1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vị từ trạng thái trong tiếng việt (so sánh với tiếng anh)

223 878 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 223
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi lẽ trong nhiều trường hợp của hoạt động tu từ, các biến thể của chúng có giá trị tu từ khác nhau, chẳng hạn, không đẹp rất khác với xấu, không ghét chưa hẳn đã là thích, còn thích ch

Trang 1

-

Trần Thị Minh Phượng

VỊ TỪ TRẠNG THÁI

TRONG TIẾNG VIỆT

(So sánh với tiếng Anh)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2009 ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINTRƯỜNG ĐẠI HỌC

Trang 2

-

Trần Thị Minh Phượng

VỊ TỪ TRẠNG THÁI

TRONG TIẾNG VIỆT

(So sánh với tiếng Anh)

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh

Mã số: 5.04.27 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM HÙNG VIỆT

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2009

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả khảo sát miêu tả và thực nghiệm nêu trong luận án này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Trần Thị Minh Phượng

Trang 4

ƒ [ , tr ] : tài liệu trích dẫn số … trang … trong danh mục Tài liệu tham khảo hay Nguồn tư liệu trích dẫn

ƒ (!) : phát ngôn hay từ không dùng trong thực tế

ƒ HS : học sinh

ƒ THCS : Trung học cơ sở

ƒ THPT : Trung học phổ thông

Trang 5

CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN TỚI VỊ TỪ TRẠNG THÁI

1.1.Vị từ trạng thái 13

1.1.1 Khái niệm vị từ trạng thái 13

1.1.2 Phân loại 14

1.2 Nghĩa của từ Phương pháp phân tích thành tố nghĩa 18

1.2.1 Nghĩa của từ 18

1.2.2 Các quy luật phát triển nghĩa 26

1.2.3 Phương pháp phân tích thành tố 30

1.3 Cơ sở tri nhận vị từ trạng thái 41

1.3.1 Một số nét cơ bản về ngôn ngữ học tri nhận 41

1.3.2 Tri nhận về vị từ trạng thái 46

1.4 Tiểu kết 48

Chương 2 VỊ TỪ TRẠNG THÁI CHỈ TÍNH CHẤT 2.1 Vị từ trạng thái chỉ thể trạng 49

2.1.1 Nghĩa và các kết hợp của các từ béo, gầy 49

2.1.2 Hiện tượng chuyển nghĩa của các từ béo, gầy 60

2.1.3 Những điểm tương đồng và dị biệt của các từ béo, gầy so với các từ tương đương trong tiếng Anh 67

2.1.4 Tri nhận về trạng thái béo / gầy 78

2.2 Vị từ trạng thái chỉ tính trạng 82

2 2.1.Nghĩa và các kết hợp của các từ hiền, dữ 82

2.2.2 Hiện tượng chuyển nghĩa của các từ hiền, dữ 88

2.2.3 Những điểm tương đồng và dị biệt của các từ hiền, dữ so với các từ tương đương trong tiếng Anh 92

2.2.4.Tri nhận về trạng thái hiền/ dữ 102

Trang 6

3.1 Vị từ trạng thái chỉ hình trạng 108

3.1.1 Nghĩa và các kết hợp của các từ tròn, méo 109

3.1.2 Hiện tượng chuyển nghĩa của các từ tròn, méo 117

3.1.3 Những điểm tương đồng và dị biệt của các từ tròn, méo so với

các từ tương đương trong tiếng Anh 122

3.1.4 Tri nhận về trạng thái tròn / méo 129

3.2 Vị từ trạng thái chỉ tâm trạng .133

3.2.1 Nghĩa và các kết hợp của các từ yêu, ghét 134

3.2.2 Hiện tượng chuyển nghĩa của các từ yêu, ghét 141

3.2.3 Những điểm tương đồng và dị biệt của các từ yêu, ghét so với

các từ tương đương trong tiếng Anh 145

3.2.4 Tri nhận về trạng thái yêu / ghét 154

3.3.Tiểu kết 156

Chương 4 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VIỆC SỬ DỤNG VỊ TỪ TRẠNG THÁI TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH 4.1 Những vấn đề liên quan đến hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa khi sử dụng vị từ trạng thái 159

4.1.1- Từ đồng nghĩa 160

4.1.2- Từ trái nghĩa 166

4.1.3- Các dạng bài tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa tiêu biểu 168

4.2 Những vấn đề liên quan đến hiện tượng đa nghĩa khi chuyển dịch vị từ trạng thái .174

4.2.1-Nhóm từ chỉ tính chất 177

4.2.2- Nhóm từ chỉ tình trạng 180

Trang 7

từ đa nghĩa có liên quan đến VTTT trong tiếng Việt và tiếng

Anh 184

4.3.2- Các câu dịch có VTTT từ tiếng Việt sang tiếng Anh và từ tiếng Anh sang tiếng Việt 189

4.3.3- Kết quả và giải pháp 193

4.4 Tiểu kết .196

Phần kết luận 199 Danh mục các công trình của tác giả đã công bố có liên quan đến đề

tài của luận án

Danh mục tài liệu tham khảo và Nguồn tư liệu trích dẫn

Phụ lục 1: Bản thống kê các từ thường dùng trong tiếng Anh

Phụ lục 2: Bài khảo sát tiếng Việt

Phụ lục 3: Bài khảo sát tiếng Anh

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vị từ là thành phần không thể thiếu của phần lớn các phát ngôn trong bất cứ ngôn ngữ nào Theo Nguyễn Thị Quy, có khoảng 72% câu trong các văn bản nghệ thuật tiếng Việt có vị từ làm trung tâm cho phần thuyết [57, tr.36] Mặt khác, trong thực tế học tập, nghiên cứu và giảng dạy Việt ngữ và Anh ngữ, chúng tôi nhận thấy người học nắm được nghĩa và cách sử dụng của vị từ của một ngôn ngữ càng vững bao nhiêu thì khả năng sử dụng thứ ngôn ngữ ấy của họ càng nhiều bấy nhiêu Vị trí quan trọng của vị từ trong phát ngôn là lý do chính khiến chúng tôi hết sức quan tâm đến đối tượng này Sự quan tâm ấy được bắt đầu từ luận văn thạc sĩ của chúng tôi

Trong khi vị từ chỉ hành động đã có nhiều công trình nghiên cứu quan tâm đến, thì vị từ chỉ trạng thái lại chưa được may mắn như thế Số lượng vị từ chỉ trạng thái tuy không nhiều, nhưng tần suất sử dụng lại rất cao Theo thống kê của Gregor D Smart (được công bố tại hội thảo khoa học SEAMEO TP.HCM tháng 3/2007), số lượng vị từ trạng thái chiếm vị trí đáng kể trong số 4,7 triệu

lượt từ thường dùng trong tiếng Anh Ví dụ như biết: 65.808 lượt, thích: 48.098

lượt, v.v (x Phụ lục 1) Tuy được sử dụng nhiều, nhưng việc sử dụng vị từ trạng thái sao cho đúng nghĩa và phù hợp với ngôn cảnh lại là điều không dễ dàng Bởi lẽ trong nhiều trường hợp của hoạt động tu từ, các biến thể của chúng có giá

trị tu từ khác nhau, chẳng hạn, không đẹp rất khác với xấu, không ghét chưa hẳn đã là thích, còn thích chưa chắc đã là yêu, cũng như yêu mến, yêu quý, kính yêu,

v.v., lại có những sắc thái ngữ nghĩa khác hẳn nhau.Vì vậy, trong quá trình dạy tiếng Anh cho người Việt, hoặc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, ta không thể dịch các cặp từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa một cách tùy tiện, mà cần có sự

Trang 9

quan tâm đúng mức đến mặt ngữ nghĩa và ngữ dụng của chúng Muốn vậy, ta không thể chỉ xem xét nghĩa của từ trên cơ sở đặc điểm ngữ pháp, khả năng kết hợp, vị trí, chức năng ngữ pháp của từ ấy trong câu, mà còn phải đặt chúng vào những phát ngôn và nghiên cứu nghĩa của những phát ngôn đó trong ngôn cảnh, tức cần xem xét nghĩa của từ trong toàn bộ các phát ngôn nói chung Đó là lý do tiếp theo khiến chúng tôi thấy cần quan tâm hơn đến ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của vị từ chỉ trạng thái

Từ năm 1980, tiếng Anh là một trong bốn ngoại ngữ (bên cạnh tiếng Nga, tiếng Pháp và tiếng Trung) được dạy bắt buộc trong nhà trường trên cả nước Những năm gần đây, việc dạy và học tiếng Anh lại chiếm ưu thế rõ rệt so với các thứ tiếng khác Trong xu thế hội nhập kinh tế với thế giới hiện nay, nhu cầu học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng lại càng được chú trọng Tuy vậy, việc giảng dạy và học tập tiếng Anh vẫn chưa được thực hiện bằng những phương pháp khoa học tương thích, khiến cho hiệu quả thu được chưa cao, chưa đáp ứng đươc nhu cầu mong muốn về việc sử dụng tiếng Anh của người Việt Nam nói chung và lực lượng lao động trẻ của cả nước nói riêng Tình trạng này là do đa số giáo viên và học sinh vẫn dạy và học tiếng Anh theo phương pháp ngữ pháp – phiên dịch Để tránh việc dạy và học thụ động ấy, cả thầy lẫn trò cần chú ý đến tổ chức các hoạt động tích cực, thông qua việc chú ý đến ngữ nghĩa và ngữ dụng của các phát ngôn hơn Đây là lý do khiến chúng tôi chọn tiếng Anh làm đối tượng để so sánh chủ yếu khi tìm hiểu về vị từ trạng thái của tiếng Việt Trong trường hợp cần thiết, chúng tôi có so sánh với tiếng Pháp, tiếng Nga để thấy rõ vấn đề hơn

