Để giúp các sinh viên này biết được ý nghĩa và chức năng của TPĐ cũng như những điểm tương đồng và dị biệt giữa TPĐ tiếng Việt và tiếng Anh và thí nhất thiết phải có một công trính nghi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đinh Văn Sơn
TỪ PHIẾM ĐỊNH TRONG TIẾNG VIỆT (so sánh với tiếng Anh)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2013
Trang 2
Đinh Văn Sơn
TỪ PHIẾM ĐỊNH TRONG TIẾNGVIỆT (so sánh với tiếng Anh) Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu
Mã số: 62220110 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS Nguyễn Đức Dân Phản biện độc lập:
1 PGS TS Trịnh Sâm
2 PGS.TS Nguyễn Thị Việt Thanh
3 TS Nguyễn Thị Phương Trang Phản biện 1: GS TS Nguyễn Thiện Giáp
Phản biện 2: PGS TS Trịnh Sâm
Phản biện 3: TS Nguyễn Thị Phương Trang
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trính nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất
cứ một công trính nào khác
Tác giả luận án
Đinh Văn Sơn
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Tác giả có lẽ đã không thể viết nên được gần 300 trang giấy cho công trính nghiên cứu khoa học này nếu như không có được sự động viên và giúp đỡ của nhiều người, cả trong và ngoài ngôi trường thân yêu của tác giả, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chì Minh Một lời cảm ơn chân thành từ tận đáy lòng xin dành cho tất cả họ Tuy vậy, tác giả cảm thấy như thế vẫn chưa đủ
Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với G iáo sư hướng dẫn: GS TS Nguyễn Đức Dân, người đã luôn ở bên cạnh, dành nhiều thời gian, công sức và cả tính thương để chỉ bảo cho tác giả, sửa từng dòng chữ, từng trang tác giả viết Tác giả cũng xin cảm ơn GS TS Bùi Khánh Thế, PGS TS Nguyễn Văn Huệ, PGS TS Trần Thị Ngọc Lang, PGS TS Nguyễn Thị Hai, PGS TS Trịnh Sâm, PGS TS Dư Ngọc Ngân, PGS TS Lê Khắc Cường, TS Huỳnh Bá Lân, TS Nguyễn Thị Kiều Thu, TS Huỳnh Thị Hồng Hạnh, TS Nguyễn Thị Phương Trang
đã cho tác giả những lời khuyên thật bổ ìch Xin cảm ơn các Giáo sư, Tiến sĩ, các Giảng viên của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chì Minh đã giảng dạy và giúp đỡ tác giả rất nhiều trong quá trính học tập và thực hiện luận án ở trường cũng như đã cho những ý kiến đóng góp thật sâu sắc , thật ý nghĩa dành cho luận án kể từ khi luận án còn là một bản thảo
Và tác giả cũng xin cảm ơn Ban lãnh đạo Trường Đại học Luật Tp Hồ Chì Minh
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trính học tập Xin cảm ơn các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tác giả thực hiện luận
án
Tác giả luận án
Đinh Văn Sơn
Trang 5
MỤC LỤC
Trang Mục lục
Quy ƣớc trính bày
1.2 Ý nghĩa và cách dùng của từ phiếm định
1.2.1 Ý nghĩa và cách dùng của chỉ định từ phiếm định
1.2.2 Ý nghĩa và cách dùng của đại từ phiếm định
1.2.3 Ý nghĩa và cách dùng của lượng từ phiếm định
1.2.4 Ý nghĩa và cách dùng của quán từ phiếm định
1.3 Chức năng ngữ dụng của từ phiếm định
1.3.1 Chức năng khẳng định tuyệt đối của từ phiếm định
Trang 61.3.2 Chức năng phủ định tuyệt đối của từ phiếm định
1.3.3 Chức năng chất vấn-bác bỏ của từ phiếm định
2.2 Ý nghĩa và cách dùng của từ phiếm định
2.2.1 Ý nghĩa và cách dùng của chỉ định từ phiếm định
2.2.2 Ý nghĩa và cách dùng của đại từ phiếm định
2.2.3 Ý nghĩa và cách dùng của lượng từ phiếm định
2.2.4 Ý nghĩa và cách dùng của quán từ phiếm định
2.2.5 Ý nghĩa và cách dùng của trạng từ phiếm định
2.3 Chức năng ngữ dụng của từ phiếm định
2.3.1 Chức năng khẳng định tuyệt đối của từ phiếm định
2.3.2 Chức năng phủ định tuyệt đối của từ phiếm định
Trang 7Tiểu kết 88
Chương 3: ĐỐI CHIẾU TỪ PHIẾM ĐỊNH TRONG TIẾNG VIỆT
VÀ TIẾNG ANH 90
3.1 Những điểm tương đồng 90
3.2 Những điểm dị biệt 96
3.3 Nhận xét chung về từ phiếm định trong tiếng Việt và tiếng Anh 103
Chương 4: HÌNH THỨC TƯƠNG ĐƯƠNG CỦA TỪ PHIẾM ĐỊNH TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH 106
4.1 Hính thức tương đương của từ phiếm định trong tiếng Việt 106
4.2 Hính thức tương đương của từ phiếm định trong tiếng Anh 126
4.3 Đối chiếu hính thức tương đương 144
Tiểu kết 147
KẾT LUẬN 148
5.1 Những đóng góp của luận án 148
5.2 Những hạn chế chủ yếu của luận án 150
Tài liệu tham khảo 151
Nguồn ngữ liệu minh họa 159
Danh mục các công trính 162
Trang 8
QUY ƢỚC TRÌNH BÀY
1 TRÍCH DẪN
1.1 Đối với các trìch dẫn nguyên văn
Trìch dẫn nguyên văn của các tác giả khác đƣợc chúng tôi để trong dấu ngoặc kép “ _” Tên tác giả của phần đƣợc trìch dẫn này cùng với năm xuất bản và số trang của tác phẩm đƣợc để trong dấu ngoặc vuông [ ]
Vì dụ: Chỉ định từ đƣợc hiểu nhƣ là “những tiếng dùng để chỉ định danh từ.”
[Bùi Đức Tịnh, 1966/95, 256]
1.2 Đối với các trìch dẫn không nguyên văn
Nếu không trìch dẫn nguyên văn thí chúng tôi sẽ không ghi số trang và phần nội dung trìch dẫn này cũng sẽ không đƣợc đặt trong dấu ngoặc kép Chúng tôi chỉ nêu tên tác giả cùng với năm xuất bản của tác phẩm đƣợc để trong dấu ngoặc vuông [ ]
Vì dụ: Nguyễn Đức Dân [1987] cho rằng từ mọi đƣợc dùng để chỉ tổng thể
Thông tin đầy đủ về các tài liệu trìch dẫn đƣợc ghi trong phần Tài liệu tham khảo
ở cuối luận án
1.3 Đối với các vì dụ minh họa
Xuất xứ của các vì dụ minh họa trìch từ các tác phẩm văn học đƣợc chúng tôi để ngay sau mỗi ví dụ với tên tác phẩm (đƣợc viết tắt) cùng với số trang cụ thể
Vì dụ: Tao đã đi khắp ngọn nguồn sông lạch mà chƣa thấy ai mập nhƣ con mẹ
Trang 9nghiêng, in đậm hoặc gạch chân Cách đánh dấu này được áp dụng trong các vì dụ
minh họa lẫn trong các diễn ngôn thông thường
1.4 Trong các vì dụ minh họa
Các từ phiếm định đang xét trong các vì dụ minh họa sẽ được in đậm
Vì dụ: Có tiếng chim gì mổ nhau kêu quanh quác trong chiếc lồng kẽm chỗ tối
tối: ngọn đèn vừa bị cánh chim đánh nhau quạt tắt, và người chủ chưa kịp thắp lên [ĐRPN, 7]
1.5 Trong các diễn ngôn thông thường
Các thuật ngữ ngôn ngữ học được in nghiêng và đồng thời cũng được đánh dấu
bằng một tên gọi tương ứng với nó bằng tiếng Anh Tên gọi tương ứng bằng tiếng
Anh này cũng được in nghiêng và được để trong dấu ngoặc tròn ( )
Vì dụ: Đại từ phiếm định (indefinite pronoun) là một tiểu loại (subclass) của đại từ (pronoun)
Các từ ngữ không phải thuật ngữ ngôn ngữ học mà cần được đánh dấu thí được gạch chân
Vì dụ: Từ khác ở đây là một tính từ (adjective)
1.6 Phần dịch các vì dụ minh họa
Phần dịch những vì dụ minh họa bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh (chương 2 và 3) được in thường và được để trong dấu ngoặc đơn „ _ ‟ nhưng có ghi thêm phần xuất xứ:
