Cùng với thời gian, thương mại quốc tế ngày càng phát triển. Trước kia các thương nhân phải tự mình mang hàng hoá từ nơi này sang nơi khác, mất hàng tháng để thực hiện giao dịch mua bán; lợi nhuận thu được nhiều nhưng rủi ro cũng không ít. Ngày nay, nền kinh tế toàn cầu mở ra cơ hội to lớn hơn bao giờ hết để doanh nghiệp tiếp cận tới các thị trường khắp nơi trên thế giới. Hàng hoá được bán ra ở nhiều nước hơn, với số lượng ngày càng lớn và chủng loại đa dạng hơn. Giao dịch mua bán quốc tế ngày càng nhiều và phức tạp. Chính vì vậy, nếu hợp đồng mua bán hàng hoá không được soạn thảo một cách kỹ lưỡng sẽ có nhiều khả năng dẫn đến sự hiểu nhầm và những vụ tranh chấp làm tốn thất rất nhiều tiền của. Để tạo điệu kiện tốt hơn cho các doanh nghiệp mở rộng tiếp cận thị trường cũng như giảm bớt tổn thất, Incoterms quy tắc chính thức của Phòng Thương Mại Quốc tế về giải thích các điều kiện thương mại, tạo điều kiện cho giao dịch thương mại quốc tế diễn ra một cách trôi chảy. Việc dẫn chiếu đến Incoterms trong một hợp đồng mua bán hàng hoá sẽ phân định rõ ràng nghĩa vụ tương ứng của các bên và làm giảm nguy cơ rắc rối về mặt pháp lý. Kể từ khi Incoterms được Phòng Thương mại Quốc tế soạn thảo năm 1936, nó đã được các doanh nghiệp của nhiều nước thừa nhận và áp dụng vì tính rõ ràng, dễ hiểu phản ánh được các tập quán thương mại phổ biến trong buôn bán quốc tế. Ngoài ra, khi môi trường điều kiện và kinh doanh quốc tế thay đổi thì Incoterms cũng được hoàn thiện và đổi mới theo biểu hiện tính năng động và thực tiễn, chuẩn mực về hợp đồng mang tính toàn cầu này thường xuyên được cập nhật để bắt kịp với nhịp độ phát triển của thương mại quốc tế. Incoterms 1990 ra đời đã có cân nhắc tới sự xuất hiện nhiều khu vực miễn thủ tục hải quan trong thời gian và qua, việc sử dụng thông tin liên lạc điện tử ngày càng thông dụng, về cả những thay đổi về tập quán vận tải. Vì vậy, Incoterms 1990 được sửa đổi đã thể hiện nội dung của 13 điều kiện thương mại một cách đơn giản hơn và rõ ràng hơn. Nhằm làm rõ hơn các đặc điểm giúp ứng dụng Incoterms một cách linh hoạt trong giao dịch thương mại quốc tế nhóm chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu “Các phương thức giao hàng theo Incoterms 1990”.CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ INCOTERMS1.1.Lịch sử hình thành và phát triển Incoterms:Incoterms (viết tắt của International Commerce Terms Các điều khoản thương mại quốc tế) là bộ quy tắc được ICC ( viết tắt của International Chamber of Commerce – Phòng thương mại quốc tế) phát hành để giải thích các điều kiện thương mại quốc tế, quy định những vấn đề liên quan tới các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa đối với việc giao nhận hàng hóa được bán.Bộ Incoterms đầu tiên được ICC ở Paris Pháp ban hành vào năm 1936. Sau khi ra đời Incoterms đã được nhiều nhà doanh nghiệp của nhiều nước thừa nhận và áp dụng vì tính rõ ràng, dễ hiểu, phản ánh được các tập quán thương mại phổ biến trong buôn bán quốc tế. Từ ngày ra đời đến nay, Incoterms đã được sửa đổi và bổ sung 7 lần vào các năm 1953, 1967, 1976, 1980, 1990, 2000 và 2010. Việc sửa đổi lại này là cần thiết để đảm bảo rằng Incoterms phản ánh thực tiễn thương mại hiện nay. Ở văn bản Incoterms ban hành năm 1936 nội dung chỉ gồm 7 điều kiện thương mại, đến Incoterms 1953 gồm 9 điều kiện, Incoterms 1967 gồm 11 điều kiện, Incoterms 1980 gồm 14 điều kiện, và Incoterms 1990 cũng như incoterm 2000 đều có 13 điều kiện thương mại. Và Incoterms 2010 có 11 điều kiện thương mại. Incoterms ra đời lần sau hoàn thiện hơn lần trước, nhưng không phủ định lần trước, nên trong hợp đồng người ta có quyền lựa chọn Incoterm của năm nào tùy theo ý muốn thỏa thuận giữa các bên.1.2. Mục đích và phạm vi áp dụng Incoterms:1.2.1. Mục đích: Cung cấp một bộ qui tắc quốc tế giải thích những điều kiện thương mại thông dụng trong ngoại thương. Incoterms làm rõ sự phân chia trách nhiệm, chi phí và rủi ro trong quá trình chuyển hàng từ người bán đến người mua. Giúp các bên mua bán tránh những vụ tranh chấp và kiện tụng, làm lãng phí thời giờ và tiền bạc.1.2.2. Phạm vi áp dụng:Như ICC đã luôn lưu ý, Incoterms chỉ quy định về quan hệ giữa những người bán và người mua thuộc hợp đồng mua bán hàng, hơn nữa chỉ quy định về một số khía cạnh rất cụ thể mà thôi. Một