Khi tiến hành khảo sát các dữ liệu ngôn ngữ đã thu thập được về các vị từ chỉ trạng thái, chúng tôi nhận thấy có nhiều điểm tương đồng và dị biệt giữa

Trang 10

tiếng Việt và tiếng Anh rất thú vị Chẳng hạn từ tròn trong tiếng Việt có nghĩa

là có hình dáng giống như hình tròn, đường tròn, hình cầu, hoặc có nghĩa âm

thanh dễ nghe hoặc việc làm nào đó trôi chảy Vì vậy, từ tròn trong tiếng Việt thường được kết hợp với các danh từ chỉ sự vật, như bàn tròn, trăng tròn, v.v hay chỉ các bộ phận trong cơ thể con người hoặc động vật, như khuôn mặt tròn, mắt tròn (như hạt nhãn), v.v., nghĩa là tròn được dùng như một từ chỉ trạng thái tĩnh Các trường hợp tròn được dùng như một vị từ chẳng hạn như tròn môi, tròn mắt … được dùng khá hạn chế Trong khi đó, round trong tiếng Anh, ngoài các nghĩa giống như tiếng Việt, còn có nghĩa di chuyển theo hình tròn, như We round our lips when we say “oo”(Ta đọc tròn môi khi phát âm “oo”), wheels go round (bánh lái xoay tròn), hoặc có nghĩa nói hay viết vòng vo, không đi vào trọng tâm, như The report is going round (Bài báo cáo không đi vào nội dung chính) Như vậy, round trong tiếng Anh vừa có chức năng của một vị từ chỉ trạng thái tĩnh

vừa có chức năng của một vị từ biểu thị trạng thái động rất phổ biến

Xin dẫn thêm một dẫn chứng nữa Để mô tả tình trạng béo, tiếng Việt

cũng như tiếng Anh có rất nhiều từ khác nhau như to, lớn (big), bụ bẫm (plump), đẫy đà (buxom), to, mập, lực lưỡng (beefy), béo, mập (fat), mũm mĩm (chubby),

v.v Mỗi một từ như vậy, thường kèm theo sắc thái đánh giá và thường chỉ dùng để miêu tả một hoặc một số đối tượng nhất định trong phạm vi hẹp Cho nên,

nếu vượt ra ngoài phạm vi sử dụng đó, chẳng hạn dùng fat khi nói về người được

ta kính trọng, yêu mến, thì sẽ trở nên khiếm nhã; hoặc dùng plump hay chubby

để mô tả một phụ nữ trung niên hay một thanh niên thì sẽ làm cho hình ảnh đối tượng miêu tả không chính xác và nội dung thông báo trở nên hài hước

Trong câu, nội dung của sự thể quyết định cách tổ chức các tham tố và quan hệ giữa các tham tố, theo đó cũng quyết định cả tổ chức cấu trúc ngữ nghĩa

Trang 11

của phát ngôn Nói cách khác, nghĩa của vị từ giữ vai trò quyết định đối với cách tổ chức của câu về ngữ pháp Tiếc thay, vì số lượng các vị từ trạng thái (vốn có hai nét đặc trưng là không động [– động] (tức là tĩnh), và không chủ ý [– chủ ý] (tức là chỉ tính chất của sự vật)) lại quá lớn so với quỹ thời gian và khả năng thực hiện của bản thân, nên trong luận án này chúng tôi chỉ tập trung xem xét

mặt ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận của các cặp từ: tròn – méo, béo – gầy, yêu – ghét, hiền – dữ, vốn đại diện cho bốn nhóm nhỏ thuộc vị từ trạng thái (được phân

chia ở mục phân loại vị từ, chương I), và so sánh chúng với tiếng Anh mà thôi

2 Lịch sử vấn đề

Vấn đề vị từ trạng thái đã được không ít các nhà ngôn ngữ học đề cập tới, chẳng hạn như Anna Wierzbicka (1999), Cliff Goddard (1998), Anna Gladkova(2004), v.v Đặc biệt, Anna Wierzbicka (1999) đã phân tích ngữ nghĩa

và cơ sở tri nhận của các từ freedom (tự do) và so sánh với các nghĩa biểu hiện của các từ libetas trong tiếng Latin, svoboda trong tiếng Nga, wolnos’c’ trong

tiếng Ba Lan Công trình của bà đã đi đến những điểm tương đồng và dị biệt về văn hoá trong việc tri nhận các từ này Tác giả Cliff Goddard cũng thông qua việc so sánh giữa tiếng Malay và tiếng Anh để khảo sát nghĩa biểu hiện của các

từ sabar, ikhlas, setia trong tiếng Malay và patient, sincere, loyal (kiên nhẫn, chân thực, trung thành) trong tiếng Anh Tiếp thu thành quả của các công trình đi

trước, Anna Gladkova đã phân tích các thang độ biểu thị tính trạng của con người

qua việc so sánh các từ suffer, endure, tolerant (chịu đựng, cam chịu, vị tha) với terpet’ trong tiếng Nga, từ đó đưa ra những kết luận về cơ sở tri nhận các nét nghĩa khác biệt của từ terpet’ do những khác biệt về văn hóa, xã hội Tuy nhiên,

những nghiên cứu vừa nêu đều chủ yếu đi sâu vào phân tích việc giao thoa về văn hóa giữa các thứ tiếng Hơn nữa, đối tượng khảo sát trong những công trình

Trang 12

vừa nêu trên thực tế cũng chưa đụng chạm đến nhóm từ mà luận án này khảo sát

như tròn, méo, béo, gầy, yêu, ghét, hiền, dữ, v.v

Từ những năm 70 của thế kỷ XX, cũng đã có rất nhiều tác giả trên thế giới quan tâm đến các vấn đề về ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận Bởi vì các nhà nhận thức luận đã coi ngôn ngữ như là một mặt hữu cơ của nhận thức và việc hiểu cấu trúc ngữ pháp phải gắn với ngữ nghĩa Trong thực tế, ngôn ngữ học tri nhận đã chịu nhiều ảnh hưởng của tâm lý học, nhất là tâm lý học nhận thức Noam Chomsky (1988) đã từng xem ngôn ngữ học là một bộ phận của tâm lý học Theo hướng này, có thể kể tên một số nhà nghiên cứu có nhiều đóng góp trong ngữ nghĩa học và ngôn ngữ học tri nhận là Ronald W Langacker (1991, 2002), Gilles Fauconnier & Marturner (1995), Leonard Talmy (2000), Charles Fillmore (2002), John Lyons (2006), Anna Wierzbicka (1992), Anna Zalizniak (2006)

Trong nước, tác giả Chu Bích Thu [71] cũng đã cho nhóm từ chỉ tính chất

là quan trọng và đã đi sâu nghiên cứu “Những đặc trưng ngữ nghĩa của tính từ tiếng Việt hiện đại” Tuy nhiên, trong luận án này, tác giả chỉ tập trung nghiên

cứu ba nhóm tính từ: nhóm tính từ biểu thị kích thước của sự vật trong không

gian : cao – thấp, dài – ngắn, rộng – hẹp, v.v.; nhóm tính từ biểu thị phẩm chất: đẹp – xấu, hay – dở, v.v.; nhóm tính từ biểu thị phẩm chất chung : tốt – xấu, v.v [71, tr 5]; chứ chưa quan tâm nhiều đến nhóm từ chỉ trạng thái tròn, méo, béo, gầy, yêu, ghét, hiền, dữ, v.v

Tác giả Lý Toàn Thắng (2005), một trong những người tiên phong trong việc tiếp cận ngôn ngữ học tri nhận, lại quan tâm đến ngôn ngữ học tri nhận từ góc độ ngôn ngữ học tộc người, tập trung vào mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, đặc biệt quan tâm đến các dạng thức tri nhận về không gian

Trang 13

Kế thừa thành quả của những nhà ngôn ngữ học tri nhận đi trước, tác giả Nguyễn Thị Dự [18] cũng đã nghiên cứu khá chi tiết và thú vị các tính từ chỉ

kích thước trong không gian như cao, thấp, ngắn, dài, rộng, hẹp, nông, sâu, dày, mỏng, v.v của tiếng Việt trong sự so sánh với tiếng Anh

Một số sách vở viết về ngữ pháp tiếng Việt của các tác giả như Nguyễn

Tài Cẩn, Đinh Văn Đức, v.v., cũng ít bàn tới nhóm từ chỉ trạng thái như tròn, méo, béo, gầy, yêu, ghét, hiền, dữ, v.v Đặc biệt là chưa có công trình nào phân

tích ngữ nghĩa các cặp từ biểu thị trạng thái một cách cụ thể và so sánh chúng với tiếng Anh

Tuy những công trình vừa nêu không trực tiếp liên quan đến các vị từ được khảo sát trong luận án này, nhưng những cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu kế thừa từ những công trình ấy đã tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi rất nhiều trong việc triển khai đề tài

3 Nhiệm vụ của luận án

Từ trước đến nay, việc nghiên cứu từ vựng – ngữ nghĩa của từ thường được triển khai theo hai hướng chính

Hướng thứ nhất, mà đại diện là những công trình nghiên cứu của những năm 30 và 40 của thế kỉ trước, thường tập trung vào việc phân loại và đặt tên cho các tiểu loại lớn nhỏ trong nhóm, chứ ít chú trọng tới việc tiếng Việt đã dùng những phương tiện gì để diễn đạt những ý nghĩa ấy Theo cách này, các nhà nghiên cứu thường hệ thống hoá các dẫn liệu đã được sưu tập trong các bộ từ điển và phát hiện các mối quan hệ có tính hệ thống giữa các từ và ngữ nghĩa của chúng nhờ phân loại lại các từ theo các nhóm đã được định nghĩa Cách tiếp cận đó tuy bao quát được một khối lượng lớn các đơn vị ngôn ngữ được sắp xếp

