Suy thoái kinh tế được định nghĩa trong Kinh tế học vĩ mô là sự suy giảmcủa Tổng sản phẩm quốc nội thực trong thời gian hai hoặc hơn hai quý liên tiếp trongnăm nói cách khác, tốc độ tăng
Trang 1CHƯƠNG 1
LÝ THUYẾT CHUNG VỀ SUY THOÁI KINH TẾ
1.1 Định nghĩa suy thoái kinh tế ( Recession/Economic downturn).
Suy thoái kinh tế được định nghĩa trong Kinh tế học vĩ mô là sự suy giảmcủa Tổng sản phẩm quốc nội thực trong thời gian hai hoặc hơn hai quý liên tiếp trongnăm (nói cách khác, tốc độ tăng trưởng kinh tế âm liên tục trong hai quý)
Tuy nhiên, định nghĩa này không được chấp nhận rộng rãi Cơ quan nghiên cứukinh tế quốc gia (NBER) củaHoa Kỳ đưa ra định nghĩa về suy thoái kinh tế “là sự tụtgiảm hoạt động kinh tế trên cả nước, kéo dài nhiều tháng”
Suy thoái kinh tế có thể liên quan đến sự suy giảm đồng thời của các chỉ số kinh
tế của toàn bộ hoạt động kinh tế như việc làm, đầu tư, và lợi nhuận doanh nghiệp Cácthời kỳ suy thoái có thể đi liền với hạ giá cả (giảm phát), hoặc ngược lại tăng nhanh giá
mô của Keynes), khuyếch đại chu kỳ kinh tế (lý thuyết chu kỳ kinh tế thực), hoặc thậmchí là tạo ra chu kỳ kinh tế (chủ nghĩa tiền tệ)
1.2 Biểu hiện của suy thoái kinh tế.
1.2.1 Thất nghiệp tăng
GDP thực tế giảm thì tỷ lệ thất nghiệp tăng vì khi các doanh nghiệp sản xuất íthàng hoá và dịch vụ hơn, họ sa thải bớt công nhân và số người thất nghiệp tăng Trongmỗi đợt suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng lên rất cao Khi suy thoái kết thúc và sản lượngbắt đầu tăng, tỷ lệ thất nghiệp giảm dần biến động xung quanh tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
Trang 21.2.2 Biến động kinh tế bất thường và không thể dự báo
Biến động của nền kinh tế thường được gọi là “chu kỳ kinh doanh”, gắn liền vớinhững thay đổi trong điều kiện kinh doanh Tuy nhiên, thuật ngữ “chu kỳ kinh doanh” cóthể dẫn tới hiểu lầm, vì nó có vẻ hàm ý biến động kinh tế diễn ra theo quy luật, có thể dựbáo được Trên thực tế, chu kỳ kinh doanh không hề có tính chất định kỳ và không thể dựbáo với độ chính xác cao
1.2.3 Hầu hết các biến số kinh tế vĩ mô cùng biến động
Khi GDP giảm trong thời kỳ suy thoái, thì thu nhập cá nhân, lợi nhuận công ty,tiêu dùng, đầu tư, sản lượng công nghiệp, doanh số bán lẻ, quy mô mua bán nhà cửa và ôtô… cũng giảm Do suy thoái là một hiện tượng xảy ra trong toàn nền kinh tế, nên nóbiểu thị trong nhiều số liệu vĩ mô khác nhau và mức độ biến động của các biến số vĩ môcũng khác nhau Cụ thể, đầu tư biến động rất mạnh trong chu kỳ kinh doanh Mặc dù đầu
tư chỉ bằng khoảng một phần bảy GDP, nhưng sự suy giảm trong đầu tư đóng góp vàohai phần ba mức suy giảm GDP trong thời kỳ suy thoái Nói cách khác, khi các điều kiệnkinh tế xấu đi, phần lớn mức suy giảm đều bắt nguồn từ sự giảm sút chi tiêu để xây dựngnhà máy, nhà ở và bổ sung thêm hàng tồn kho mới