• Nếu trìch từ các tác phẩm song ngữ thí ngay sau phần dịch, ngoài tên tác phẩm, chúng tôi còn chú thích thêm (A) nếu là tác phẩm song ngữ Việt-Anh và (V) nếu là tác phẩm song ngữ Anh-Việt, liền sau đó là số trang
Vì dụ: Chiều nào anh cũng đi chuyến xe cuối cùng chư a bao giờ bị nhỡ [GNĐ, 164] „Every afternoon without fail he caught the last bus of the evening.‟ [GNĐ
(A), 165]
No one likes it [CST, 32] „Chẳng ai thìch vậy đâu.‟ [CST (V), 33]
• Nếu trìch từ các tác phẩm dịch riêng thí chúng tôi ghi tên tác phẩm và số trang
cụ thể ngay sau phần dịch
Trang 10Vì dụ: I did nothing deliberately [WH, 82] „Tôi chẳng làm điều gì một cách cố
tính cả.‟ [ĐGH, 94]
3 ĐÁNH SỐ
3.1 Đối với các vì dụ minh họa
Các vì dụ minh họa sẽ được ghi số thứ tự theo từng chương
Vì dụ: Chương 1 có số thứ tự các vì dụ minh họa từ (1), (2), (3), (4) đến (n) Chương 2 có số thứ tự các vì dụ minh họa từ (1), (2), (3), (4)… đến (n) ……… 3.2 Đối với phần chú thìch
Số thứ tự các phần chú thìch cũng được ghi riêng cho từng chương
để trong dấu ngoặc đơn
Vì dụ: Cao Xuân Hạo (chủ biên ) [2005] cho rằng đại từ phiếm định (ĐTPĐ)
trong tiếng Việt gồm sáu loại
BẢNG DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
Trang 115 KÝ HIỆU
Một số ký hiệu sau đây đƣợc sử dụng trong luận án:
Trang 12MỞ ĐẦU
Từ phiếm định 1 (TPĐ) là lớp từ xưa nay ìt nhiều đã được đề cập đến trong hầu
hết các sách ngữ pháp (grammar) tiếng Việt và tiếng Anh Nhưng một công trính
xem xét đầy đủ về lớp từ này thí từ trước tới nay chưa hề có Việc nghiên cứu TPĐ
(indefinite word) một cách có hệ thống theo hướng đối sánh giữa hai ngôn ngữ
Việt-Anh sẽ rất có ý nghĩa khoa học và thực tiễn ví nó không những góp phần vào việc
nghiên cứu ngữ pháp, ngữ nghĩa (semantics) và ngữ dụng (pragmatics) của một
ngôn ngữ mà còn đóng góp tìch cực vào những công việc mang tình thực tiễn sâu sắc hơn như: việc dịch thuật giữa các ngôn ngữ, việc biên soạn các loại từ điển, sách giáo khoa, giáo trình
Là giảng viên giảng dạy tiếng Anh ở trường Đại học Luật Tp Hồ Chì Minh,
trong các lớp: Dân sự, Hính sự và Hành chánh K 32 không biết TPĐ là gí cả Để giúp các sinh viên này biết được ý nghĩa và chức năng của TPĐ cũng như những điểm tương đồng và dị biệt giữa TPĐ tiếng Việt và tiếng Anh và thí nhất thiết phải
có một công trính nghiên cứu riêng về TPĐ trong tiếng Việt theo hướng đối sánh với lớp từ tương đương trong tiếng Anh
Từ những lý do được đề cập bên trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Từ phiếm định trong tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh)” làm đối tượng nghiên cứu của
luận án với niềm hy vọng rằng những kết quả nghiên cứu về lớp từ này sẽ rất hữu
1Có rất nhiều tên gọi khác nhau cho lớ p từ này Nếu như Trương Văn Chình và Nguyễn
Hiến Lê [1963] gọi nó là từ bất định thì Nguyễn Kim Thản [1964/97] và Bùi Đức Tịnh [1966/95] gọi là từ phiếm chỉ Trong khi đó Cao Xuân Hạo (chủ biên) [2005] lại gọi là
từ chưa xác định , từ không xác định Nhưng để thống nhất , chúng tôi chọn cách gọi tên
theo Nguyễn Đức Dân [1987] cho lớp từ này là từ phiếm định trong suốt luận án
2Ở trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, sinh viên bắt đầu học tiếng Anh từ học kỳ 1 năm thứ hai
Trang 13ìch trong việc giảng dạy tiếng Anh cho các sinh viên ở trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh nói riêng và những người Việt Nam học tiếng Anh nói chung cũng như góp phần làm cho công tác dịch thuật hai ngôn ngữ Việt-Anh trở nên hiệu quả hơn 0.2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
0.2.1 Việc nghiên cứu từ phiếm định trong tiếng Việt
Theo khảo sát của chúng tôi, TPĐ trong tiếng Việt đã được các tác giả nhắc đến
trong sách ngữ pháp từ rất lâu, vào khoảng thập niên 40 kéo dài đến bây giờ Khi đề
cập đến TPĐ thí không thể không nhắc đến các tác giả sau đây :
0.2.1.1 Trần Trọng Kim
Trong quyển Văn phạm Việt Nam xuất bản năm 1937/2007, tác giả có đề cập đến
ba tiểu loại (subclass) TPĐ Đó là đại từ phiếm định (ĐTPĐ), chỉ định từ phiếm định (CĐTPĐ) và lượng từ phiếm định (LTPĐ) Các ĐTPĐ (indefinite pronoun)
bao gồm ĐTPĐ chỉ người : ai, ai ai, nấy, ai nấy , người, người ta , kẻ kẻ, kẻ
người, ĐTPĐ chỉ chung cho người và sự vật : cả, cả thảy, tất cả, hết, hết cả, hết
thảy Theo tác giả , ĐTPĐ có thể dùng để thay thế cho danh từ (DT) để chỉ trổng
Tiếng ấy không chỉ rõ người nào hay vật nào Có khi nó chẳng thay cho DT (noun)
nào cả Vì dụ:
(1) Tất cả đều được trọng thưởng
Trong khi đó, CĐTPĐ (indefinite determiner) được dùng sau DT để chỉ định
tiếng ấy và có ý nói trổng, không chỉ hẳn là ai hay là gí Những CĐTPĐ thường hay
gặp là nào, mô, gì và chi
0.2.1.2 Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê
Trong quyển Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam xuất bản năm 1963, ở phần lượng
từ (LT), các tác giả có đề cập đến một tiểu loại TPĐ, đó là LTPĐ (indefinite
quantifier) với các từ sau: nhiều, lắm, rất nhiều, nhiều… lắm, lắm… lắm, phần
nhiều, số nhiều, đa số, đại đa số, ít, ít nhiều, rất ít, ít… lắm, thiểu số, số ít, bao,
bao nhiêu Vì dụ:
(2) Giáp đọc rất nhiều (rất ít) sách
Trang 14Các tác giả cũng nhấn mạnh thêm rằng LTPĐ thường không có loại từ (classifier) hay LT (quantifier) trỏ đơn vị (unit) theo sau Vì dụ:
(3) Ông Giáp có nhiều nhà cho thuê lắm
Các từ đơn và từ kép như: cả, tất, hết thảy, tất cả được gọi là những LT trỏ lượng toàn thể Vài, dăm, mấy, mươi được gọi là LT trỏ lượng phỏng chừng và
mỗi, một là những LT trỏ lượng nhất định Trong khi đó, những, các, mọi được coi
là những LT trỏ số Vì dụ:
(4) Chị Giáp mua tất cả cam của chị Ất
0.2.1.3 Nguyễn Kim Thản
Trong quyển Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt xuất bản năm 1964/97, ở phần đại
từ nghi vấn (ĐTNV), tác giả có nêu ý nghĩa phiếm định của các từ này Theo tác giả, tất cả các ĐTNV (interrogative pronoun) trong tiếng Việt đều có thể có ý nghĩa
phiếm định, nghĩa là các từ này không còn ý nghĩa nghi vấn nữa mà chỉ có ý nghĩa chung chung, không trỏ vào một sự vật, một tình chất hay một trạng thái cụ thể nào
Ý nghĩa của ĐTNV trở nên phiếm định khi ĐTNV được đặt trước từ cũng và khi đó
ĐTNV trở thành ĐTPĐ Theo tác giả , các ĐTPĐ bao gồm ai, gì, đâu, đâu đâu,
đâu đấy, nào, sao, bao giờ, bao nhiêu Vì dụ:
(5) Cái gì thái quá cũng không tốt
(negative sentence) và câu cảm thán (exclamatory sentence)
(6) Thứ chẳng nói gì
(7) Vợ con gì!
Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến các LTPĐ vài, dăm, cả, tất cả, hết thảy, mọi 0.2.1.4 Bùi Đức Tịnh
Các tiểu loại TPĐ được tác giả đề cập đến trong quyển Văn phạm Việt Nam công
bố năm 1966/95 là ĐTPĐ, CĐTPĐ và LTPĐ ĐTPĐ gồm hai loại: loại chỉ người :
ai, ai ai, nấy, ai nấy, người, kẻ… kẻ, kẻ… người, kẻ thì… người thì, loại chỉ
người lẫn vật: cả, tất, tất cả, hết thảy Vì dụ:
(8) Ai lo việc nấy (việc nấy = việc của người ấy)
Trang 15CĐTPĐ thì có nào, gì, chi, kia, nọ, gì ấy (nấy), nào… ấy (nấy), bất cứ và các
từ vốn là LTPĐ như: mỗi, từng, vài, mấy, một ít, cả, tất cả, hết thảy, nhiều, các,
những, phần đông, đa số Vì dụ:
(9) Cha nào con nấy
Trong khi đó, LTPĐ lại bao gồm mỗi, từng, vài, mấy, ít, thiểu số, cả, tất cả,
hết thảy, nhiều, các, những, phần đông, đa số, đại đa số, tất cả mọi
(10) Mỗi người đều có nhiệm vụ trong xã hội
Một điều đáng lưu ý, theo tác giả, là tính từ (TT) khác cũng có thể biến di từ loại
thành một CĐTPĐ Vì dụ:
(11) Anh ấy bây giờ khác ngày trước rất nhiều
Khác ở đây chỉ một tình cách (không giống, đã thay đổi) Do vậy nó là TT
(adjective)
(12) Ông hãy tím người khác
Khác trong câu này thêm một ý nghĩa khái quát vào cho người nên nó đã biến di từ
loại thành một CĐTPĐ
0.2.1.5 Lê Văn Lý
Trong quyển Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam xuất bản năm 1972, ở hạng mục số, tác
nhiều như: những, mấy, lắm, nhiều và những ngữ vị chỉ số tập hợp: cả, các, mọi
Theo tác giả, tất cả các từ này đều đứng trước DT Vì dụ:
(13) Làng này chỉ có mấy gia đính thôi
(14) Người đó thích lắm con
Trang 16(distribution): mỗi, từng, mọi và những từ chỉ ý nghĩa toàn bộ : tất cả , hết thảy ,
hầu hết , cả Theo tác giả , các từ chỉ số lượng này thường xuất hiện ở p hần đầu
danh ngữ (noun phrase) Vì dụ : vài học sinh QTPĐ (indefinite article) bao gồm
các từ những, các, một
0.2.1.7 Nguyễn Đức Dân
Trong quyển Lôgích, ngữ nghĩa và cú pháp xuất bản năm 1987, tác giả đã đề cập
rất rõ đến chức năng ngữ dụng của TPĐ trong tiếng Việt Theo tác giả, người ta có
(17) Có việc gì anh ấy không biết
Bác bỏ với đâu:
(18) Tôi có quyền bính luận sở thìch của người khác đâu
Bác bỏ với sao:
(19) Anh bảo nó đến sao được
Ngoài ra, một số LTPĐ khác cũng được nhắc đến Đó là các lượng từ tồn tại
(existential quantifier): một số, dăm, vài ba, mấy, nhiều, phần lớn, ít và các lượng từ phổ quát (universial quantifier): tất cả, mọi, mỗi, toàn thể, bất kỳ
(20) Tôi đã hỏi mọi người, chỉ còn cô Ba là chưa hỏi
0.2.1.8 Diệp Quang Ban
Trong quyển Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông (tập 1) xuất bản năm 1989, tiểu loại
TPĐ được tác giả nhắc đến là ĐTPĐ Các từ này được dùng trong câu khẳng định (positive/affirmative sentence) tuyệt đối và câu phủ định tuyệt đối Vì dụ:
(21) Ai cũng (không) biết nó
(22) Ở đâu cũng không mưa
Trang 17Ngoài ra, cũng theo tác giả, các từ này còn được dùng trong câu bác bỏ Chẳng hạn:
(23) Có ai việc gì đâu?
Trong câu này, có đâu là khuôn bác bỏ và đâu không phải là ĐT với ý nghĩa nghi
vấn mà là ĐT với ý nghĩa phiếm định
0.2.1.9 Bùi Tất Tươm (chủ biên), Nguyễn Văn Bằng và Hoàng Xuân Tâm
Trong giáo trình Cơ sở ngôn ngữ học và tiế ng Việt xuất bản năm 1997, trong
phần đại từ (ĐT), các tác giả có nhắc đến các ĐTPĐ ai, gì, đâu, nào, sao, bao giờ,
bao nhiêu Trong phần LT, các LTPĐ mỗi, từng, mấy, những, các, mọi, cả, tất
cả, số đông, vô số cũng được nhắc đến Theo các tác giả, mấy và những luôn luôn
đòi hỏi DT trỏ đơn vị đi theo nó phải được hạn định loại hoặc đặc trưng, hoặc phải
được chỉ xuất (demonstrative) Vì dụ: mấy quyển sách, những tấm ảnh
Cũng theo các tác giả , các, mọi, cả, tất cả chỉ toàn bộ số phần tử trong một tập
Trong quyển Ngữ pháp tiếng Việt công bố năm 1999, ở phần ĐTNV, tác giả có
đề cập thêm rằng ĐTNV còn có thể sử dụng như ĐT (pronoun) mang ý nghĩa phiếm
định Các ĐTPĐ được dùng để chỉ sự phủ định, sự bác bỏ Chúng là những ĐTNV chuyển hóa thành và chúng chỉ có thể tồn tại trong tiếng Việt mà thôi Vì dụ:
(25) Ai mà biết được = Không ai biết
(26) Nói làm gì = Không nên nói
(27) Có sao đâu = Không việc gì
(28) Tôi đâu có biết = Không biết
(29) Tôi có bao giờ nói = Không nói
4Là “những điều không nói ra mà người ta lại nhận ra Không nói ra nhưng không vì không muốn nói ra, mà ví cơ chế ngôn ngữ.” [Nguyễn Đức Dân, 2001, 14]
Trang 18(30) Tôi nào có biết = Không biết
như: cả, tất cả, hết thảy
0.2.1.11 Nguyễn Phú Phong
Các tiểu loại TPĐ được tác giả nhắc đến trong quyể n Những vấn đề ngữ pháp
tiếng Việt xuất bản năm 2002 là các ĐTPĐ ai, đâu, gì, các CĐTPĐ nào, kia, nọ,
bao nhiêu và các QTPĐ những, các, một
0.2.1.12 Cao Xuân Hạo (chủ biên), Nguyễn Văn Bằng, Hoàng Xuân Tâm
và Bùi Tất Tươm
Với quyển Ngữ đoạn và từ loại xuất bản năm 2005, các tác giả có đề cập đến ĐTPĐ và LTPĐ Theo các tác giả, ĐTPĐ được dùng để chỉ những sự vật hoặc sự
tình (state of affairs) phiếm định Chúng bao gồm sáu loại: chỉ người ai, chỉ vật gì,
nào, chỉ địa điểm đâu, chỉ thời gian bao giờ, chỉ số lượng bao nhiêu và chỉ sự tình
sao
Trong khi đó, LTPĐ bao gồm các từ những, các, mấy, mỗi, từng, mọi, cả, tất
cả Các từ này làm lượng ngữ5
(quantifier) của DT trỏ đơn vị làm trung tâm trong
danh ngữ Chẳng hạn: mấy người thợ xây, những ngôi nhà này, từng miếng ăn, tất
cả các bạn
0.2.2 Việc nghiên cứu từ phiếm định trong tiếng Anh
Cũng giống như TPĐ trong tiếng Việt, TPĐ trong tiếng Anh cũng đã được nhắc
đến trong các sách ngữ pháp từ rất lâu, nhiều nhất và mạnh mẽ nhất là vào thập niên
70 trở về sau Khi nhắc đến các TPĐ trong tiếng Anh thí không thể không nhắc đến các tác giả tiêu biểu sau đây:
0.2.2.1 G Leech và J Svartvik
Trong quyển A communicative grammar of English xuất bản lần đầu vào năm
1975, các tác giả có đề cập đến bốn tiểu loại TPĐ: LTPĐ bao gồm every, all, each,
both, some, any, either, many, more, most, enough, (a) few, fewer, less, several,
5
Làđịnh ngữ (determiner) chỉ lượng đứng phía trước
Trang 19much, (a) little, least, no, none, neither, lots of, a lot of, plenty of, a great deal
of, a large amount of, a large number of Các LTPĐ này có thể được dùng như
CĐTPĐ Vì dụ:
(31) We didn‟t buy much food „Chúng tôi không mua nhiều thức ăn.‟
ĐTPĐ bao gồm everybody, everyone, somebody, someone, anybody, anyone,
nobody, no one, everything, something, anything, nothing và các từ vốn là LTPĐ
như: all, each, both, some, any, either, many, more, most, enough, (a) few,
fewer, less, several, much, none, neither Ý n ghĩa phiếm định của c ác ĐT one, you, they cũng được nhắc đến Vì dụ:
(32) One never knows what may happen
„Người ta không bao giờ biết được chuyện gí có thể xảy ra.‟
Trạng từ phiếm định (TrTPĐ) bao gồm somewhere, anywhere, everywhere,
nowhere, often, always, usually, regularly, frequently, sometime, sometimes, occasionally, rarely, seldom, ever, never Vì dụ:
(33) They regularly take their dog for a walk in the evening „Họ thường dắt chó
đi bộ dạo chơi vào ban đêm.‟
QTPĐ bao gồm a, an Các từ này được s ử dụng khi người nghe không biết được
người nói muốn nói đến người nào, vật gì một cách cụ thể Vì dụ:
(34) Bill became a successful businessman „Bill trở thành một thương gia thành
công.‟
0.2.2.2 A.J Thomson và A.V Martinet
Trong quyển A practical English grammar phát hành năm 1985, các tác giả đã đề