Trang 14

trong hệ thống, nhưng lại chỉ xác định nghĩa của các từ trong nhóm như đã được

mô tả trong các từ điển, chứ chưa đi sâu vào cơ cấu nghĩa của các từ hữu quan

Hướng thứ hai là nghiên cứu từ vựng – ngữ nghĩa theo những cách dùng

cụ thể trong thực tiễn, ngay cả những cách dùng chưa được mô tả trong từ điển

hoặc đã mô tả nhưng chưa đi sâu vì những cách dùng ấy chỉ mới được trình bày ở

dạng khái quát, chứ chưa được miêu tả, được cập nhật, được trình bày một cách

đầy đủ, rõ ràng

Nhiệm vụ mà luận án này muốn thực hiện không phải là phân loại hay

định nghĩa từ vựng nhóm từ tròn, méo, béo, gầy, yêu, ghét, hiền, dữ, mà là tìm

hiểu cơ cấu ngữ nghĩa của nhóm từ ấy trong tiếng Việt và tiếng Anh thông qua

các phát ngôn và những cách dùng của các từ trong nhóm này trong các tác

phẩm văn học hiện thời, để qua đó tìm hiểu sâu thêm về khía cạnh tri nhận của

chúng nhằm trả lời cho câu hỏi : những ý niệm được thể hiện bằng các từ tròn –

méo, béo – gầy, yêu – ghét, hiền – dữ có phải sản phẩm của quá trình tương tác

giữa những tri thức có được về thực tại khách quan với thực tại khách quan hay

không

Nhiệm vụ cụ thể mà chúng tôi tự đặt ra khi thực hiện đề tài này là:

(a) Phân tích ngữ nghĩa của các vị từ chỉ trạng thái : tròn, méo, béo, gầy, yêu, ghét, hiền, dữ thông qua cách dùng những từ đó trong thực tiễn giao

tiếp của người Việt

(b) So sánh những điểm tương đồng và dị biệt về ngữ nghĩa và ngữ dụng của

nhóm vị từ này giữa tiếng Việt và tiếng Anh

(c) Tìm hiểu cơ sở tri nhận của nhóm vị từ đang phân tích thông qua các cấu

trúc so sánh và cách sử dụng từ đồng nghĩa, trái nghĩa

Trang 15

(d) Tiến hành thực nghiệm nhằm ứng dụng các kết quả khảo sát vào việc dạy và học tiếng Việt cũng như tiếng Anh

4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các vị từ chỉ trạng thái tròn, méo, béo,

gầy, yêu, ghét, hiền, dữ Các từ đứng trước hoặc sau các vị từ này (như [tròn] vo, [méo] xẹo, [béo] bệu, [gầy] nhom, [hiền] hậu, [hiền] hòa, [dữ] tợn, [dữ] dằn, [yêu] tha thiết, [ghét] cay [ghét] đắng, v.v.) là những từ biểu hiện những sắc thái

nghĩa khác nhau của từ gốc

Để lựa chọn nhóm vị từ này, chúng tôi dựa vào mấy tiêu chí sau:

Tiêu chí thứ nhất là các cặp từ được chọn để so sánh về nghĩa thuộc vốn từ vựng cơ bản này đại diện cho nhóm từ để mô tả trạng thái nào đó Chẳng hạn

tròn, méo là các vị từ hình trạng dùng để mô tả tình trạng của các vật vô tri hoặc bộ phận nào đó của cơ thể người hay động vật như nguyên, vuông, thẳng, méo, xéo, xoắn, vặn, cong, lành, rách, v.v Các vị từ béo, gầy để biểu thị thể trạng của

người hay động vật hoặc những thực thể được coi như người hay động vật như

cao, to, khỏe, mạnh, mập, thấp, nhỏ, yếu, xìu, vụng, lả,… Các vị từ chỉ tâm trạng yêu, ghét biểu thị những trạng thái không thường tồn của người hay động vật như thích, khoái, thương, say, mê, chán, ghét, dỗi, hờn, ghen, tức… Và các vị từ chỉ chỉ tính trạng hiền, dữ biểu thị tính tình và tính khí thường tồn của người hay động vật, hay những thực thể được coi như người hay động vật như lành, ngoan, chăm, gan, dữ, bướng, ác, liều, dại, v.v

Tiêu chí thứ hai để chọn lựa đối tượng nghiên cứu là dựa vào các vị từ trái nghĩa thường đi thành cặp với các từ trong nhóm đang xét Chẳng hạn, từ trái

nghĩa thường đi cặp với hiền là dữ, hiền trái nghĩa với dữ, độc, ác nhưng đồng

Trang 16

nghĩa với lành Vị từ lành cũng trái nghĩa với dữ, độc, ác Vậy dữ, độc, ác trong

hai nhóm trái nghĩa này liệu có nghĩa như nhau trong các phát ngôn được khảo sát không

Tiêu chí thứ ba là nghĩa của từ trạng thái được dùng ở đây để chỉ chung

cho những tính chất và tình trạng của sự vật Tính chất là đặc trưng thường tồn của một đối tượng Tình trạng là một trạng thái nhất thời Tính chất có thể chia

thành hai thứ: thể chất (như béo, gầy, yếu, khỏe, v.v) và tinh thần (như hiền, dữ, khôn, dại, v.v.) Tình trạng vật chất có thể có được ở các vật vô sinh (như tròn, méo, cong, thẳng, nguyên, sứt,v.v.) Còn tình trạng ở các vật hữu sinh như ở con người và động vật còn thêm vào những trạng thái tâm lý, tình cảm (như vui, buồn, yêu, ghét, lo, sợ, v.v.) Tuy nhiên, sự phân biệt này chỉ có tính chất tương

đối, vì tính chất cũng có thể thay đổi hoặc mất đi và ở đối tượng có thể xuất hiện những tính chất khác Hơn nữa, các trạng thái tinh thần của con người được phản ánh trong từng ngôn ngữ cũng rất khác nhau

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Luận án được tiến hành trên cơ sở áp dụng các phương pháp phổ biến đối với nghiên cứu ngôn ngữ học như: phương pháp miêu tả, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp thống kê Phương pháp miêu tả giúp luận án nêu lên được các nghĩa khác nhau của từ không chỉ trong từ điển mà còn trong các văn bản nghệ thuật, sách báo,… từ thực tiễn Phương pháp miêu tả còn là cách thức nêu ra cụ thể các nghĩa gốc, nghĩa phái sinh, nghĩa chuyển của từ Phương pháp

so sánh đối chiếu là cách thức giúp luận án tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt giữa tiếng Việt và tiếng Anh của nhóm từ đang xét Phương pháp thống kê là công cụ không thể thiếu khi tiến hành các khảo sát Đồng thời luận án còn áp

Trang 17

dụng phương pháp phân tích thành tố nghĩa, phương pháp thống kê và phương pháp quy nạp khi tiến hành các khảo sát

Nguồn ngữ liệu gồm hơn 2178 phiếu ngữ cảnh được thu thập từ các tác phẩm văn học hiện thời, các loại báo, tạp chí và các loại sách ngữ pháp, sách tham khảo, từ điển của chủ yếu hai thứ tiếng Việt và Anh

Từ định hướng nghiên cứu vừa đặt ra, chúng tôi thu thập các cứ liệu, các mẫu câu trong sách, báo, từ điển tiếng Việt để phân tích các nét nghĩa tối giản, các mối liên hệ ngữ nghĩa của nhóm từ này trong các phát ngôn thông qua hiện tượng đồng nghĩa và trái nghĩa, so sánh từng cặp các vị từ trạng thái, xem xét các hiện tượng mở rộng nghĩa, chuyển nghĩa, các mối tương quan trong các cấu trúc so sánh của nhóm từ được mang ra khảo sát Sau đó tiến hành so sánh với những dạng tương đương trong tiếng Anh, phân tích khả năng kết hợp và tìm những điểm tương đồng dị biệt giữa tiếng Việt và tiếng Anh Đồng thời kiểm tra những kết luận qua việc tiến hành các bài khảo sát trắc nghiệm thực tế, sau khi đã tổng hợp các kết quả và những điểm tương đồng dị biệt qua so sánh

6 Đóng góp của luận án

Thực hiện được những nhiệm vụ đã đề ra, luận án sẽ có đóng góp nhất định vào việc phân tích đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ trạng thái như mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và ngữ pháp, ngữ nghĩa và tri nhận Về thực tiễn, việc phân tích các cấp độ biểu hiện nghĩa sẽ giúp cho người dạy và người học tiếng có cái nhìn cụ thể hơn khi sử dụng nhóm từ này trong ngôn cảnh

Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu trong nước và trên thế giới đề cập đến ngữ nghĩa cũng như việc tri nhận các vị từ trạng thái như đã đề cập ở phần lịch sử vấn đề, nhưng luận án này giải quyết vấn đề theo hướng nghiên cứu cụ

Trang 18

thể hơn, với cách tiếp cận dữ liệu cập nhật hơn, thiết thực hơn Các kết quả so sánh đối chiếu sẽ giúp làm sáng tỏ hơn về những nội dung ngữ nghĩa có tính đặc thù về tri nhận, về văn hóa, về tư duy của người sử dụng hai ngôn ngữ Việt và Anh Việc phân tích cặn kẽ các nét nghĩa của một nhóm từ cụ thể sẽ giúp người học tiếng sử dụng ngôn ngữ tốt hơn, thể hiện ý người nói trong phạm vi đa dạng hơn, tinh tế hơn

7 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục, danh mục sách tham khảo và nguồn tư liệu trích dẫn, luận án có bốn chương sau đây:

Chương 1: “Cơ sở lý thuyết liên quan tới vị từ trạng thái” Nội dung chương

này đề cập đến những khái niệm cơ bản được dùng làm cơ sở lý thuyết cho việc triển khai đề tài của luận án như: vị từ trạng thái và cách phân loại của chúng, nghĩa của vị từ trạng thái, các phương pháp phân tích thành tố nghĩa, cơ sở tri nhận về nghĩa của vị từ trạng thái

Chương 2: “Vị từ trạng thái chỉ tính chất” Nội dung chương này đi sâu vào việc phân tích ngữ nghĩa của nhóm vị từ trạng thái chỉ thể trạng (như béo –gầy), và vị từ trạng thái chỉ tính trạng (như hiền – dữ ), phân tích các nét đặc trưng

trong cách biểu hiện nghĩa của các cặp từ này trong tiếng Việt và so sánh với các dạng tương đương trong tiếng Anh, rút ra kết luận về cơ sở tri nhận của chúng

Chương 3: “Vị từ trạng thái chỉ tình trạng” Chương này tập trung phân tích ngữ nghĩa của nhóm vị từ chỉ hình trạng (như tròn – méo ) và vị từ chỉ tâm trạng (như yêu – ghét) Từ việc phân tích các nét đặc trưng trong cách biểu hiện nghĩa

của các cặp từ này trong tiếng tiếng Việt, chúng tôi tiến hành so sánh với các

Trang 19

dạng tương đương trong tiếng Anh nhằm rút ra kết luận về cơ sở tri nhận của chúng

Chương 4: “Một số vấn đề về việc sử dụng vị từ trạng thái tiếng Việt và tiếng Anh” Ở chương này, luận án tìm hiểu cách sử dụng vị từ trạng thái thông

qua việc tiến hành một số khảo sát miêu tả và thực nghiệm về ngữ nghĩa và cách tri nhận các vị từ chỉ trạng thái ở học sinh phổ thông Qua đó ứng dụng các kết quả khảo sát đã thu thập được vào việc dạy và học tiếng Việt cũng như tiếng Anh Nội dungï khảo sát cụ thể bao gồm những vấn đề liên quan đến hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa khi sử dụng vị từ trạng thái, những vấn đề liên quan đến hiện tượng đa nghĩa khi chuyển dịch vị từ trạng thái và các khảo sát thực nghiệm về cách sử dụng vị từ trạng thái tiếng Việt và tiếng Anh ở học sinh phổ thông Việc tiến hành đề tài tìm hiểu về ngữ nghĩa và cơ sở tri nhận vị từ trạng thái trong tiếng Việt, đồng thời so sánh chúng với các dạng tương đương trong tiếng Anh hy vọng sẽ góp phần bổ sung, mở rộng thêm các vấn đề về phân tích nghĩa vị từ theo cơ chế tạo nghĩa vị từ của mỗi ngôn ngữ trong quá trình hành chức Các kết quả nghiên cứu sẽ giúp ích cho việc giảng dạy và học tập tiếng Việt cũng như tiếng Anh, đặc biệt là hỗ trợ cho việc biên soạn các giáo trình dạy tiếng, từ điển (giải thích, đối chiếu) với các cứ liệu đa dạng và sát thực hơn

Trang 20

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

CỦA LUẬN ÁN

1.1.Vị từ trạng thái

1.1.1- Khái niệm về vị từ trạng thái

Vị từ (predicate) là những từ có thể làm chức năng của một vị ngữ trong câu có cấu trúc chủ – vị, hay là thành phần chính trong thuyết ngữ của câu có

cấu trúc đề –thuyết Trạng thái, theo Từ điển tiếng Việt [77, tr.1024], “là tình trạng của một sự vật hoặc của một con người, coi như không có gì thay đổi trong một khoảng thời gian nào đó”

(1) - Các thiên thể ở trạng thái không ngừng chuyển động

(2) - Người bệnh ở trạng thái hôn mê

Vị từ trạng thái là vị từ biểu thị tính chất và tình trạng của người, động vật và những vật vô tri hoặc biểu thị quan hệ giữa các sự vật

(3) - ác, hiền, dốt, siêng…

- buồn, vui, thích, mong, nhớ …

- nóng, lạnh, tối, sáng, tròn, méo …

- bằng, hơn, kém, thua…

Thuật ngữ trạng thái được dùng để chỉ chung những tính chất và những

tình trạng của sự vật Tính chất là đặc trưng thường tồn của một đối tượng Tính

chất là một thuộc tính có thể bao gồm thể chất và tinh thần Thể chất, trước hết

là ở các vật vô sinh như: rắn, mềm, đặc, loãng, v.v , và thể chất của các vật hữu sinh ở con người hay động vật như: béo, gầy, khỏe, yếu, v.v Trong khi đó, tính

Trang 21

chất tinh thần chỉ có ở con người hay động vật như: hiền, dữ, khôn, dại, lành, ác, v.v Tình trạng là một trạng thái nhất thời, không nằm trong thuộc tính của đối

tượng Các tình trạng vật chất có thể có được ở các vật vô sinh thường là do tác

động lý hóa hay của môi trường quy định như: tròn, méo, cao, thấp, ngắn, dài, v.v Tình trạng vật chất có thể có được ở các vật hữu sinh như con người hay

động vật cũng do môi trường tác động như vậy, nhưng còn có thêm những tình

trạng tâm lý như: vui, buồn, yêu, ghét, giận, sợ, mừng…

Tuy vậy, sự phân biệt này chỉ có tính chất tương đối vì tính chất của một đối tượng có thể thay đổi, hoặc đối tượng đó có thêm những tính chất khác Tình trạng của một sự vật hiện tượng cũng không hẳn chỉ là nhất thời mà trở thành

tính chất của đối tượng đó, chẳng hạn vị từ tròn trong bàn tròn chỉ tình trạng, nhưng cũng vị từ tròn ở trăng tròn lại chỉ tính chất Do đó, cần phải phân loại các

vị từ trạng thái một cách rõ ràng để làm cơ sở cho việc phân tích ngữ nghĩa và so sánh ở các chương mục sau

1.1.2- Phân loại

Tác giả Nguyễn Thị Quy [57, tr.49 và tr.76] đã vận dụng cách phân loại vị từ của Dick Simon C., phân chia vị từ tiếng Việt thành 4 loại chính sau:

1 Các vị từ hành động: [+ động], [+ chủ ý]

2 Các vị từ tư thế: [- động], [+ chủ ý]

3 Các vị từ quá trình: [+ động], [- chủ ý]

4 Các vị từ trạng thái: [- động], [- chủ ý]

Theo đó, vị từ trạng thái là loại vị từ có đặc trưng [- động] và [- chủ ý] để chỉ tính chất hay tình trạng của một sự vật hiện tượng

Tác giả Cao Xuân Hạo [31, tr.26-45] lại phân loại vị từ trạng thái tiếng Việt theo tiêu chí thường tồn [+thường tồn], hay không thường tồn [-thường tồn]

Trang 22

• [+thường tồn]: Trạng thái thường tồn là trạng thái luôn gắn liền với người,

động vật và vật vô tri mang nó Nói cách khác, trạng thái thường tồn của sự vật

là tính chất hoặc là phẩm chất của sự vật Tính chất hoặc phẩm chất có thể thuộc

về thể chất hay tinh thần Tính chất về tinh thần gọi là tính khí

(4) - Má tuổi ngày càng cao, chân chùng gối mỏi như ngọn đèn treo trước

gió, chưa biết tắt lúc nào [124, tr.547]

(5) - Một nhà người Mông trống hơ trống hoác bốn bề gió [124, tr.553]

(6) - Anh ấy nóng tính và cương trực quá [124, tr.640]

Các vị từ chùng, mỏi trong ví dụ (4) biểu thị thể trạng của con người – người già;

vị từ trống hơ trống hoác trong ví dụ (5) biểu thị trạng thái thường tồn của vật –

nhà trống; các vị từ nóng tính, cương trực trong (6) biểu thị trạng thái thường tồn

về tinh thần, tính khí của con người

• [-thường tồn]: Trạng thái không thường tồn là một trạng thái có tính chất nhất

thời ở người, động vật và những vật vô tri Loại trạng thái không thường tồn

được gọi là tình trạng Tình trạng có thể gắn liền với thể chất (thể trạng), hoặc

có thể gắn với tinh thần (tâm trạng)

(7) - Mọi người đã thấm lạnh [124, tr.230] (8) - Xe đã lún lầy [124, tr.230]

(9) - Nghe tôi nói, anh Bảy thôi cười, mặt hơi buồn [124, tr 223]

Vị từ thấm lạnh trong (7) biểu thị trạng thái không thường tồn về thể chất của

người là mọi người; vị từ lún ở ví dụ (8) biểu thị trạng thái không thường tồn của

một vật là xe; vị từ buồn trong ví dụ (9) biểu thị trạng thái không thường tồn của

một người là anh Bảy

Những trạng thái về thể chất có ở người và động vật gọi là thể trạng; cũng

Trang 23

có thể có ở các vật vô tri gọi là vật trạng hay hình trạng Sự phân biệt về thể trạng và hình trạng có liên quan đến các vai nghĩa của các vị từ biểu thị các trạng thái này Căn cứ theo các tiêu chí trên, có thể xếp vị từ trạng thái tiếng Việt thành bốn tiểu loại chính sau:

1- Thể trạng: gầy, ốm, béo, mập, cao, thấp, lùn, …

2- Hình trạng: tròn, vuông, thẳng, méo, cong, lệch, vẹo,…

3- Tính trạng: hiền, dữ, lành, ác, độc địa, nham hiểm, …

4- Tâm trạng: yêu, ghét, nhớ, thương, giận, hờn, ghen, tức,…

Tác giả O.H Cеливерстова (1982), lại đưa ra cách phân loại khác thông qua bảy đặc trưng của trạng thái như sau:

1- Trạng thái được định vị trên trục thời gian

2- Trạng thái diễn ra trong một thời đoạn chứ không phải thời điểm

3- Trạng thái được kéo dài nhưng đứng im, không phát triển, không biến đổi trong thời gian

4- Chủ thể của trạng thái không phải là kẻ hành động, mà là kẻ thụ cảm Chủ thể không “bỏ sức” ra duy trì trạng thái

5- Trạng thái luôn hướng về chủ thể

6- Trạng thái chiếm những thời đoạn xác định mà không thể trừu tượng hóa khỏi những thời đoạn này, tức là chúng không thể tạo nên một lớp những trạng thái đồng loại

7- Trạng thái biểu thị thuộc tính tiêu cực, “lâm thời” của đối tượng, trong lúc tính chất là thuộc tính thường xuyên của đối tượng (dẫn theo Nguyễn Ngọc Trâm [78,

tr 50, 51])

Trang 24

Có thể thấy những đặc trưng của vị từ trạng thái theo quan điểm của các tác giả vừa nêu trên chủ yếu đều đề cập đến tính chất và tình trạng của sự vật

và con người, căn cứ theo tính chất thường xuyên hay lâm thời của tính chất hay

tình trạng đó

Tiếp thu các cách phân loại trong các công trình nghiên cứu vừa nêu, chúng tôi thống nhất quan điểm phân loại vị từ trạng thái theo tiêu chí thường tồn hay không thường tồn của trạng thái của một đối tượng, căn cứ theo tính chất thường xuyên hay lâm thời của trạng thái để xếp vị từ trạng thái tiếng Việt thành bốn tiểu loại chính theo bảng tóm lược 1.1 sau:

Bảng 1.1- Phân loại vị từ trạng thái

TRẠNG THÁI

1 Tính trạng Tính chất và khí chất của

người hoặc động vật

ác, bướng, dại, gan, liều, ngoan, nhát, hiền, dữ, v.v

2 Tâm trạng Trạng thái tâm lý của

người hoặc động vật

cáu, bận, chăm, hỗn, thích, yêu, ghét v.v

3 Thể trạng Tính chất hoặc tình trạng

thuộc về cơ thể của người hay động vật

béo, gầy, câm, đau, khỏe, mập, ngọng, rêm, si, sống, xỉu, v.v

4 Hình trạng Tính chất hoặc tình trạng

của các vật vô tri

cao, dẻo, đặc, dột, hôi, mẻ, ngắn, rắn, sắc, thật, tròn, méo, v.v

Trang 25

1.2 Nghĩa của từ Phương pháp phân tích thành tố nghĩa

1.2.1 Nghĩa của từ

Theo tác giả Bùi Khánh Thế [67, tr.119], “Nghĩa của từ không chỉ nói lên cách phản ánh sự vật độc đáo ở mỗi cộng đồng ngôn ngữ, quá trình hình thành trong lịch sử, mà còn thể hiện tính đa dạng và linh hoạt của con người khi phản ánh sự vật ” Khi nói đến nghĩa của từ, người ta thường phân biệt các thành

phần nghĩa sau đâây:

- Nghĩa biểu vật (denotative meaning) là mối liên hệ giữa từ với sự vật (hoặc hiện

tượng, thuộc tính, hành động,…) mà nó chỉ ra Bản thân sự vật, hiện tượng, thuộc tính, hành động,…đó người ta gọi là biểu vật hay cái biểu vật (denotat) Biểu vật có thể hiện thực hoặc phi hiện thực, hữu hình hay vô hình, có bản chất vật chất

hoặc phi vật chất Ví dụ: đất, trời, mưa, nắng, nóng, lạnh, ma, quỷ, thánh, thần, thiên đường,địa ngục,…

- Nghĩa biểu niệm (significative meaning) là mối liên hệ giữa từ với ý (hoặc ý

nghĩa, ý niệm) Cái ý đó người ta gọi là cái biểu niệm hoặc biểu niệm (sự phản ánh các thuộc tính của biểu vật vào trong ý thức của con người)

- Nghĩa ngữ dụng (pragmatical meaning), còn được gọi là nghĩa biểu thái, nghĩa

hàm chỉ (connotative meaning), là mối liên hệ giữa từ với thái độ chủ quan, cảm xúc của người nói

- Nghĩa cấu trúc (structural meaning) là mối quan hệ giữa từ với các từ khác

trong hệ thống từ vựng Quan hệ giữa từ này với từ khác thể hiện trên hai trục: trục đối vị (paradigmatical axis) và trục ngữ đoạn (syntagmatical axis) Quan hệ trên trục đối vị cho ta xác định được giá trị của từ, khu biệt từ này với từ khác,

Trang 26

còn quan hệ trên trục ngữ đoạn cho ta xác định được ngữ trị (valence) – khả năng kết hợp của

từ

Theo John Lyons [24], những dạng thức của cùng một từ vị có thể chia sẻ với nhau cùng một nghĩa từ vựng (lexical meaning), song có thể khác nhau về

nghĩa ngữ pháp (grammatical meaning) Chẳng hạn các từ love, loves, loved (yêu)

có cùng một hay nhiều nghĩa từ vựng, nhưng nghĩa ngữ pháp khác nhau do xuất hiện trong các ngữ cảnh khác nhau, bị chi phối bởi thời, thể, thức của câu Sự khác biệt về nghĩa của từ có mặt trong câu ảnh hưởng đến nghĩa của câu Mối liên hệ giữa nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp thay đổi từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác: cái được mã hóa bằng con đường từ vựng (từ vựng hóa (lexicalized)) trong một ngôn ngữ này có thể được mã hóa bằng con đường ngữ pháp (ngữ pháp hóa (grammaticalized)) trong ngôn ngữ khác Quá trình ngữ pháp hóa không chỉ là thay đổi các biến tố, mà là thay đổi những khác biệt về cú pháp giữa một kết cấu ngữ pháp này so với một kết cấu ngữ pháp khác

Như vậy, nghĩa của từ có thể được khái quát theo tam giác ngữ nghĩa [22, tr.76] như sau:

Trong đó một đỉnh là từ ngữ âm, một đỉnh là cái sở chỉ (đối tượng biểu thị), một đỉnh là cái sở biểu (ý niệm) Quan hệ giữa từ ngữ âm với đối tượng biểu thị là quan hệ gọi tên Quan hệ giữa từ ngữ âm và ý niệm là quan hệ biểu hiện Quan hệ giữa đối tượng và ý niệm là quan hệ phản ánh Thông qua các mối quan hệ này nghĩa của từ càng trở nên phong phú hơn khi xét các hiện tượng từ đồng âm,

●Từ ngữ âm

● Cái sở chỉ ●Cái sở biểu

Trang 27

từ đa nghĩa, từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa v.v Đôi khi hai từ trái nghĩa lại cho ra những phát ngôn đồng nghĩa, chẳng hạn:

(10) a- Chúng ta quyết tâm đánh thắng quân giặc

b- Chúng ta quyết tâm đánh bại quân giặc

(11) a- Còn ai làm tốt hơn anh ấy?

b- Không ai làm tốt hơn anh ấy

Hiện tượng trái nghĩa và đồng nghĩa có nhiều điểm giống nhau Cả hai đều nói đến những vỏ ngữ âm khác nhau, nhưng ý nghĩa có liên hệ nhau Sự cùng loại và giống nhau về ý nghĩa của các từ trái nghĩa thể hiện rất rõ ở khả năng kết hợp từ vựng giống nhau và khả năng cùng gặp của chúng trong một ngữ cảnh Ngược lại, các từ đồng nghĩa lại có thể được sử dụng với chức năng của từ trái nghĩa

Tìm hiểu về nghĩa của từ là đi sâu vào nghiên cứu các nghĩa biểu hiện của nó, xem xét các hiện tượng đồng âm, đa nghĩa, gần nghĩa, đồng nghĩa, trái nghĩa, v.v

1.2.1.1 Từ đồng âm và từ đa nghĩa

Theo John Lyons [24], từ đồng âm tuyệt đối (absolute homonymy) sẽ thoả mãn ba điều kiện sau (ngoài điều kiện bắt buộc tối thiểu cho mọi kiểu đồng âm thì phải có sự giống nhau ít nhất ở một dạng thức):

- chúng không có quan hệ gì về nghĩa

- tất cả các dạng thức đều đồng nhất

- các dạng thức đồng nhất đều tương đương về ngữ pháp

Chẳng hạn, từ bank có nghĩa → (1) tổ chức tài chính

→ (2) bờ dốc của một con sông

từ sole có nghĩa → (1) gan bàn chân hoặc đế giày

Trang 28

→ (2) tên một loại cá Trong tiếng Việt cũng có thể dễ dàng tìm thấy kiểu đồng âm này, chẳng hạn

từ chiếu có nghĩa → (1) vật trải ra để nằm

→ (2) văn bản vua công bố cho dân biết

từ sao có nghĩa → (1) ông sao trên trời

→ (2) một loại gỗ dùng đóng thuyền

→ (3) từ dùng để chỉ cái không biết cụ thể

Qua các ví dụ trên, có thể thấy từ “đồng âm là những từ mang nghĩa khác nhau có cùng dạng thức” [24] Tuy nhiên định nghĩa này còn chưa tính đến việc

trong nhiều ngôn ngữ, phần lớn từ vị không phải chỉ có một, mà là một số dạng thức, và nó cũng không nói gì về sự tương đương ngữ pháp

Từ đồng âm không hoàn toàn (partial homonymy) là các từ không thỏa hết ba điều kiện nêu trên theo các trường hợp sau:

- có sự giống nhau ít nhất về một dạng thức

- có một hoặc hai điều kiện đối với từ đồng âm hoàn toàn được thỏa mãn Chẳng hạn từ find (tìm kiếm) và found (thành lập) có chung dạng thức là found (đã tìm - dạng quá khứ đơn, và thành lập - dạng nguyên thể), nhưng không chung find, finding, found, founding,v.v., từ lie (nói dối) và lie (nằm) có chung dạng thức là lie và lying, nhưng không chung dạng quá khứ đơn hay quá khứ phân từ lied, lay, lain, v.v

Hiện tượng đồng âm hoàn toàn hay không hoàn toàn đều là mối quan hệ giữa hai từ vị khác nhau Còn hiện tượng đa nghĩa (polysemy) lại là đặc trưng của một từ vị đơn nhất Sự khác biệt chủ yếu giữa từ đa nghĩa và từ đồng âm là các ý nghĩa của từ đồng âm hoàn toàn khác nhau, không có mối liên hệ nào

Trang 29

Còn những ý nghĩa khác nhau của một từ đa nghĩa lại có sự liên hệ, quy định lẫn nhau, ý nghĩa này phái sinh từ ý nghĩa kia

1.2.1.2 Từ đồng nghĩa

Trên thực tế, hiếm có, hay không thể có trường hợp hai từ đồng nghĩa nhau hoàn toàn như trong một số từ điển đồng nghĩa trái nghĩa vẫn thường dùng bấy lâu nay, mà chỉ có thể là gần nghĩa mà thôi John Lyons [24], đã chia từ đồng nghĩa thành từ gần nghĩa (near-synonyms), đồng nghĩa không hoàn toàn (partial synonymy), đồng nghĩa hoàn toàn (absolute synonymy) Đồng nghĩa hoàn toàn là cực kỳ hiếm Hai hay nhiều hơn hai từ là đồng nghĩa khi và chỉ khi thỏa mãn cả

ba điều kiện sau:

- tất cả nghĩa của chúng đều đồng nhất

- chúng là đồng nghĩa trong tất cả ngữ cảnh

- chúng tương đương về nghĩa trong tất cả chiều kích của nghĩa, miêu tả và phi miêu tả

Sau đó ông phân tích từng điều kiện của từ đồng nghĩa hoàn toàn và nhấn mạnh vào tầm quan trọng lý thuyết của việc phân biệt một số loại thuộc hiện tượng đồng nghĩa không hoàn toàn, hoặc không tuyệt đối với nhau và với hiện tượng gần nghĩa, chứ không nêu rõ khái niệm về từ đồng nghĩa hoàn toàn Hay nói cách khác là những phân tích đó nhằm khẳng định rằng đồng nghĩa hoàn toàn là hiếm có hay không có

Dựa vào nghĩa biểu niệm và khái niệm, tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng hiện tượng đồng nghĩa là hiện tượng xảy ra có tính rộng khắp trong hàng loạt từ, nó xuất hiện khi giữa các từ chỉ cần có một nét nghĩa chung và không có nét

nghĩa đối lập Ông nhấn mạnh, “Đồng nghĩa trước hết là một hiện tượng có phạm

vi rộng khắp trong toàn bộ từ vựng, chứ không chỉ bó hẹp trong những nhóm với

Trang 30

một số có hạn những từ nhất định Nói khác đi, đồng nghĩa trước hết là quan hệ về ngữ nghĩa giữa các từ trong toàn bộ từ vựng chứ không phải trước hết là giữa những từ nào đấy Đó là quan hệ giữa các từ ít nhất có chung một nét nghĩa Cũng có thể nói: quan hệ đồng nghĩa bắt đầu xuất hiện khi bắt đầu xuất hiện nét nghĩa đồng nhất giữa các từ…”[6, tr.174] Sau đó ông đã phân tích các mức độ đồng

nghĩa thông qua số lượng các nét nghĩa đồng nhất Tuy nhiên khái niệm từ đồng nghĩa này có ngoại diên quá rộng

Tác giả Nguyễn Thiện Giáp lại cho rằng, nói đến hiện tượng đồng nghĩa là nói đến sự giống nhau của các nghĩa sở biểu Ông thống nhất với quan điểm cho từ đồng nghĩa là những từ gần nhau về nghĩa, nhưng khác nhau về âm thanh, biểu thị những sắc thái khác nhau của một khái niệm Đồng thời ông phân tích các mức độ khác nhau của từ đồng nghĩa Chẳng hạn căn cứ vào khái niệm

“chuyển di”, ta có các từ như: mang, vác, cõng, địu, bưng, xách, cắp, ôm, bế, bồng, gánh, quẩy, khiêng, khuân, đèo, gùi, v.v [22, tr.104] Những từ này có quan

hệ đồng nghĩa bởi chúng có những nghĩa tố chung Có thể chúng không được coi là hoàn toàn đồng nghĩa vì giữa chúng còn có nhiều nét nghĩa cơ bản khác nhau Nếu chia nhỏ loạt từ ngữ trên ra, ta sẽ có những loạt từ ngữ có số lượng ít hơn nhưng có nhiều nét nghĩa trùng nhau hơn

Như vậy, dựa vào cấu trúc nghĩa của từ theo tam giác ngữ nghĩa đã nêu ở mục 1.2.1 và một số quan điểm về từ đồng nghĩa của các tác giả John Lyons, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, chúng tôi đi đến một định nghĩa thỏa mãn những gì chung nhất trên rằng “từ đồng nghĩa là những từ có hình thức ngữ âm khác nhau nhưng có quan hệ tương đồng về nghĩa biểu hiện”

1.2.1.3 Từ trái nghĩa:

Trang 31

Theo các tác giả Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh

Thuyết, từ trái nghĩa là những từ khác nhau về ngữ âm, đối lập về ý nghĩa, biểu hiện các khái niệm tương phản về logic, nhưng tương liên lẫn nhau [22,

tr.104→108]

Từ trái nghĩa biểu lộ các mặt đối lập của các khái niệm tương liên, gắn

liền với một phạm vi sự vật, chẳng hạn, nói về thể trạng như: béo – gầy, tính trạng như: hiền – dữ, hình trạng như: tròn – méo, tâm trạng như: yêu – ghét, v.v

Các từ đối lập nhưng biểu hiện các khái niệm không tương liên thì không

phải là các từ trái nghĩa, chẳng hạn béo và yếu trong câu: Bà trông tuy béo nhưng yếu hoặc một ví dụ khác là câu trong đề thi Tiểu học của Sở GD&ĐT Cần Thơ:

Tìm từ trái nghĩa với “bà ngoại” trong câu: “Một hôm, Sẻ được bà ngoại gửi cho một chiếc hộp đựng đầy hạt kê.” Đáp án được đưa ra là các từ bà nội, ông ngoại, ông nội Cả ba đáp án này đều không phải là từ trái nghĩa [204]

Ở hai ví dụ trên chỉ có sự đối lập của những khái niệm khác nhau chứ không có mối quan hệ tương liên với nhau Như vậy từ trái nghĩa là những từ có một số nét nghĩa khái quát trong cấu trúc biểu hiện giống nhau, bên cạnh đó, nổi bật lên ít nhất một nét nghĩa đối lập

Hai từ trái nghĩa nhau không nhất thiết phải có số lượng nghĩa bằng nhau Điều quan trọng là các nghĩa làm cho hai từ đi vào quan hệ trái nghĩa phải có dung lượng tương đương nhau Vì vậy mà một từ đa nghĩa có thể tham gia vào nhiều cặp trái nghĩa khác nhau Hay nói cách khác là, một từ nào đó có thể có quan hệ trái nghĩa với nhiều từ trong nhóm đồng nghĩa, chẳng hạn:

- tròn – méo : bóng tròn, bóng méo

- tròn – vuông : mẹ tròn, con vuông

Trang 32

- tròn – dài : ở bầu thì tròn; ở ống thì dài

- tròn – khuyết : trăng tròn, trăng khuyết

Mặt khác, cũng có nhiều kiểu đối lập trong từ trái nghĩa như: đối lập về

mức độ của các thuộc tính, phẩm chất của sự vật, hiện tượng ( già –trẻ, cao – thấp, lớn – bé, v.v.), đối lập loại trừ nhau (giàu –nghèo, mua – bán, mắc – re,ûv.v.)

Thực chất của hiện tượng trái nghĩa là so sánh các nghĩa biểu hiện của từ chứ không phải bản thân các từ nói chung Các từ có thể trái nghĩa nhau ở một hoặc vài nghĩa nào đó chứ không nhất thiết phải là tất cả

Một trong những tiêu chí ngôn ngữ học của từ trái nghĩa là khả năng kết hợp giống nhau của các vế Trong cặp trái nghĩa, nếu vế này có thể kết hợp với những từ nào đó thì vế kia cũng có thể kết hợp được với những từ ấy, chẳng hạn:

- dài – ngắn : truyện dài, truyện ngắn

ngón dài, ngón ngắn

- rộng – hẹp : sông rộng, sông hẹp

rộng bụng, hẹp bụng

- nhỏ – to : chuyện nhỏ, chuyện to

nhà nhỏ, nhà to

miếng nhỏ, miếng to

nhỏ tiếng, to tiếng

Từ trái nghĩa còn có tính quy luật của những liên tưởng đối lập, tức là nhắc đến vế thứ nhất, người ta nghĩ ngay đến vế thứ hai Trường hợp có sự tranh chấp thế đối lập thì thế đối lập nào liên tưởng thường xuyên nhất, trước nhất sẽ

là thế đối lập cơ bản Ví dụ: to đối lập với bé, nhỏ, tí hon, v.v nhưng thường liên tưởng tới nhỏ trước tiên Như vậy to – nhỏ là cặp trái nghĩa cơ bản

