1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Từ ngữ phiến định trong tiếng việt qua các hành vi ngôn ngữ (so sánh với tiếng anh)

152 12 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài: Từ ngữ phiếm định trong tiếng Việt qua các hành vi ngôn ngữ so sánh với tiếng Anh.. Chúng có thể mang ý nghĩa ph

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Vương Nguyên Nghi

TỪ NGỮ PHIẾM ĐỊNH TRONG TIẾNG VIỆT

QUA CÁC HÀNH VI NGÔN NGỮ (SO SÁNH VỚI TIẾNG ANH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Vương Nguyên Nghi

TỪ NGỮ PHIẾM ĐỊNH TRONG TIẾNG VIỆT

QUA CÁC HÀNH VI NGÔN NGỮ (SO SÁNH VỚI TIẾNG ANH)

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số : 8229020

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS NGUYỄN ĐỨC DÂN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Vương Nguyên Nghi

Trang 4

án do Thầy hướng dẫn cũng là nguồn tài liệu tham khảo vô cùng hữu ích với tôi Lúc ấy, dù chưa gặp Thầy nhưng qua những trang sách của Thầy, tôi học thêm được rất nhiều điều lý thú Mãi đến khi trở thành học viên cao học, tôi mới có cơ hội được Thầy trực tiếp giảng dạy, gợi ý đề tài và nhận lời hướng dẫn luận văn Vì vậy, được gửi đến Thầy lời cám ơn đầy ý nghĩa này, bản thân tôi cũng cảm thấy rất vinh dự và may mắn

Đồng thời, tôi xin gửi lời cám ơn đến các thầy cô ở Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh và các thầy cô thỉnh giảng trong thời gian qua đã truyền đạt kiến thức lẫn kinh nghiệm nghiên cứu để tôi

có đủ năng lực thực hiện luận văn này Tôi cũng không quên gửi lời cám ơn đến các thầy cô ở Bộ môn Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã chỉ dạy cho tôi những kiến thức cơ bản đầu tiên và khơi dậy trong tôi niềm yêu thích với bộ môn khoa học này

Tôi xin cám ơn các thầy cô ở Phòng Sau Đại học và Thư viện Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập vừa qua

Trang 5

Ngoài ra, tôi cũng rất cám ơn tập thể lớp Cao học Ngôn ngữ học K29 và bạn bè gần xa đã quan tâm, giúp đỡ và động viên tôi thật nhiều

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc nhất đến đại gia đình đã luôn tin yêu, ủng hộ và đồng hành với mọi quyết định của tôi Cám ơn Ông Ngoại, các Dì và Cậu - những người luôn dõi theo, lo lắng cho từng chặng đường học tập của tôi Cám ơn Ba Má đã hướng tôi đến với con đường học tập bằng tất

cả tình yêu thương và dành cho tôi những điều kiện học tập tốt nhất Cám ơn đứa em gái 11 tuổi ngày nào cũng hỏi han, nhắc nhở, hối thúc tôi sớm hoàn thành luận văn này

Một lần nữa, tôi xin chân thành cám ơn tất cả

Tác giả luận văn

Nguyễn Vương Nguyên Nghi

Trang 6

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cám ơn

Mục lục

Danh mục các kí hiệu

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 DẪN NHẬP 7

1.1 Khái quát về từ ngữ phiếm định 7

1.1.1 Trong tiếng Việt 7

1.1.2 Trong tiếng Anh 17

1.2 Khái quát về lý thuyết hành vi ngôn ngữ 26

1.2.1 Hành vi ngôn ngữ 26

1.2.2 Phân loại hành vi tại lời 30

1.2.3 Động từ ngữ vi, câu ngữ vi, biểu thức ngữ vi 32

1.2.4 Hành vi ngôn ngữ gián tiếp và hành vi tại lời phái sinh 35

1.3 Tiểu kết 36

Chương 2 CÁC PHƯƠNG THỨC TÁC ĐỘNG ĐẾN YẾU TỐ PHIẾM ĐỊNH NHẰM THỰC HIỆN HÀNH VI NGÔN NGỮ TRONG TIẾNG VIỆT 39

2.1 Phương thức đối chiếu yếu tố phiếm định 39

2.1.1 Thực hiện hành vi khẳng định 42

2.1.2 Thực hiện hành vi phủ định 52

2.2 Phương thức phủ định yếu tố phiếm định 54

2.2.1 Thực hiện hành vi phủ định 56

2.2.2 Thực hiện hành vi phủ định-bác bỏ 66

Trang 7

2.3 Phương thức chất vấn-bác bỏ yếu tố phiếm định 70

2.3.1 Thực hiện hành vi chất vấn-bác bỏ 72

2.3.2 Thực hiện hành vi thanh minh 80

2.3.3 Thực hiện hành vi từ chối 81

2.3.4 Thực hiện hành vi khẳng định 82

2.4 Tiểu kết 84

Chương 3 SO SÁNH CÁC CÂU CÓ PHƯƠNG THỨC TÁC ĐỘNG ĐẾN YẾU TỐ PHIẾM ĐỊNH TRONG TIẾNG VIỆT VỚI CÁC CÂU DỊCH TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG ANH 87

3.1 Khái niệm paraphrase 87

3.2 Phương thức đối chiếu yếu tố phiếm định 89

3.2.1 Thực hiện hành vi khẳng định 89

3.2.2 Thực hiện hành vi phủ định 99

3.3 Phương thức phủ định yếu tố phiếm định 101

3.3.1 Thực hiện hành vi phủ định 101

3.3.2 Thực hiện hành vi phủ định-bác bỏ 111

3.4 Phương thức chất vấn-bác bỏ yếu tố phiếm định 116

3.4.1 Thực hiện hành vi chất vấn-bác bỏ 116

3.4.2 Thực hiện hành vi khẳng định 126

3.5 Tiểu kết 132

KẾT LUẬN 134

TÀI LIỆU THAM KHẢO 137

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU STT Đơn vị kí hiệu Đơn vị tương đương

1 Dấu / hay, hoặc

2 Dấu + cộng với, kết hợp với

3 Dấu  có thể hiểu là, có thể suy ý thành là, có thể tái lập

thành là

4 Dấu  có giá trị tương đương với, được dịch là

5 Dấu * câu không chấp nhận được

6 Dấu (X) hình thức không có trong tiếng Anh

7 Dấu […] lược bỏ một số nội dung không liên quan, cần

thiết

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮTSTT Đơn vị viết tắt Đơn vị tương đương

6 HVTLGT Hành vi tại lời gián tiếp

7 LAW Love after war

8 NBCT Nỗi buồn chiến tranh

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1.Thống kê số lượng các ví dụ đã khảo sát 129