điều thiết yếu đối với các nhà xuất khẩu và các nhà nhập khẩu là phải xem xét mối liên quan thực tế giữa nhiều hợp đồng khác nhau cần thiết để thực hiện một vụ giao dịch mua bán hàng quốc tế trong đó không chỉ cần có hợp đồng mua bán hàng,mà cả hợp đồng vận tải, bảo hiểm và tài chính – trong khi đó, Incoterms chỉ liên quan duy nhất tới một trong số các hợp đồng này, đó là hợp đồng mua bán hàng.Incoterms quy định một số nghĩa vụ được xác định cụ thể đối với các bên – như nghĩa vụ của người bán phải đặt hàng hoá dưới quyền định đoạt của người mua hoặc chuyển giao hàng cho người chuyên chở hoặc giao hàng tới địa điểm quy định và cùng với các nghĩa vụ là sự phân chia rủi ro giữa các bên trong từng trường hợp.Hơn nữa, các điều kiện của Incoterms quy định nghĩa vụ làm các thủ tục thông quan cho hàng hoá xuất khẩu và nhập khẩu, bao bì đóng gói hàng hoá, nghĩa vụ của người mua về chấp nhận việc giao hàng cũng như nghĩa vụ cung cấp bằng chứng chứng tỏ rằng các nghĩa vụ tương ứng của bên kia đã được thực hiện đầy đủ. Mặc dù Incoterms cực kỳ quan trọng cho việc thực hiện các hợp đồng mua bán hàng, song còn nhiều vấn đề có thể xảy ra trong hợp đồng đó không được Incoterms điều chỉnh, như việc chuyển giao quyền sở hữu và các quyền về tài sản khác, sự vi phạm hợp đồng và các hậu quả của sự vi phạm hợp đồng cũng như những miễn trừ về nghĩa vụ trong những hoàn cảnh nhất định. Cần nhấn mạnh rằng Incoterms không có ý định thay thế các điều khoản và điều kiện cần phải có đối với một hợp đồng mua bán hàng hoàn chỉnh bằng việc đưa vào các điều kiện chuẩn hoặc các điều kiện được thoả thuận riêng biệt. Nhìn chung, Incoterms không điều chỉnh hậu quả của sự vi phạm hợp đồng và bất kỳ sự miễn trừ nghĩa vụ nào do nhiều trở ngại gây ra. Các vấn đề này phải được giải quyết bằng những quy định khác trong hợp đồng mua bán hàng và luật điều chỉnh hợp đồng đó. Incoterms luôn luôn và chủ yếu được sử dụng khi hàng hoá được bán và giao qua biên giới quốc gia: do vậy Incoterms là các điều kiện thương mại quốc tế. Tuy nhiên, trong thực tế cũng có khi Incoterms được đưa vào hợp đồng mua bán hàng trong thị trường nội địa thuần tuý. Trong trường hợp Incoterms được sử dụng như vậy, các quy định về giấy phép, các thủ tục và các quy định khác trong các điều khoản về xuất nhập khẩu trở nên thừa.Tóm lại:Incoterms thường điều chỉnh những vần đề về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hang hóa hữu hình của xuất nhập khẩu. Chỉ mang tính chất khuyến khích, không bắt buộc áp dụng.
Trang 1sự hiểu nhầm và những vụ tranh chấp làm tốn thất rất nhiềutiền của
Để tạo điệu kiện tốt hơn cho các doanh nghiệp mở rộngtiếp cận thị trường cũng như giảm bớt tổn thất, Incoterms -quy tắc chính thức của Phòng Thương Mại Quốc tế về giảithích các điều kiện thương mại, tạo điều kiện cho giao dịchthương mại quốc tế diễn ra một cách trôi chảy Việc dẫn chiếuđến Incoterms trong một hợp đồng mua bán hàng hoá sẽphân định rõ ràng nghĩa vụ tương ứng của các bên và làmgiảm nguy cơ rắc rối về mặt pháp lý Kể từ khi Incoterms đượcPhòng Thương mại Quốc tế soạn thảo năm 1936, nó đã đượccác doanh nghiệp của nhiều nước thừa nhận và áp dụng vìtính rõ ràng, dễ hiểu phản ánh được các tập quán thương mạiphổ biến trong buôn bán quốc tế Ngoài ra, khi môi trườngđiều kiện và kinh doanh quốc tế thay đổi thì Incoterms cũngđược hoàn thiện và đổi mới theo biểu hiện tính năng động vàthực tiễn, chuẩn mực về hợp đồng mang tính toàn cầu nàythường xuyên được cập nhật để bắt kịp với nhịp độ phát triểncủa thương mại quốc tế
1
Trang 2Incoterms 1990 ra đời đã có cân nhắc tới sự xuất hiệnnhiều khu vực miễn thủ tục hải quan trong thời gian và qua,việc sử dụng thông tin liên lạc điện tử ngày càng thông dụng,
về cả những thay đổi về tập quán vận tải Vì vậy, Incoterms
1990 được sửa đổi đã thể hiện nội dung của 13 điều kiệnthương mại một cách đơn giản hơn và rõ ràng hơn Nhằm làm
rõ hơn các đặc điểm giúp ứng dụng Incoterms một cách linhhoạt trong giao dịch thương mại quốc tế nhóm chúng tôi chọn
đề tài nghiên cứu “Các phương thức giao hàng theo
-Bộ Incoterms đầu tiên được ICC ở Paris - Pháp ban hànhvào năm 1936 Sau khi ra đời Incoterms đã được nhiều nhàdoanh nghiệp của nhiều nước thừa nhận và áp dụng vì tính rõràng, dễ hiểu, phản ánh được các tập quán thương mại phổbiến trong buôn bán quốc tế Từ ngày ra đời đến nay,Incoterms đã được sửa đổi và bổ sung 7 lần vào các năm
