1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích Quản trị chiến lược của SCANIA GROUP

103 772 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 4,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Scania là 1 nhà sản xuất hàng đầu của thế giới trong phân khúc xe tải và xe buýtcho các ứng dụng giao thông vận tải nặng, và các động cơ trong công nghiệp và hàng hải.Hoạt động của Scani

Trang 1

ĐẠI HỌC KINH TẾ ĐÀ NẴNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGHIÊN CỨU CHIẾN LƯỢC CÔNG TY SCANIA

GVHD: TS NGUYỄN XUÂN LÃN – TS NGUYỄN THANH LIÊM

ĐÀ NẴNG, THÁNG 12 NĂM 2012

Trang 2

DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM

Nguyễn Viết Phước 35k17 Nguyễn Lê Huyền Trang 35k17 Nguyễn Thị Cẩm Tú 35k17 Nguyễn Thị Như Trang 35k17

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN 1: 6

GIỚI THIỆU VỀ SCANIA GROUP 6

1> TỔNG QUAN VỀ SCANIA 7

2> LỊCH SỬ HÌNH THÀNH & QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN 9

3> THÀNH TỰU 15

4> PHÂN TÍCH VIỄN CẢNH- SỨ MỆNH 16

4.1> VIỄN CẢNH 16

4.1.1> Tư tưởng cốt lõi: 16

4.1.2> Hình dung tương lai 20

4.2> SỨ MỆNH 21

4.2.1> Định hướng khách hàng và đinh nghĩa kinh doanh: 22

4.2.2> Các giá trị cam kết: 22

4.2.3> Mục tiêu: 24

5> TRÁCHNHIỆMXÃHỘICỦACÔNGTY 27

5.1> TẠO VIỆC LÀM CHO HÀNG NGÀN LAO ĐỘNG 27

5.2> MÔI TRƯỜNG 27

1> PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ 29

1.1> MÔI TRƯỜNG NHÂN KHẨU HỌC 29

1.2> MÔI TRƯỜNG KINH TẾ 29

1.2.1> Tổng sản phẩm quốc nội 29

1.4> MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHỆ 31

1.5> MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA XÃ HỘI 32

1.6> MÔI TRƯỜNG TOÀN CẦU 33

2> PHÂN TÍCH NGÀNH SẢN XUẤT XE TẢI NẶNG Ở THỤY ĐIỂN 35

2.1> Định nghĩa ngành 35

2.2> Chu kì sống của ngành 37

2.3> MÔ HÌNH 5 LỰC LƯỢNG CẠNH TRANH 45

2.3.1> Các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng 45

2.3.2> Năng lực thương lượng với người mua 46

Trang 4

2.3.3> Năng lực thương lượng của người bán 47

2.3.4> Các sản phẩm thay thế 48

2.4> Nhóm chiến lược 49

2.5> Các lực lượng dẫn dắt sự thay đổi trong ngành 50

2.6> Các nhân tố then chốt thành công trong ngành 51

Phần3: 54

PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG CỦA SCANIA 54

1> Chiến lược hiện tại của Scania 55

1.1> Chiến lược cấp công ty 55

1.1.1> Đa dạng hóa 55

1.1.2> Hội nhập dọc 56

1.2> Chiến lược toàn cầu 58

1.3> Chiến lược cấp chức năng 62

1.4> Chiến lược cấp kinh doanh: 67

2> Thành tựu chiến lược 71

2.1> Thành tựu thị trường 71

2.2> Thành tựu tài chính 73

3> CƠ CẤU TỔ CHỨC 81

3.1> Các nguồn lực tổ chức 81

3.2> Hệ thống kiểm soát: 84

4> PHÂN TÍCH SWOT 84

5> BẢN CHẤT VÀ NGUỒN GỐC CỦA LỢI THẾ CẠNH TRANH CỦA SCANIA- NĂNG LỰC CỐT LÕI 89

5.1> SCANIA CÓ LỢI THẾ CẠNH TRANH……….90

5.2> NGUỒN GỐC CỦA LỢI THẾ CẠNH TRANH 92

5.3> NĂNG LỰC CỐT LÕI……… ….97

Trang 5

Lời Nói Đầu

Trong môi trường thay đổi liên tục ngày nay, những người làm kinh doanh không còn xa

lạ gì với khái niệm “chiến lược”, bởi nó dần dần được ghi nhận như những ý tưởng, kế hoạch vàphương pháp hành động để một doanh nghiệp thành công và vượt trội hơn những doanh nghiệpkhác Quản trị chiến lược đang ngày càng khẳng định rõ vai trò của mình đối với sự tồn tại vàphát triển của doanh nghiệp

Trong điều kiện môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt ngày nay, doanh nghiệp mànếu không thực hiện được quản trị chiến lược và thực hiện tốt điều đó sẽ bị thất bại và không thểlinh hoạt thích nghi theo những hoạt động của môi trường Công tác quản trị chiến lược tốt sẽđem đến cho công ty nhiều cơ hội và chủ động chiếm ưu thế cạnh tranh

Là một trong những tập đoàn sản xuất xe tải hạng nặng và xe buýt hàng đầu thế giới, từThụy Điển, Scania luôn khẳng định chiến lược kinh doanh là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đểcông ty tồn tại và phát triển Nhờ đó mà trong suốt những năm hoạt động của mình từ năm 1981,Scania đã phát triển từ một công ty chỉ trên lãnh thổ nước Thụy Điển thành một công ty toàn cầu

Là một trong 72 công ty lớn nhất Bắc Âu Đứng thứ 81 trong danh sách World’s Most RespectedCompanies của Forbes năm 2007 Scania đã đạt được nhiều thành tựu to lớn không chỉ trênphương diện kinh doanh Tất cả những điều đó chỉ để chứng minh rằng, công ty đã có nhữngchiến lược hiệu quả

Đây là bài phân tích các chiến lược của công ty Scania Tuy nhiên trong quá trình làm bàikhông tránh được những sai sót Mong sẽ nhận được sự góp ý từ phía thầy cô và các bạn

Trang 6

PHẦN 1:

GIỚI THIỆU VỀ SCANIA GROUP

Trang 7

1> TỔNG QUAN VỀ SCANIA

Được thành lập vào năm 1891, tại Södertälje, Thụy Điển

Scania là 1 nhà sản xuất hàng đầu của thế giới trong phân khúc xe tải và xe buýtcho các ứng dụng giao thông vận tải nặng, và các động cơ trong công nghiệp và hàng hải.Hoạt động của Scania tích hợp giữa sản phẩm xe, dịch vụ và tài chính (các dịch vụ liênquan đến sản phẩm như: đào tạo lái xe, bảo trì bảo dưỡng, đường dây hỗ trợ, ScaniaRental (cho thuê xe), dịch vụ tài chính: hỗ trợ khách hàng có được một giải pháp tài chínhphù hợp với kế hoạch kinh doanh và ngân sách ) đảm bảo cho khách hàng đạt hiệu quảtrong các giải pháp về chi phí và tiết kiệm thời gian lựa chọn, gia tăng chu kỳ sử dụng

Scania là một công ty quốc tế với sự hiện diện tại hơn 100 quốc gia có hơn  37.000nhân viên Trong đó, khoảng 16.000 người làm việc ở bộ phận kinh doanh sản phẩm vàdịch vụ trong các công ty con của Scania trên toàn thế giới, khoảng 11.000 trong hoạtđộng sản xuất, khoảng 2.600 trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển và khoảng 5.000trong cấp quản lý và các hoạt động khác của Scania

Hiện nay, trụ sở chính của Scania và trung tâm kỹ thuật, nghiên cứu phát triểnđược đặt tại Södertälje, Thụy Điển Scania có 10 cơ sở sản xuất tại Thụy Điển, Pháp, HàLan, Argentina, Brazil, Ba Lan, và Nga Ngoài ra, có các nhà máy lắp ráp ở10 quốc gia ởChâu Phi, châu Á, và Châu Âu Scania có hơn 1.000 cơ sở bán hàng địa phương và hơn1.500 điểm phục vụ Bộ phận thu mua của công ty trong Södertälje được bổ sung bởi cácvăn phòng mua sắm địa phương ở Ba Lan, Cộng hòa Séc, Hoa Kỳ, Trung Quốc vàNga. Năm 2011, thu nhập của Scania đạt 12,398 triệu SEK Doanh số bán ròng tăng 12%

và đạt 87,686 triệu SEK

Scania là 1 trong 10 nhãn hiệu lớn của đại gia đình Volkswagen (có nghĩa là “xecho công chúng” được thành lập vào ngày 23/5/1937)

Scania cố gắng thiết kế sản phẩm của mình thân thiện với môi trường; tối ưu hóa

để tiêu thụ ít năng lượng, nguyên liệu và hóa chất trong chu kỳ hoạt động và có thể táichế Dòng sản phẩm chính hiện tại của Scania bao gồm ôtô tải, xe đặc biệt, xe buýt vàđộng cơ diesel

Trang 8

Scania phát triển, sản xuất và bán xe tải có trọng lượng  hơn 16 tấn (Class 8), dànhcho chuyên chở đường dài và phân phối hàng hoá của địa phương, cũng như chuyên chởxây dựng.