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Trước đây, giới nghiên cứu Việt ngữ học thường gọi chung những từ

ngữ như: ai, gì, nào, đâu, sao, bao lâu, bao giờ, thế nào,… là những từ để hỏi Các tác giả Trần Trọng Kim - Bùi Kỷ - Phạm Duy Khiêm (1943), Phạm Tất Đắc (1950),… gọi chúng là nghi vấn chỉ định tự và trạng tự chỉ sự nghi vấn Nguyễn Kim Thản (1964) đưa ra quan điểm gọi là đại từ nghi vấn hoặc đại từ

phiếm chỉ tùy vào việc những từ ngữ này có đứng trước từ cũng hay không

Lê Văn Lý (1972) gọi chúng là tự ngữ nghi vấn Cao Xuân Hạo (2005a) cho rằng những đại từ nghi vấn này còn có thể được gọi là đại từ chưa xác định

Dư Ngọc Ngân (2002), Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung (2013b),… gọi

chung là đại từ nghi vấn hoặc phiếm chỉ Ngữ pháp nhà trường hiện nay gọi là

từ nghi vấn

Theo quan điểm của luận văn, chúng tôi thống nhất lựa chọn cách gọi

của tác giả Nguyễn Đức Dân (1985b), gọi các từ ngữ nêu trên là từ ngữ phiếm

định

Tuy nhiên, trong thực tế sử dụng, có phải những từ ngữ này lúc nào cũng được dùng với chức năng nghi vấn? Ngoài chức năng này, chúng còn có thể đảm nhiệm chức năng nào khác nữa hay không? Để tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề

này, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài: Từ ngữ phiếm định trong tiếng Việt

qua các hành vi ngôn ngữ (so sánh với tiếng Anh)

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1 Những công trình nghiên cứu về từ ngữ phiếm định đã xuất hiện

trong nhiều sách giảng dạy ngữ pháp tiếng Anh như: A Practical English

Grammar của hai tác giả A.J Thomson và A.V Martinet (1960), A Vietnamese Reference Grammar của tác giả L.C Thompson (1965), Practical

English Usage của tác giả M Swan (1980), English Grammar in Use của tác

giả R Murphy (1985), Ngữ pháp tiếng Anh nâng cao (Advanced English

Trang 12

Grammar) của tác giả Lê Dũng (2002), Ngữ pháp tiếng Anh hiện đại (Modern

English Grammar) của tác giả Nguyễn Văn Ân (2003),…

2.2 Ở nước ta, nghiên cứu về những từ ngữ phiếm định có những công trình tiêu biểu sau:

Nhóm tác giả Trần Trọng Kim - Bùi Kỷ - Phạm Duy Khiêm (1943) cho

rằng những tiếng như: nào, mô, gì, chi là những tiếng nghi vấn chỉ định tự hoặc phiếm chỉ chỉ định tự; còn những từ ngữ như: sao, làm sao, thế nào, tại

làm sao, mấy, bao nhiêu, bao giờ, bao lâu, đâu là trạng tự chỉ sự nghi vấn

Tác giả Phạm Tất Đắc (1950) nêu ra các nghi vấn chỉ định tự như: gì

(chi), nào, mô thường đứng sau danh tự nhằm mục đích để hỏi Tuy nhiên,

cần phân biệt gì (chi), nào, mô dùng để hỏi khác với gì (chi), nào, mô của

phiếm chỉ chỉ định tự dùng để nói trống không, không chỉ rõ sự vật hay người

nào Ngoài ra, những từ ngữ như: sao, làm sao, thế nào, tại sao, gì, tại làm

sao, mấy, bao nhiêu, bao giờ, bao lâu, bao xa, chưa đâu là những tiếng bổ

sung thêm ý nghĩa cho động tự, tĩnh tự và trạng tự nên được gọi là trạng tự

chỉ sự nghi vấn

Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963) nói rõ chưa, bao nhiêu,

mấy, gì, đâu, sao cũng không hẳn là tiếng chỉ sự nghi vấn Chúng “diễn tả ý

bất định, dùng trong câu thường hay câu hỏi cũng được” (tr 383)

Nguyễn Kim Thản (1964/1997) cho rằng những đại từ nghi vấn trong tiếng Việt bao gồm: sao, thế nào, đó, đây, đấy, đâu, nào, gì, bao giờ, bao, bao

nhiêu, mấy Chúng có thể mang ý nghĩa phiếm định trong một số trường hợp

cụ thể như: nếu được đặt trước từ cũng; nếu chúng kết hợp với bất kỳ, bất

luận, bất cứ, vô luận; nếu chúng được láy lại,…

Bùi Đức Tịnh (1966) nhận định các nghi vấn đại danh từ như: ai, chi, gì,

cái gì nếu được dùng trong các câu không phải là câu hỏi thì chúng xem được

là các phiếm chỉ đại danh từ Ngoài ra, trong tiếng Việt còn có những trạng từ

chỉ sự nghi vấn được dùng để hỏi về thể cách (như: làm sao, thế nào, cách

Trang 13

nào), duyên cớ (như: sao, tại sao, sao lại, làm sao, tại làm sao), lượng số

(như: mấy, bao nhiêu), thời gian (như: bao giờ, chừng nào, bao lâu), nơi chốn (như: đâu, ở đâu, bao xa)

Lê Văn Lý (1972) cho rằng những tự ngữ nghi vấn như ai, gì, đâu, sao,

bao giờ, bao lâu, bao nhiêu sẽ làm thành câu nghi vấn Tuy nhiên, trong một

số trường hợp cụ thể, những tự ngữ nghi vấn này có thể sẽ mất đi ý nghĩa nghi

Dư Ngọc Ngân (2002) gọi chung những từ ngữ này là đại từ nghi vấn

hoặc phiếm chỉ Tác giả nêu rõ những từ như: ai, gì, nào, sao, đâu, bao nhiêu, mấy, bao giờ, bao lâu,… có thể đảm nhiệm một trong hai chức năng: dùng để

hỏi hoặc dùng phiếm chỉ

Nhóm các tác giả Cao Xuân Hạo - Nguyễn Văn Bằng - Hoàng Xuân

Tâm - Bùi Tất Tươm (2005a) cho rằng vì những đại từ chưa xác định như: ai,

gì, nào, đâu, bao nhiêu, sao,… được dùng để chỉ những sự vật, sự tình chưa

được xác định nên người ta thường dùng nó để hỏi Khi đó, chúng được gọi là

đại từ nghi vấn

Sách Ngữ pháp Tiếng Việt của nhóm tác giả Diệp Quang Ban và Hoàng

Văn Thung (2013b) được Hội đồng thẩm định sách của Bộ Giáo dục và Đào tạo giới thiệu làm sách dùng chung cho các trường Đại học Sư phạm gọi lớp

từ này là đại từ phiếm chỉ (và nghi vấn)

Tác giả Đinh Văn Sơn (2013) trong luận án Tiến sĩ Từ phiếm định trong

tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh) đã dựa trên ba phương diện: ngữ pháp, ngữ