1953, 1967, 1976, 1980, 1990, 2000 và 2010 Việc sửa đổi lạinày là cần thiết để đảm bảo rằng Incoterms phản ánh thựctiễn thương mại hiện nay Ở văn bản Incoterms ban hành năm
1936 nội dung chỉ gồm 7 điều kiện thương mại, đến Incoterms
Trang 31953 gồm 9 điều kiện, Incoterms 1967 gồm 11 điều kiện,Incoterms 1980 gồm 14 điều kiện, và Incoterms 1990 cũngnhư incoterm 2000 đều có 13 điều kiện thương mại VàIncoterms 2010 có 11 điều kiện thương mại
Incoterms ra đời lần sau hoàn thiện hơn lần trước, nhưngkhông phủ định lần trước, nên trong hợp đồng người ta cóquyền lựa chọn Incoterm của năm nào tùy theo ý muốn thỏathuận giữa các bên
- Giúp các bên mua bán tránh những vụ tranh chấp vàkiện tụng, làm lãng phí thời giờ và tiền bạc
1.2.2 Phạm vi áp dụng:
Như ICC đã luôn lưu ý, Incoterms chỉ quy định về quan
hệ giữa những người bán và người mua thuộc hợp đồng muabán hàng, hơn nữa chỉ quy định về một số khía cạnh rất cụthể mà thôi Một điều thiết yếu đối với các nhà xuất khẩu vàcác nhà nhập khẩu là phải xem xét mối liên quan thực tế giữanhiều hợp đồng khác nhau cần thiết để thực hiện một vụ giaodịch mua bán hàng quốc tế trong đó không chỉ cần có hợpđồng mua bán hàng,mà cả hợp đồng vận tải, bảo hiểm và tàichính – trong khi đó, Incoterms chỉ liên quan duy nhất tới một
trong số các hợp đồng này, đó là hợp đồng mua bán hàng.
3
Trang 4Incoterms quy định một số nghĩa vụ được xác định cụthể đối với các bên – như nghĩa vụ của người bán phải đặthàng hoá dưới quyền định đoạt của người mua hoặc chuyểngiao hàng cho người chuyên chở hoặc giao hàng tới địa điểmquy định- và cùng với các nghĩa vụ là sự phân chia rủi ro giữacác bên trong từng trường hợp.
Hơn nữa, các điều kiện của Incoterms quy định nghĩa vụlàm các thủ tục thông quan cho hàng hoá xuất khẩu và nhậpkhẩu, bao bì đóng gói hàng hoá, nghĩa vụ của người mua vềchấp nhận việc giao hàng cũng như nghĩa vụ cung cấp bằngchứng chứng tỏ rằng các nghĩa vụ tương ứng của bên kia đãđược thực hiện đầy đủ
Mặc dù Incoterms cực kỳ quan trọng cho việc thực hiệncác hợp đồng mua bán hàng, song còn nhiều vấn đề có thểxảy ra trong hợp đồng đó không được Incoterms điều chỉnh,như việc chuyển giao quyền sở hữu và các quyền về tài sảnkhác, sự vi phạm hợp đồng và các hậu quả của sự vi phạmhợp đồng cũng như những miễn trừ về nghĩa vụ trong nhữnghoàn cảnh nhất định Cần nhấn mạnh rằng Incoterms không
có ý định thay thế các điều khoản và điều kiện cần phải có đốivới một hợp đồng mua bán hàng hoàn chỉnh bằng việc đưavào các điều kiện chuẩn hoặc các điều kiện được thoả thuậnriêng biệt
Nhìn chung, Incoterms không điều chỉnh hậu quả của sự
vi phạm hợp đồng và bất kỳ sự miễn trừ nghĩa vụ nào donhiều trở ngại gây ra Các vấn đề này phải được giải quyếtbằng những quy định khác trong hợp đồng mua bán hàng vàluật điều chỉnh hợp đồng đó
Incoterms luôn luôn và chủ yếu được sử dụng khi hànghoá được bán và giao qua biên giới quốc gia: do vậy
Trang 5Incoterms là các điều kiện thương mại quốc tế Tuy nhiên,trong thực tế cũng có khi Incoterms được đưa vào hợp đồngmua bán hàng trong thị trường nội địa thuần tuý Trong trườnghợp Incoterms được sử dụng như vậy, các quy định về giấyphép, các thủ tục và các quy định khác trong các điều khoản
về xuất nhập khẩu trở nên thừa
Tóm lại:
- Incoterms thường điều chỉnh những vần đề về quyền và nghĩa
vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hang hóa hữu hìnhcủa xuất nhập khẩu
- Chỉ mang tính chất khuyến khích, không bắt buộc ápdụng
1.3 Vai trò của Incoterms:
Incoterms là một bộ các quy tắc nhằm hệ thống hóa các tập quán thương mại được áp dụng phổ biến bởi các doanh nhân trên khắp thế giới.
Các tập quán này đã xuất hiện và tồn tại trong quá trìnhphát triển của thương mại thế giới, nhưng trước đây chưađược biết đến theo một trật tự khoa học và logic Incoterms rađời là một sự tập hợp thành văn bản những gì đã được thựchiện và kiểm nghiệm phổ biến trong thực tiễn, với mục đíchgiúp cho mọi doanh nghiệp ở khắp nơi trên thế giới có thểhiểu rõ và sử dụng một cách dễ dàng mà không cần mấtnhiều thời gian để tìm hiểu tất cả các luật lệ, tập quán thươngmại riêng biệt của các đối tác nước ngoài
Incoterms là một ngôn ngữ quốc tế trong giao nhận và vận chuyển hàng hóa ngoại thương.