cập đến QTPĐ a, an và các ĐTPĐ you, one, they Ngoài ra, các tác giả cũng nêu cách dùng của một số TPĐ khác như: all, every, each, both, either, neither, some,
any, no, other, another, someone, somebody, something, anyone, anybody, anything, no one, nobody, nothing, everyone, everybody, everything
Tác giả đã phân tìch cách dùng các từ này tương đối rõ, đặc biệt là các từ all,
every và each All mang nghĩa một số người hay vật được xem như là một nhóm,
trong khi đó every mang nghĩa một số người hay vật được xem như riêng lẻ Nhưng
Trang 20trong thực tế, every và các từ ghép của nó thường được dùng khi người ta nghĩ về một nhóm Each mang nghĩa một số người hay vật được xem như riêng lẻ Every
có thể mang nghĩa này nhưng ìt nhấn mạnh đến tình chất riêng lẻ hơn Vì dụ:
(35) Every man had a weapon „Mọi người đàn ông đều có vũ khì.‟
Câu này ngụ ý rằng người nói đã đếm những người đàn ông, đếm những vũ khì
và thấy rằng hai con số này khớp với nhau
0.2.2.3 M Frank
Trong quyển Modern English: A practical reference guide xuất bản năm 1986,
tác giả có đề cập đến QTPĐ, ĐTPĐ và LTPĐ ĐTPĐ bao gồm someone,
somebody, something, anyone, anybody, anything, no one, nobody, nothing, everyone, everybody, everything Trong khi đó, LTPĐ bao gồm all, another, any, both, each, either, few, least, less Các từ này, theo tác giả, vừa có thể sử dụng như
ĐT vừa có thể sử dụng như TT
(36) No one passed the examination „Không ai thi đậu cả.‟
(37) He bought some chairs „Anh ta mua một số ghế.‟
0.2.2.4 J Allsop
Các tiểu loại TPĐ mà tác giả đề cập đến trong quyển Students’ English grammar
something, anyone, anybody, anything, no one, nobody, nothing, everyone, everybody, everything, các LTPĐ every, all, each, both, some, any, either, many, more, most, enough, (a) few, fewer, fewest, less, least, several, much, (a) little, least, no, none, neither, lots of, a lot of, plenty of, a great deal of, a large
amount of, a large number of và các TrTPĐ (indefinite adverb) somewhere,
anywhere, everywhere, nowhere, often, always, usually, regularly, frequently, sometime, sometimes, occasionally, rarely, seldom, ever, never Vì dụ:
(38) I seldom go to the theatre nowadays „Dạo này tôi hiếm khi đi xem hát ‟ 0.2.2.5 R Murphy
Trong quyển English grammar in use ấn bản năm 1992, tác giả đã đề cập đến các
QTPĐ a, an Tác giả cũng nêu cách dùng của các từ every, all, each, both, some,
Trang 21any, either, many, more, most, enough, (a) few, fewer, less, several, much, (a) little, least, no, none, neither, lots of, a lot of, plenty of, everybody, everyone, somebody, someone, anybody, anyone, nobody, no one, everything, something, anything, nothing
(39) Some people are very unfriendly „Một số người không thân thiện lắm.‟ 0.2.2.6 B.S Azar
Các TPĐ được tác giả trính bày trong quyển Understanding and using English
grammar ấn bản năm 1993 là các ĐTPĐ everyone, everybody, someone,
somebody, something, anyone, anybody, anything, no one, nobody, nothing
(40) Someone left his book on the desk
„Ai đó đã để quên quyển sách của mính trên bàn.‟
Ngoài ra, tác giả cũng nêu cách dùng của QTPĐ a, an và một số LTPĐ như: (a)
few, all, each, every và several
0.2.2.7 M Hewings
Trong quyển Advanced grammar in use xuất bản năm 1999, tác giả đã nêu bật
cách dùng của QTPĐ a, an, các ĐTPĐ someone, somebody, something, anyone,
anybody, anything, everyone, everybody, everything, no one, nobody, nothing,
các CĐTPĐ some, any, other, another, one và các LTPĐ much (of), many (of), a
lot of, lots (of), all (of), both (of), each (of), few, a few (of), little, a little (of)
Nhín chung phần trính bày của tác giả cũng không có gí đặc biệt hơn so với các tác giả trước: cũng nhắc đi nhắc lại cách dùng của các từ này
0.2.2.8 R Huddleston và G.K Pullum
Trong quyển The Cambridge grammar of the English language xuất bản năm
2002 dài 1842 trang, ở phần DT và danh ngữ, các tác giả có nói đến các QTPĐ a,
an và cũng có sơ lược sự khác biệt về cách dùng của QTPĐ và quán từ xác định
(definite article)
Cũng trong phần DT và danh ngữ này, các CĐTPĐ every, all, each, both, some,
any, either, neither, another, a little, a few, several, many, much, few, little,
Trang 22enough được nêu rõ Các từ này đứng trước các DT và có chức năng tương tự như
TT Vì dụ:
(41) We spent all day at the beach „Chúng tôi đã trải qua cả ngày ở bãi biển.‟ 0.2.2.9 M Swan
Trong quyển Practice English usage phát hành năm 2005, ở phần ĐT, tác giả có
đề cập đến các ĐTPĐ everyone, everybody, everything, somebody, someone,
something, anybody, anyone, anything, no one, nobody, nothing Theo tác giả,
không có sự khác biệt lớn nào giữa các ĐTPĐ somebody và someone, anybody và
anyone, no one và nobody và giữa everyone và everybody Vì dụ:
(42) There is someone outside who wants to talk to you
„Có ai đó bên ngoài muốn nói chuyện với bạn.‟
Tác giả cũng nhắc đến cách dùng của QTPĐ a, an Cách dùng mà tác giả nêu ra
không có gí mới so với các tác giả trước đó Ngoài các QTPĐ, các CĐTPĐ khác
cũng được đề cậ p đến như : every, all, both, each, other, another, some, any,
either, neither, less, little, few, a few, much, many Vì dụ:
(43) Every child needs love „Mọi đứa trẻ đều cần sự yêu thương.‟
Các LTPĐ và TrTPĐ cũng được nhắc đến LTPĐ bao gồm every, all, both,
each, much, many, lots of, a lot of, plenty of, a great deal of, a large amount of,
a large number of, more, most, several, enough, (a) little, (a) few, less, fewer, least, fewest, neither, either, no, none Các TrTPĐ thí có always, ever, usually, often, frequently, sometime, sometimes, occasionally, rarely, seldom, never, somewhere, anywhere, everywhere, nowhere
anybody, anything, no one, nobody, nothing, everyone, everybody, everything
Loại thứ hai gồm một số CĐTPĐ được dùng làm ĐTPĐ như: a few, a little, all,
Trang 23another, some, any, both, each, few, fewer, least, less, little, many, more, most, much, either, neither, one, none và several
(44) Someone has left a message for you „Ai đó đã để lại tin nhắn cho anh.‟ (45) All are waiting outside the bus station
„Tất cả đang chờ phìa bên ngoài trạm xe buýt.‟
Qua khảo sát ở phần trên, chúng tôi nhận thấy TPĐ trong tiếng Việt và tiếng Anh
được các tác giả lồng ghép chung vào các từ loại (part of speech) khác Số lượng các tiểu loại cũng như ranh giới phân chia các tiểu loại đó cũng không hoàn toàn trùng khớp với nhau giữa các tác giả Cùng một TPĐ có tác giả xếp nó vào tiểu loại này, nhưng cũng có tác giả xếp nó vào một tiểu loại khác Nói chung, cách phân
chia của các tác giả làm cho người học vô cùng mơ hồ và lúng túng ví không biết phải hiểu như thế nào cho đúng về TPĐ
0.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là TPĐ trong tiếng Việt và tiếng Anh,
mà cụ thể là các tiểu loại của chúng Từ trước đến nay, phần lớn các tác giả chủ yếu
chỉ tập trung nghiên cứu TPĐ một cách sơ sài về mặt ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Chưa có tác giả nào nghiên cứu xem TPĐ trong tiếng Việt và TPĐ trong tiếng
Anh có những điểm tương đồng và dị biệt nào Đây quả là một vấn đề hết sức thú
vị, thiết thực cho cả người học ngoại ngữ lẫn người làm công tác dịch thuật, nhưng khó khăn cũng không kém
Trên cơ sở những bức bách như vậy, chúng tôi thiết nghĩ luận án có nhiệm vụ làm sáng tỏ các vấn đề sau đây:
1 Hệ thống lại một cách đầy đủ số lượng các tiểu loại TPĐ trong tiếng Việt cũng
như tiếng Anh trên cơ sở ngữ liệu mà chúng tôi thu thập được
2 Làm rõ ý nghĩa , cách dùng và chức năng của các tiểu loại TPĐ trên những bính diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng
3 Tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt của TPĐ trong tiếng Việt và tiếng Anh
Trang 244 Những gợi ý nào dành cho người Việt học tiếng Anh cũng như cho người Anh học tiếng Việt liên quan đến TPĐ của hai ngôn ngữ
0.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN NGỮ LIỆU
Để thực hiện nhiệm vụ là làm sáng tỏ các vấn đề đã được nêu bên trên thí ngoài những phương pháp nghiên cứu khoa học chung như: thu thập ngữ liệu, phân loại
và đánh giá ngữ liệu, chọn lọc và khai thác ngữ liệu luận án của chúng tôi áp dụng hai phương pháp miêu tả và so sánh đối chiếu trong một hệ thống liên hoàn bao gồm các bước sau đây:
1 Miêu tả ý nghĩa và cách dùng của các tiểu loại TPĐ trong tiếng Việt và tiếng Anh trên các bính diện ngữ pháp và ngữ nghĩa
2 Phân tích các đặc điểm, chức năng của TPĐ trên bình diện ngữ dụng
3 Đối chiếu TPĐ trong tiếng Việt và tiếng Anh để tím ra những nét tương đồng
và dị biệt
Các câu có chứa TPĐ mà chúng tôi sử dụng làm các vì dụ minh họa trong toàn
bộ luận án đều được trìch từ những nguồn ngữ liệu đáng tin cậy như: các sách văn học, các ấn phẩm được viết bằng tiếng Việt và tiếng Anh Những nguồn ngữ liệu này đều có xuất xứ rất rõ ràng và đều được công bố chình thức Điều này cho thấy tình trung thực của đối tượng nghiên cứu Ví thế, nó cũng góp phần làm tăng giá trị của kết quả thu được
0.5 GIÁ TRỊ, Ý NGHĨA CỦA LUẬN ÁN
Khi thực hiện đề tài luận án này, chúng tôi không có tham vọng giải quyết hết tất
cả các vấn đề liên quan đến TPĐ trong cả hai ngôn ngữ Việt-Anh bởi đây là một
việc rất khó khăn Tuy vậy, chúng tôi thiết nghĩ việc nghiên cứu các tiểu loại TPĐ trên cả ba bính diện ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng và đặc biệt việc tìm ra những
điểm tương đồng và dị biệt của TPĐ trong tiếng Việt và tiếng Anh sẽ có những giá trị nhất định về mặt lý luận và thực tiễn
VỀ MẶT LÝ LUẬN
Có thể khẳng định luận án của chúng tôi là luận án đầu tiên ở Việt Nam chỉ tập trung nghiên cứu TPĐ, một lớp từ có những đặc điểm, những chức năng rất đáng
Trang 25chú ý nhưng chưa được quan tâm đúng mức, một cách toàn diện và có hệ thống trên
cả ba bính diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Việc nghiên cứu này sẽ cung cấp thêm những hiểu biết về ý nghĩa, chức năng ngữ pháp và ngữ dụng của TPĐ trong
tiếng Việt và tiếng Anh, qua đó góp phần nâng cao sự hiểu biết trên cả hai ngôn ngữ này Mặt khác, nó còn đóng góp rất lớn vào việc khẳng định và hoàn thiện lý thuyết loại hính học về lớp từ này Hơn thế nữa, nó cũng tạo thêm cơ sở lý luận cho việc xác định và phân loại TPĐ trong tiếng Việt và tiếng Anh nói riêng cũng như trong tất cả các ngôn ngữ nói chung Việc so sánh đối chiếu TPĐ trong tiếng Việt và tiếng Anh sẽ giúp tím ra những điểm tương đồng và dị biệt, góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy ở cả hai ngôn ngữ
VỀ MẶT THỰC TIỄN
Trong xu hướng hòa nhập cùng các nước trên thế giới hiện nay thí việc học ngoại ngữ, cụ thể là tiếng Anh đối với người Việt Nam càng trở nên hết sức cần thiết
Việc nghiên cứu Từ phiếm định trong tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh) là rất thiết
thực đối với những người đang trực tiếp giảng dạy tiếng Anh cho các sinh viên tại các trường Đại học như chúng tôi Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ giúp chúng tôi rất nhiều trong việc chọn lựa phương pháp giảng dạy phù hợp, thiết kế bài giảng, soạn giáo trính tiếng Anh để dạy cho các sinh viên trường Đại học Luật Tp Hồ Chì
Minh Còn đối với các sinh viên Luật, kiến thức về ý nghĩa, chức năng ngữ pháp, ngữ dụng và đặc biệt là những điểm tương đồng và dị biệt của TPĐ trong tiếng Việt
và tiếng Anh giúp họ hiểu bài đọc hơn cũng như sử dụng lớp từ này tốt hơn khi viết Mặt khác, kết quả nghiên cứu của luận án cũng là những tham khảo hết sức hữu ích cho người học tiếng Anh cũng như người học tiếng Việt nói chung Ở một chừng mực nào đó, nó có thể là một tài liệu cần thiết cho những người làm công tác biên soạn giáo trính giảng dạy tiếng Việt và tiếng Anh cũng như những ai quan tâm đến công tác dịch thuật hai ngôn ngữ Việt-Anh này
0.6 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Mở đầu (15 trang): phần Mở đầu là phần nằm ngay ở vị trì đầu của luận án Phần
này là điểm xuất phát vô cùng quan trọng mang tình định hướng cho tất cả các
Trang 26chương sau của luận án Nó nêu rõ những điều luận án phải làm, cách thức thực hiện những điều này cũng như những mục tiêu cụ thể mà luận án phải đạt được Phần này bao gồm những việc sau đây:
1 Nêu lý do ví sao chọn đề tài: Từ phiếm định trong tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh) làm đối tượng nghiên cứu của luận án này
2 Trính bày phần lịch sử nghiên cứu vấn đề TPĐ trong tiếng Việt và tiếng Anh
3 Xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
4 Nêu rõ các phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu của luận án
5 Nêu giá trị và ý nghĩa của luận án
6 Tóm tắt bố cục của luận án
Chương 1 (37 trang): chương này nói về TPĐ trong tiếng Việt Chúng tôi sẽ lần
lượt trính bày quan niệm về TPĐ: thế nào là TPĐ và các tiểu loại TPĐ trong tiếng Việt Kế đến chúng tôi sẽ nêu ý nghĩa và chức năng của từng tiểu loại TPĐ trên các bính diện ngữ pháp và ngữ nghĩa Sau cùng, chúng tôi sẽ trính bày chức năng ngữ dụng của TPĐ trong tiếng Việt với những vì dụ chứng minh cụ thể
Chương 2 (37 trang): là chương trính bày về TPĐ trong tiếng Anh Tương tự
chương 1, chúng tôi cũng đề cập đến quan niệm về TPĐ trong tiếng Anh và các tiểu loại của nó Ý nghĩa và chức năng của từng tiểu loại TPĐ cũng sẽ lần lượt được nêu Điểm cuối cùng chúng tôi muốn trính bày trong chương này là chức năng ngữ dụng của TPĐ trong tiếng Anh
Chương 3 (16 trang): chương này nói về những điểm tương đồng và dị biệt của TPĐ trong tiếng Việt và tiếng Anh Chúng tôi sẽ đối chiếu TPĐ trong tiếng Việt và TPĐ trong tiếng Anh để tím ra những điểm tương đồng và dị biệt này
Chương 4 (43 trang): đây là chương mở rộng Nó đề cập đến hính thức tương đương của TPĐ trong tiếng Việt và tiếng Anh
Kết luận (3 trang): trong chương này chúng tôi sẽ trính bày những gí luận án đã làm được cũng như những gí luận án chưa làm được
Trang 27Chương 1: TỪ PHIẾM ĐỊNH TRONG TIẾNG VIỆT
Khi nhắc đến từ phiếm định (TPĐ) trong tiếng Việt thí người ta sẽ nhớ ngay đến
những từ thường xuất hiện trong các hoạt động giao tiếp hàng ngày như: ai, đâu, gì,
nào, sao Thế nhưng TPĐ là từ như thế nào?
1.1 QUAN NIỆM VỀ TỪ PHIẾM ĐỊNH TRONG TIẾNG VIỆT
1.1.1 Định nghĩa từ phiếm định
Theo từ điển tiếng Việt, TPĐ (indefinite word) là từ “chỉ chung chung, không rõ
ràng, cụ thể người nào, sự vật nào.” [Hoàng Phê (chủ biên), 1994, 752] Các tác giả khác như: Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm [1994], Minh Tân, Thanh Nghi và Xuân Lãm [1998] và Vĩnh Tịnh [2006] cũng có cùng quan niệm này Như vậy, hiểu theo
cách định nghĩa này thì TPĐ trong tiếng Việt là từ không có quy chiếu (referent) xác định Đây là tiêu chí giúp chúng tôi xác định TPĐ TPĐ trong tiếng Việt có những tiểu loại (subclass) nào?