1.3 Nguyên nhân gây ra suy thoái kinh tế.
Những nguyên nhân đích thực của suy thoái kinh tế là đối tượng tranh luận sôi nổigiữa các nhà lý thuyết và những người làm chính sách mặc dù đa số thống nhất rằng các
kỳ suy thoái kinh tế gây ra bởi sự kết hợp của các yếu tố bên trong (nội sinh) theo chu kỳ
và các cú sốc từ bên ngoài (ngoại sinh):
- Những nhà kinh tế học chủ nghĩa Keynes và những lý thuyết gia theo lý thuyếtchu kỳ kinh tế thực sẽ bất đồng về nguyên nhân của chu kỳ kinh tế, nhưng sẽ thống nhất
cao rằng các yếu tố ngoại sinh như giá dầu, thời tiết, hay chiến tranh có thể tự chúng
gây ra suy thoái kinh tế nhất thời, hoặc ngược lại, tăng trưởng kinh tế ngắn hạn
- Trường phái kinh tế học Áo giữ quan điểm rằng lạm phát bởi cung tiền tệ gây ra
suy thoái kinh tế ngày nay và các thời kỳ suy thoái đó là động lực tích cực theo nghĩachúng là cơ chế tự nhiên của thị trường điều chỉnh lại những nguồn lực bị sử dụng khônghiệu quả trong giai đoạn “tăng trưởng” hoặc lạm phát
Trang 3- Phần lớn học giả theo thuyết tiền tệ tin rằng những thay đổi triệt để về cơ cấu kinh
tế không phải là nguyên nhân chủ yếu; nguyên nhân của các thời kỳ suy thoái ở Mỹ là
bởi quản lý tiền tệ yếu kém.
- Các nhà chiến lược kinh tế cho rằng các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu là mộtqui luật có tính chu kỳ như một biểu đồ hình sin Cứ thế lập đi lập lại không bao giờ dứt.Cho đến nay đã có 8 cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đã diễn ra vào các thập niên 1930,
1940, 1950 có 2 cuộc vào năm 1953 và 1958, 1970, 1980, 1990 và 2000 Nhưng nguyên
nhân là do mất cân đối toàn cầu về mức độ thặng dư thương mại khổng lồ giữa các quốc gia tạo ra
- Các nhà kinh doanh làm trong lĩnh vực tài chính ngân hàng lại cho rằng nguyên
nhân khủng hoảng là do thiếu năng lực quản lý hệ thống tài chính Còn việc mất cân
cối thặng dư thương mại giữa các nước chỉ là giọt nước làm tràn ly mà thôi
- Thế nhưng các nhà theo trường phái thuyết âm mưu (Conspiracy theory) thì cho
rằng các cuộc khủng hoảng kinh tế là bắt nguồn từ lòng tham của con người mà gây
ra Và lòng tham đó đã được các nhà tài phiệt tận dụng một cách triệt để, để vơ vét vàlàm giàu cho tập đoàn của mình Họ chủ động kích cầu lòng tham của “thế giới còn lại”bằng giấc mơ ảo từ tín phiếu, từ cổ đông, từ bất động sản… Họ nâng giá bằng những đợtkích giá trên thị trường chứng khoán Họ cho vay một cách dễ dàng những đồng vốn kếch
sù họ có Đến khi chiếc bong bóng họ thổi đã đến đỉnh điểm, họ bắt đầu châm kim bằngnhững đợt thắt chặt hầu bao cho vay và nâng giá lãi suất Làn sóng vỡ nợ gia tăng và cáccon nợ phá sản, thất nghiệp gia tăng, “của Cesar lại trả về Cesar” bằng phương án xiết nợ,người tiêu dùng trắng tay
1.4 Các kiểu suy thoái.
Các nhà kinh tế học hay miêu tả kiểu suy thoái kinh tế theo hình dáng của đồ thịtăng trưởng theo quý Có các kiểu suy thoái sau hay được nhắc đến:
Suy thoái hình chữ V: Đây là kiểu suy thoái mà pha suy thoái ngắn, tốc độ suy
thoái lớn; đồng thời, pha phục phồi cũng ngắn và tốc độ phục hồi nhanh; điểm đồichiều giữa hai phá này rõ ràng Đây là kiểu suy thoái thường thấy
Trang 4Suy thoái hình chữ V, như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ năm 1953
Suy thoái hình chữ U: Đây là kiểu suy thoái mà pha phục hồi xuất hiện rất chậm.