Tên gọi từng điều kiện của Incoterms được trình bày thậtđơn giản nhưng vẫn nói lên đầy đủ ý nghĩa bản chất của điềukiện đó về nghĩa vụ giao nhận và vận tải hàng hóa của các
5
Trang 6bên tham gia trong hợp đồng ngoại thương Ở mỗi điều kiệnthương mại xác định các nhóm nghĩa vụ cơ bản cho mỗi bênmua, bên bán phải thực hiện Đa số các nghĩa vụ quy định cóliên quan đến giao nhận, vận tải hàng hóa và các chứng từ cóliên quan.
Incoterms là phương tiện quan trọng để đẩy nhanh tốc
độ đàm phán ký kết hợp đồng ngoại thương.
Incoterms là sự tập hợp chuẩn mực thống nhất các tậpquán thông dụng có liên quan đến nghĩa vụ của các bên trongmua bán quốc tế, cho nên khi xác định Incoterms nào 2 bên
sẽ áp dụng, mỗi bên có thể hình dung những nghĩa vụ cơ bản
mà mình phải thực hiện, điều này giúp đẩy nhanh tốc độ giaodịch đàm phán và đơn giản hóa nội dung của hợp đồng, màvẫn đảm bảo tính chặt chẽ, đầy đủ và mang tính pháp lý cao
Incoterms là cơ sở quan trọng để tính giá cả hàng hóa.
Điều kiện Incoterms được các bên lựa chọn sẽ là mộttrong những cơ sở quan trọng nhất để xác định giá cả trongmua bán ngoại thương, vì nó quy định nghĩa vụ quan trọngnhất về giao nhận, vận tải hàng hóa, về các chi phí cơ bản,giá trị hàng hóa, thủ tục và thuế xuất khẩu, nhập khẩu, chiphí vận tải, bảo hiểm hàng hóa, thời điểm chuyển rủi ro hànghóa từ người bán sang người mua, thời điểm giao và nhậnhàng…
Incoterms là một căn cứ pháp lý quan trọng để thực hiện việc khiếu nại và giải quyết tranh chấp (nếu có) giữa người mua và người bán trong quá trình thực hiện hợp đồng ngoại thương
Nếu trong hợp đồng ngoại thương có dẫn chiếu loạiIncoterms sử dụng thì khi có tranh chấp xảy ra, văn bản
Trang 7Incoterms và các tài liệu giải thích chuẩn mực về Incoterms,
là những căn cứ quan trọng mang tính pháp lý giúp các bênthực hiện và giải quyết khiếu nại hoặc kiện ra tòa hoặc trọngtài
1.4 Sự cần thiết phải dẫn chiếu Incoterms vào trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế:
Nền kinh tế toàn cầu mở ra cơ hội to lớn hơn bao giờ hết
để doanh nghiệp tiếp cận tới các thị trường khắp nơi trên thếgiới Hàng hóa được bán ra ở nhiều nước hơn, số lượng lớnhơn và chủng loại đa dạng hơn Giao dịch mua bán quốc tếngày càng nhiều và phức tạp do vậy nếu hợp đồng mua bánhang hóa không được soạn thảo một cách kỹ lưỡng sẽ cónhiều khả năng dẫn đến sự hiểu lầm và những vụ tranh chấptốn kém tiền bạc
Kể từ khi Incoterms 1936 ra đời – chuẩn mực về hợpđồng mang tính toàn cầu này thường xuyên được cập nhập đểbắt kịp với nhịp độ phát triển của thương mại quốc tế.Incoterms 1990 có cân nhắc tới sự xuất hiện nhiều khu vựcmiễn thủ tục hải quan trong thời gian qua, việc sử dụng thôngtin liên lạc điện tử ngày càng thông dụng và cả những thayđổi về tập quán vận tải
Hơn nữa Ban nghiên cứu Tập quán Thương mại quốc tếthuộc ICC bao gồm các thành viên từ nhiều nước trên thế giới
và thuộc tất cả các lĩnh vực thương mại đảm bảo choIncoterms đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp khắp nơi
Vậy nên, Incoterms ra đời tạo điều kiện cho giao dịchthương mại quốc tế diễn ra một cách trôi chảy, giảm nguy cơrắc rối về mặt pháp lý
1.5. Lưu ý khi sử dụng Incoterms:
7
Trang 8Thực tiễn hoạt động thương mại quốc tế và Phòngthương mại quốc tế có đưa ra các khuyến cáo sau đây cho cácdoanh nghiệp khi sử dụng Incoterms 1990
Khuyến cáo 1: Về tính luật của Incoterms
Như phần trên đã đề cập, Incoterms không phải là vănbản luật mà chỉ là những tập quán thương mại được tập hợptrình bày có khoa học và hệ thống; là văn bản có tính khuyênnhủ, khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng Tính khuyênnhủ của Incoterms thể hiện:
– Sự tự nguyện áp dụng của hai bên mua và bán khu đãchiếu một điều kiện cụ thể nào đó của Incoterms vào tronghợp đồng mua bán
– Incoterms từ khi ra đời vào năm 1936 đến nay, đã qua
7 lần sửa đổi vào các năm 1953, 1967, 1976, 1980, 1990,
2000 vàn 2010 Văn bản ra đời sau không phủ định nội dungcác văn bản Incoterms được ban hành trước đó Tùy vào tậpquán buôn bán của các nhà xuất nhập khẩu mà có thể tùy ý
áp dụng bất kỳ văn bản Incoterms nào tổng số 8 văn bản đãban hành Nhưng khi có sự thỏa thuận nhất trí áp dụngIncoterms nào thì phải dẫn chiếu điều ấy trong hợp đồngngoại thương Việc dẫn chiếu này sẽ làm cho Incoterms trởthành cơ sở pháp lý buộc ác bên mua bán phải thực hiện nhưcác nghĩa vụ khác của hợp đồng ngoại thương và cơ sở để giảiquyết tranh chấp giữa các bên
– Ngay trong trường hợp các bên thỏa thuận áp dụngtheo Incoterms nào đó, những quy định trái nội dung củaIncoterms, ví dụ theo Incoterms, với điều kiện FOB người bánkhông có nghĩa vụ thuê và ký hợp đồng vận tải, nhưng có hợpđồng mua bán quốc tế theo điều kiện FOB đã thỏa thuận: nhàxuất khẩu giúp người mua thuê tàu, ký hợp đồng vận tải, cước
Trang 9phí sẽ được người mua trả riêng; hoặc theo điều kiện EXW củaIncoterms 2000, người xuất khẩu không có nghĩa vụ làm thủtục xuất khẩu, nhưng có thể các bên thỏa thuận dẫn chiếuthêm trong hợp đồng: người bán phải làm thủ tục xuất khẩuvới chi phí của người mua, nếu người xuất khẩu không làmđược thủ tục xuất khẩu, người mua sẽ không nhận hàng và trảtiền.