1.1.2 Các tiểu loại từ phiếm định trong tiếng Việt
Dựa trên những cách phân chia tiểu loại TPĐ của các nhà Việt ngữ học và đặc biệt là căn cứ vào tiêu chí không có quy chiếu xác định của TPĐ, chúng tôi đã sàng lọc và tổng hợp lại các tiểu loại TPĐ trong tiếng Việt với mục đìch làm cho người
học cảm thấy dễ dàng hơn khi học lớp từ này Theo đó, TPĐ trong tiếng Việt gồm
có bốn tiểu loại: chỉ định từ phiếm định (CĐTPĐ), đại từ phiếm định (ĐTPĐ), lượng từ phiếm định (LTPĐ) và quán từ phiếm định (QTPĐ)
1.1.2.1 Chỉ định từ phiếm định
Các tác giả có nhắc đến tiểu loại TPĐ này là Trần Trọng Kim [1937/2007], Bùi
Đức Tịnh [1966/95] và Nguyễn Phú Phong [2002] Nhín chung, có sự thống nhất về
số lượng CĐTPĐ (indefinite determiner) giữa các tác giả này Tuy vậy, với những
CĐTPĐ vốn là lượng từ (LT) thí nên để chúng ở phần LTPĐ (indefinite quantifier)
Tổng hợp cách phân chia của các tác giả , chúng tôi có danh sách các CĐTPĐ trong
Trang 28tiếng Việt sau đây : bất cứ (kỳ), gì (chi1), gì ấy (nấy), khác, kia, nào (mô2),
nào ấy (nấy), nọ
1.1.2.2 Đại từ phiếm định
[1937/2007], Nguyễn Kim Thản [1964/97], Bùi Đức Tịnh [1966/95], Nguyễn Đức Dân [1987], Diệp Quang Ban [1989], Bùi Tất Tươm (chủ biên ) [1997] và Đỗ Thị Kim Liên [1999] Trong số tác giả này, Trần Trọng Ki m [1937/2007] và Bùi Đức
Tịnh [1966/95] chia ĐTPĐ (indefinite pronoun) ra thành hai loại: một loại toàn chỉ
các LT (quantifier) nên để chúng ở phần LTPĐ thì hợp lý hơn Mặt khác, việc tác
giả xếp từ nấy vào nhóm ĐTPĐ chỉ người là không chính xác vì nó cũng có thể ch ỉ
vật
Cao Xuân Hạo (chủ biên ) [ 2005] lại có sự phân chia khác Theo tác giả này , ĐTPĐ trong tiếng Việt gồm sáu loại: chỉ người, chỉ vật, chỉ địa điểm, chỉ thời gian,
chỉ số lượng và chỉ sự tình (state of affairs) Có thể nói đây là tác giả có phần trính
bày về ĐTPĐ tương đối rõ nét nhất Trong sáu loại này, ĐTPĐ chỉ số lượng nên được xếp chung vào LTPĐ ví nó là LT Dựa trên cách phân chia của các tác giả đã nêu ở trên , chúng tôi tổng hợp l ại để có danh sách các ĐTPĐ sau đây : ĐTPĐ chỉ
người: ai, ai ai, ai nấy, kẻ, kẻ kẻ, kẻ người, người, người ta, ĐTPĐ chỉ vật: gì,
nào, ĐTPĐ chỉ người lẫn vật : nấy, ĐTPĐ chỉ địa điểm : đâu, đâu đâu, đâu đó
(đấy), ĐTPĐ chỉ thời gian: bao giờ, ĐTPĐ chỉ sự tình: sao
1.1.2.3 Lượng từ phiếm định
Đây là tiểu loại TPĐ có số lượng nhiều nhất Các LT toàn thể, toàn bộ, phổ quát,
phỏng chừng, tồn tại, trỏ lượng nhất định (theo cách gọi của Trương Văn Chính và Nguyễn Hiến Lê [1963], Nguyễn Tài Cẩn [1975/96] và Nguyễn Đức Dân [1987])
Trang 29cũng là LTPĐ ví chúng chỉ số lượng chung chung, không cụ thể Sau khi tổng hợp cách phân chia của các tác giả: Trần Trọng Kim [1937/2007], Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê [1963], Bùi Đức Tịnh [1966/95], Lê Văn Lý [1972], Nguyễn Tài Cẩn [1975/96], Nguyễn Đức Dân [1987], Bùi Tất Tươm (chủ biên ) [1997], Cao Xuân Hạo (chủ biên) [2005] và cùng với một số từ thu nhặt được từ nguồn ngữ liệu
như: chút, chút ít, một chút, một ít, một tí, một vài, phần đông, tí, chúng tôi có danh sách các LTPĐ trong tiếng Việt như sau : LTPĐ chỉ số lượng ìt: chút, chút ít,
dăm, dăm ba, ít, ít nhiều, mấy, một chút, một ít, một số, một tí, một vài, mỗi, thiểu số, tí, từng, vài, vài ba, LTPĐ chỉ số lượng nhiều : cả, đa số, đại đa số, hầu hết, hết thảy, lắm, mọi, nhiều, phần đông, phần lớn, phần nhiều, rất nhiều, số đông, tất, tất cả, toàn thể, vô số, LTPĐ chỉ số lượng không rõ nhiều ít : bao, bao nhiêu
1.1.2.4 Quán từ phiếm định
(indefinite article) trong tiếng Việt gồm các từ sau: các, một, những
1.2 Ý NGHĨA VÀ CÁCH DÙNG CỦA TỪ PHIẾM ĐỊNH TRONG TIẾNG VIỆT
1.2.1 Ý nghĩa và cách dùng của chỉ định từ phiếm định trong tiếng Việt
CĐTPĐ là một tiểu loại của chỉ định từ (CĐT) Do vậy, cách dùng của CĐTPĐ cũng không nằm ngoài cách dùng của CĐT (determiner ) CĐT “là những tiếng dùng để chỉ định danh từ (DT), bằng cách thêm một ý về hoàn cảnh đặc biệt của những người hay sự vật do DT (noun) mệnh danh.” [Bùi Đức Tịnh, 1966/95, 256] Thế nhưng, CĐTPĐ cũng là một tiểu loại của TPĐ, mà TPĐ là từ chỉ chung chung,
không cụ thể Do vậy, CĐTPĐ phải là từ được dùng để “chỉ định một DT bằng cách thêm vào ý nghĩa của DT ấy một ý khái quát (để nói trổng, không chỉ cái gí rõ rệt).” [Bùi Đức Tịnh, 1966/95, 266]
• Bất cứ (kỳ)
Hoàng Phê (chủ biên) [1994, 48] cho rằng bất cứ (kỳ) là từ “biểu thị ý không có
điều kiện nào kèm theo cả , không loại trừ trường hợ p cụ thể nào cả ” Khi nó chỉ định cho DT, nó làm cho DT này mang tình khái quát
Trang 30(1) Hắn sẽ rẽ vào bất cứ ngõ nào hắn gặp để đập phá đốt nhà hay lăn ra kêu làng
nước [TN, 26]
• Gì
Theo Bùi Đức Tịnh [1966/95], gì vốn là một chỉ định từ nghi vấn (interrogative
determiner) dùng để hỏi Khi được sử dụng như CĐTPĐ, nó chỉ định cho các DT
chỉ sự vật, sự việc, hiện tượng nhưng không nói rõ ra đó là các sự vật, sự việc, hiện tượng cụ thể nào Vì dụ:
(2) Nó nói qua bên Mỹ, gặp nghề gì có tiền thí làm, cạnh tranh với người tứ xứ,
mính là dân nhỏ con, sức lực yếu nhưng tay chân lanh lẹn [4TV, 317]
Từ gì trong câu này chỉ định cho DT nghề, nhưng nó không chỉ rõ đó là nghề nào
mà chỉ cho biết chung chung bất cứ nghề nào có thể nuôi sống bản thân Đây cũng
là ưu điểm của người Việt Nam chúng ta nói chung: cần cù, chịu thương, chịu khó, sẵn sàng làm bất cứ công việc chân chình nào để mưu sinh
Cũng cần phân biệt gì: CĐTPĐ và gí: chỉ định từ nghi vấn Xét hai vì dụ sau đây:
(3) Thế nhà ta hoàn cảnh gí mà được ưu tiên? [TY, 70]
(4) Đào Phỉ tám mươi chín tuổi , đứng không nổi , diễn vai gì cũng ngồi trên ghế,
ngồi trên ghế mà lẫy roi sải ngựa coi lạ hết biết [TY, 627]
Từ gí trong câu (3) là chỉ định từ nghi vấn ví nó nằm trong câu hỏi (interrogative question) chình danh4 trong khi gì trong câu (4) lại là CĐTPĐ Hay nói r õ hơn, khi
chỉ định từ nghi vấn được “dùng trong những câu xác định (không còn nghi vấn
nữa), thí biến thành CĐTPĐ.” [Bùi Đức Tịnh, 1966/95, 265]
Chi là một biến thể của gì Ví thế, trong các câu có sử dụng từ gì, ta có t hể thay thế gì bằng chi
Trang 31(5) Bắt đầu từ đây, lão chế tạo được món gì, ăn món ấy [TN, 60]
• Khác
Khác là từ chỉ cái không giống, cái chưa biết đến Khi được dùng như CĐTPĐ
thì khác chỉ thêm nghĩa khái quát vào cho DT mà nó chỉ định Đó có thể là những
DT chỉ người, vật, nơi chốn hay thời gian Vì dụ:
(6) Tấn hơi mệt biết rằng nếu đến quán ăn phở thí chắc khi ăn rồi chàng sẽ đi nơi
khác [4TV, 131]
Nơi khác là nơi nào? Nó có thể là một quán phở khác nữa hay một nơi nào đó
mà không ai có thể biết một cách chình xác
• Kia
Bùi Đức Tịnh [1966/95] cho rằng kia vốn là một chỉ định từ chỉ định (chỉ thị )
(demonstrative determiner) biến di thành Khi được dùng như CĐTPĐ, kia chỉ một
thời điểm nào đó không xác định Vì dụ:
(7) Làng này còn bao nhiêu người khá giả tương đối , nhà ngói đơn sơ nhưng là
nổi bật lên ở địa phương , xưa kia làm hội đồng xã , có con em làm sĩ quan chế độ
cũ [4TV, 194]
Từ xưa kia ở đây không cho biết cụ thể ngày, tháng, năm nào cả
Tuy vậy, cũng cần phân biệt giữa kia: CĐTPĐ và kia: chỉ định từ chỉ định Hãy
quan sát vì dụ dưới đây:
(8) Bên kia bờ sông, cây cối bị san bằng mặt đất, một con mèo chạy cũng rất rõ
[ĐRPN, 186]
Từ kia trong câu này không phải là CĐTPĐ ví nó có một ý nghĩa về vị trì trong
không gian (cái bờ sông mà ta đang thấy trước mặt) Do vậy, nó phải là một chỉ định từ chỉ định
• Nào
Giống như gì, nào cũng là chỉ định từ nghi vấn biến di thành CĐTPĐ Nó được
dùng để chỉ định cho DT đứng trước nó nhưng nó không cho biết cụ thể người nào, vật nào Vì dụ:
(9) Chú nào biết thí tôi khen thưởng [4TV, 85]
Trang 32Từ nào trong câu này chỉ định cho từ chú, nhưng nó không xác định rõ là chú
nào cả
Cả gì và nào cùng chỉ định cho DT, nhưng cũng có sự khác biệt đôi chút giữa
chúng Xét các vì dụ sau:
(10a) … nhà văn nào ưa cãi cọ với ông chủ báo, ưa tranh giành quyền lợi cấp
thời vụn vặt thí chẳng bao giờ tiến xa [4TV, 77]
(10b)* … nhà văn gì ưa cãi cọ với ông chủ báo, ưa tranh giành quyền lợi cấp thời
vụn vặt thí chẳng bao giờ tiến xa
(11a)* Tiếng nào như tiếng giặc tấn công
(11b) Tiếng gì như tiếng giặc tấn công [ĐRPN, 77]
Câu (10a) và (11b) là những câu chấp nhận được trong khi đó câu (10b) và (11a) thí không Ví sao lại có hiện tượng này? Trong câu (10a), DT nhà văn đã được hạn định Đó là những nhà văn ưa cãi cọ với ông chủ báo, ưa tranh giành quyền lợi cấp thời vụn vặt chứ không phải chỉ hết tất cả những nhà văn Do vậy, việc sử dụng từ
nào chứ không phải từ gì trong câu này là thỏa đáng Ở câu (11b), từ tiếng không hề
bị giới hạn cho nên sử dụng từ gì sẽ hợp lý hơn từ nào Như vậy, phạm vi chỉ định của từ nào hẹp hơn phạm vi chỉ định của từ gì Hay nói cách khác, từ nào được
dùng khi “nói về sự không xác định trong những đối tượng đã biết Còn từ gí nói về tình không xác định hoàn toàn, tuyệt đối.” [Nguyễn Đức Dân, 1999, 400]
Trong phương ngữ Trung bộ, mô được dùng thay cho nào Do đó, có thể thay thế
nào bằng mô trong những câu có sử dụng nào
• Nào ấy (nấy)
Giống như gì ấy (nấy), CĐTPĐ này cũng đem lại tính khá i quát, chung chung
cho DT mà nó chỉ định Vì dụ:
(12) Cây đước mọc dài tăm tắp , cây nào cây nấy thẳng như cây nến khổng lồ
[ĐRPN, 243]
• Nọ
Cũng giống như kia, khi được dùng làm CĐTPĐ thí nọ cũng mất hẳn công dụng chỉ vị trì của nó Nó thêm tình không xác định ở cách xa hay trong quá khứ vào cho
Trang 33DT mà nó chỉ định Vì dụ:
(13) Anh phu nọ đạp bằng một chân thôi, chân kia thí bẹt ra, duỗi thẳng [4TV,
112]
Trong câu này, người ta chưa xác định được cụ thể anh phu nào cả
1.2.2 Ý nghĩa và cách dùng của đại từ phiếm định trong tiếng Việt
ĐTPĐ là một tiểu loại của đại từ (ĐT) Do vậy, ý nghĩa và cách dùng của ĐTPĐ không thể tách rời khỏi ý nghĩa và cách dùng của ĐT (pronoun) Theo Bùi Đức
những người hay vật mà ta không muốn nói rõ ra.”