Trang 14

nghĩa và ngữ dụng để miêu tả chi tiết hệ thống từ phiếm định trong tiếng Việt

và tiếng Anh Đặc biệt, về mặt chức năng ngữ dụng, tác giả nhấn mạnh từ

phiếm định có khả năng cấu tạo nên: câu khẳng định tuyệt đối, câu phủ định

tuyệt đối và câu chất vấn-bác bỏ

Qua khảo sát, có thể thấy nghiên cứu về lớp từ ngữ này thường gắn với

chức năng hỏi Tuy nhiên, từ ngữ phiếm định vẫn có khả năng đảm nhiệm

thêm nhiều chức năng khác Ngoài ba hành vi: khẳng định, phủ định và chất vấn-bác bỏ, chúng tôi nhận thấy vẫn còn nhiều hành vi ngôn ngữ khác mà ít nhà ngôn ngữ học quan tâm, đề cập đến

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những từ ngữ phiếm định xuất hiện trong các hành vi ngôn ngữ khác nhau

Phạm vi khảo sát của luận văn tập trung chủ yếu vào:

- Tuyển tập 50 truyện ngắn của 45 tác giả Việt Nam mang tên Tình yêu

sau chiến tranh Đây là tuyển tập do hai tác giả Wayne Karlin và Hồ Anh

Thái tuyển chọn, biên dịch sang tiếng Anh dưới tên gọi Love after war

Ngoài ra, còn có hai tác phẩm khác là:

- Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của tác giả Bảo Ninh được tác giả Phan Thanh Hảo biên dịch sang tiếng Anh dưới tên gọi The sorrow of war

- Truyện Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ của tác giả Nguyễn Nhật Ánh

được tác giả William Naythons biên dịch sang tiếng Anh dưới tên gọi Ticket

to childhood

4 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi xác định cách tiếp cận của luận văn là so sánh và đối chiếu thông qua ba tác phẩm cụ thể đã chuyển dịch bởi các tác giả có uy tín Vì vậy, chúng tôi sử dụng các phương pháp và thủ pháp như sau:

- Thủ pháp thống kê ngôn ngữ học: Đầu tiên, chúng tôi sẽ xem xét toàn

bộ những câu có trong ba tác phẩm: Tình yêu sau chiến tranh, Nỗi buồn chiến

Trang 15

tranh và Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ Tiếp đến, chúng tôi thống kê toàn bộ

các câu có chứa từ ngữ phiếm định thể hiện hành vi ngôn ngữ theo từng kiểu cấu trúc cụ thể

- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Bước kế tiếp, chúng tôi đối chiếu những câu đó với những câu tiếng Anh đã được dịch trong ba tác phẩm tương

ứng: Love after war, The sorrow of war và Ticket to childhood

- Phương pháp miêu tả: Bằng phương pháp này, chúng tôi miêu tả những câu tương ứng trong tiếng Anh là những kiểu câu như thế nào

Trong đó, chúng tôi tập trung khai thác theo những mô hình, nói đúng hơn là những sơ đồ cấu trúc, nhằm khái quát các hành vi ngôn ngữ thông qua các từ ngữ phiếm định cụ thể Tùy theo kết quả khảo sát được, có kết quả chúng tôi sẽ tiến hành so sánh, có kết quả chúng tôi sẽ tiến hành miêu tả Việc

so sánh - đối chiếu là để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong hai ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

5.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả của luận văn sẽ đóng góp ít nhiều vào việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt, đặc biệt là tìm hiểu về từ ngữ phiếm định trong các hành vi ngôn ngữ cụ thể

Ngoài ra, kết quả của luận văn còn phần nào phục vụ cho việc nghiên cứu so sánh - đối chiếu tiếng Việt và tiếng Anh

Trang 16

Chương 1 (31 trang) trình bày về những cơ sở lý thuyết liên quan đến Từ

ngữ phiếm định và Lý thuyết hành vi ngôn ngữ

Chương 2 (47 trang) trình bày về ba phương thức tác động đến yếu tố phiếm định trong tiếng Việt, ứng với mỗi phương thức nói trên là những hành

vi ngôn ngữ cụ thể Trong mỗi hành vi ngôn ngữ, chúng tôi khái quát thành những cấu trúc ngôn ngữ có chứa từ ngữ phiếm định cụ thể Dựa trên ngữ liệu

đã thu thập, chúng tôi tiến hành phân tích về mặt ngữ pháp và ngữ dụng của từng mô hình cấu trúc

Chương 3 (46 trang) trình bày những câu dịch tương đương có trong tiếng Anh Từ đó, chúng tôi tiến hành so sánh - đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong hai loại hình ngôn ngữ

Kết luận (3 trang) trình bày những vấn đề luận văn đã làm rõ và chưa thể làm rõ

Trang 17

Chương 1 DẪN NHẬP

1.1 Khái quát về từ ngữ phiếm định

1.1.1 Trong tiếng Việt

Nói đến từ ngữ phiếm định (TNPĐ) trong tiếng Việt, chúng ta có thể kể đến những từ ngữ như: ai, cái gì, đâu, sao, thế nào,… Để tìm hiểu kỹ hơn về

lớp từ ngữ này, chúng ta cần xem xét đến khái niệm và cách phân loại của chúng

1.1.1.1 Khái niệm

Tìm hiểu về khái niệm TNPĐ trong tiếng Việt, chúng ta có thể kể đến

các công trình tiêu biểu sau đây:

Trong quyển Việt Nam văn phạm, nhóm tác giả Trần Trọng Kim - Bùi

Kỷ - Phạm Duy Khiêm (1937) cho rằng các tiếng phiếm chỉ “có ý nói trống,

không chỉ rõ hẳn là ai hay là gì” (tr 59)

Trong quyển Phân tích tự loại & phân tích mệnh đề, tác giả Phạm Tất Đắc (1950) định nghĩa từ phiếm chỉ là những từ “nói trống không, không chỉ

rõ người hay sự vật nào” (tr 40)

Trong quyển Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam, hai tác giả Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963) định nghĩa từ bất định là những từ “trỏ cái

bất định, diễn tả ý bất định” (tr 383)

Trong quyển Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, tác giả Nguyễn Kim Thản (1964/1997) nhận định những từ phiếm chỉ có “ý nghĩa nói chung,

không trỏ vào một sự vật, một tính chất, một trạng thái cụ thể nào” (tr 303)

Trong bài đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ (số 3) “Một số phương thức thể

hiện ý tuyệt đối”, tác giả Nguyễn Đức Dân (1985b) đã gọi lớp từ ngữ này là

từ phiếm định Theo quan điểm của tác giả, đây là những từ không có vật quy

chiếu (referent) (tr 1-9)

Trong Từ điển tiếng Việt do tác giả Hoàng Phê (1988/2010), đại từ

phiếm chỉ được định nghĩa là từ ngữ “chỉ chung chung, không rõ ràng, cụ thể

Trang 18

người nào, sự vật nào” (tr 1000)