– Mặc dù Incoterms do Phòng thương mại quốc tế (ICC)phát hành và hau bên tự nguyện áp dụng và dẫn chiếu rõtrong hợp đồng ngoại thương, nhưng không có nghĩa là ICCmặc nhiên là trọng tài phân xử tranh chấp, nếu không ghi rõđiều này trong hợp đồng ngoại thương
Khuyến cáo 2:
Incoterms chỉ áp dụng đối với giao dịch mua bán hàng hóahữu hình, không áp dụng khi mua bán hàng hóa vô hình nhưcông nghệ phần mềm; bí quyết công nghệ; công thức chế tạo;thông tin qua mạng Internet…
Khuyến cáo 3:
Các điều kiện thương mại của Incoterms chỉ đề cập đếnnhững nghĩa vụ chủ yếu có liên quan đến mua bán hàng hóanhư: giao nhận hàng; nghĩa vụ về vận tải hàng hóa Vềchuyển giao hàng hoá và chứng từ; thủ tục xuất khẩu, nhậpkhẩu; chuyển rủi ro về hàng hóa… Cho nên, Incoterms khôngthể thay thế cho hợp đồng ngoại thương Hợp đồng xuất nhậpkhẩu cần chứa đựng những điều khoản quan trọng khác như:phẩm chất, khối lượng hàng giao dịch; giá cả; thanh toán;khiếu nại; giải quyết tranh chấp… mới trở thành cơ sở pháp lýlàm nền tảng thực hiện hợp đồng và giải quyết tranh chấpgiữa các bên nếu có xảy ra
9
Trang 10Khuyến cáo 4: Về sử dụng các tập quán thương mại
Nên hạn chế các tập quán, thói quen thương mại hìnhthành tự phát trong hoạt động buôn bán được nhiều doanhnghiệp thừa nhận và áp dụng vì mỗi nơi hiểu một cách, không
có định nghĩa rõ ràng nhất quán, cho nên nếu có tranh chấpxảy ra sẽ rất khó cho quá trình phân xử Trường hợp nàykhông thể dẫn chiếu trong hợp đồng sử dụng Incoterms vì bảnthân Incoterms không chứa đựng các tập quán thương mạiriêng rẽ này
Ví dụ FOB stowed – FOB xếp hàng, được hiểu theo một
số doanh nghiệp ở Châu Mỹ và cảng bốc hàng Trong khi đó ởChâu Á, ngoài nghĩa vụ của người bán kể trên thì thời điểmchuyển rủi ro từ người bán sang người mua sau khi hàng hóa
đã xếp xong lên tàu (thay vì chỉ qua lan can tàu theo điềukiện FOB) Từ điểm phân tích này, khuyến cáo các doanhnghiệp nên áp dụng Incoterms và quy định rõ những thỏathuận thêm trong hợp đồng ngoại thương về chi phí bốc, dỡ,san, xếp hàng, thuê tùa, địa điểm chuyển rủi ro nếu muốn ápdụng khác đi so với quy định của Incoterms
Những trường hợp đặc biệt của FOB:
1 FOB under tackle – FOB dưới cần cẩu: người bán chịu mọirủi ro và tổn thất về hàng hóa cho đến khi cần cẩu móc hàng
2 FOB stowed hoặc FOB trimmed – FOB san xếp hàng: ngườibán nhận thêm trách nhiệm xếp hàng (stowage or trimmed)trong khoang hầm tàu Nếu hợp đồng không quy định gì khácthì rủi ro, tổn thất hàng chuyển từ người bán sang người muakhi việc xếp hàng hoặc san hàng đã được thực hiện xong
3 FOB shipment to destination – FOB chở hàng đến: ngườibán nhận trách nhiệm thuê tàu giúp người mua để chở hàng
Trang 11đến cảng quy định với rủi ro và chi phí thuê tàu là do ngườimua phải chịu.