Loạt xe buýt Scania được tập trung trên xe buýt khung gầm, để sử dụng trong xekhách du lịch cũng như giao thông đô thị và liên tỉnh

Động cơ công nghiệp và hàng hải của Scania được sử dụng trong các bộ máy phátđiện, máy móc và nông nghiệp, cũng như trên các con tàu và hàng thủ công

Scania cũng thiết kế và sản xuất quần áo đặc biệt cho các lái xe tải dưới nhãn

hiệu bánh xe tải Scania .

1.1> Quyền sở hữu Scania

Hai cổ đông lớn của Scania AB là:

Các ô tô Đức công tyVolkswagen AGlà cổ đông lớn nhất Scania, với số cổ phần

có quyền biểu quyết chiếm 70,94% (vốn chủ sở hữu) trong Scania. 

Nhà sản xuất xe tải của Đức MAN SE nắm giữ cổ phần có quyền biểu quyết

17,37% trong Scania. 

1.2> Cơ cấu quản trị

ScaniaAB là một công ty trách nhiêm hữu hạn tại Điển, nơi quản lý và kiểm soátđược phân bổ giữa các cổ đông, Hội đồng quản trị, chủ tịch, giám đốc điều hành và banđiều hành

Trang 9

Vabislà một nhóm các nhà công nghiệp sản xuất toa xe đường sắt thành lập năm 1891.

Một thời gian ngắn sau đó, vào năm 1902- đầu thế kỷ 20 khi thị trường đường sắt trở nênlặn thì Peter Petersson đã có tầm nhìn xa trông rộng Ông mong muốn xây dựng 1 chiếc

xe ô tô hoàn toàn mang chất Thụy Điển cùng với kỹ sư Gustaf Erikson của hãng thiết kế

xe tải đầu tiên, được hỗ trợ bởi một động cơ xăng và hộp số hai tốc độ và xe được bándưới thương hiệu Vabis.af Đến năm 1907, công ty đã phát triển một chiếc xe tải 3 tấn

Maskinfabriks-aktiebolaget Scania được thành lập vào năm 1900 ở Malmö, phía namcủa Thụy Điển , bắt đầu là một nhà sản xuất xe đạp hiện đại Cùng với những cải tiến vàphát minh trong công nghệ, hãng đã bắt đầu sản xuất xe hơi quy mô nhỏ và đạt đượcthành công sớm Năm 1903, hãng đã cho ra đời chiếc xe ô tô đầu tiên. Vào năm 1911,Scania sáp nhập với công ty Vabis, Scania-Vabis Với chiến lược sáp nhập này, Scania-

Trang 10

Vabis có thể đủ sức đáp ứng được sức cạnh tranh ngày càng tăng từ khắp nơi trên các thịtrường Châu Âu bấy giờ và nhanh chóng học hỏi , cải tiến công nghệ sản xuất động cơ Trong những năm tiếp theo, công ty đã cho mở rộng thị trường cả trong và ngoài nướcbằng việc thành lập công ty con của mình tại Đan Mạch vào năm 1913.

 Vì vậy, trong suốt thập niên những năm 1920, Scania-Vabis tập trung vàonhững dòng xe tải hạng nặng, xe buýt và các động cơ Điều này vẫn được tiếptục phát triển như là lĩnh vực kinh doanh chính của Scania AB hiện nay

Vượt khó khăn trong những năm 1920 – 1930:

Do không chịu được sức cạnh tranh quá mạnh từ thị trường nhập khẩu xe tải tiêu chuẩntại Thụy Điển và do sai lầm trong quyết định chiến lược tập trung năng lực sản xuất chocác dòng xe tải tiêu chuẩn mà hàng loạt các cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra và dẫnđến sự từ chức của ông Per Alfred Nordeman cùng các giám đốc điều hành khác củacông ty lúc bấy giờ Sản xuất của công ty bị trì trệ bởi các cuộc đình của công nhân,

khách hàng bỏ rơi công ty Tháng 6/ 1921, Scania- Vabis xin đệ đơn xin phá sản Đồng

thời, để giảm thiệt hại, công ty đã quyết định thành lập một công ty con dưới cái tên gọi

là AB Scania-Vabisvà đã phải đối mặt với nhiều khó khăn Tuy nhiên, một cơ hội đã đến

với công ty, khi người giám đốc điều hành mới, Gunnar Lindmark, đã thực hiện chiếnlược tiếp thị động cơ tiết kiệm năng lượng cho các khách hàng của mình là Cục quản lýbưu chính Thụy Điển và Cơ quan Hải quan Với chiến lược này đã mang đến sự sống còncho Scania-Vabis với đơn đặt hàng 15 xe buýt thư (Mail bus), có thể đi được trên nhữngcon đường đầy tuyết được hợp tác nghiên cứu giữa 2 bên

Năm 1925, Scania-Vabis đã công bố loạt xe tải mới.Năm 1929 đẩy mạnh chiến lược

nghiên cứu và thiết kế động cơ công nghiệp, hàng hải hoàn toàn mới Những năm thậpniên 30, nhờ nhu cầu ổn định của các dòng xe buýt mà Scania-Vabis đã duy trì đượclượng sản phẩm và nguồn nhân công vì vậy các khoản nợ đã được dần dần thanh toán

1932, doanh số bán hàng của xe buýt đã vượt qua doanh số bán hàng của xe tải Nghiên

cứu và cho ra đời dòng xe buýt “Bulldog”- đi tiên phong bởi thiết kế đơn giản và tiết

kiệm không gian nhằm gia tăng khả năng cạnh tranh

Trang 11

1936: Scania-Vabis đã giới thiệu động cơ diesel đầu tiên của mình.

1939: Scania-Vabis đã ra mắt Royal, một động cơ diesel đơn nguyên bằng cách sử dụng

các linh kiện phụ trợ Đó là khởi đầu của hệ thống mô-đun của Scania

 Có thể coi trong thời kì này đã đánh dấu sự thay đổi của Scania-Vabis, chuyểnđổi từ công ty xe tải sang công ty chế tạo xe buýt bằng một số sản phẩm từ xetải và một số động cơ riêng biệt Đưa công ty thoát khỏi nguy cơ phá sản

Tìm ra hướng kinh doanh mới trong những năm 1940 -1960:

Trong suốt những năm thập niên 40, Scania đã cho phát triển chương trình sản phẩm đun của họ, dựa trên việc kết hợp một số lượng hạn chế các linh kiện để lắp ráp ra lượng

mô-lớn các mô hình của xe tải, dẫn đến việc tăng lên đáng kể trong quy mô sản xuất Trong thế chiến thế giới thứ 2, sản xuất của Scania được tập trung vào việc sản xuất các loại xe

tăng, xe bọc thép cho quân đội Sau chiến tranh, nhu cầu cho xe tải nặng để phục vụ choviệc tái thiết Châu Âu tăng lên là thuân lợi cho công ty

Vào năm 1948, Scania-Vabis thực hiện chiến lược mở rộng đến thị trường Nam Mỹ , khi

xuất khẩu xe buýt lần đầu tiên đến thị trường Brazil, và tiếp theo là xe tải vào năm 1951,theo một thỏa thuận nhập khẩu của Công ty sản xuất xe ô tô Vemag của Brazil Đánh dấu

sự khởi đầu của thành công lâu dài với xe buýt đường dài ở Brazil và các nước láng giềng

khác và trở thành Tổng đại lý nhập khẩu tại thị trường Thụy Điển của Volkswagen

AG Nhờ chiến lược kinh doanh mới mà thị phận của Scania-Vabis đã tăng từ 40% lên

50% tại Thụy Điển Trong suốt những năm 1950, xuất khẩu của Scania-Vabis tăng lên

đáng kể, vì vậy, đã thành lập công ty con của mình tại Brazil vào năm 1957 và đây trởthành cửa ngõ cho các hoạt động quốc tế hóa của công ty sau này

Năm 1953, Scania-Vabis phối hợp phát triển với Công ty cổ phần sản xuất Mack của Mỹ

đưa ra Metropol Scania-Vabis- dòng xe buýt đầu tiên được sản xuất hoàn toàn tại Thụy

Điển với cấu trúc khung xe liền khối.Vào năm 1954, Scania-Vabis giới thiệu dòng xe Regent, nhanh chóng trở thành dòng xe tải hàng đầu trong nhiều năm Năm 1958, Scania

đã bắt đầu thiết kế series B75, là dòng mô hình tồn tại lâu nhất của nó Dòng mô hình nàyvẫn còn được sản xuất mãi cho đến năm 1980 Scania-Vabisđã thiết lập hợp tác với các

Trang 12

đại lý và các nhà nhập khẩu ở nhiều nước Điển hình với việc Beers trở thành nhà nhậpkhẩu chính thức của Scania-Vabis tại Hà Lan và đã mang lại cho Scania-Vabis 20% thịphần tại thị trường này.