Trang 33

Sự khác nhau giữa trái nghĩa và đồng nghĩa có lẽ chỉ ở chỗ các từ trái nghĩa chứa đựng những tiêu chí phủ định nhau, còn các từ đồng nghĩa không phủ định, loại trừ nhau mà chính xác hoá, bổ sung ngữ nghĩa lẫn nhau

1.2.2- Các quy luật phát triển nghĩa

Xét đến nghĩa của từ không chỉ là việc tiến hành phân tích các hiện tượng từ đồng âm, từ đa nghĩa, từ gần nghĩa, từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa v.v mà còn là việc xem xét các quy luật phát triển nghĩa của từ trong các phát ngôn Sự phát triển nghĩa của từ dựa vào hai quy luật:

- Quy luật logic, gồm mở rộng và thu hẹp nghĩa

- Quy luật liên tưởng, gồm ẩn dụ và hoán dụ

1.2.2.1 Quy luật logic

* Mở rộng nghĩa:

Nghĩa của từ đi từ khái niệm hẹp đến khái niệm rộng

Ví dụ: (1)ghế: từ chỉ đồ dùng để ngồi như ghế đá, ghế mây, rời ghế nhà trường…

Sau đó nghĩa của từ ghế được phát triển thành từ dùng để chỉ một chức vụ, một địa vị như tranh ghế tổng thống, giữ ghế, chiếm đa số ghế ở nghị viện…,

(2) phản ứng vốn được dùng trong các lĩnh vực chuyên môn như:

(Y học )→ phản ứng chỉ hiện tượng sinh lý phát ra sau khi cơ thể bị kích

thích

(Hóa học)→phản ứng chỉ tác dụng hóa học giữa hai hay nhiều chất: phản ứng dây chuyền… Đến nay phản ứng được dùng chỉ các nghĩa phổ biến như:

→ tỏ thái độ không tán thành, thường bực tức: Nói đến khuyết điểm là phản ứng

lại ngay, thấy sai là phản ứng ngay,…

→ thái độ, cách cư xử khi đáp lại một việc: Phản ứng của anh ta thế nào?

Trang 34

* Thu hẹp nghĩa:

Nghĩa của từ đi từ khái niệm rộng đến khái niệm hẹp

Ví dụ: (3) thủ vốn có nghĩa là đầu như thủ lợn, thủ cấp… nhưng sau đó nghĩa thu

hẹp lại không phải là đầu nói chung mà chỉ dùng chỉ đầu súc vật

(4) đao không phải là dao nói chung mà chỉ là một thứ vũ khí

(5) phi không có nghĩa là bay nói chung mà chỉ dùng trong những trường hợp hạn chế như phi cơ, phi công, ngựa phi nước đại…

1.2.2.2 Quy luật liên tưởng

* Ẩn dụ:

Ẩn dụ là cách gọi tên một sự vật, hiện tượng khác dựa trên sự giống nhau giữa các sự vật, hiện tượng được so sánh với nhau Thực chất của ẩn dụ cũng như hoán dụ là sự chuyển biến từ ý nghĩa sở thị này sang ý nghĩa sở thị khác, từ ý nghĩa sở biểu này sang ý nghĩa sở biểu khác Nếu là chuyển biến nghĩa sở thị thì giữa các nghĩa sở thị vẫn có sự đồng nhất với nhau ở các nét nghĩa trong cấu trúc nghĩa sở biểu của chúng Căn cứ vào sự giống nhau, các nhà ngôn ngữ học đã chia ra các loại ẩn dụ như sau:

1 Giống nhau về hình thức, vị trí:

- răng người/ lược/cá sấu/…

- mũi người/ thuyền/ lao/ kim/

- chân người/ đê/ bàn/ ghế/

2 Giống nhau về màu sắc: màu rêu, màu tro, màu cánh dán, màu chàm…

3 Giống nhau về chức năng: đèn điện, đèn dầu, đèn tuýp…

4 Giống nhau về đặc điểm bên ngoài: Chí Phèo, Thị Nở, Tây Thi…

5 Giống nhau về tính chất, thuộc tính nào đó:

Trang 35

- khô : khô hết nước, tình cảm khô khan …

- khó : bài toán khó, khó tính, mặt khó đăm đăm…

6 Từ cụ thể đến trừu tượng:

- nền: khoảng đất đắp cao để làm nhà

→ nền: cơ sở của một hệ thống kinh tế văn hóa nào đó như nền văn hoá,

nền kinh tế…

- chua: dưa chua, dấm chua, khế chua

→ chua: giọng chua, chanh chua, chua ngoa…

7 Chuyển tên gọi con vật, đồ vật sang con người:

- chó: con chó của mẹ (con), chó con của bà (cháu)

- vàng: cục vàng của mẹ(con)

- nhà: nhà tôi (chồng, vợ)

8 Chuyển tính chất của sự vật này sang sự vật khác (nhân cách hóa):

- thổi: người thổi →gió thổi tắt nến

- buồn: người buồn →cảnh buồn, trời buồn…

- chạy: người chạy → xe chạy, tàu chạy…

Hoán dụ khác ẩn dụ ở chỗ: nếu như các sự vật, khái niệm được gọi tên trong ẩn dụ được giả thiết là có một sự giống nhau nào đó về hình thức, vị trí,

Trang 36

màu sắc, âm thanh, công dụng… thì giữa các sự vật, khái niệm, được gọi tên trong hoán dụ về căn bản là khác nhau

Theo các tác giả Nguyễn Công Đức, Nguyễn Hữu Chương [19, tr.122,123], có các loại hoán dụ sau:

1 Lấy bộ phận thay cho toàn thể:

- miệng : nhà có năm miệng ăn

- chân : anh ấy có chân trong ban quản lý

- tay : những tay anh chị

2 Lấy toàn thể thay cho bộ phận:

- thế giới: cả thế giới ủng hộ Việt Nam

- thành phố: cả thành phố xuống đường

3 Lấy không gian, địa điểm thay cho người ở đó:

- nhà ga: nhà ga thông báo tàu đến

- nhà hàng: nhà hàng chúc quý khách ngon miệng

4 Lấy vật chứa đựng thay cho cái chứa đựng:

- bát: nó ăn hai bát (cơm)

- cốc: uống hai cốc (nước)

5 Dùng tên gọi quần áo chỉ người:

- áo dài: con gái, phụ nữ

- áo nâu, áo vải: người lao động

6 Dùng tên gọi bộ phận cơ thể người để gọi bộ phận đồ vật:

- cổ: cổ áo, cổ chai

- lưng: lưng áo, lưng ghế, lưng nhà

7 Lấy địa điểm thay cho sự kiện ở đó:

Trang 37

- những Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa: những trận đánh ở đó

- vụ Thanh Hương, Minh Phụng: những sai phạm ở các công ty đó

8 Lấy tên người viết thay cho tác phẩm:

- bạn đã đọc Shakespear , Dostoevski chưa?

1.2.3 Phương pháp phân tích thành tố

Trong số nhiều phương pháp được sử dụng trong ngữ nghĩa học hiện đại, phương pháp phân tích thành tố được xem là phương pháp có hiệu quả nhất và được phổ biến rộng rãi nhất Đây là phương pháp phổ biến được dùng để phân tích các nét nghĩa của từ Nhiều nhà ngữ nghĩa học còn coi phương pháp này như là một phổ niệm trong ngôn ngữ học Nói đến phân tích thành tố, người ta thường nghĩ đến những công trình nghiên cứu ngữ nghĩa học, vì mục đích của phương pháp này là nghiên cứu ý nghĩa của ngôn ngữ

1.2.3.1.Lịch sử hình thành

Phương pháp phân tích thành tố là phương pháp nghiên cứu mặt nội dung của các đơn vị có nghĩa của ngôn ngữ Phương pháp này được sử dụng trong ngữ nghĩa học cấu trúc và mục đích là phân tích ý nghĩa ra thành những thành phần ngữ nghĩa tối thiểu (Dẫn theo Hà Quang Năng [46]) Phương pháp này được đặt

cơ sở trên hai giả định sau:

- Ýù nghĩa mỗi đơn vị thuộc một cấp độ nhất định của cấu trúc ngôn ngữ (từ) bao gồm một bộ các dấu hiệu ngữ nghĩa

- Toàn bộ thành phần từ vựng của ngôn ngữ có thể được miêu tả nhờ một số lượng có hạn, tương đối không lớn lắm các đơn vị này

Trang 38

Định nghĩa này được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ thống nhất sử dụng Tuy nhiên về nguồn gốc của phương pháp này, lại có ba quan điểm khác nhau sau:

Ở quan điểm thứ nhất, các nhà ngôn ngữ học cho rằng phương pháp này lần đầu tiên được sử dụng rộng rãi trong những công trình của trường phái dân tộc-ngôn ngữ Chẳng hạn như hai công trình xuất bản đồng thời của Y Гуденаф và Ф Лаунебери đã trình bày những nguyên tắc và những khái niệm cơ bản của phương pháp này Tuy nhiên phương pháp phân tích thành tố ở hai công trình này chỉ được xem xét như là một kỹ thuật miêu tả một phạm vi hẹp các đơn vị từ vựng (chủ yếu là các thuật ngữ chỉ họ hàng thân tộc), hơn là một đơn vị cơ sở để xây dựng nên một lý thuyết chung về cấu trúc từ vựng ngữ nghĩa của một ngôn ngữ Nhìn chung, có thể xem khuynh hướng nghiên cứu này là khuynh hướng dân tộc-ngữ nghĩa học Mặc dù để biểu thị nó, người ta còn phải dùng cả các thuật ngữ khác như: nhân chủng ngôn ngữ học, nhân chủng học tri nhận, dân tộc ngôn ngữ học ….Khuynh hướng này có cội rễ từ trường phái nhân chủng học Mỹ Mục tiêu của trường phái này là nghiên cứu văn hóa của dân bản địa châu Mỹ, thổ dân da đỏ Tư liệu để nghiên cứu được lấy từ các ngôn ngữ của những bộ tộc

da đỏ châu Mỹ Sau đó, khuynh hướng nghiên cứu này phát triển mạnh từ những năm 60 của thế kỷ XX, và đối tượng nghiên cứu không chỉ bó hẹp ở các thuật ngữ thân tộc nữa, mà còn có cả những nhóm từ khác như : nhóm từ chỉ màu sắc, nhóm từ chỉ các tên gọi thực vật (Gordon W.T (1982), Nogle L.E.(1974))