4 FOB liner terms – FOB tàu chợ: Do tiền cước tàu chợ đã baogồm cả chi phí bốc hàng và chi phí dỡ hàng, nên người bánkhông phải trả chi phí bốc dỡ hàng
Những trường hợp đặc biệt của CIF:
1 CIF liner terms – CIF theo điều kiện tàu chợ: trong đó, cướcphí mà người bán trả cho hãng tàu đã bao gồm cả chi phí bốc
8 CIF afload – CIF hàng nổi: theo điều kiện này, hàng hóa đã
ở trên tàu ngay từ lúc hợp đồng được ký kết
9 CIF landed – CIF dỡ hàng lên bờ: theo đó, người bán phảichịu cả chi phí về việc dỡ hàng lên bờ
11
Trang 12Khuyến cáo 5: Áp dụng Incoterms cho các trường hợp chuyên chở hàng hóa bằng container sử dụng phương tiện vận tải thủy:
Khi sử dụng Imcoterms, trong trường hợp hàng hóa đượcđóng trong các container và chuyên chở bằng phương tiệnvận tải thủy, không lấy lan can tàu (ship’s rail) làm địa điểmchuyển rủi ro, thì nên thay điều kiện FOB bằng điều kiện FCA;điều kiện CFR bằng điều kiện CPT; điều kiện CIF bằng CIP Việcthay đổi như thế có những lợi ích sau đây:
Ích lợi đối với người xuất khẩu:
– Sớm chuyển rủi ro về hàng hóa
– Sớm lấy được vận đơn để lập các chứng từ thanh toán– Không phải chịu thêm các chi phí và nghĩa vụ sau khihàng hóa đã giao xong cho người chuyên chở (CY hoặc CFS)
Ích lợi của người nhập khẩu:
Nếu người mua đã mua bảo hiểm kể từ khi hàng hóathuộc quyền quản lý của các đơn vị vận tải thì công ty bảohiểm sẽ bảo hiểm cả giai đoạn hàng hóa từ bãi hoặc trạmcontainer cho đến khi hàng hóa giao lên tàu (thay vì chỉ bảohiểm hàng hóa trong quá trình xếp hàng và vận chuyển hànghóa) Lưu ý việc giải quyết tranh chấp về rủi ro, tổn thất hànghóa (nếu có) xảy ra trên bãi container đến khi hàng vượt qualan can tàu giữa người bán, người vận tải và quyền lợi củangười mua là những tranh chấp khó giải quyết
Khuyến cáo 6: Nên lựa chọn điều kiện thương mại sao cho bên doanh nghiệp Việt Nam giành được quyền thuê phương tiện vận tải và mua bảo hiểm cho hàng hóa.
Trang 13Hiện nay, khoảng 80% các thương vụ, doanh nghiệp ViệtNam khi xuất khẩu lựa chọn điều kiện FOB; khi nhập khẩu lựachọn điều kiện CFR hoặc CIF Sở dĩ có sự lựa chọn như vậy là
do các nguyên nhân sau:
– Hiểu không đúng các quy định của Incoterms như xuấtkhẩu theo FOB mau chuyển rủi ro sang người mua; nhập khẩuhàng hóa theo CFR hoặc CIF an toàn hơn vì người bán nướcngoài phải chịu rủi ro đến tận cảng nhập khẩu Nhưng trênthực tế, qua tóm tắt ở bảng 2 cho ta thấy các quy định củaIncoterms 1990 về nơi chuyển rủi ro của 3 điều kiện FOB,CFR, CIF đều là lan can tàu tại cảng bốc hàng
– Am hiểu về nghiệp vụ thuê phương tiện vận tải và muabảo hiểm còn yếu, ngoài ra trình độ sinh ngữ kém của cácdoanh nghiệp Việt Nam cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọnđiều kiện thương mại
– Việc mua bán của các doanh nghiệp Việt Nam thườngthực hiện qua các trung gian nước ngoài
– Thế và lực trong kinh doanh của các doanh nghiệp ViệtNam còn yếu: vốn thiếu, chất lượng hàng hóa xuất khẩu chưacao…
Hiện nay, việc lựa chọn các điều kiện thương mại nhưvậy khi mua bán với nước ngoài của các doanh nghiệp ViệtNam không có lợi ở tầm vĩ mô lẫn vi mô
Không có lợi ở tầm vĩ mô:
– Thất thu ngoại tệ do xuất khẩu với giá rẻ, nhập khẩuvới giá cao
– Không tạo điều kiện thuận lợi để gia tăng doanh sốdịch vụ cho các hãng tàu và hãng bảo hiểm của Việt Nam
13
Trang 14– Không tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm chongười lao động làm trong các ngành dịch vụ vận tải và bảohiểm hàng hóa.