Khi ngày càng phát triển, Scania-Vabis bắt đầu chiến lược mở rộng hoạt động sản xuất xetải, xe buýt và động cơ ở các nước sở tại mong có được một mức chi phí sản xuất đủ thấp

và cung cấp sản phẩm cho các thị trường khác Với việc xây dựng nhà máy sản xuất nước

ngoài đầu tiên tại São Bernardo do Campo ở Brazil vào năm 1962 và tiếp tục phát triển và xây dựng nhà máy sản xuất khác tại Zwolle ở Hà Lan vào 1965 Việc này nhằm

nắm bắt thị trường xuất khẩu mới và đặc biệt là các nước trong Liên minh Châu Âu

Năm 1966, tung ra dòng xe buýt thành phố thân thiện, thoải mái CR76- trọng lượng thấp

và sàn thấp đã được ưu tiên và động cơ đã được điều chỉnh đến tạo ra khói ít nhất

Trong báo cáo thường niên năm 1999, để cải tiến thêm các dòng xe tải, xe buýt của mình,

Vabis đã xem xét việc mua lại các công ty sản xuất xe khác Năm 1966,

Scania-Vabis đã mua lại quyền sở hữu của một đối thủ có giá trị Be-Ge Karosserifabrik ở

Oskarshamn, Thụy Điển.Năm 1967, Scania-Vabis mua lại công ty sản xuất thùng xe SvenskaKarosseri Verkstäderna  Katrineholm , tạo ra công ty con Scania-Bussar Năm 1969,

Scania-Vabis đã thực hiện chiến lược sáp nhập với hãng sản xuất xe hơi và máy bay

Thụy Điển, Saab AB Kết quả là tạo ra công ty mới Saab-Scania

 Đây có thể được xem như là mở màn sự thành công trong chiến lược kinhdoanh quốc tế của Scania-Vabis Những thay đổi trong chiến lược kinh doanh

đã giúp Scania AB trở nên có tính cạnh tranh hơn trong ngành và bắt đầu thuđược khoản lợi nhuận từ việc kinh doanh xuất nhập khẩu các dòng xe VàScania đã trở thành một công ty Châu Âu với mạng lưới dịch vụ dày đặc trênkhắp thị trường Châu Âu vào năm 1970

Những bước tiến xa ra thị trường quốc tế từ năm 1970 cho đến nay.

Để củng cố thêm vị trí của một công ty Châu Âu, Scania đã cho khánh thành một nhà

máy sản xuất tại Tucuman, Argentina vào năm 1976.Trong suốt những năm 1980,

quản lý mới của Scania, ông Leif Östling, đã đưa ra mục tiêu kinh doanh mong muốn

Trang 13

tăng khối lượng bán hàng và thậm chí nhiều hơn nữa để bảo toàn lợi nhuận tốt nhất trongngành công nghiệp ô tô của mình mà vẫn đáp ứng khách hàng Vì vậy, Scania đã giớithiệu 2 loại xe tải với cấu hình vận tải lớn theo yêu cầu của khách hàng ra thị trường vàquy mô hóa chương trình này lên tầm cỡ toàn cầu Góp phần khẳng định thời kì hoàng

kim của tập đoàn Scania AB.Trong suốt những năm thập niên 90, Scania bị ảnh hưởng

bởi các quy định bãi bỏ ở thị trường vận tải Châu Âu Nên việc sử dụng các loại xe hạngnặng trên thế giới cũng góp phần quan trọng trong sự phát triển của công ty Doanh sốbán hàng của loại xe hạng nặng đã tăng từ 30.000 lên 50.000 chiếc Vì vậy, Scania đã

chiếm được thị phần cả ở Châu Âu và Nam Mỹ và sau là Châu Á.Năm 1990, Scania bắt

đầu phân ra thành 2 hệ thống: hệ thống công nghiệp (phát triển, sản xuất và tiếp thị) và hệthống thương mại (sở hữu Scania và các nhà phân phối độc lập) Để tạo ra một cấu trúc

rõ ràng hơn và tập trung nhiều hơn vào sự tăng trưởng và lợi nhuận

Năm 1991, bắt đầu tập trung việc sản xuất linh kiện cho các công ty ở Châu Âu, một quá trình được tiếp tục trong suốt những năm 1990 Năm 1992, Scania đã xây dựng 1 nhà

máy lắp ráp mới ở Angers, Pháp Đó là một hệ quả của quyết định tập trung nâng cao

năng lực sản xuất cũng như cạnh tranh của công ty.Năm 1994, do xảy ra những vấn đề

vốn và công nghệ, Saab-Scania đã phân ra thành 2 công ty phát triển độc lập dựa trênchuyên môn: Saab AB (trang thiết bị quốc phòng và hàng không vũ trụ) và Scania AB

Cả 2 công ty đều thuộc quyền sỡ hữu và điều hành bởi các nhà đầu tư khác nhau

Scania đã bắt đầu phát triển hệ thống sản xuất mô-đun trong những năm 1960 và tái cơ

cấu hoạt động thành hệ thống công nghiệp và thương mại ở Mỹ Latinh

Năm 1996, các nhà đầu tư đã bán khoảng 55% cổ phần của Scania AB thông qua chào

bán ra công chúng quốc tế Ngày 01/4/1996, Scania AB đã được niêm yết tên trên thị

trường chứng khoán Stockholm và New York Năm 1997, Scania đã tạo ra một cơ cấu

sản xuất toàn cầu Sau việc chuyển đổi ở Mỹ Latin, Scania AB đã trở thành nhà sản xuất

xe hạng nặng đầu tiên với môt loạt các sản phẩm toàn cầu Nói cách khác, Scania đã sảnxuất và cung cấp các sản phẩm với các bộ phận thay thế cho nhau và cùng một chất lượng

và hiệu quả trong tất cả các thị trường mà công ty đang hoạt động

Trang 14

Cuối những năm 1990, Scania đã tăng cường hội nhập bằng cách mua lại các nhà phân

phối, mở rộng và tăng cường tổ chức dịch vụ của mình ở Châu Âu và các thị trường khác,bằng cách nâng cao kỹ năng của nhân viên và thiết lập các tiêu chuẩn chung xây dựngmức độ cao nhất về tính sẵn có của phương tiện dành cho khách hàng

Năm 1999, Chủ sở hữu chính của Scania AB, Investor AB, đã kí một thỏa thuận với

Volkswagen bán 34% quyền biểu quyết và 18,7% vốn trong Scania AB

Năm 2000: Scania đã làm ra chiếc xe tải thứ 1,000,000 Đó là sự hợp tác giữa 11 nhà

máy sản xuất trong 5 quốc gia, với lắp ráp cuối cùng ở Zwolle, Hà Lan Và quyết định

thành lập một nhà máy lắp ráp xe bus ở St Petersburg, Nga.

Năm 2002: Volkswagen AG mua lại 50% cổ phần của Scania Do đó, Volkswagen AG

có trách nhiệm sở hữu chính tại Scania

Năm này, Scania đã chuyển hướng hợp tác chiến lược với các công ty Nhật Bản(hợp tácchiến lược với Yanmar, điều này cho phép Yanmar được quyền bán và chào bán động cơhàng hải Scania tại các thị trường trên toàn thế giới )

Năm 2005: Scania đã ký kết liên doanh mới với Cummins của Mỹ với sản phẩm động cơ

diesel cho thiết bị phun áp suất cao thế hệ mới, Xtra-High Pressure Injection (XPI)

Năm 2007, Scania đã đề xuất dự án về hệ thống xe buýt của tương lai với cơ chế hoạt

động dựa trên sản nhiệt của nhiên liệu sạch tái tạo từ chất thải nông nghiệp, bằng cáchnày, xe buýt của Scania sẽ có thể giảm đến 90% khí thải CO2 do dùng nhiên liệu hóathạch mở ra một kỉ nguyên mới cho việc sản xuất động cơ xanh, môi trường

Năm 2008, Scania đã trở thành nhãn hiệu thứ 9 của Volkswagen AG, và cũng đã kí một

thỏa thuận với chính phủ Iraq về lắp ráp xe buýt và xe tải ở quốc gia này

Năm 2010, Scania tổ chức kỉ niệm 100 năm thành lập tại Nga bằng việc chính thức khai

trương một cơ sở công nghiệp ở St Petersburg để lắp ráp thân xe tải cho thị trường Nga

3> THÀNH TỰU

Scania là một trong những công ty hàng đầu thế giới về xe tải công nghiệp nặng.Đứng thứ 21 trong danh sách gồm 72 công ty lớn nhất Bắc Âu (Danh sách dựa trên danhsách Forbes Global 2000 được xuất bản 04/02/2008

Trang 15

Scania là một công ty toàn cầu với tổ chức thương mại và dịch vụ ở hơn 100 quốcgia Ngoài việc kinh doanh thương mại và dịch vụ, Scania cung cấp dịch vụ tài chính ởnhiều thị trường Các cơ sở sản xuất của Scania có mặt ở Châu Âu và Châu Mỹ La Tinh.

Năm 2011, thu nhập của Scania đạt 12,398 triệu SEK Lượng phân phối phương

tiện giao thông tăng đến 26% với con số ghi nhận được là 80,108 phương tiên Thu nhậpdịch vụ tăng 4% dến 17,048 triệu SEK Lợi nhuận hoạt động tuy giảm nhưng thu nhậptrên cổ phiếu lại gia tăng 11,78 SEK Doanh số bán ròng tăng 12% và đạt 87,686 triệuSEK Doanh thu ròng theo các năm của từng dòng sản phẩm:

Scania cũng đã đạt rất nhiều giả thưởng lớn cho những cải tiến sản phẩm và môi trường, gia tăng được sức mạnh thương hiệu của mình

“Nếunhưbạnđivàodoanhnghiệpmàởđóchỉcóbứctranhlịchsửcủanó,bạnsẽphảilongại.Ngư ợclại,nếubạnđivàomột doanhnghiệpđãcóbứctranhvềtươnglaicủanó,bạnsẽrấtthíchthú.”-

“Scania’s vision is to be the leading company in its industry by creating last value

for its customer, employees, shareholder, and other stakeholders.”

