập sơ đồ tư duy

+ Ở vị trí trung tâm sơ đồ là một hình ảnh hay một cụm từ thể hiện một ý tưởng khái niệm/nội dung/chủ đề

+ Từ ý tưởng hình ảnh sẽ phát triển các nhánh chính, nối các cụm từ, hình ảnh cấp một

+ Từ các nhánh tiếp tục các ý tưởng /khái niệm liên quan được kết nối

- Yêu cầu sư phạm:

Hướng dẫn HS tìm ra ý tưởng Khi lập sơ đồ tư duy cần lưu ý: Các nhánh chính được tô đậm, các nhánh cấp 2,3 vẽ bằng các nét mảnh dần; từ cụm từ hình ảnh trung tâm tỏa đi các nhánh nên sử dụng màu sắc khác nhau, màu sắc nhánh chính cần duy trì đến các nhóm phụ

Dùng các đường cong thay cho các đường thẳng; bố trí các thông tin đều theo hình ảnh/cụm từ

2.6 Kĩ thuật hỏi và trả lời

Ngày đăng: 31/03/2016, 20:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 6 : Bộ nhớ RAM - BDTX năm 2015   2016
Hình 6 Bộ nhớ RAM (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w