Không có lợi ở tầm vi mô:
– Giảm khả năng tự cân đối ngoại tệ do xuất khẩu với giá
rẻ, nhập khẩu phải chi phí ngoại tệ nhiều (vì khi thuê phươngtiện vận tải, doanh nghiệp có thể trả bằng nội tệ)
– Doanh nghiệp bị động với phương tiện vận tải, hậu quả
có thể phải trả thêm những chi phí phát sinh như chi phí lưukho, trả lãi suất…
– Bị mất đi những khoản hoa hồng của các hãng vận tải
và bảo hiểm trả cho người thuê dịch vụ của họ (khuyến mãidịch vụ)
– Gặp khó khăn khiếu nại đòi bồi thường nếu có tranhchấp xảy ra giữa doanh nghiệp nhập khẩu với các hãng tàunước ngoài…
Vì những bất lợi do không giành được quyền thuêphương tiện vận tải khi lựa chọn điều kiện thương mại, nênkhuyến cáo các doanh nghiệp Việt Nam thay đổi khi xuấtkhẩu nên chọn điều kiện nhóm C, khi nhập khẩu nên chọnđiều kiện nhóm F Muốn làm được điều này thì bản thân doanhnghiệp phải chuẩn bị các điều kiện:
– Nâng cao trình độ sinh ngữ và nghiệp vụ kinh doanhxuất nhập khẩu, trong đó có nghiệp vụ thuê tàu và mua bảohiểm
– Học và hiểu đúng về Incoterms
– Nâng cao thế và lực trong kinh doanh để giành đượcchủ động trong lựa chọn điều kiện thương mại có lợi
Trang 16CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG THỨC GIAO HÀNG
THEO INCOTERMS 19902.1 Khái quát về Incoterms 1990:
2.1.1 Kết cấu:
Incoterms 1990 bao gồm có 13 điều kiện giao hàng mẫu,chia thành 4 nhóm: E, F, C, D Trong đó, nhóm E gồm 1 điềukiện (EXW), nhóm F gồm 3 điều kiện (FCA, FAS, FOB), nhóm Cgồm 4 điều kiện (CFR, CIF, CPT, CIP) và nhóm D gồm 5 điềukiện (DAF, DES, DEQ, DDU, DDP)
Nhóm E (nơi đi)
EXW: Ex works ( nơi đi) - Giao tại xưởng
Người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng khi đặt hànghóa dưới quyền định đoạt của người mua ngay tại cơ sở củangười bán hoặc tại địa điểm qui định
Nhóm F (Phí vận chuyển chưa trả)
- FCA: Free Carrier (cảng đi) - Giao cho người chuyên chở
- FAS: Free Along sile Ship (cảng đi) - Giao dọc mạn tàu
- FOB: Free On Broad (cảng đi) - Giao lên tàu
Người bán không trả cước phí vận tải hành chính, hoànthành nghĩa vụ khi giao hàng cho người chuyên chở do ngườimua chỉ định, tại địa điểm đi
Nhóm C (Phí vận chuyển đã trả)
- CFR: Cost Freight (cảng đến) - Tiền hàng và cước phí
Trang 17- CIF: Cost Insurance Freight (cảng đến) - Tiền hàng, bảohiểm và cước phí
- CPT: Carriage Paid To (cảng đến) - Cước phí trả tới
- CIP: Carriage Insurance Paid To (cảng đến) - Cước phí vàphí bảo hiểm trả tới
Người bán phải thuê phương tiện vận tải, trả cước vận tải
để đưa hàng đến địa điểm qui định, nhưng không chịu rủi ro
về mất mát, hư hỏng, hoặc những chi phí phát sinh sau khi đãgiao hàng cho người vận tải tại địa điểm đi
Nhóm D (nơi đến)
- DAF: Delivered At Frontier (biên giới) - Giao tại biên giới
- DES: Delivered Ex Ship (cảng đến) - Giao tại tàu
- DEQ: Delivered Ex Quay (cảng đến) - Giao tại cầu cảng
- DDU: Delivered Duty Unpaid (điểm đến) - Giao hàngchưa nộp thuế
- DDP: Delivered Duty Paid (điểm đến) - Giao hàng đãnộp thuế
Người bán phải chịu mọi phí tổn và rủi ro cần thiết để đưahàng tới nơi đến
* Ngoài ra, các điều kiện thương mại có thể phân loạitheo hình phương tiện vận tải sử dụng như sau:
Loại hình thức phương tiện
vận tải
Điều kiện thương mạiBất kì loại hình thức, phương - EXW
17
Trang 18tiện vận tải nào: đường bộ,
đường thuỷ, đường sắt, đường
không và vận tải đa phương
vận tải đường thuỷ - FAS, FOB- CFR, CIF
2.2.2 Nghĩa vụ của người bán và người mua:
Trong các điều kiện thương mại của Incoterms 1990nghĩa vụ của người bán và nghĩa vụ của người mua được trìnhbày đối ứng trong 10 nhóm nghĩa vụ với cách đáng số nhưsau:
Nhận xét:
– Incoterms đã quy định đầy đủ các nghĩa vụ của cácbên trong hợp đồng mua bán để thực hiện hoàn tất một quátrình mua bán, giao nhận hàng hóa ngoại thương
Trang 19– Việc trình bày đối ứng các nghĩa vụ cho phép thấy rõ:Nếu bên này có nghĩa vụ thì bên kia không có nghĩa vụ tươngứng
– Sở dĩ mục đích A10 và B10 là vì có những nghĩa vụkhông áp dụng cho mọi điều kiện của Incoterms
2.2 Các phương thức giao hàng theo Incoterms 1990:
2.2.1 Nhóm E:
Điều kiện EXW- giao hàng tại xưởng
"Giao tại xưởng" có nghĩa là người bán hoàn thành nghĩa
vụ giao hàng của mình khi hàng hóa được đặt dưới quyềnđịnh đoạt của người mua tại cơ sở của người bán hoặc tại mộtđịa điểm quy định (ví dụ xưởng, nhà máy, kho hàng, v v) màchưa thông quan xuất khẩu và chưa bốc lên phương tiện tiếpnhận
Do vậy, theo điều kiện này, nghĩa vụ của người bán là tốithiểu, còn người mua phải chịu toàn bộ chi phí và rủi ro kể từkhi nhận hàng từ cơ sở của người bán