Trang 16

trích sách Quản trị Chiến lược

Và đối với Scania cũng vậy, viễn cảnh mô tả tổ chức muốn trở thành công ty hàngđầu trong ngành công nghiệp sản xuất ô tô và xe du lịch như một kim chỉ nam dẫn lối chocông ty cho đến tận ngày hôm nay

4.1.1> Tư tưởng cốt lõi:

Tư tưởng cốt lõi là một yếu tố đích thực mà được khám phá từ nội bộ tổ chức Nóxác định đặc tính lâu dài của một tổ chức, giúp viễn cảnh của công ty có được sức mạnhdẫn dắt và khơi dậy niềm cảm hứng

4.1.1.1> Giá trị cốt lõi:

Giá trị cốt lõi của Scania tràn ngập toàn bộ văn hóa của công ty và ảnh hưởng đếncông việc hàng ngày Các yếu tố “Khách hàng là trước tiên, tiếp theo là tôn trọng cá

niệm thống nhất Những giá trị cốt lõi này là điểm khởi hành cho tất cả các phát triểnkinh doanh của doanh nghiệp

“Through knowledge of customers’s business operations,Scania focuses its efforts on creating added value for its customers Scania delivers solutions that contribute to customer profitability by means of high earning capacity and low operating costs, while promoting a sustainable environment The customer’s operations are at the centre of the entire value chain: from research and development via procurement and production, to sales, financing and delivery of services.”

Tạm dịch:

Thông qua kiến thức về hoạt động kinh doanh của khách hàng, Scania nỗ lực tập trung vào việc tạo ra giá trị cho khách hàng, thông qua việc cung cấp các giải pháp góp phần vào lợi ích khách hàng, bằng các phương tiện có năng suất sinh lợi cao và chi phí vận hành thấp, cùng với việc thúc đẩy một môi trường bền vững

Trang 17

Các hoạt động của khách hàng là trung tâm của toàn bộ chuỗi giá trị: từ nghiên cứu và phát triển thông qua mua sắm, sản xuất, tài chính, bán hàng và cung cấp dịch vụ.

Trong một lần chia sẻ với giới truyền thông, Per Hallberg – Thành viên của Ban

chấp hành. Phó chủ tịch, Trưởng phòng Nghiên cứu và Phát triển, mua hàng đã phát biểu rằng:“Customer first means customers are always the focus of Scania's work and

decision making.”Tạm dịch: Khách hàng là trước tiên nghĩa làkhách hàng luôn luôn là

trọng tâm trong công việc và khi đưa ra quyết định của Scania

TÔN TRỌNG CÁ NHÂN - RESPECT FOR THE INDIVIDUAL

“Respect for the individual means recognizing and utilising each employee’s knowledge, experience and ambition in order to continuously improve and develop working methods Inspiration and new ideas are born out of day-to-day operations This helps ensure higher quality, efficiency and jobsatisfaction.”

Tạm dịch:

Tôn trọng cá nhân có nghĩa là công nhận và sử dụng kiến thức, kinh nghiệm và tham vọng của mỗi nhân viên để tiếp tục cải thiện và phát triển các phương pháp làm việc Cảm hứng và những ý tưởng mới được sinh ra từ các hoạt động hàng ngày Việc tôn trọng cá nhân giúp đảm bảo quá trình hoạt động có được chất lượng cao hơn, hiệu quả hơn và đạt được sự hài lòng trong công việc.

Hay cũng có một định nghĩa ngắn gọn hơn về Tôn trọng cá nhân:“Respect for the

individual means that employees feel respected by their managers and fellow employees and can exert an influence.Everyone has a chance to undergo professional development based on his or her individual talents”.

Tạm dịch:  Tôn trọng cá nhân có nghĩa là nhân viên cảm thấy được tôn trọng bởi các nhà

quản lý và đồng nghiệp của họ Mọi người đều có một cơ hội để phát triển chuyên môndựa trên tài năng cá nhân của mình

"Chìa khóa thành công nằm ở việc tạo ra các giá trị chia sẻ và một định hướng chung mà việc quản trị phải đượcđảm bảo rằng được mọi người hiểu, chấp nhận và làm theo” ông Per Hallberg, Trưởng phòng Sản xuất và mua sắm tại Scania nói.Và như để

Trang 18

minh chứng cho điều trên, Hallberg đã dẫn chứng rằng: "Tất cả các nhân viên đượckhuyến khích tham gia vào nhiệm vụ cải thiện"."Các kỹ sư và các chuyên gia không phải

có độc quyền về các biện pháp cải tiến. Vai trò của người quản lý là khuyến khích nhânviên đóng góp ý kiến. Đó là một nguồn sức mạnh mà tất cả mọi người có thể tỏa sángbằng cách đưa ra các gợi ý để cải tiến, được sử dụng như là là một quyền của nhà quản

Tạm dịch:

Lợi ích cho các khách hàng trong suốt chu kỳ sống của sản phẩm phụ thuộc vào việc cung cấp các giải pháp chất lượng cao từ Scania Thông qua kiến thức tốt về nhu cầu của khách hàng, Scania có thể cải thiện chất lượng của sản phẩm và dịch vụ của mình một cách liên tục Xóa bỏ tất cả hao phí là cách Scania có thể đảm bảo rằng tất cả các giao dịch đáp ứng được sự mong đợi mà khách hàng đòi hỏi.

Sai lệch so với mục tiêu và tiêu chuẩn được sử dụng như là một nguồn có giá trị trong quy trình cải tiến liên tục của Scania.

“We love deviations - Chúng tôi yêu sai lệch"

Một trong những nguyên tắc quan trọng là phương pháp làm việc chuẩn hóa. Đitheo một tiêu chuẩn có nghĩa là nó sẽ tìm ra một cách nhanh chóng và dễ dàng nếu có bất

kỳ độ sai lệch nào

Trang 19

Vì vậy, Scania đã đặt ra khẩu hiệu nội bộ "Chúng tôi yêu thích sai lệch." Nhânviên được khuyến khích để nói về các vấn đề xảy ra, do đó, họ có thể được sửa chữa mộtcách nhanh chóng và nó không còn lặp lại nữa.

  "Cảm ơn bạn đã nói với chúng tôi khi có điều gì đó sai," người quản lý nói với

nhân viên sản xuất. "Bằng cách đó chúng ta có thể làm một cái gì đó cho vấn đề này."

Sự khác biệt giữa những nhà quản lý đó là một bên gây bất lợi cho nhân viên khimọi việc đi sai còn một bên thì khuyến khích nhân viên để làm rõ các vấn đề một cáchminh bạch

Để trích dẫn điều này, nhóm chúng tôi xin đưa ra một dẫn chứng khi khách tớitham quan tại đơn vị sản xuất của Scania Họ thường vô cùng ngạc nhiên khi thấy các lỗisai được công khai và được nhấn mạnh một cách rõ ràng. Bằng cách hiển thị lớn lỗi đó vàđưa vào các bản tin/ bảng thông báo nhỏ với cách đánh vần rõ ràng những gì đã thất bạitrong việc đáp ứng các tiêu chuẩn sản xuất – Trích từ du khách đến từ Hoa Kỳ

Tuy nhiên, qua Đại Tây Dương, các nhà máy thường làm ngược lại, chỉ làm nổibật những công việc

Cùng với việc luôn kiên định với các giá trị cốt lõi của mình, Scania luôn cho mọingười thấy rằng danh tính của Scania được định hình bởi khách hàng, sản phẩm của nó –

xe, dịch vụ, tài chính – và bằng mọi người trong công ty với giá trị của họ và phươngpháp làm việc Ba nhân tố giá trị cốt lõi - “khách hàng là trước tiên”, “tôn trọng cá nhân”

và “chất lượng” buộc chặt các công ty lại với nhau và đó là cơ sở hình thành nên nền vănhóa của Scania, phong cách lãnh đạo và sự thành công trong kinh doanh

4.1.1.2> Mục đích cốt lõi:

Theo CEO của Scania đã từng nói rằng: “Tại Scania, chúng tôi luôn lấy làm

tự hào là một tổ chức học tập mà tổ chức đó luôn giữ đúng giá trị của nó, nhưng lại không hề ngại thay đổi Chúng tôi luôn tìm kiếm làm thế nào chúng ta có thể làm một cách tốt hơn, được sự hỗ trợ bởi các hệ thống mạnh mẽ và sự cam kết không ngừng cho người dân và xã hội của chúng ta.”