Theo khuynh hướng thứ hai, một nhóm các nhà nghiên cứu ngữ nghĩa học khác khi áp dụng phương pháp phân tích thành tố đã thấy nguồn gốc của phương pháp này có ở các công trình về ngữ nghĩa học ngữ pháp từ những năm 30-40 Đó là những công trình nghiên cứu của Л.Елъмелев, Р Яковсон Tác giả những

Trang 39

công trình này đã xuất phát từ chỗ: những nguyên tắc âm vị học của Trubetzkoy

N S nghiên cứu cần được phổ biến trong ngữ pháp học và ngữ nghĩa học

Theo khuynh hướng thứ ba, Lyons J đã chỉ ra khả năng quan hệ của phương pháp phân tích thành tố với quan niệm logic-triết học của Г B Лейбниц Theo đó, các đơn tử là một số lượng vô hạn những thực thể đơn giản, không được chia tách, bị đóng kín, không có tính vật chất, có thể lại được phân chia ra nhờ khả năng của tri giác rõ ràng

Trong ngữ nghĩa học hiện đại, người ta đưa vào những nguyên tắc mà Г

B Лейбниц đưa ra để phân biệt và liên kết các ý nghĩa của những đơn vị định danh

Những nguyên tắc đó là:

1 sự khác biệt toàn thể

2 tính đồng nhất của những vật không chia tách được

3 tính liên tục của mọi sự vật

4 tính đơn thể

5 mối liên hệ chung

6 tính phân cực của những tối đa và tối thiểu trong sự biến đổi, phát triển và nhận thức

Những nguyên tắc về logic này của Г B Лейбниц đã tạo nên một bộ phận trong logic toán học hiện đại những ý tưởng, mà dựa trên đó, B Г Гак đã đặt cơ sở cho sự tồn tại của một kiểu yếu tố nghĩa tối thiểu- đó là những nghĩa vị tiềm tàng Những đơn vị này rất đa dạng, cá biệt và không hệ thống Chúng được hình dung chỉ ở cấp độ các ý nghĩa của những từ riêng rẽ và những cách sử dụng cụ thể của chúng trong lời nói Nhìn từ góc độ cấu trúc ngữ nghĩa của từ

Trang 40

như một chỉnh thể thì những đơn vị này thuộc các lớp dưới Những nghĩa vị tiềm tàng phản ánh những dấu hiệu của đối tượng được biểu thị Những dấu hiệu này có ý nghĩa thứ yếu đối với sự đồng nhất chung khi bổ sung cho những nghĩa vị khu biệt cơ bản Tuy nhiên chúng lại được hiện thực hóa và chuyển lên bình diện trên tùy thuộc vào sự tri giác và nhận thức về đối tượng

1.2.3.2.Phân tích thành tố và lý thuyết trường ngữ nghĩa

Mỗi nhà ngữ nghĩa học khi sử dụng phương pháp nghiên cứu nào đó đều phải dựa trên những quan niệm tương ứng về cấu trúc từ vựng – ngữ nghĩa của ngôn ngữ nói chung Phương pháp nghiên cứu trong điều kiện hiện đại thường liên quan trực tiếp từ một luận đề lý thuyết, phương pháp đó phải chứng minh về sự thuộc về một trường phái hoặc một khuynh hướng nào đó trong ngôn ngữ học Những người theo phương pháp phân tích thường dựa vào một luận đề có tính chất lý thuyết, khởi nguyên Theo đó, vốn từ không chỉ là sự tích tụ đơn thuần các đơn vị từ vựng, mà còn là một sự thống nhất có tổ chức, có cấu trúc riêng của mình Các yếu tố của cấu trúc này có quan hệ tương hỗ và tạo điều kiện lẫn nhau

Mối quan hệ này được thực hiện nhờ ngữ nghĩa nhất định Do đó người ta hợp nhất những dấu hiệu của cấp độ thấp của sự trừu tượng của từ thành những nhóm từ vựng ngữ nghĩa riêng - đó là những trường ngữ nghĩa, còn những dấu hiệu với ý nghĩa khái quát nhất thì lại báo hiệu về những mối liên hệ nhóm hay liên trường

Phương pháp phân tích thành tố tiếp nhận với tư cách là “điểm đo” lý thuyết sự hiểu biết về cấu trúc trường của hệ thống từ vựng-ngữ nghĩa của ngôn ngữ Việc áp dụng phân tích thành tố trong từ vựng được đặt cơ sở trên tiền đề xuất phát về sự tồn tại của tổ chức từ vựng thành hệ thống Việc áp dụng phương

Ngày đăng: 26/02/2016, 19:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2- Quan hệ gia tộc của Jane - Vị từ trạng thái trong tiếng việt (so sánh với tiếng anh)
Hình 1.2 Quan hệ gia tộc của Jane (Trang 43)
Hình 2.1. Mô hình tri nhận ngữ nghĩa khác nhau của béo và fat - Vị từ trạng thái trong tiếng việt (so sánh với tiếng anh)
Hình 2.1. Mô hình tri nhận ngữ nghĩa khác nhau của béo và fat (Trang 61)
Hình 2.2. Mô hình tri nhận ngữ nghĩa khác nhau của gầy và thin - Vị từ trạng thái trong tiếng việt (so sánh với tiếng anh)
Hình 2.2. Mô hình tri nhận ngữ nghĩa khác nhau của gầy và thin (Trang 66)
Bảng 2.3- Các kết hợp của vị từ gầy. - Vị từ trạng thái trong tiếng việt (so sánh với tiếng anh)
Bảng 2.3 Các kết hợp của vị từ gầy (Trang 68)
Bảng 2.4- Cấu trúc so sánh “béo/ gầy như…” - Vị từ trạng thái trong tiếng việt (so sánh với tiếng anh)
Bảng 2.4 Cấu trúc so sánh “béo/ gầy như…” (Trang 74)
Bảng 2.5. Cấu trúc “as fat/ thin as” (béo/ gầy như) trong tiếng Anh - Vị từ trạng thái trong tiếng việt (so sánh với tiếng anh)
Bảng 2.5. Cấu trúc “as fat/ thin as” (béo/ gầy như) trong tiếng Anh (Trang 81)
Bảng 3.1- Nghĩa và hiện tượng đa từ loại - Vị từ trạng thái trong tiếng việt (so sánh với tiếng anh)
Bảng 3.1 Nghĩa và hiện tượng đa từ loại (Trang 154)
Bảng so sánh 3.1 trên là phần  tóm lược các trường hợp chuyển từ loại  trong câu tiếng Việt và tiếng Anh - Vị từ trạng thái trong tiếng việt (so sánh với tiếng anh)
Bảng so sánh 3.1 trên là phần tóm lược các trường hợp chuyển từ loại trong câu tiếng Việt và tiếng Anh (Trang 155)
Bảng 4.1- Xác lập ngữ cảnh - Vị từ trạng thái trong tiếng việt (so sánh với tiếng anh)
Bảng 4.1 Xác lập ngữ cảnh (Trang 169)
Bảng 4.2 – Vị từ trạng thái chỉ thể trạng béo - Vị từ trạng thái trong tiếng việt (so sánh với tiếng anh)
Bảng 4.2 – Vị từ trạng thái chỉ thể trạng béo (Trang 185)
Bảng 4.2 và 4.3 không chỉ tóm lược lại các nghĩa khác biệt khi chọn lựa từ  để dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh, mà ngược lại khi dịch từ tiếng Anh sang  tiếng Việt cũng cần phải chọn lựa từ cẩn thận không kém, chẳng hạn bàn chân - Vị từ trạng thái trong tiếng việt (so sánh với tiếng anh)
Bảng 4.2 và 4.3 không chỉ tóm lược lại các nghĩa khác biệt khi chọn lựa từ để dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh, mà ngược lại khi dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt cũng cần phải chọn lựa từ cẩn thận không kém, chẳng hạn bàn chân (Trang 186)
Bảng 4.4- Đối tượng khảo sát - Vị từ trạng thái trong tiếng việt (so sánh với tiếng anh)
Bảng 4.4 Đối tượng khảo sát (Trang 190)
Bảng 4.5- Kết quả khảo sát về cách chọn từ đồng nghĩa, trái nghĩa, đa  nghúa tieỏng Vieọt - Vị từ trạng thái trong tiếng việt (so sánh với tiếng anh)
Bảng 4.5 Kết quả khảo sát về cách chọn từ đồng nghĩa, trái nghĩa, đa nghúa tieỏng Vieọt (Trang 193)
Bảng 4.7- Kết quả khảo sát về khả năng diễn đạt VTTT bằng tiếng Việt - Vị từ trạng thái trong tiếng việt (so sánh với tiếng anh)
Bảng 4.7 Kết quả khảo sát về khả năng diễn đạt VTTT bằng tiếng Việt (Trang 197)
Bảng 4.8- Kết quả khảo sát về khả năng diễn đạt VTTT bằng tiếng Anh - Vị từ trạng thái trong tiếng việt (so sánh với tiếng anh)
Bảng 4.8 Kết quả khảo sát về khả năng diễn đạt VTTT bằng tiếng Anh (Trang 199)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w