* Nghĩa vụ người bán:
– Chuẩn bị hàng theo đúng hợp đồng đã thỏa thuận,giao hàng cho người mua tại cơ sở của người bán hoặc tại địađiểm quy định
– Giúp người mua làm thủ tục xuất khẩu khi có yêu cầuvới chi phí của người mua (Nếu điều đó quy định trong hợpđồng)
– Giao cho người mua các chứng từ có liên quan đếnhàng hóa
19
Trang 20– Không phải chịu chi phí bốc hàng lên phương tiện vậntải do người mua chỉ định nếu không có sự khác đi trong hợp
đồng mua bán
* Nghĩa vụ người mua:
– Trả tiền hàng theo hợp đồng đã thỏa thuận
– Chịu mọi chi phí và rủi ro kể từ khi nhận hàng tại cơ sởcủa người bán
– Làm thủ tục và chịu các chi phí để thực hiện thôngquan xuất khẩu, quá cảnh, nhập khẩu hàng hóa
Lưu ý
– Với điều kiện này, người bán phải thực hiện nghĩa vụ vàchi phí tối thiểu, còn người mua phải thực hiện nghĩa vụ và chiphí tối đa
– Khuyến cáo nhà nhập khẩu Việt Nam không nên lựachọn điều kiện thương mại này khi không có điều kiện trựctiếp hoặc gián tiếp làm thủ tục thông quan xuất khẩu
2.2.2 Nhóm F:
a Điều kiện FCA – Free Carrier (named place…)
Điều kiện "Giao cho Người chuyên chở" (Free Carrier)được hiểu là người bán, sau khi làm xong thủ tục xuất khẩu,
có trách nhiệm giao hàng cho người chuyên chở do người muachỉ định tại địa điểm quy định Cần lưu ý rằng địa điểm chọngiao hàng có ảnh hưởng tới nghĩa vụ bốc và dỡ hàng tại điểm
đó Nếu việc giao hàng diễn ra tại cơ sở của người bán, ngườibán có nghĩa vụ bốc hàng Nếu việc giao hàng không diễn ra
ở cơ sở của người bán, người bán không có nghĩa vụ dỡ hàng
Trang 21Điều kiện này có thể sử dụng cho mọi phương thức vậntải kể cả vận tải đa phương thức.
"Người chuyên chở" là bất kỳ người nào, mà theo hợpđồng vận tải cam kết tự mình thực hiện hoặc đứng ra đảmnhiệm việc chuyên chở bằng đường sắt, đường bộ, đườnghàng không,đường biển, đường thuỷ nội địa hoặc kết hợp cácphương thức đó
Nếu người mua chỉ định một người nào đó không phải làngười chuyên chở đến nhận hàng, thì người bán được coi nhưhoàn thành nghĩa vụ giao hàng khi hàng được giao cho ngườiđược chỉ định đó
* Nghĩa vụ của người mua:
Trang 22– Rủi ro về hàng hóa được chuyển từ người bán sangngười mua khi hàng hóa đã được giao cho người chuyên chởnhư các đại lý hàng không, vận tải đường sắt, bãi hoặc trạmcontainer… Nếu sử dụng vận tải đa phương tiện thì rủi ro đượcchuyển sang cho người mua sau khi đã giao hàng xong chongười vận tải đầu tiên.
Lưu ý: Về cơ bản, nghĩa vụ của người bán và người mua ởđiều kiện FCA tương tự như quy định ở điều kiện FOB, nhưng
có điểm khác là FCA áp dụng với mọi loại phương tiện vận tải
kể cả phương tiện vận tải đa phương thức và khác về địa điểmchuyển rủi ro từ người bán sang người mua
b Điều kiện FAS – Free Alongside Ship (named port of shipment)
" Giao dọc mạn tầu" có nghĩa là người bán hoàn thànhnghĩa vụ giao hàng khi hàng được để dọc mạn con tàu tạicảng bốc hàng quy định Điều này có nghĩa là người mua chịumọi chi phí và rủi ro và mất mát hoặc hư hại đối với hàng hóa
kể từ thời điểm đó
Điều kiện FAS đòi hỏi người mua làm thủ tục thông quanxuất khẩu
Nếu người bán muốn làm thủ tục xuất khẩu thì phải ghi
rõ thỏa thuận này vào hợp đồng ngoại thương
Điều kiện này chỉ có thể sử dụng cho vận tải đường biểnhoặc đường thủy nội địa
* Nghĩa vụ của người bán:
– Đưa hàng hóa ra cảng, đặt hàng dọc mạn tàu do ngườimua thuê
Trang 23– Giao cho người mua các chứng từ có liên quan đến lôhàng.
* Nghĩa vụ của người mua:
– Trả tiền hàng theo hợp đồng ngoại thương đã thỏathuận
– Thuê tàu, trả cước phí vận tải chính (để chuyên chởhàng từ cảng bốc hàng đến cảng dỡ hàng)
– Làm thủ tục nhập khẩu và trả các chi phí có liên quanđến thủ tục thông quan xuất khẩu
– Chịu mọi rủi ro sau khi hàng hóa đã đặt dưới quyềnđịnh đoạt của mình tại cảng bốc hàng (cảng đi)
Lưu ý: Điều kiện FAS chỉ áp dụng với phương tiện vận tảithủy, không áp dụng với các loại phương tiện vận tải khác
c Điều kiện FOB – Free On Board (named port of shipment)
" Giao lên tàu" có nghĩa là người bán hoàn thành nghĩa
vụ giao hàng khi hàng qua lan can tầu tại cảng bốc quy định.Điều này có nghĩa là người mua chịu mọi chi phí và rủi ro vềmất mát hoặc hư hại đối với hàng hóa kể từ thời điểm đó.Điều kiện FOB đòi hỏi người bán phải thông quan xuất khẩu.Điều kiện này chỉ có thể áp dụng cho vận tải đường biển hoặcđường thủy nội địa Nếu hai bên không có ý định giao hàngqua lan can tầu thì nên sử dụng FCA
* Nghĩa vụ của người bán:
– Giao hàng lên tàu do người mua chỉ định
– Làm thủ tục xuất khẩu, nộp thuế và lệ phí xuất khẩu
23