Trang 20

Vì lẽ đó, mà mục đích thành lập Scania là để cung cấp lợi ích tốt nhất cho kháchhàng của mình trong suốt vòng đời sản phẩm bằng cách cung cấp tối ưu hóa xe tải nặng

và xe buýt, các công cụ và dịch vụ - qua đó để trở thành công ty hàng đầu trong ngànhcông nghiệp của nó

Hoạt động của Scania dựa trên giá trị cốt lõi của công ty, tập trung vào phươngpháp làm việc và tận tâm với các nhân viên

4.1.2> Hình dung tương lai

Trong thời gian tới, Scania phải đối mặt với rất nhiều khó khăn như khủng hoảngkinh tế, giá cả leo thang, suy giảm tín dụng một cách trầm trọng, đặc biệt là vấp phải sựcạnh tranh gay gắt khi giờ đây nhiều hãng xe hàng đầu châu Âu như Toyota, GM,… thìviệc hướng đến mục tiêu duy trì vị thế này không phải là điều không hề đơn giản và nóthật sự là một đỉnh núi Everest đáng để chinh phục đối với toàn bộ thành viên Scania

4.2> SỨ MỆNH

“Scania is to be the leading company in its industry”

Trang 21

Scania’s mission is to supply its customer with high-quality heavy vehicles and services related to the transport of good and passengers by road By focusing on customer needs, high quality product and services, as well as respect for the individual, Scania shall create value-added for the customer and grow with sustained profitability.

Scania’s operations specialize in developing and manufacturing vehicles, which shall lead the market in term of performance and life cycle cost, as well as quality and environments characteristics.

Scania’ s sale and service organization shall supply customers with vehicles and services that provide maximum operating time at minimum cost over the service life of their vehicles, while preserving environmental characteristics.

Tạm dịch:

+ Nhiệm vụ của Scania là cung cấp cho khách hàng của mình những xe tải hạng nặng chất lượng cao và các dịch vụ liên quan đến vận tải hàng hóa và hành khách bằng đường bộ Bằng việc tập trung vào nhu cầu của khách hàng, dịch vụ cà sản phẩm chất lượng cao cũng như tôn trọng cá nhân, Scania sẽ tạo ra giá trị gia tăng cho khách hàng

và phát triển với lợi nhuận ổn định.

+ Những hoạt động của Scania tập trung vào việc phát triển và sản xuất phương tiện giao thông, mà sẽ dẫn đầu thị trường về hiệu suất và chi phí vòng đời sản phẩm, cũng như chất lượng và đặc tính về môi trường.

+ Tổ chức bán hàng và dịch vụ của Scania có trách nhiệm cung cấp cho khách hàng các phương tiện và dịch vụ với thời gian hoạt động tối đa tại mức chi phí tối thiểu trong suốt thời gian phục vụ xe của họ, trong khi vẫn giữ các đặc tính về môi trường.

4.2.1> Định hướng khách hàng và đinh nghĩa kinh doanh:

Hoạt động kinh doanh của Scania được xác định trên 3 phương diện:

- Scania tập trung vào phân khúc xe buýt, xe tải cho các ứng dụng hạng nặng và động cơtrong công nghiệp và hàng hải

Trang 22

- Scania luôn cố gắng tạo sự thỏa mãn tối đa trong lựa chọn của mình cả về chi phí, chất

lượng sản phẩm và dịch vụ đảm bảo phù hợp với khả năng tài chính của khách hàngkhông chỉ trong ngắn hạn mà trong thời gian dài, cố gắng giảm thiểu thời gian chờ

- Scania luôn ứng dụng những công nghệ kỹ thuật hiện đại, cải tiến sản phẩm ngày

càng phù hợp và tối ưu, gia tăng các dịch vụ về sản phẩm liên quan và dịch vụ tàichính Với 1500 điểm phục vụ trên thế giới, Scania cố gắng hiểu và cung cấp sảnphẩm cũng như dịch vụ tốt nhất đến khách hàng

Và không nằm ngoài định hướng của Abell, định nghĩa kinh doanh của Scania làđịnh hướng vào khách hàng bằng việc không ngừng tạo ra giá trị cho khách hàng trongquá trình phát triển của mình

Dẫn chứng qua các hoạt động của Scania đa số đều tập trung chủ yếu trên các xethương mại hạng nặng để vận chuyển hàng hóa và người dân bằng đường bộ

4.2.2.2> Với nhân viên :

Trang 23

Đánh giá các cá nhân - mỗi nhân viên là một nền tảng của văn hóa doanhnghiệp. Nói một cách đơn giản hơn thì “ Nếu không có họ, sẽ không có Scania.”

Scania hiện đang sử dụng khoảng 37.500 người tại hơn 100 thị trường. Một lựclượng lao động gắn kết được tạo ra thông qua các quy trình hướng dẫn quản lý trên toàncầu, nhưng tại địa phương nơi mà sở hữu nguồn nhân lực đó phải tập trung vào sự antoàn, cơ hội bình đẳng và thù lao, sự đa dạng và học tập liên tục

Phúc lợi của nhân viên là điều tối thượng hay nói dễ hiểu hơn là hết sức quantrọng tại Scania Đây là nơi mà sự An toàn, Sức khỏe và Chuẩn mực về môi trường được

đo lường thông qua hệ thống Tỷ lệ xanh của Scania. Mối quan tâm về sức khỏe và sự antoàn được mở rộng tới tận khách hàng của chúng tôi, chúng tôi nhấn mạnh nhiều vào việccải thiện sức khỏe và sự an toàn của người lái xe - ví dụ như thông qua chương trìnhScania Chăm sóc lái xe

4.2.2.3> Với môi trường :

Đi trước một bước một cách xuất sắc về môi trường và các luật liên quan đến môitrường là một yếu tố góp phần nên sự thành công cho Scania. Chúng tôi nhận thấy tầmquan trọng trong kinh doanh và quản trị là phát triển xe cộ cho một giao thông bềnvững. Cũng như các công trình tiên phong của chúng tôi là các loại nhiên liệu tái tạo vàdịch vụ để cải thiện nhiên liệu và hiệu suất trong quá trình vận chuyển, điều này đảm bảocho các hoạt động cũng như các sản phẩm của chúng tôi là sạch nhất có thể

Phương pháp tiếp cận một cách chủ động để quản lý các tác động môi trường, dựatrên tiến độ vòng đời và nguyên tắc phòng ngừa. Một mạng lưới sản xuất toàn cầu tíchhợp đảm bảo tiêu chuẩn cao ở bất cứ nơi nào mà chúng tôi hoạt động. Chúng tôi làm việcchăm chỉ để giảm thiểu nhất việc tiêu thụ tài nguyên không cần thiết, loại bỏ lãng phí vàhạn chế các tác động lên các sản phẩm của chúng tôi trong suốt vòng đời của nó Hệthống mạng lưới toàn cầu của chúng tôi giúp đảm bảo tối ưu hiệu suất môi trường của cácsản phẩm của chúng tôi khi lưu thông trên đường

4.2.2.4> Với cộng đồng công chúng:

Trang 24

Tại Scania, chúng tôi nhìn thấy tiềm năng rất lớn cho các cơ hội kinh doanh từviệc đóng một vai trò hàng đầu trong việc phát triển các phương tiện giao thông bềnvững. Cách tách lưu động từ khí thải, tiếng ồn và ùn tắc là một thách thức lớn, tuy nhiênchúng tôi đang trong quá trình tham gia giải quyết nó và đó là một trong những cách quantrọng đóng góp cho xã hội từ phía Scania.

Hơn một nửa ngân sách phát triển của chúng tôi là mục tiêu cải thiện hiệu suất môitrường của các sản phẩm của chúng tôi. Chúng tôi đã tích cực thúc đẩy sản xuất xe phùhợp với nhiên liệu tái tạo cũng như các dịch vụ để cải thiện nhiên liệu và hiệu suất vậnchuyển.Tầm nhìn của Scania dành cho ngành công nghiệp vận tải là giảm lượng khí thảicarbon trên mỗi tấn vận chuyển tới 50% giữa năm 2000 và 2020 bằng cách đầu tư vàođào tạo lái xe, công nghệ xe công nghệ và hậu cần. 

4.2.3> Mục tiêu:

Mụctiêutốtsẽ cungcấpcáccôngcụ đểđánhgiásựthựcthicủacácnhàquảntrị.

4.2.3.1> TĂNG TRƯỞNG QUY MÔ

Viễn cảnh của công ty là dẫn đầu trong ngành công nghiệp mà nó theo đuổi Vàcho đến tận ngày nay, Scania đã góp mặt trong 10 nhãn hiệu của hãng xe lớn nhất nướcĐức, Volkswagen Đứng cùng với Scania gồm có Volkswagen, Audi,Bentley,Lamborghini, Bugatti, Seat, Skoda, MAN SE và Ducati

Hiện nay, Scania sở hữu trong tay 10 nhà máy sản xuất tại Thụy Điển, Pháp, HàLan, Argentina, Brazil, Ba Lan và Nga Vào năm 2008, Scania đã thuê gần 35.000 nhâncông trên toàn thế giới

4.2.3.2> MÔI TRƯỜNG

Công ty luôn hướng các sản phẩm của mình đến sự giảm thiểu chất thải và antoàn cho môi trường Và như để đáp lại nỗ lực ấy, vào tháng 5 năm 2012, báo chíthương mại Đức vinh danh Hệ thống hiệu suất môi trường của Scania Tạp chí giao thôngvận tải thương mại uy tín của Đức Verkehrsrundschau và Trucker đã cho Scania "Xexanh năm 2012" giải thưởng Trong một nghiên cứu tập hợp các thử nghiệm rộng rãi mà

Trang 25

họ thực hiện, mô hình máy kéo Scania R480 Euro 6 đã đứng đầu về hiệu suất môi trường.Xếp hạng hàng đầu của Scania là kết quả của việc tiêu thụ nhiên liệu thấp của xe tải vàkhả năng chịu tải tốt, kết hợp với thực tế rằng Scania đã một mình trong việc cung cấp xetải với Euro 6 động cơ khi thử nghiệm đã được tiến hành trong năm 2011.