Nền kinh tế sau một thời kỳ suy thoái mạnh tiến sang thời kỳ vất vả để thoát khỏi suythoái Trong thời kỳ thoát khỏi suy thoái, có thể có các quý tăng trưởng dương và tăngtrưởng âm xen kẽ nhau
Suy thoái hình chữ U, như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ trong các năm 1975
1973- Suy thoái hình chữ W: Đây là kiểu suy thoái liên tiếp Nền kinh tế vừa thoát khỏi
suy thoái được một thời gian ngắn lại tiếp tục rơi ngay vào suy thoái
Suy thoái hình chữ W, như trường hợp suy thoái kinh tế ở Hoa Kỳ đầu thập niên 1980
Suy thoái hình chữ L: Đây là kiểu suy thoái mà nền kinh tế rơi vào suy thoái
nghiêm trọng rồi suốt một thời gian dài không thoát khỏi suy thoái Một số nhà kinh
tế gọi tình trạng suy thoái không lối thoát này là khủng hoảng kinh tế
Trang 5Suy thoái hình chữ L, như trường hợp Thập kỷ mất mát (Nhật Bản).
CHƯƠNG 2 NGUYÊN NHÂN GÂY RA SUY THOÁI KINH TẾ VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN TỪ 2008 ĐẾN NAY 2.1 Thực trạng suy thoái kinh tế ở Việt Nam từ 2008 đến nay.
Để đánh giá sự suy giảm kinh tế Việt Nam những năm gần đây chúng ta nhìn nhậndưới góc độ vĩ mô, dựa trên các chỉ số kinh tế cơ bản sau:
- Tăng trưởng kinh tế
- Đầu tư phát triển
- Lạm phát
- Tỷ giá
- Ngân sách nhà nước
- Xuất nhập khẩu và cán cân thương mại
2.1.1 Thực trạng tăng trưởng kinh tế.
Các số liệu thống kê cho thấy, GDP nước ta tăng liên tục từ năm 2000 đến 2007,đạt mức 8,44% sau đó sụt giảm năm 2008 ở mức 6,31% và 2009 là 5,32%, năm 2010 lạităng lên 6,78%, hai năm tiếp theo 2011 và 2012 lại tiếp tục sụt giảm và ở mức 5,89% và5,03% Năm 2012 có tỷ lệ tăng GDP thấp nhất trong vòng nhiều năm nhưng điều cầnnhấn mạnh là sự “không bình thường” trong giai đoạn 2007 đến nay Theo nguồn số liệucủa Tổng cục Thống kê, những chỉ tiêu liên quan trực tiếp đến tăng trưởng trong thời kỳ2007-2012 là:
- Tỷ lệ tăng vốn đầu tư toàn xã hội/GDP luôn ở mức trên 40% (cao nhất năm 2007đạt 46,5%), tuy nhiên, đến năm 2011-2012 giảm nhanh còn 34,6% Trong đó, tỷ lệ đầu tưcủa các khu vực kinh tế nhà nước dao động quanh mức 37 - 38%, khu vực ngoài nhànước trên 35% và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài xoay quanh mức 26% trong
Trang 6khi tỷ lệ tích lũy nội bộ dưới 30% Trong giai đoạn này, tốc độ tăng của tổng sản phẩm(GO) xoay quanh mức 11 - 13% và tốc độ tăng giá trị gia tăng (VA) dao động từ 6-8%.