Trong Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt (Phần Từ loại), tác giả Dư Ngọc Ngân (2002) định nghĩa đại từ phiếm chỉ được dùng để “thay thế cho người

hay vật không xác định” (tr 40)

Trong quyển Ngữ pháp chức năng tiếng Việt - quyển 2, Ngữ đoạn và từ

loại, nhóm các tác giả Cao Xuân Hạo - Nguyễn Văn Bằng - Hoàng Xuân

Tâm - Bùi Tất Tươm (2005a) định nghĩa đại từ chưa xác định thường “dùng

để chỉ (thường là trực chỉ) những sự vật (người, động vật, vật vô tri) hoặc những sự tình chưa được xác định” (tr 88)

Trong luận án Tiến sĩ Ngữ Văn về Từ phiếm định trong tiếng Việt (so

sánh với tiếng Anh), tác giả Đinh Văn Sơn (2013) định nghĩa từ phiếm định

trong tiếng Việt là “từ không có quy chiếu xác định” (tr 16)

Như vậy, thông qua các định nghĩa vừa nêu, chúng ta nhận thấy có hai vấn đề cần làm rõ

Thứ nhất, về tên gọi, tùy vào từng tác giả mà lớp từ ngữ này có những

tên gọi khác nhau, có thể kể đến như: tiếng phiếm chỉ theo cách gọi của Trần Trọng Kim - Bùi Kỷ - Phạm Duy Khiêm (1937),…; từ bất định theo cách gọi của Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963),… hoặc từ phiếm chỉ theo

cách gọi của Phạm Tất Đắc (1950), Nguyễn Kim Thản (1964/1997), Bùi Đức

Tịnh (1966),… Ngoài ra, chúng còn được gọi là đại từ phiếm chỉ theo cách

gọi của Hoàng Phê (1988/2010), Dư Ngọc Ngân (2002), Vũ Thị Ân và Nguyễn Thị Ly Kha (2009), Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung

(2013b),… hay đại từ chưa xác định theo cách gọi của nhóm các tác giả Cao

Xuân Hạo - Nguyễn Văn Bằng - Hoàng Xuân Tâm - Bùi Tất Tươm (2005a) Tuy nhiên, trong luận văn này, chúng tôi thống nhất gọi tên lớp từ ngữ này là

từ ngữ phiếm định theo như cách gọi của Nguyễn Đức Dân (1985b), Đinh

Văn Sơn (2013) và một số tác giả khác

Trang 19

Thứ hai, về khái niệm, tùy vào từng tác giả mà cách diễn đạt định nghĩa cũng có phần khác nhau đôi chút Thế nhưng, nhìn chung, chúng đều quy về một ý nghĩa duy nhất: đây là lớp từ ngữ chỉ chung chung, không chỉ rõ vào bất kỳ đối tượng cụ thể nào Do đó, để tổng kết và đưa ra một định nghĩa chung cho toàn luận văn, chúng tôi xin phép được trình bày định nghĩa của

mình như sau: Từ ngữ phiếm định là những từ ngữ không có vật quy chiếu

1.1.1.2 Phân loại

Tìm hiểu về việc phân loại của TNPĐ trong tiếng Việt, chúng ta cần

phân tích lại một lần nữa những công trình nghiên cứu đã nêu

Nhóm tác giả Trần Trọng Kim - Bùi Kỷ - Phạm Duy Khiêm (1937) trong công trình nghiên cứu của mình có đề cập đến 2 nhóm TNPĐ như sau:

Các phiếm chỉ định tự như: nào, mô, gì, chi thường được “dùng đứng

sau tiếng danh tự để chỉ định tiếng ấy và có ý nói trống, không chỉ rõ hẳn là ai hay là gì” (tr 59)

(1) Lúc lơ đãng chắc cậu nhớ đến một người nào đó có giọng nói giống

tôi… (TYSCT, tr 252)

Các phiếm chỉ đại danh tự là tiếng “có thể thay tiếng danh tự để chỉ

trống” (tr 74-76) Chúng được phân chia cụ thể thành 2 loại:

 Các phiếm chỉ đại danh tự chỉ về người như: ai, ai ai, nấy, ai nấy,

người, người ta, người ta ai, kẻ… kẻ, kẻ… người

(2) Hiển nhiên ai cũng đoán ra một câu chuyện mang dáng dấp một

thiên tình sử đẹp nhất thế gian này! (TYSCT, tr 649)

 Các phiếm chỉ đại danh tự chỉ chung về người và sự vật như: cả, cả

thảy, tất, tất cả, hết, hết cả, hết thảy

(3) Tất cả những cái đó đều đáng nói, nhưng cũng đều không đáng nói

phải không ông? (TYSCT, tr 112)

Tác giả Phạm Tất Đắc (1950) đề cập đến các nhóm TNPĐ như sau:

Trang 20

Các phiếm chỉ định tự như: gì (chi), nào, mô, khác Trong đó, tác giả lấy tiêu chí dấu hỏi (?) để phân biệt các nghi vấn chỉ định tự với các phiếm chỉ

đã biết, mà từ khác mang ý nghĩa “chỉ chung chung một đối tượng sự vật nào

đó” (tr 41), như ví dụ dưới đây:

(6) Trong căn phòng được coi như hết phần lãnh thổ của một nước cảnh

tượng chẳng khác gì cõi hỗn mang (TYSCT, tr 485)

Khác: tĩnh từ, ý chỉ sự khác biệt trong tính chất sự việc

(7) Một tụi khác chạy tản đi rình tóm những con loăng quăng lúc nào

cũng nhan nhản trên đường (TYSCT, tr 683)

Khác: phiếm chỉ chỉ định từ, mang ý nghĩa khái quát nói chung về một nhóm người nào đó, mà cụ thể ở đây là “một tụi nào đó”

Các phiếm chỉ đại danh tự như: ai, ai nấy, người, người ta, người ta ai,

kẻ, gì

(8) [ ], cơm ai nấy ăn, giường ai nấy nằm, không có gì khác trước

(TYSCT, tr 596)

Tác giả Phạm Tất Đắc (1950) phân tích rõ từ ai (phiếm chỉ đại danh tự)

sẽ được dùng làm chỉ định túc từ cho danh tự như: cơm, giường; còn từ nấy (phiếm chỉ đại danh tự) sẽ được dùng làm chủ từ cho động tự như: ăn, nằm

(tr.42) Vì vậy, ta có thể tái lập ví dụ trên thành: “cơm ai người ấy ăn, giường

ai người ấy nằm”

Trang 21

Hai tác giả Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê (1963) không đề

cập đến việc phân loại các nhóm TNPĐ mà chỉ liệt kê các từ ngữ: chưa, bao

nhiêu, mấy, gì, đâu, sao có khả năng trỏ cái bất định dùng trong cả câu

thường hoặc câu hỏi (tr 383)