Scania đặt ra một số mục tiêu về môi trường cho năm 1999 (Năm nền tảng 1996) như: Tất cả các đơn vị của Scania trong hệ thống công nghiệp sẽ hoàn thành việc

thực hiện hệ thống quản lý mô trường và đạt được chứng chỉ ISO 14001, tất cả những

Trang 26

nhân viên của Scania trong hệ thống công nghiệp sẽ được nhận những chương trình đàotạo môi trường có liên quan đến công việc của họ, ít nhất 75% nhân viên và khách hàngcủa Scania sẽ được thỏa mãn với những sản phẩm của Scania liên quan đến môi trường,

sự tiêu dùng năng lượng sẽ được giảm 10%, tiêu dùng nước giảm 10%, sản lượng chất

thải sẽ được giảm còn 20% trên mỗi đơn vị sản xuất

5> TRÁCHNHIỆMXÃHỘICỦACÔNGTY

5.1> TẠO VIỆC LÀM CHO HÀNG NGÀN LAO ĐỘNG

Scania đóng một vai trò trong xã hội bằng cách tạo ra các cơ hội việc làm và đầu

tư vào đổi mới cũng như cung cấp một cách cạnh tranh về các giải pháp vận chuyển chokhách hàng, giúp họ tạo ra lợi ích bền vững Scania có một vai trò tích cự trong cộngđồng địa phương và phấn đấu để quản lý tất cả các hoạt động theo cách bền vững

Việc tổ chức mua bán theo yêu cầu các nhà cung cấp Scania dựa theo Tuyên ngôncủa Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền liên quan đến sức khỏe người lao động, an toàn, tiềnlương và điều kiện làm việc

5.2> MÔI TRƯỜNG

5.2.1> Môi trường:

Trang 27

Scania phấn đấu để giảm thiểu tác động môi trường từ các sản phẩm của chúng tôitrong quá trình sản xuất và sử dụng Chúng tôi làm điều này bằng cách tham gia vào cáctác động môi trường trong toàn bộ vòng đời của xe tải, xe buýt và các công cụ.

Khái niệm về sản phẩm và hệ thống sản xuất của Scania được đặc trưng bởi hiệuquả tài nguyên và nguyên tắc thận trọng Hoạt đông môi trường của chúng tôi liên quanđến việc tiết kiệm nguồn tài nguyên và năng lượng cũng như các yêu cầu của khách hàng

về tiêu thụ nhiên liệu và khí thải một cách thấp nhất

5.2.2> Tâp trung vào lái xe:

Trong quá trình phát triển sản phẩm và dịch vụ, Scania tập trung đặc biệt vàongười lái xe Chúng tôi tin rằng người lái xe là tài sản quan trọng nhất cho một môitrường hiệu quả và an toàn Người lái xe có tay nghề và có trách nhiệm là xương sốngcủa ngành công nghiệp, nhưng thường xuyên bị định giá thấp trong những đóng góp của

họ cho xã hội

Trang 28

PHẦN 2:

PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI NGÀNH SẢN XUẤT XE TẢI NẶNG Ở THỤY ĐIỂN (2001-2010)

1> PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ

Trang 29

1.1> MÔI TRƯỜNG NHÂN KHẨU HỌC

- Dân số thế giới tăng trưởng nhanh chóng không ngờ với mức tăng trưởng năm

2011 là 1,1 % và đạt mốc7 tỷ người vào ngày 30/10/2011

- Với diện tích 449 964 km², dân số 9.4 triệu người Thuỵ Điển là nước lớn thứ batrong Liên minh châu Âu và có mật độ dân số thấp với 21 người/ km² nhưng lại phân bố

không đồng đều, dân số Thụy Điển cũng tăng trưởng nhanh chóng trong những năm

gần đây(1970-2008) dù dân số chiếm tỷ lệ thấp trên thế giới, năm 2011 đạt mốc 9,5triệu người như két quả của việc nhập cư cà tỷ lệ sinh cao

- Cơ cấu dân số thụy điển tương đối ổn định Năm 2011, 19,7% dân số là từ 65

tuổi trở lên(nam 800.169 / nữ 992.665) Tỷ lệ trẻ em và thanh thiếu niên trong độ tuổi

0-19 đạt 15,4%( nam 2.982.268 / nữ 2.910.135) Dân số của tuổi tích cực làm việc của

20-64 đạt 20-64.8% (nam 2.982.268 / nữ 2.910.135) 

- Trình độ lao động cao và đa dạng (người lao động có trình độ đại học và trên

đại học chiếm khoảng 31,2%, có nhiều nhóm dân tộc do quá trình nhập cư), nằm trongtop 10 các nước có chỉ số HDI cao nhất thế giới

Cơ hội: với xu hướng tăng dân số và đô thị hóa cao đồng thời có lực lượng lao động trình độ cao tạo điều kiện cho việc gia tăng nhu cầu sử dụng các loại phương tiện vận tải giao thông đường công cộng và cung cấp một nguồn lao động dồi dào chất lượng và đa dạng.

1.2> MÔI TRƯỜNG KINH TẾ

1.2.1> Tổng sản phẩm quốc nội.

Tổng sản phẩm quốc nội(GDP)ở Thụy Điểnmởrộng1,40% trong quýthứ haicủanăm2012so với quý trước Trong lịch sử,từ năm 1993đến năm 2012, tốc độ tăngGDPcủa Thụy Điển đạt trung bình0,69%đạtmức cao nhất2.30% của tháng banăm 2010vàmột ghi nhận giảm xuống-3,90% trong tháng mười hainăm2008

Dosự bùng nổkinhtế, thươngmại thế giớităng đột biến,dẫn

Trang 30

đếntăng trưởng xuất khẩunhanhchóngcho Thụy Điển Tốc độ tăng trưởngGDPđạt 4%trongcảhainăm 2004 và 2006 Năm 2007tăng trưởng kinh tếbị chậm lạimột lần nữa vàvàocuối năm 2008cuộc khủng hoảng tài chínhdẫn đếnmột cuộc suy thoáisâu Tốc độ tăngtrưởngGDP giảmtrong năm 2009,tuynhiên, nó đã hồi phụctrong năm 2010và 2011.

1.2.2> Mức lãi suất

Tỷ lệ lãi suất chuẩnở Thụy Điểnlần cuốibáocáolà 1,25% Trong lịch sử, lãisuấttrungbình đạt mức thấpkỷ lục0,25% trongthángBảynăm 2009

1.2.3> Tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái chính thức ở Thụy Điểnlần cuốibáocáotại6,49trong năm2011,theobáo cáo củaNgân hàng Thế giớicôngbốvào năm 2012 Tỷ giá hốiđoáichínhthứcđề cập đếntỷ giá hối đoáiđượcxácđịnhbởicáccơ quan quốc giahoặctỷlệđượcxácđịnhtrongthị trường ngoại hốimột cách hợp phápbị xử phạt

1.2.4> Chỉ số Lạm phát

Tỷ lệ lạm phát ở Thụy Điểnđã được ghi nhậnở0,70% trong thángTámnăm 2012 Tỷ lệlạm phát đạt trung bình thấp nhất -1,60% trongthángChínnăm 2009 Tỷ lệ lạmphátliênquanđến sự gia tănggiáchung trongđo so vớimứctiêuchuẩncủa sức mua

Trang 31

1.3> MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ - PHÁP LUẬT

Thuỵ Điển với 1 nền kinh tế phát triển cao, là một nước quân chủ lập hiến với thểchế đại nghị Tư tưởng chính trị chủ yếu của Thụy Điển trong suốt thế kỷ 20 dựa trênnguyên tắc không liên kết trong thời bình, trung lập trong thời chiến và cho đến ngàynay Thụy Điển vẫn không là thành viên của một liên minh quân sự Hệ thống pháp luậtnghiêm ngặt và chặt chẽ chú trọng vào việc đảm bảo sự phát triển bền vững

Cơ hội: Với nền chính trị ổn định, hệ thống pháp luật chặt chẽ công bằng đã tạo

điều kiện pháp lý thuận lợi cho ngành hoạt động ổn định, tránh rủi ro Chiểm gần 15% trong tổng sản phẩm quốc nội, chính phủ Thụy Điển luôn cố gắng tạo điều kiện tốt nhất cho các công ty hoạt động, phát triển.

Đe dọa: các quy định nghiêm ngặt về khí thải, cũng như an toàn xe của Thụy

Điển cũng như Liên minh Châu Âu đặt ra yêu cầu trong việc nghiên cứu, thiết kế sản phẩm phù hợp và hiệu quả nhất.