Mặt khác, tác giả này cũng khẳng định thêm là các ĐTPĐ trong tiếng Việt đều có
(ĐTNV) và các DT Các ĐTPĐ ai, đâu, gì, nào,
sao nguyên là các ĐTNV (interrogative pronoun) chuyển hóa thành Các ĐTP Đ
người, người ta, kẻ nguyên là các DT
1.2.2.1 Ý nghĩa và cách dùng của ĐTPĐ chỉ người
• Ai
Bùi Đức Tịnh [1966/95] xác định rằng ai vốn là một ĐTNV Khi ai được dùng
làm ĐTPĐ để chỉ chung cho tất cả mọi người thí nó chỉ có thể được sử dụng trong
các loại câu khác với câu hỏi chính danh Theo khảo sát của chúng tôi, ai được sử
dụng rất nhiều trong câu trần thuật (declarative sentence), những câu “có thể xác
định được là đúng hay là sai” [Nguyễn Đức Dân, 2001, 36], “những câu mà giá trị ngôn trung chỉ là trính bày, nhận định, không yêu cầu trả lời, không yêu cầu thực hiện một hành động nào khác và không bộc lộ tính cảm, cảm xúc.” [Cao Xuân Hạo (chủ biên), 2007, 123] Xét vì dụ sau:
(14) Gã cũng có gia đính đàng hoàng như ai [ĐRPN, 145]
Từ ai trong câu trần thuật này không chỉ cụ thể một người nào cả
5
Là “những ĐT thay thế cho DT chỉ người , vật, sự, chỗ ta muốn biết trong một câu hỏi ” [Bùi Đức Tịnh, 1966/95, 240]
Trang 34Trong tiếng Việt, đặc biệt là trong thơ ca và văn viết, ĐTPĐ ai có thể xuất hiện ở
nhiều ngôi khác nhau, nhưng thường nhất là ở ngôi thứ ba số ít
(15) Nhưng qua cô gái ấy, tôi thấy yêu được ai quả là một điều vô cùng hạnh
phúc [TY, 518]
Tuy vậy, ai cũng xuất hiện ở ngôi thứ ba số nhiều khi theo sau nó có từ cũng
Chẳng hạn:
(16) Ở trong xóm này, mính là người quan trọng, ai cũng biết mặt, nhưng ra tới
chợ, tới xóm khác thí mính là con kiến nhỏ xìu, vô danh [4TV, 11]
Ai cũng chỉ ngôi thứ ba số nhiều khi nó có các từ chả, chẳng, không theo sau Ví dụ:
(17) Gọi là sân quần thí ai chả tưởng để phơi quần [SĐ, 122]
Mặt khác, ai cũng có thể được dùng ở ngôi thứ hai số ìt lẫn số nhiều Xét các vì
dụ sau đây:
(18) Ai ơi đợi với em cùng
Thân em nay bắc mai đông một mính [Ca dao VN]
ĐTPĐ ai trong câu ca dao này ở ngôi thứ hai số ìt Đó là từ mà người con gái
dùng để gọi người con trai: hãy cho em đi cùng ví thân gái một mính hiu quạnh và
cô đơn lắm anh ơi, nhưng chưa xác định rõ người con trai nào cả
(19) Ai có dao dùng dao, có mác dùng mác, mỗi người dân là một người lình,
mỗi thước đất là một chiến hào, sẵn sàng hi sinh bảo vệ nền độc lập cho Tổ quốc! [ĐRPN, 24]
Ai trong câu này ở ngôi thứ hai số nhiều Nó chỉ hết tất cả những người dân Việt
Nam yêu nước, những người với những vũ khì thô sơ nhưng vẫn sẵn sàng hi sinh tấm thân mính để bảo vệ nền chủ quyền đất nước trước sự xâm lược của bọn giặc ngoại xâm Truyền thống yêu nước này của người Việt Nam cứ truyền mãi từ thế hệ này sang thế hệ khác
Điều cần lưu ý là ai không chỉ xuất hiện ở ngôi thứ hai và ngôi thứ ba mà còn ở ngôi thứ nhất nữa Khi sử dụng ai ở ngôi thứ nhất, mục đìch của người nói là muốn
phủ nhận điều mính nói với người đối thoại trực tiếp với mính với một thái độ dỗi
Trang 35hờn, trách móc Thế thì, ai trong trường hợp này có phải là ĐTPĐ không ? Xét vì dụ
sau đây:
(20) - Chú Sáu, chú cười tôi cái gí? - Lão Ba Ngù toan ngồi xuống ghế lại thôi , mắt lão dán vào đôi môi đang cười rung rung trong ánh đèn đỏ khé của anh Sáu
- Ha! Ha! Ha Ai cười gí bác đâu! [ĐRPN, 33]
Trong câu này , ai chính là chú S áu Do vậy, nó không phải là TPĐ Ngoài từ ai, các từ khác như: người ta, một cũng có nghĩa xác định trong một số trường hợp
cụ thể Thế nhưng, những trường hợp như thế này không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án chúng tôi
Ai cũng có khả năng kết hợp với bất cứ, ít, mấy, một, những Vì dụ:
(21) Ông là người tin cậy , tôi muốn nói chuyện riêng , không cho bất cứ ai nghe
[4TV, 65]
(22) Tạo hóa đã an bài ra thế, chứ loài người ìt ai cưỡng được [SĐ, 213]
(23) ví rằng cái thời kỳ khủng hoảng kia , than ôi, không mấy ai tránh khỏi và
may sao chỉ có hạn [SĐ, 214]
(24) Sau cùng thì không còn một ai biết rõ cái giá trị của Xuân là đáng khinh
trọng thế nào nữa [SĐ, 152]
(25) Hai người lạc h bạch chạy theo , rối rít như những ai muốn được mục kích
cảnh ái ân của người khác [SĐ, 112]
Các CĐT khác, kia cũng có thể đặt sau ai để chỉ định cho nó Vì dụ:
[4TV, 157]
(27) Với ai kia chứ với tôi, bạn rất nên nói thật [SĐ, 153]
Ai có thể đảm nhận các chức năng ngữ pháp (grammar) trong câu như: chủ ngữ
(Cn), vị ngữ (predicate) (có hệ từ là đứng trước), bổ ngữ (Bn) Vì dụ:
(28) Ai thìch nơi vắng vẻ thí thấy vui [4TV, 305] (Ai: Cn (subject))
(29) Chẳng ai biết chú mày là ai, tên gì, mập ốm , từ đâu đến ! [4TV, 51] (ai: vị
ngữ)
Trang 36(30) Việc may rủi , không biết trả thù ai, kiểu giận cá chém thớt [4TV, 164] (ai:
Bn (object))
• Ai ai
Nguyễn Kim Thản [1964/97] cho rằng ai ai là từ được thành lập theo phương
thức láy lại của từ ai Nó được dùng ở ngôi thứ ba số nhiều để chỉ hết tất cả mọi
người và thường có từ cũng theo sau Vì dụ:
(31) ai ai cũng có vẻ sang trọng [SĐ, 175]
Trong câu, ai ai thường giữ vai trò làm Cn Vì dụ:
(32) Ai ai cũng đội trên đầu biết bao [TK, 231]
• Ai nấy
Ai nấy là từ được dùng để chỉ “người nào cũng vậy ; tất cả, không trừ một ai.”