Tác giả Nguyễn Kim Thản (1964/1997) phân chia các đại từ nghi vấn

trong tiếng Việt thành 2 nhóm chính như sau (tr 296-303):

Dùng để hỏi về sự vật và số lượng, gồm có: hỏi về người (ai), hỏi về số lượng (mấy, bao, bao nhiêu), hỏi về thời gian (bao giờ), hỏi về địa điểm (đâu) Ngoài ra, gì và nào cũng là hai đại từ nghi vấn thường được dùng làm

Thứ hai, khi chúng được đặt trong câu phủ định

(10) Nhiều lúc nghe ông nói tiếng mẹ đẻ mà chả hiểu ông nói gì Đọc

một văn bản do ông thảo cũng chả hiểu ông viết gì (TYSCT, tr 469)

Thứ ba, khi chúng kết hợp với bất kỳ, bất luận, bất cứ, vô luận

(11) Tôi tin là nếu chiếc Pratica trung thành với tôi thì phen này tôi có

thể đánh ngã bất kỳ một bức ảnh mô tả phong cảnh biển nên thơ nào từ trước

(TYSCT, tr 273)

Thứ tư, khi câu nghi vấn có ý nghĩa phủ định Đôi khi, có tới hai đại từ

nghi vấn cùng xuất hiện như: ai, gì, nào, bao,… kết hợp với đâu

Trang 22

(12) Tôi bò quẩn mãi, chỉ sờ mó thôi chứ mắt có thấy gì nữa đâu!

(TYSCT, tr 115)

Thứ năm, khi chúng được láy lại

(13) Vì ở chiến trường đâu đâu cũng thiếu nước, thiếu điều kiện làm vệ

Thứ bảy, khi chúng được đặt trong câu hỏi gián tiếp

(16) Mai kia cần gì cứ nhắn, bố sẽ đến, […] (TYSCT, tr 387)

Thứ tám, khi chúng được đặt trong câu cảm thán

(17) Chà, người đâu đẹp dữ! (TYSCT, tr 140)

Thứ chín, khi chúng cùng kết hợp với đại từ chỉ định như: đây, đó, đấy,

ấy

(18) Nhưng giá như Rân biết, tôi luôn luôn phải lấy một ai đó để thường

xuyên có người canh giữ tôi (TYSCT, tr 419)

Như vậy, theo quan điểm của tác giả, phân loại các đại từ nghi vấn cũng chính là phân loại các đại từ phiếm định trong tiếng Việt

Tác giả Bùi Đức Tịnh (1966) cũng đề cập đến các nhóm TNPĐ như sau

(tr 64):

Các phiếm chỉ chỉ định từ gồm những từ: nào, mô, gì, chi Các trạng

từ như: bất cứ, cũng, cũng đều, cũng được thường được thêm vào các phiếm

chỉ chỉ định từ để làm rõ thêm ý nghĩa phiếm chỉ của chỉ định từ

Đáng lưu ý là trong công trình nghiên cứu này, tác giả Bùi Đức Tịnh

cũng đồng quan điểm với tác giả Phạm Tất Đắc (1950) khi cho rằng từ khác cũng có khả năng chuyển loại từ tĩnh từ thành phiếm chỉ chỉ định từ

Các phiếm chỉ đại danh từ được phân chia thành 3 nhóm nhỏ, gồm có:

Trang 23

 Các nghi vấn đại danh từ như: ai, chi, gì, cái gì khi chúng không được dùng trong các câu hỏi

 Các phiếm chỉ đại danh từ chỉ riêng về người như: ai, ai ai, ai nấy,

người, người ta, kẻ, kẻ… người, kẻ thì… người thì

 Các phiếm chỉ đại danh từ dùng chung cho người và các sự vật như:

cả, hết, tất, hết cả, hết thảy, cả thảy

Ngoài ra, theo tác giả, để nhấn mạnh thêm ý phiếm chỉ, ta còn có thể đặt

thêm trạng từ bất cứ vào trước các phiếm chỉ đại danh từ như: ai, gì, cái gì

Tác giả Lê Văn Lý (1972) trong quyển Sơ thảo Ngữ pháp Việt Nam tuy

không nhắc đến khái niệm TNPĐ nhưng lại đề cập đến 2 nhóm từ ngữ có liên

quan gồm:

Những ngữ vị nghi vấn làm thành câu nghi vấn là “những tự ngữ

không đứng một mình được, trong công dụng chúng phải dựa vào một tự ngữ

khác” có thể kể đến nào và mấy (tr 174-175)

Những tự ngữ nghi vấn làm thành câu nghi vấn là “những ý nghĩa vị,

có ý nghĩa nghi vấn, và có thể được dùng một mình, không cần phải dựa vào

một tự ngữ khác” như: ai, gì (chi), đâu, sao, bao giờ (khi nào, lúc nào), bao

lâu, bao nhiêu (tr 175)

Tuy chúng được gọi là tự ngữ nghi vấn nhưng chúng vẫn có những điểm

đặc biệt đáng lưu ý như sau (tr 175-179):

Thứ nhất, ai, gì (chi) còn được xem là danh tự khi chúng kết hợp với chứng tự những như: những ai, những gì, những chi

(19) Nàng tấp lại phía sau những người đang bàn tán, cố hiểu nhưng

chẳng hiểu được những gì họ đang nói (TYSCT, tr 318)

Thứ hai, ai, gì (chi), đâu cũng có thể được lặp lại như: ai ai, gì gì, chi

chi, đâu đâu Khi ấy, chúng mang ý nghĩa tổng quát là tất cả Ngoài ra, ai nấy

cũng là một cách nói có nghĩa là “hết mọi người”

Trang 24

(20) Vì ở chiến trường đâu đâu cũng thiếu nước, thiếu điều kiện làm vệ

sinh (TYSCT, tr 81)

 Vì ở chiến trường mọi nơi đều thiếu nước, thiếu điều kiện làm vệ sinh

(21) Vậy mà ai nấy đều vui, […] (TYSCT, tr 626)

 Vậy mà mọi người đều vui

Thứ ba, tất cả các tự ngữ nghi vấn và hai ngữ vị nghi vấn “nào”, “mấy” đều sẽ mất đi ý nghĩa nghi vấn của chúng khi có một ngữ vị phủ định định nghĩa cho chúng hoặc một ngữ tuyến đối chiếu (ví dụ như: cũng) đứng sau

chúng

(22) Tại sao Huyền lại bắt tôi đến đây để phải chứng kiến cảnh chẳng

mấy hay hớm này (TYSCT, tr 207)

(23) Bữa nào cũng thừa (TYSCT, tr 615)

Như vậy, tự ngữ nghi vấn và ngữ vị nghi vấn trong một số trường hợp cụ thể vẫn có thể được xem là TNPĐ Trong đó, tự ngữ nghi vấn chính là chỉ