1.4> MÔI TRƯỜNG CÔNG NGHỆ

Thông thường,cáctínhnăngsáng tạo từcác nhà sản xuấtcung cấp trênxe ô tôcaocấpnhư các tùy chọnvàcuối cùngchảyxuốngxeít tốn kém hơnlàgiảmchi phí, tăngnhậnthứcvà nhu cầuphát triển Thiết bị và các tính năngcông chúngcócho các cấpngàyhôm nay -đánh lửa điện tử, cần gạt nướctựđộng, trợ lực lái, túi khí, điều khiển hànhtrìnhvà nhiều hơn nữa-bắt đầu cuộc sốngnhư các tiến bộbất ngờmàlóa mắtngười tiêudùng

Trang 32

Một cuộc khảo sát của 200giám đốc điều hànhôtôtrên toàn thế giớikếtluậnrằng từ2010- và có lẽít nhất lànăm sau đó-ngành công nghiệpsẽ tập trung vàođẩy lĩnh vựccôngnghệ,và điều chỉnh cácvấnđềvềmôi trường, chất lượng và cắt giảm chi phí.

Cơ hội và đe dọa: Với cácnghiêncứukhông ngừng vàphát triển thànhcông nghệ

mới vànhiên liệu tái tạo, các công ty trong ngành có lợi thế sở hữu những công nghệ mới

mẻ và hiện đại hơn so với các đối thủ ngoài ngành và các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng,việc này dễ dàng dành lấy ưu thế trong việc kinh doanh Tuy nhiên, đây cũng có thể làmột đe dọa cho các sản phẩm của họ nếu nó không đáp ứng và thay đổi kịp với các cảitiến trong công nghệ hiện đại

1.5> MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA XÃ HỘI. 

Văn hoá được xem là động lực phát triển kinh tế và đậy là nhân tố không thểkhông nhắc tới và càng không thể bỏ qua khi bắt đầu hoạt động kinh doanh

Sở hữu nền văn hóa đa dạng, đa sắc tộc Văn hóa Thụy Điển ảnh hưởng bới

Đan Mạch, Na Uy và Anh trong thời Trung cổ đầu; Đức trong thời Trung Cổ, Pháptrong thế kỷ 18; Đức một lần nữa giữa 19 giữa thế kỷ 2 Thụy điển chia ra thành 21

tỉnh(landskap) mỗi tỉnh có một lịch sử cụ thể hình thành những nền văn hóa, bản chất

khu vực khác nhau do giao thông còn nghèo nàn từ xa xưa

Đề cao một xã hội nam nữ bình quyềnđược xây dựng dựa trên hoàn cảnh lịch

sử có lợi cho tinh thần đoàn kết. Những người đàn ông cũng có sự tôn trọng tuyệt vờicho phụ nữ, và không bao giờ nghĩ rằng việc nhà phụ nữ là làm. Đàn ông có thể chấpnhận vợ kiếm được nhiều tiền hơn họ, sẵn sàng làm một "bà nội trợ" điển hình

Xem trọng tôn trọng, tính chính xác, lịch sự, không thích gò bó,họ sống rất thoải mái luôn đề cao toàn và sức khỏe, vì vậy Thụy Điển luôn đảm bảo một hệ thống phúc lợi khổng lồ, chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng hoàn hảo (cơ sở hạ tầng đường bộ với

213.237 km đã đầu tư xây dựng phát triển , trải nhựa 184.604 km)

Cơ hội:với nền văn hóa đa sắc tộc sẽ tạo điều kiện trong việc tạo dựng nguồn

lực thích ứng với sự thay đổi của môi trường, gần hơn với văn hóa thế giới Xã hội phát

Trang 33

triển mạnh, tăng trưởng nhanh trong công nghiệp(năm 2010 đạt 6,8%) và dịch vụ bán

lẻ tạo điều kiện phát triển mở mộng sản xuất vận tải hạng nặng.

Đe dọa: áp lực trong việc tạo dựng một nền văn hóa “đồng nhất trong sự đa

dạng”, mọi người có thể hiểu và chia sẻ lẫn nhau Áp lực trong việc đáp ứng các sản phẩm an toàn, giảm thiểu tác động môi trường.

1.6> MÔI TRƯỜNG TOÀN CẦU 

+ Các thị trường quốc tế đang tăng trưởng.

Các nền kinh tế mới nổi và đang phát triểnthườnglàcácnền kinh tế chuyển đổi,chuyển đổi từnền kinh tế đóngmởnền kinh tế thị trường Thông thường,quá trình chuyểnđổiliênquanđếncải cách cơ cấu, chính sách nhưtiền tệhoặc thay đổithị trường vốn Mứcđộđầu tư nước ngoàicũngquan trọng đối vớimột nền kinh tếđangnổilên Trong hầu hết cáctrường hợp, đầu tư nước ngoài tănglàmột dấu hiệunền kinh tếcó tiềm năng

Tự do hóa thị trườngtrong nền kinh tếTrungQuốcđãđưa nền kinh tếnhảy vọt.Trong năm 2010, tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốclà10,456%, với tổng giátrị5,745.13tỷUSD, và dự kiến sẽtăng11,79% năm 2011 lên$6,422.28tỷMỹ Trong 30nămqua, tỷ lệ tăng trưởng kinh tếcủaTrungQuốcđãgần như kỳ diệu, trung bình tăngtrưởng 8% trongGDPmỗi năm Nền kinh tế đãpháttriểnhơn 10 lầntrong khoảng thời gian

đó, với GDP của Trung Quốcđạt3,42nghìn tỷUSD trong năm 2007

+ Các xu hướng sáp nhập và mua lại

Năm 2007 và năm 2006 đượcđánhdấubởimột loạt vụsáp nhập vàmualạitrên toànthế giớiở các nước đangphát triển vàpháttriển Xu hướng chungđó, đã cómột sự suygiảmvề số lượngcác chủ trươngkhuvựccôngcộngcùngvới mộttăngvề số lượngcủa cácdoanh nghiệpkhu vực tư nhân Điều này là dothực tếrằngnhiềutổ chức khuvựccôngcộngtrêntoànthếgiớiđược, hoặcmualạicủa các doanh nghiệpkhuvựctư nhânlớnhoặc sáp nhậpvới họ Phần giải thích cho xu hướngsápnhậpvà mua lạinhư quan sátthấytrong năm 2006 và2007nằmtrong sự tăng trưởngmạnhmẽ Các yếu tố khácthúc đẩyxu

Trang 34

hướng nàylàsự nhấn mạnh vềtốc độ tăng trưởngthu nhậpngắnhạn vàcơ cấunghiêmngặtquy địnhcủa các doanh nghiệpkhu vực công.

Xu hướng sápnhậpvàmualạitheohướngtư nhântăngnắm giữkhu vực côngđã đượcquan sátởchâuÂu, Brazil,Bắc Mỹ, và Trung Quốc Châu Âutrong khoảng thời gianđóđãtổchứcmột thị trườngđầu tư mạnh mẽ, phục vụcho công chúngđể chuyển đổisangkhu vực tư nhâncủa các công ty Đối với Trung Quốc sáp nhập vàmualạitừ côngchúngcho các doanh nghiệpdoanh nghiệp tư nhâncóchính phủ phê duyệtvào năm 2006

+ Sự gia tăng của giá nguyên liệu

Rủirođịachínhtrịnhưnhững tranh cãicủaIranvàcáclỗ hổng bảo mậtở Trung Đôngcóthểđẩygiádầuvà chịutác động tiêu cựcvề sự ổnđịnhkinhtếtoàncầu Ả Rập Saudikhátvọngđểchothương mạidầuthôở mức hiệntạiđểtài trợ chochi phícủa nóphátsinhtừcácsựhào phóngmở rộngchocáccông dân củamìnhsau khicuộc khủng hoảng tài chínhcho thấyrằnggiá dầucó thểdi chuộtlên$100, mứcgiá nàylàcaohơnsovớicáctrướcde-trên thực tếgiá$75 Con đường phát triểncủaTrungQuốclà mộtyếu tố quyết địnhquan trọng củagiá dầu trongnăm2012 GDPcủa TrungQuốcđãtăngtrưởng8,9%so với một nămtrướctrong quý 4.Mặc dùnó đếnhơicaohơnsovớikỳ vọng của thị trường, thực tế vẫncònlà một hiệu suấtyếu

1.7> KẾT LUẬN

Nhận diện cơ hội và đe dọa

Dấu hiệu của tăng trưởng

kinh tế Thụy Điển

Thị trường tăng sức mua, tăng khả năngthu được nhiều lợi nhuận và mở rộng thịtrường

Chi phí nhân công tăng

do lạm phát cao

Công nghệ phát triển và

đạt được nhiều thành tựu Sở hữu những công nghệ mới, gia tănghiệu quả sản xuất và chất lượng sản Quản trị sự thay đổi

Trang 35

Các thị trường quốc tế

đang tăng trưởng Mở rộng thị phần cấp độ toàn cầu

Sự đối đầu của các đốithủ cạnh tranh nội địa

và quốc tế

Xu hướng xáp nhập và

mua lại Mở rộng quy mô kinh doanh và thâmnhập thị trường sức ép về quản lý vàcạnh tranh

Sự tăng giá nguyên liệu Chi phí đầu vào tăng đedọa sự cạnh tranh của

sản phẩm

Nền chính trị ổn định, hệ

thống pháp luật chặt chẽ Tạo điều kiện pháp lý thuận lợi cho cáccông ty hoạt động ổn định, tránh rủi ro.