- Đóng góp của các yếu tố vốn, lao động và nhân tố năng suất tổng hợp (TFP) trongtăng trưởng GDP tương ứng là 76, 16 và 7%, so với giai đoạn trước đó đã thay đổi theohướng xấu đi, giai đoạn 2000-2006 số liệu các yếu tố tương ứng là 51, 23 và 26% Tronggiai đoạn 2006 -2012, nước ta luôn có tỷ lệ nhập siêu, năm cao nhất là 2008 lên đến20,1% và năm 2011 là 8% Từ năm 2012 đến nay con số này đang giảm, theo nhận địnhcủa nhiều nhà kinh tế là "không bình thường"
- Tỷ lệ thu – chi ngân sách với thu đạt 27,2% - chi 36,3% tiếp tục mất cân đối hơn
so với giai đoạn 2000-2005, với tỷ lệ thu - chi ngân sách tương ứng là 24,6% và 32,6%.Các tỷ lệ nợ công, nợ nước ngoài và nợ công nước ngoài, theo đánh giá của Bộ Tài chính,trong giai đoạn từ 2007 đến nay tiếp tục gia tăng nhưng vẫn ở ngưỡng an toàn
Những số liệu nêu trên chỉ ra rằng, trước năm 2007 nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiềuthành tựu như: tốc độ phát triển kinh tế tương đối cao (khoảng 7,2%/năm); GDP bình
Trang 7quân đầu người tăng gấp 2 lần năm 2001 (nếu tính giá hiện hành thì khoảng 3,4 lần); thungân sách, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng khoảng 4 lần và quan trọng là Việt Nam đãbước đầu thành công trong hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế hiệntai đang bộc lộ nhiều hạn chế, đặc biệt khi có biến động.
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế dựa trên thâm dụng vốn đầu tư là cơ bản Điều này
thể hiện ở chỗ sự tăng trưởng kinh tế những năm qua vẫn theo chiều rộng là chính, dựatrên khai thác nguồn lực sẵn có, nghĩa là dựa trên lợi thế tĩnh, chứ chưa dựa trên khai tháctối ưu lợi thế động Để khai thác lợi thế tĩnh Việt Nam phải đẩy mạnh thu hút đầu tư nướcngoài và trong nước với nhiều hình thức khác nhau Sự phụ thuộc nhiều vào vốn đầu tư
để tăng trưởng dẫn đến hệ quả là muốn duy trì mức tăng trưởng cao, phải tiếp tục tăngvốn thêm nữa
Thứ hai, bất cập trong đầu tư công ở nước ta là tập trung vào đầu tư cho kinh tế rất
cao (chiếm 73% tổng vốn đầu tư của Nhà nước) trong khi đầu tư vào các lĩnh vực xã hội
có liên quan trực tiếp đến sự phát triển của con người (khoa học, giáo dục, đào tạo, y tế,cứu trợ xã hội, văn hóa, thể thao…) lại rất thấp và đang có xu hướng giảm dần trongnhững năm gần đây Hơn nữa, vì nhiều nguyên nhân, trong đó có tham nhũng, lãng phílàm cho đầu tư công có hiệu quả thấp
Thứ ba, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn chưa dựa nhiều vào tri thức, khoa
học - công nghệ; Năng suất lao động toàn xã hội thấp tăng chậm so với tiềm năng Mứctiêu tốn năng lượng để tạo ra một đơn vị GDP của nước ta cao so các nước trong khu vực.Nguồn lực phân bổ không hợp lý cho các lĩnh vực…
Tóm lại, tăng trưởng kinh tế nước ta trong thời gian vừa qua chủ yếu theo chiều rộng (về
số lượng) và chứa đựng những yếu tố không ổn định
Trang 82.1.2 Đầu tư phát t riển
Từ biểu đồ trên ta thấy:
- Năm 2008 Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2008 khoảng 580 nghìn
tỷ đồng, bằng 43.1% GDP và tăng 11.2% so với ước thực hiện năm 2007
- Năm 2009 Do chịu tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thếgiới, những khó khăn trong sản xuất kinh doanh, hiệu quả đầu tư kinh doanh giảm sút ảnhhưởng trực tiếp đến hoạt động đầu tư phát triển Trong năm 2009, tổng vốn đầu tư pháttriển toàn xã hội đạt 708,5 nghìn tỷ đồng, bằng 42,8% GDP (vượt kế hoạch đề ra là39,5%), tăng 16% so với năm 2008
- Năm 2010 Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá thực tế ước tính đạt830,3 nghìn tỷ đồng, tăng 17,1% so với năm 2009 và bằng 41,9% GDP Trong đó vốnkhu vực Nhà nước là 316,3 nghìn tỷ đồng, tăng 10%; khu vực ngoài Nhà nước 299,5nghìn tỷ đồng, tăng 24,7%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 214,5 nghìn tỷđồng, tăng 18,4%
Trang 9- Năm 2011 Theo Tổng cục Thống kê, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2011theo giá thực tế ước tính đạt 877,9 nghìn tỷ đồng, tăng 5,7% so với năm 2010 và bằng34,6% GDP, giảm so với mức 41,9% GDP của năm 2010.
Nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì vốn đầu tư toàn xã hội theo giá thực tế thực hiệnnăm 2011 bằng 90,6% năm 2010
Trong đó, vốn đầu tư khu vực Nhà nước ước đạt 341,6 nghìn tỷ đồng, chiếm38,9% và tăng 8% so với năm trước Khu vực ngoài Nhà nước ước đạt 309,4 nghìn tỷđồng, chiếm 35,2% và tăng 3,3% Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt226,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,9% và tăng 5,8%
Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước thực hiện năm 2011 ước tính đạt 178 nghìn tỷđồng, bằng 101,8% kế hoạch năm và tăng 6,7% so với năm 2010
-Năm 2012 Theo Tổng cục Thống kê, số vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm
2012 theo giá hiện hành ước tính đạt 989,3 nghìn tỷ đồng, tăng 7% so với năm trước vàbằng 33,5% GDP, đây là năm có tỷ trọng vốn đầu tư so với GDP đạt thấp nhất kể từ năm
Trong vốn đầu tư thực hiện khu vực Nhà nước năm 2013, vốn từ ngân sách nhànước ước đạt 205,7 nghìn tỷ đồng, bằng 101,5% kế hoạch và tăng 0,3% so với năm 2012.Trong đó, vốn trung ương quản lý đạt 41 nghìn tỷ đồng, bằng 102,2% kế hoạch năm vàgiảm 18,3% so với năm trước; vốn địa phương quản lý đạt 164,7 nghìn tỷ đồng, bằng101,3% kế hoạch năm và tăng 6,3% so với năm 2012
Trang 102.1.3 Thực trạng lạm phát
Các số liệu cho thấy lạm phát có chiều hướng mất ổn định Chiều hướng biếnđộng CPI như trên liên quan đến cung tiền và tín dụng trong giai đoạn này
Nguyên nhân của tình trạng lạm phát cao trong năm 2011 về cơ bản là do tiền tệ
đã được nới lỏng trong một thời gian dài So với các nước trong khu vực, tốc độ tăngcung tiền M2 của Việt Nam khá cao Tính trung bình giai đoạn 2000-2010, tốc độ tăngcung tiền M2 của Việt Nam dẫn đầu khu vực với mức tăng 31,4%, sau đó là của Trung
Trang 11Quốc (17,8%), Indonesia (13%), Philippines (10,2%), Malaysia (8,7%) và Thái Lan(6,2%) Riêng năm 2010, tốc độ tăng cung tiền của Việt Nam thậm chí lên tới 33,3% Docung tiền tăng nhanh nên tỷ lệ cung tiền M2 trên GDP của Việt Nam tăng lên rất nhanh.