định từ phiếm định và ngữ vị nghi vấn chính là đại từ phiếm định

Trong khi phần lớn các tác giả đều phân chia lớp từ ngữ này, thì tác giả

Nguyễn Đức Dân (1985b) lại gộp chung hai nhóm đại từ nghi vấn và đại từ

phiếm chỉ thành một và gọi chúng là từ phiếm định

Tác giả Dư Ngọc Ngân (2002) lấy tiêu chí chức năng sử dụng để phân

loại lớp từ ngữ này Nếu ai, gì, nào, thế nào, sao, đâu, bao nhiêu, mấy, bao

giờ, bao lâu… được dùng để tạo câu hỏi có trọng điểm, ta gọi đó là đại từ nghi vấn Mặt khác, nếu chúng được dùng để chỉ người hay vật không xác

định, ta gọi đó là đại từ phiếm chỉ (tr 40)

Nhóm các tác giả Cao Xuân Hạo - Nguyễn Văn Bằng - Hoàng Xuân Tâm - Bùi Tất Tươm (2005a) phân chia thành 2 nhóm như sau (tr 88-89):

đâu (chỉ địa điểm), bao giờ (chỉ thời gian), bao nhiêu (chỉ số lượng)

Trang 25

Đại từ chưa xác định chỉ sự tình như: sao

Hai tác giả Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung (2013b) phân chia

cụ thể thành 4 nhóm như sau (tr 133-136):

Phiếm chỉ thời gian như: bao giờ, bao lâu, mấy,…

Phiếm chỉ không gian như: đâu, nào,…

Phiếm chỉ số lượng, khối lượng như: mấy, bao nhiêu, bao lăm,…

Phiếm chỉ sự vật, hiện tượng như: ai, gì, sao, nào,…

Tác giả Đinh Văn Sơn (2013) dựa trên tiêu chí “không có vật quy

chiếu” để phân thành 4 tiểu loại (subclass) như sau (tr 16-18):

Chỉ định từ phiếm định gồm những từ như: bất cứ (kỳ), gì (chi), gì…

ấy (nấy), khác, kia, nào (mô), nào… ấy (nấy), nọ, mấy

 Đại từ phiếm định chỉ người như: ai, ai ai, ai nấy, kẻ, kẻ… kẻ, kẻ…

người, người, người ta

 Đại từ phiếm định chỉ vật như: gì, nào

 Đại từ phiếm định chỉ người lẫn vật như: nấy

 Đại từ phiếm định chỉ địa điểm như: đâu, đâu đâu, đâu đó (đấy)

 Đại từ phiếm định chỉ thời gian như: bao giờ

 Đại từ phiếm định chỉ sự tình như: sao

 Lượng từ phiếm định chỉ số lượng ít như: chút, chút ít, dăm, dăm ba,

ít, ít nhiều, mấy, một chút, một ít, một số, một tí, một vài, mỗi, thiểu số, tí, từng, vài, vài ba

 Lượng từ phiếm định chỉ số lượng nhiều như: cả, đa số, đại đa số, hầu

hết, hết thảy, lắm, mọi, nhiều, phần đông, phần lớn, phần nhiều, rất nhiều, số đông, tất, tất cả, toàn thể, vô số

Trang 26

 Lượng từ phiếm định chỉ số lượng không rõ nhiều ít như: bao, bao

nhiêu

Quán từ phiếm định gồm những từ như: các, một, những

Theo như cách phân loại của tác giả Đinh Văn Sơn, lượng từ phiếm định hay còn gọi là số từ không xác định (theo cách gọi của Diệp Quang Ban và

Hoàng Văn Thung (2013b)) được xem là một tiểu loại trong nhóm các TNPĐ

Ngoài ra, quán từ phiếm định (indefinite article) thường xuất hiện trong các

sách giảng dạy ngữ pháp tiếng Anh cũng được liệt kê vào danh sách phân loại này Tuy nhiên, dựa vào những phân tích của tác giả Bùi Mạnh Hùng (2000)

về quán từ trong tiếng Việt, chúng tôi cho rằng quán từ phiếm định trong

tiếng Việt chỉ có từ “một” mà thôi (tr 5-9)

Nhìn chung, tiêu chí để phân loại những TNPĐ trong tiếng Việt có điểm

tương đồng và khác biệt ở nhiều tác giả Do tiêu chí phân loại khác nhau nên đối tượng và số lượng phân loại cũng rất khác nhau Vì vậy, để thống nhất và đưa ra một danh sách phân chia cụ thể, phù hợp với khái niệm TNPĐ mà luận văn đã định nghĩa, chúng tôi sẽ phân chia thành 3 nhóm chính như sau:

1 Chỉ định từ phiếm định gồm những từ ngữ như: bất cứ (kỳ/kể), gì

(chi), gì… ấy (nấy), khác, kia, nào (mô), nào… ấy (nấy), nọ,…

Trong đó, nếu ở phương ngữ Bắc bộ và phương ngữ Nam bộ ta dùng từ

gì và từ nào, thì ở phương ngữ Trung bộ ta có từ chi và từ mô (Hoàng Thị

Châu, 2004/2009, tr 97)

(24) Nếu mất đứa con, trong tay có bạc triệu cũng vô nghĩa, còn kéo

được nó về mình thì làm lại từ đầu có hề chi (TYSCT, tr 436)

 Có hề chi  có hề gì

2 Đại từ phiếm định gồm 6 loại như sau:

Đại từ phiếm định chỉ người như: ai, ai ai, ai nấy, kẻ, kẻ nào, kẻ… kẻ,

kẻ… người, người, người ta, người nào,

Trang 27

Đại từ phiếm định chỉ sự vật, hiện tượng như: gì, cái gì, nào, cái nào,

sao,…

Đại từ phiếm định chỉ không gian như: đâu (mô), đâu đâu, đâu đó, đâu

đấy, nơi nào, chỗ nào, bao xa,…

Đại từ phiếm định chỉ thời gian như: bao giờ, bao lâu, lúc nào, khi

1.1.2 Trong tiếng Anh

Trong quá trình học tập cũng như giảng dạy tiếng Anh, chúng ta đều

nghe qua thuật ngữ indefinite pronouns - đại từ phiếm định Nhắc đến đại từ

phiếm định trong tiếng Anh, ta có các từ như: everyone, everything, somebody, nobody, nothing, anyone,… Tuy nhiên, nhiệm vụ của luận văn

không dừng lại ở việc tìm hiểu mỗi đại từ phiếm định mà còn mở rộng thêm

một số đối tượng có liên quan khác Do đó, để tìm hiểu kỹ hơn về TNPĐ trong tiếng Anh, chúng ta cần xem xét đến khái niệm và cách phân loại của chúng

1.1.2.1 Khái niệm

Tìm hiểu về khái niệm indefinite words - từ ngữ phiếm định trong tiếng

Anh, chúng ta có thể kể đến các công trình tiêu biểu sau đây:

Trong quyển Oxford Advanced Learner’s Dictionary, tác giả A.S Hornby (1948/2005) định nghĩa indefinite là “không xác định rõ ràng”/“not

clearly defined” (tr 788)

Trong quyển A Vietnamese Reference Grammar, tác giả L.C

Thompson (1965/1987) định nghĩa: “Các từ ngữ phiếm định tạo thành một

lớp ngữ nghĩa nhỏ được đặc trưng bởi sự từ chối tham chiếu cụ thể của chúng

Trang 28

đối với bất kỳ thực thể hay khái niệm cụ thể nào.”/“Indefinite words constitute a small semantic class characterized by their denial of specific reference to any particular entities or concepts.” (tr 312)

Trong quyển Ngữ pháp tiếng Anh hiện đại (Modern English Grammar),

tác giả Nguyễn Văn Ân (2003) định nghĩa: “Các đại từ phiếm định đề cập

đến người và vật không cụ thể.”/”Indefinite pronouns refer to nonspecific persons or things.” (tr 134)

Như vậy, tương tự như tiếng Việt, các nhà nghiên cứu tiếng Anh hầu như

cũng thống nhất với định nghĩa mà chúng tôi đã nêu: Từ ngữ phiếm định

(indefinite words) là những từ ngữ không có vật quy chiếu

1.1.2.2 Phân loại

Tác giả L.C Thompson (1965/1987) đã đề cập đến những TNPĐ như sau (tr 312-313):

 Nhóm TNPĐ có liên quan đến hình thái Chúng là những chỉ xuất với

yếu tố -ao/-âu không xác định, gồm: đánh dấu chỉ xuất: whichever (nào/mô), nơi chốn: wherever (đâu/mô), phương thức: however (sao), phân lượng: to

whatever extent (bao) Trong đó, tác giả nhấn mạnh chữ mô trong cách dịch

của từ whichever hoặc wherever là cách nói rất phổ biến ở Huế

Nhóm các danh từ phiếm định (indefinite nouns) như: whoever (ai),

whatever (chi/gì)

Nhóm số từ phiếm định (indefinite number) như: however many (mấy/mô) Tác giả cũng lưu ý, ta thường dùng however many trong trường

hợp chỉ số lượng ít hơn mười

Hai tác giả A.J Thomson và A.V Martinet (1993) trong quyển A

Practical English Grammar (Ngữ pháp tiếng Anh thực hành do Phạm Xuân

Bá dịch) đã nhắc đến những loại TNPĐ sau:

Quán từ phiếm định (indefinite articles) như: a/an Chúng được đặt

Trang 29

trước một danh từ số ít đếm được khi “nó được nói tới lần đầu tiên và nó

không chỉ một người hay một vật cá biệt nào” Trong đó, an sẽ đứng trước các từ bắt đầu bằng nguyên âm a, e, i, o, u hoặc các từ bắt đầu bằng âm h câm Còn a sẽ đứng trước các từ bắt đầu bằng một phụ âm hoặc một nguyên

âm đọc như âm phụ âm (tr 19-24)

(25) A professional in fleeing coups, he was a man who always had an

khi có sự biến Trong người lúc nào cũng có sẵn một tấm vé máy bay

(TYSCT, tr 478)

146-163)

(26) And you can play this game forever, and the more you play the

như thế, bạn có thể chơi cái trò này mãi, mà càng chơi càng bị hút vào, như

một thứ đam mê không sao dứt ra được, […] (TYSCT, tr 446)

(27) Centipedes never killed anyone, but you could die of fright from just

ai, nhưng chỉ cần chạm vào nó đã đủ chết khiếp (TYSCT, tr 683)

(28) […], they’d lose their appetite and leave as quickly as possible

(LAW, tr 72)  [ ], anh chàng nào cũng ngán ngẩm bỏ đi (TYSCT, tr 85)

Những từ có dạng -ever có thể được dùng để mở đầu cho mệnh đề quan hệ và nhiều mệnh đề khác như: whoever (ai/người nào), whichever (bất

cứ người/cái nào/nào), whatever (bất cứ cái gì/nào), whenever (bất cứ lúc nào), wherever (bất cứ nơi nào, khắp nơi), however (dù thế nào/đến đâu/cách

gì) (tr 182-185)

(29) My profession, my position nowadays, allows me to occasionally

smile sweetly… to laugh… to chuckle courteously and grin like a flower

Trang 30

Nghề nghiệp, vị thế hiện nay của tôi khiến tôi có dư khả năng cười ngọt, cười

xòa, cười đối phó, cười tươi như hoa nở rộ ngày xuân… bất cứ lúc nào có người cần, bất cứ ở đâu… (TYSCT, tr 524)

Ngoài ra, tác giả còn đề cập đến một số TNPĐ khác như: all (tất cả),

every (mọi), each (mỗi), everyone (mọi người), everybody (mọi người), everything (mọi vật), some (vài), any (vài/ nào), no (không), none (không

ai/vật nào), someone/somebody (ai đó/người nào), something (cái gì đó),

anyone/anybody (ai/người/bất cứ ai), anything ((bất cứ) cái gì), no one (không

ai), nobody (không ai), nothing (không gì cả), other/another (cái/người khác),

others (những cái/người khác) dùng với one và some (tr 212-215)

(30) All seven women in the house were old and couldn’t afford lipstick

(LAW, tr 577)  [ ], bảy chị em ai cũng nghèo, có người có son phấn cũng

không dám hỏi (TYSCT, tr 631)

(31) There were others who felt that if they loosened their grip on me

Bên cạnh bà còn có một số người nữa, lúc nào họ cũng có cảm giác lỏng tay

một chút, tôi sẽ đốt cháy mất ngôi trường trang nghiêm của họ (TYSCT, tr

516)

Tác giả M Hewings (2002) trong quyển Advanced grammar in use

(Ngữ pháp tiếng Anh nâng cao hiện dụng do Đào Tuyết Thảo dịch) có đề cập

đến các TNPĐ sau đây:

Quán từ phiếm định như: a/an (tr 368-398)

Các đại từ phiếm định trong tiếng Anh có một số từ ghép bắt đầu bằng

some và any như: someone, anyone, somebody, anybody, something, anything, somewhere, anywhere Trong đó, some và any được dùng với các

danh từ số nhiều và các danh từ không đếm được khi chúng ta nói về “những

số lượng không xác định” (tr 411-414)

Trang 31

(32) Mi was sitting at a table with some men we knew from working

chàng trai chúng tôi quen ở đây, ai cũng bừng bừng (TYSCT, tr 139)

(33) He answered, “I’m not an expert on politics but I know that in

order to resolve any problem, you have to be hard and unyielding.” (LAW,

tr 305)  Anh đáp: “Tôi không sành chính trị nhưng tôi chắc là muốn giải

quyết vấn đề thì ai cũng phải rứng cắn.” (TYSCT, tr 343)