Xu hướng gia tăng dân số

và tỷ lệ đô thị hóa tăng,

lượng lượng lao động

chiếm tỷ trọng cao và

lành nghề

Tạo điều kiện cho việc gia tăng nhu cầu

sử dụng các loại phương tiện vận tảigiao thông đường công cộng và cungcấp một nguồn lao động dồi dào chấtlượng và đa dạng

2> PHÂN TÍCH NGÀNH SẢN XUẤT XE TẢI NẶNG Ở THỤY ĐIỂN

2.1> Định nghĩa ngành

 Đ ịnh ngh ĩ a Ngành:

“Một ngành là một nhóm các công ty cung cấp các sản phẩm hay dịch vụ có thể thay thế chặt chẽ với nhau Sự thay thế một cách chặt chẽ có nghĩa là các sản phẩm hay dịch

vụ thỏa mãn các nhu cầu khách hàng về cơ bản tương tự nhau.”

Do Scania là một nhàsảnxuất và buôn bán chính trong ngành công nghiệp sản xuất

xe tải nặngcủa Thụy Điển vềxe thương mại- đặc biệt làxe vận tải nặngvà xe buýt Nócũng sản xuấtđộng cơ dieselcho công suấtđộng cơ củaxe hạng nặng, hàng hải, và các ứngdụngcông nghiệp nói chung Nên nhóm chọn ngành công nghiệp sản xuất xe tải làmngành mà nhóm phân tích

 Xe tải hạng nặng là gì?

Xe tải trung bình nặng khoảng từ 6 tấn đến 15,9 tấn trọng lượng có tải (GVW) và xe

tải hạng nặng dùng để chỉ tất cả các loại xe trên 16 tấn GVW

Ngành công nghiệp sản xuất xe tải nặng bao gồm các hoạt động công nghiệp gắn vớisản xuất, thiết kế, bán buôn, bán lẻ, bảo trì các loại xe tải nặng có động cơ Ngành công

Trang 36

nghiệp sản xuất xe tải nặng, mà các doanh nghiệpsản xuất và bánxe tải nặng, là một trongnhữngthành phần kinh tếquan trọng nhấtcủa thế giới.

 Mô tả ngành

Thụy Điển là một trong số các nước trên thế giới là phụ thuộc nhiều nhất vàongành công nghiệp xe cơ giới Mặc dù dân số chỉ có 9 triệu, Thụy Điển đã sở hữu haitrong số các nhà sản xuất ô tô quan trọng là Volvo và Saab Automobile và hai nhà sảnxuất xe tải hạng nặng & xe buýt hàng đầu thế giới - Volvo Group và Scania Trong năm

2006, hai công ty này chiếm 1/5 trên 16 tấn xe tải nặng được sản xuất của các nước trênthế giới Volvo Group and Scania

Do đó, ngành công nghiệp xe cơ giới là rất quan trọng để nghiên cứu việc làm xuấtkhẩu, đầu tư, và phát triển, và phổ biến kiến thức trong nước Nó sử dụng khoảng 140

000 người và chịu trách nhiệm đối với hàng xuất khẩu có giá trị tại SEK157bn (EUR17bn) trong năm 2006, chiếm 14,5% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Thụy Điển

và làm cho nó thành ngành công nghiệp xuất khẩu lớn nhất của Thụy Điển Hơn nữa, 1/5các khoản đầu tư máy móc và hàng tồn kho và một phần tư các khoản đầu tư R & D củatoàn bộ ngành công nghiệp sản xuất Thụy Điển đến từ lĩnh vực ô tô

Sản phẩm phụ phát triển từ ngành công nghệp xe cơ giới cũng mang lại lợi ích chongành công nghiệp khác về việc làm, phát triển kỹ thuật tiên tiến và chuyển giao kiến thức Điều này là quan trọng đối với lĩnh vực CNTT Hơn nữa, ngành công nghiệp xe cơgiới sản xuất việc làm gián tiếp cho các ngành công nghiệp khác, chẳng hạn như thươngmại và các ngành dịch vụ Người ta ước tính rằng 1/10 tất cả những người làm việc ở

Trang 37

Nhu cầu

Thời gian

Tái tổ Bão hoà Suy thoái

Phát sinh Tăng trưởng chức

Thụy Điển đang làm việc trong các lĩnh vực liên quan đến vận tải đường bộ Và tập đoànVolvo vẫn còn người sử dụng lao động tư nhân lớn nhất của đất nước

Ngành công nghiệp này có định hướng xuất khẩu Trong tổng sản xuất xehơi Volvo và Saab Automobile thì tới 85% được bán bên ngoài Thụy Điển và hơn 95%các xe hạng nặng được sản xuất bởi tập đoàn Volvo và Scania được bán trên thị trường là

để xuất khẩu Tuy nhiên, thị trường trong nước vẫn là thị trường quan trọng thứ hai choVolvo và thứ ba cho Saab.Các công ty trong ngành công nghiệp sản xuất xe tải nặng ởThụy Đ iển: Volvo Trucks, Scania, MAN AB, Daimler, Iveco…

2.2> Chu kì sống của ngành

2.1.1> Giai đoạn phát sinh:

Trang 38

Mặc dù Thụy Điển là một nhà sản xuất tương đối nhỏ, tuy nhiên các nhà sản xuất

xe tại Thụy Điển là Saab và Volvo đã trở thành 2 nhân tố quan trọng trong thị trường thếgiới trong những năm 1960 và thập niên 70. 

Từ một góc độ quốc tế, Thụy Điển là nước duy nhất chỉ với một dân số nhỏ là trên

9 triệu dân, nhưng lại sở hữu đến hai trong số các công ty sản xuất xe hạng nặng và xehơi hàng đầu thế giới

Thụy Điển là nước mà việc làm phụ thuộc nhiều vào ngành công nghiệp sản xuất

xe tải nặng của mình Công nghiệp ô tô là ngành rất quan trọng đối với việc làm, xuấtkhẩudoanh thu, đầu tư, nghiên cứu và truyền bá kiến thức tại Thụy Điển

2.1.2> Giai đoạn tăng trưởng:

Năm 2008- số lượng nhân viên với các nhà sản xuất ô tô trong tháng 12

Trang 39

2.1.3> Giai đoạn tái tổ chức:

Việc tái cơ cấu đã được diễn ra tại chi nhánh trong hơn mười năm, ngoài vấn đề vềlợi nhuận và dư thừa công suất, nó còn là cơ sở cho sự phân bổ vai trò giữa các nhà sảnxuất ô tô và nhà cung cấp Điều này bắt buộc phải tăng tầm quan trọng của lĩnh vực côngnghệ mới như điện tử, CNTT và Telematic cho xe Ngay cả tăng quy định, yêu cầu môitrường mới cho di chuyển và các phân khúc khách hàng mới trong các nước đang pháttriển dẫn đến sự cần thiết phải tái cơ cấu

Tái cơ cấu này đã có nghĩa là trong 20 năm cuối cùng, các nhà sản xuất ô tô ngàycàng được chú trọng đến sự gần gũi khách hàng, quan tâm hơn tới sản phẩm cuối cùng,như phát triển thương hiệu, tiếp thị, phát triển bán hàng, tài chính, các bộ phận bán hàng,dịch vụ/sau thị trường và bảo hiểm Đồng thời họ có chỉ định một phần đáng kể tráchnhiệm của nhà sản xuất và phát triển sản phẩm cho nhà cung cấp

Cơ cấu ngành công nghiệp đã thay đổi và việc làm đã được chuyển giao Chỉ cócác lĩnh vực thẩm quyền quan trọng của các nhà sản xuất ô tô vẫn tiếp tục được phát triển

và sản xuất của họ Xu hướng ngày càng gia tăng ngay cả trong sản xuất các loại xe hạngnặng

2.1.4> Giai đoạn bão hòa

Nhu cầu về xe tải nặng đã giảm đi một nửa trong năm 2009

Trang 40

Ngành công nghiệp sản xuất xe tải nặng ở Thụy Điển là ngành lâu đời trong quátrình phát triển của nền kinh tế Thụy Điển Sự khủng hoảng kinh tế đã dẫn đến tổnglượng sản xuất xe ô tô của SAAB & Volvo giảm 20% đến 457000 chiếc trong suốt năm2008.

Lượng xe tải được sản xuất đã tăng lên đều đặn và đạt 324 000 xe tải trong năm

2008 Trong số các loại xe tải nặng sản xuất năm 2008 ở Tây Âu, Mỹ và Nhật Bản, Xecủa tập đoàn Volvo hoặc Scania chiếm 26%.Lượng sản xuất xe buýt hạng nặng của tậpđoàn toàn cầu Volvo và Scania đạt 16 900 trong năm 2008, tăng 3% so với năm 2009.Trong năm 2009 sản xuất xe tải và xe buýt cũng bị ảnh hưởng bởi khó khăn tài chính toàncầu và đi theo sau đó là sự suy thoái

Ngày đăng: 23/03/2016, 19:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w