Từ sau khủng hoảng tài chính 1997-1999, trong khi các nước trong khu vực có xu hướngduy trì ổn định tỷ lệ cung tiền trên GDP thì tỷ lệ này luôn có xu hướng tăng ở Việt Nam.Tín dụng tăng nhanh đã giúp giới đầu cơ đẩy giá bất động sản tăng cao trong một thờigian dài, đặt nền kinh tế trong trạng thái “bong bóng” bất động sản “Bong bóng” bấtđộng sản khuyến khích người dân tiết kiệm ít đi và tiêu dùng nhiều hơn, tạo áp lực chogiá cả… Trước tình hình trên, Chính phủ đã đề ra chủ trương với các biện pháp mạnh,CPI hằng tháng giảm nhanh, bắt đầu từ 8/2011 Lạm phát tháng 8/2011 (so cùng kỳ) là23% đã giảm, đến 8/2012 chỉ còn 5% Một nguyên nhân quan trọng của kết quả nêu trên
là việc, Ngân hàng Nhà nước đã bơm tiền ra thị trường bằng các kênh chính thức (như hỗtrợ đầu tư, kể cả trái phiếu chính phủ, hỗ trợ thanh khoản cho ngân hàng thương mại quathị trường mở) và sau đó bằng các biện pháp nghiệp vụ đã thu tiền về nhanh, làm choviệc cung tiền (qua M2) danh nghĩa thì lớn, nhưng tiền (nhất là tiền mặt) thực sự tham gialưu thông thì ít hơn
2.1.4 Thực trạng tỷ giá
Tốc độ tăng/giảm tỉ giá USD/VND từ năm 2008 đến nay (%).
Trang 12Năm 2008 được giới phân tích tài chính coi là "năm bất ổn của tỷ giá" với nhữngbiến động tỷ giá rất phức tạp với những ảnh hưởng từ các yếu tố vĩ mô, cung cầu ngoại
tệ và thậm chí cả tin đồn Chỉ trong năm 2008, biên độ tỷ giá đã được điều chỉnh 5 lần,một mật độ chưa từng có trong lịch sử
Giai đoạn đầu (từ 01/01 – 25/03/2008): Tỷ giá liên tục giảm, dưới mức sàn.
Tỷ giá USD/VND trên thị trường liên ngân hàng liên tục sụt giảm Trên thị trường
tự do, USD dao động từ mức 15.700 – 16.000 đồng/USD
Giai đoạn 2 (từ 26/03 – 16/07/2008): Tăng với tốc độ chóng mặt tạo cơn sốt USD trên cả thị trường liên ngân hàng lẫn thị trường tự do.
Trong giai đoạn này, tỷ giá tăng dần đều và đột ngột tăng mạnh từ giữa tháng 6,đỉnh điểm lên đến 19.400 đồng/USD, sau đó dịu lại khi NHNN nới biên độ từ 1% lên +/-2% (27/6) và kiểm soát chặt các bàn thu đổi
Giai đoạn 3 (từ 17/07 –15/10/2008): Giảm mạnh và dần đi vào bình ổn.
Tỷ giá giảm mạnh từ 19.400 đồng/USD xuống 16.400 đồng/USD và giao dịchbình ổn quanh mức 16.600 đồng trong giai đoạn từ tháng 8 – tháng 11
Giai đoạn 4 (từ 16/10 đến hết năm 2008): tỷ giá USD tăng trở lại.
Tỷ giá USDVND tăng đột ngột trở lại từ mức 16.600 lên mức cao nhất là 16.998sau đó giảm nhẹ Giao dịch nằm trong biên độ tỷ giá Tuy nhiên cung hạn chế, cầu ngoại
tệ vẫn lớn Sau khi NHNN tăng biên độ tỷ giá từ 2% lên 3% trong ngày 7/11/2008, tăngtới mức 17.440 đồng/USD
Năm 2009:
Tỷ giá USD/VNĐ lại tiếp tục tăng đà tăng trong 4 tháng đầu năm, đặc biệt sau khiNHNN thực hiện nới rộng biên độ tỷ giá lên +/-5% khiến cho tỷ giá ngoại tệ liên NH đã
có đợt tăng đột biến và giao dịch trên TTTD tiến sát mức 18000đồng/USD
Giai đoạn 1 (từ 01/01 –24/11/2009): tỷ giá liên tục tăng.
Giai đoạn 2 (từ 25/11 đến hết năm 2009)
Tỷ giá bắt đầu giảm về quanh mức 18.500 đồng /USD