[Hoàng Phê (chủ biên), 1994, 3] Nó có thể được sử dụng làm Cn trong câu Vì dụ:
(33) Những ngày mừng độc lập , ai nấy hớn hở và lo âu , tạm quên chùa chiền và
thắng cảnh [4TV, 34]
Người ta thường hay sử dụng từ đều theo sau ĐTPĐ này
(34) Ai nấy đều ngạc nhiên, hướng mắt nhìn theo tía nuôi tôi [ĐRPN, 262]
• Kẻ
Bùi Đức Tịnh [1966/95] khẳng định rằng kẻ vốn là mộ t DT Khi được sử dụng
như một ĐTPĐ, nó không chỉ cụ thể ai, người nào Vì dụ:
(35) Thỉnh thoảng, cánh cửa sắt ngoài cổng như khua động, ngân lên, ông đoán
chừng gió thổi mạnh, bản lề cửa không khìt khao, hoặc kẻ nào muốn tím nơi ẩn núp
qua cơn mưa đã dựa lưng vào [4TV, 197]
Đôi khi, kẻ cũng được dùng để chỉ người hoặc những người không cụ thể nhưng
hàm ý coi thường, khinh khi Vì dụ:
(36) Thời buổi kim tiền này, người ta không thể quan niệm được một kẻ có tài
Trang 37(38) Xuân làm ra mặt khinh khỉnh , bộ mặt khó chịu , trọng tiếng mẹ đẻ mà
khinh bỉ những kẻ cứ giao dịch bằng tiếng Pháp những khi không cần phải thế [SĐ,
175]
Kẻ cũng có thể có các CĐT khác, nào theo sau để chỉ định cho nó
(39) Dẫu rằng ngài tài giỏi lắm , nhưng xin ngài chớ nên làm những việc có hại
cho kẻ khác [SĐ, 185]
(40) và những kẻ nào cũng bắt chước người Tàu ở bên Tây, nghĩa là chào bằng
cách giơ tay như muốn đấm [SĐ, 198]
Kẻ có thể giữ vai trò làm Cn, vị ngữ, Bn trong câu Vì dụ:
(Kẻ1: Cn, kẻ2: vị ngữ, kẻ3: Bn)
• Kẻ kẻ
Đây là hiện t ượng lặp lại của từ kẻ Kẻ kẻ cũng được dùng để chỉ người hoặc
những người nào đó chung chung và có chức năng ngữ pháp như từ kẻ
(42) Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thỏa mãn lòng vị kỷ
Bùi Đức Tịnh [1966/95] cho là người có nguồn gốc từ D T Trong ngôn ngữ văn
học, người ta dùng nó để chỉ trổng , không cụ thể người nào Nó thường giữ vai trò làm Cn trong câu Vì dụ:
(44) Anh học sinh trường cô -le, người trong ban tiếp tế đã cho tôi theo thuyền từ
Hậu Giang đến đây [ĐRPN, 3]
Đôi khi cũng có hiện tượng láy lại ĐTPĐ này trong cùng một câu
(45) Lòng lòng cùng giận, người người chấp uy [TK, 219]
Trang 38• Người ta
Trong ngôn ngữ tiếng Việt, người ta thường xuất hiện ở ngôi thứ ba số nhiều và
mang sắc thái trung hòa Nó được dùng để “chỉ chung những người bất kỳ , ngoài mính hay những người đang trong cuộc.” [Hoàng Phê (chủ biên), 1994, 676] Vì dụ:
(46) Người ta quýnh quáng chạy tới chạy lui lộn xộn trên khoảng đất trống
[ĐRPN, 229]
Người ta thường đảm nhận vai trò làm Cn hoặc Bn trong câu Vì dụ:
(47) Tự nhiên người ta đánh con, người ta đuổi con, người ta áp chế [SĐ, 33] (người ta: Cn)
[SĐ, 115] (người ta: Bn)
1.2.2.2 Ý nghĩa và cách dùng của ĐTPĐ chỉ vật
• Gì
Gì là ĐTPĐ được dùng để chỉ “sự vật, sự việc , hiện tượng nào đó không rõ ”
[Hoàng Phê (chủ biên), 1994, 366] Thường xuất hiện từ cũng theo sau gì trong câu
trần thuật khẳng định Vì dụ:
(49) Thấy tìa nuôi tôi làm gì, tôi cũng bắt chước làm theo như vậy [ĐRPN, 217]
Gì cũng xuất hiện trong câu trần thuật phủ định để chỉ một sự vật, một hiện
tượng nào đó không cụ thể
(50) Trong hiện tại, rừng tràm chẳng còn gì [4TV, 302]
xuất hiện trước gì Chẳng hạn:
(51) Con thì cái gì cũng hỏi [ĐRPN, 219]
Gì cũng có thể kết hợp được với ít và những Vì dụ:
(52) Là vợ hiền thí ìt gì cũng phải đẻ được ra con [KSN, 300]
(53) Những gì ngon nhất đều phần con [NTH, 22]
Gì thường đảm nhận chức năng Cn hoặc Bn trong câu Vì dụ:
6
Là từ được dùng để “diễn đạt ý nghĩa cá thể.” [Nguyễn Tài Cẩn, 1975/96, 229]
Trang 39(54) Gì cũng được, tùy anh [TY, 141] (Gì: Cn)
(55) Tôi bước đến gần, nhín vào họ xem họ đang làm gì [ĐRPN, 97] (gì: Bn)
• Nào
Hoàng Phê (chủ biên ) [1994, 636] quan niệm rằng nào là từ được dùng để chỉ
“bất cứ cái nào trong cùng một tập hợp những cái cùng loại.” Nó thường hay đi kèm với từ cũng Vì dụ:
(56) Thấy người, con nào cũng há họng ra, toan đớp [ĐRPN, 201]
Nào đôi khi cũng xuất hiện sau từ ít như trong ví dụ sau đây:
(57) Ít nào cũng phải mồng 10 mới dám khai trương vở này [KSN, 11]
Không giống như gì có thể làm Cn , Bn trong câu, nào chỉ làm định ngữ
(determiner) trong câu mà thôi Vì dụ:
(58) Gần khắp mặt biển Thái Bình Dương , cảng nào anh cũng có tới [ĐRPN,
92]
1.2.2.3 Ý nghĩa và cách dùng của ĐTPĐ chỉ người lẫn vật
Hoàng Phê (chủ biên) [1994] chỉ ra rằng nấy thường được dùng kết hợp với các từ như: ai, gì, nào đứng trước để chỉ chính cái vừa mới được đề cập trước đó Thế nhưng, những cái vừa mới được nhắc đến đều là những cái phiếm định , do vậy, nấy cũng được dùng để chỉ những cái phiếm định Theo khảo sát của chúng tôi , nấy có
thể làm Cn, Bn và định ngữ trong câu Vì dụ:
(59) Ai gặp nấy hốt [ĐRPN, 224] (nấy: Cn)
(60) Gặp gí ăn nấy [TY, 615] (nấy: Bn)
(61) Nhà nào nhà nấy đóng cửa im ỉm [TY, 621] (nấy: định ngữ)
1.2.2.4 Ý nghĩa và cách dùng của ĐTPĐ chỉ địa điểm
• Đâu
Nguyễn Kim Thản [1964/97] nhấn mạnh rằng đâu vốn là ĐTNV dùng để hỏi địa
điểm Khi làm ĐTPĐ, nó chỉ một địa điểm, một nơi nào đó không xác định rõ
(62) … nhưng đi đâu với giá nào mấy cậu cũng đồng ý [4TV, 117]
Đâu thường xuất hiện trong câu trần thuật khẳng định và thường có từ cũng theo
sau Vì dụ:
Trang 40(63) Đi đâu cũng được [ĐRPN, 100]
Người ta cũng sử dụng đâu trong câu trần thuật phủ định
(64) Không biết tìa nuôi tôi đi đâu [ĐRPN, 143]
trạng ngữ (adverbial modifier) Vì dụ:
(66) Rồi thì khỏe ru , tôi trở về, còn anh tự ý đi đâu thí đi [4TV, 11] (đâu: trạng
ngữ)
• Đâu đâu
Đâu đâu là hiện tượng láy lại của từ đâu ĐTPĐ này được dùng để chỉ chung
cho bất cứ nơi nào hay khắp mọi nơi Trong câu, nó thường đảm nhận chức năng
làm trạng ngữ Vì dụ:
(67) nhưng tiếng súng chỉ nghe văng vẳng xa xa ở tận đâu đâu [4TV, 134]
• Đâu đó (đấy)
Đâu đó (đấy) được dùng để chỉ chỗ nào đó không rõ , không biết chính xác Nó
thường được sử dụng làm trạng ngữ của câu Vì dụ:
(68) Ngày mai, làm bữa cơm bính dân hơn, nếu cần, ba với con ăn chung, thằng
Dũng đi Sài Gòn hoặc đi đâu đó mà ăn riêng [4TV, 179]
→ Không ai biết chính xác Dũng đi Sài Gòn hay nơi nào khác
1.2.2.5 Ý nghĩa và cách dùng của ĐTPĐ chỉ thời gian
“khoảng thời gian nào đó không muốn nói rõ ra hoặc bất kỳ khoảng thời gian nào ”
[Hoàng Phê (chủ biên), 1994, 34] ĐTPĐ này thường được dùng trong các câu trần thuật và đảm nhận vai trò làm trạng ngữ trong câu Vì dụ:
(69) Bao giờ có một điều bất thường, một biến cố gí vừa xảy ra thí tức khắc bọn
trẻ con kéo đến đó ngay [ĐRPN, 234]
Trong tục ngữ, ca dao Việt Nam, bao giờ được dùng để chỉ một sự việc rất khó
có thể xảy ra hoặc không bao giờ xảy ra