Những mệnh đề quan hệ (relative clauses) dùng để nói về những vật

hoặc người không xác định hoặc không được biết đến Chúng là những mệnh

đề quan hệ bắt đầu bằng: whatever, whoever, whichever (tr 470-473)

Trong quyển Ngữ pháp tiếng Anh nâng cao (Advanced English

Grammar), tác giả Lê Dũng (2002/2005) dành hẳn một mục riêng biệt trong

phần Đại từ (pronouns) để nói về đại từ phiếm định Ngoài ra, tác giả còn

nhắc đến một số TNPĐ có liên quan khác như:

Đối với đại từ phiếm định, tác giả phân chia thành 2 nhóm nhỏ (tr

52-55):

 Nhóm các từ: some (vài, một ít), any (nào, bất cứ/kỳ) và no ( not

any)

(34) At any rate he had to have some kind of work! (LAW, tr 295)

Thế nào cũng phải làm một cái gì! (TYSCT, tr 334)

(35) Any men! (LAW, tr 381) Bất kỳ thằng nào! (TYSCT, tr 417)

(36) Look, I’ve just graduated and I know there’s no place that will hire

nào nhận em cả (TYSCT, tr 397)

 Nhóm các đại từ có cách dùng tương tự như some, any và no, gồm:

some, something, someone, somebody, any, anything, anyone, anybody, none, nothing, no one, nobody, everything, everyone, everybody

Quán từ phiếm định như: a/an được dùng với ý nghĩa là một (cái,

Trang 32

người, vật) (tr 147-149)

Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến một số mệnh đề trạng từ (adverb clauses) có liên quan như: wherever (bất cứ nơi đâu), whenever (bất cứ lúc

nào) (tr 195-200)

Tác giả Nguyễn Văn Ân (2003) trong quyển Ngữ pháp tiếng Anh hiện

đại (Modern English Grammar) có nhắc đến những TNPĐ như sau:

Các đại từ phiếm định gồm (tr 177-184):

 Phiếm định chỉ người hoặc vật (indefinite persons or things) đều là đại

từ số ít như: somebody, anybody, nobody, someone, anyone, no one,

something, anything, nothing, everybody/everyone, everything

 Phiếm định số lượng (indefinite quantities): all, whole, both, each,

either, any, many, much, most, more, plenty, some, one, one, another, other, neither, few, little, lots, less, least

Các quán từ phiếm định như: a/an (tr 264-278)

Các mệnh đề trạng từ có thể được dùng để bổ nghĩa cho động từ, tính

từ hoặc trạng từ như: wherever (chỉ nơi chốn), whenever (chỉ thời gian) (tr

686-692)

Tác giả M Swan (2004) trong quyển Practical English Usage (605 đề

mục ngữ pháp tiếng Anh thực hành do Lê Ngọc Phương Anh dịch) cũng có

nhắc đến các TNPĐ như:

Quán từ phiếm định như: a/an được dùng để chỉ những sự việc mà

người nói/người viết và người nghe/người đọc không hề biết đến (bất định)

Ngoài ra, quán từ phiếm định cũng cho biết “những sự việc được đề cập là

chung chung” (tr 55-69)

Những liên từ (conjunctions) được tạo ra từ hai yếu tố: no matter +

who, whose, what, which, where, when, how Chúng được dùng để nối các

mệnh đề với nhau và mang ý nghĩa tương đương với bất kể ai/cái gì/… (tr

Trang 33

372-373)

(37) The moon was so bright, no matter which corner she crawled into

góc nào cũng thấy bóng bà (TYSCT, tr 134)

Các đại từ phiếm định như: everyone, everybody, everything,

somebody, someone, something, anybody, anyone, anything, no one, nobody, nothing (tr 549-550)

Những từ như: whoever, whatever, whichever, however, wherever có

ý nghĩa tương tự như ai/cái gì/cái nào/… cũng không thành vấn đề, bất cứ

người nào mà/điều gì mà/…, người không được biết mà/ vật không được biết mà… (tr 622-624)

Tác giả R Murphy (2012) trong quyển English Grammar in Use (Ngữ

pháp tiếng Anh thực hành do Nguyễn Hạnh dịch) cũng đã liệt kê đến những

TNPĐ như:

Quán từ phiếm định như: a/an (tr 220-222)

Các đại từ phiếm định như: some (someone, somebody, something) được dùng trong các câu khẳng định và any (anybody, anything,…) được dùng trong câu phủ định Còn no/nothing/nobody,… sẽ tương đương với not

+ any (anything/anybody,…) (tr 262-282)

(38) Bạc Kỳ Sinh có nụ cười dè dặt, lúc nào cũng có vẻ như giễu cợt bản

smile that always seemed to be mocking himself or someone else (LAW, tr

477)

(39) “In the end my husband won, but I didn’t get anything at all,” she

chẳng được gì (TYSCT, tr 340)

 I didn’t get anything  I get nothing

Trang 34

Ngoài ra, còn có một số TNPĐ khác phiếm định về số lượng như: all,

all of, most, most of, every, each, whole, none of, much of,…

Trong luận án Tiến sĩ nghiên cứu về Từ phiếm định trong tiếng Việt (so

sánh với tiếng Anh), tác giả Đinh Văn Sơn (2013) phân loại dựa trên cách

phân chia tiểu loại của một số từ loại (part of speech) khác có liên quan đến TNPĐ trong tiếng Anh Từ đó, tác giả thống kê một danh sách gồm 5 tiểu loại

TNPĐ có trong tiếng Anh như sau:

Chỉ định từ phiếm định (indefinite determiners) như: another, any,

one, other, some

 Các đại từ phiếm định ghép có any, every, no, some được ghép với

-body, -one, -thing Chúng tạo thành các nhóm từ như sau: any-body, anyone, anything, everybody, everyone, everything, nobody, no one, nothing, somebody, someone, something

 Các đại từ phiếm định như: one, they, you

 Các lượng từ phiếm định chỉ số lượng zero như: neither, no, none

 Các lượng từ phiếm định chỉ số lượng ít như: both, each, either, (a)

few, fewer, fewest, least, less, (a) little, several

 Các lượng từ phiếm định chỉ số lượng nhiều như: a great deal of, a

large amount of, a large number of, a lot of, all, every, lots of, many, more, most, much, plenty of

 Các lượng từ phiếm định chỉ số lượng không rõ nhiều hay ít như:

enough

Quán từ phiếm định (indefinite article): a/an

Trạng từ phiếm định (indefinite adverbs): always, anywhere, ever,

everywhere, frequently, never, nowhere, occasionally, often, rarely, regularly,

Trang 35

seldom, sometime, sometimes, somewhere, usually

Nhìn chung, trong các công trình nghiên cứu cũng như các sách giảng dạy ngữ pháp tiếng Anh từ trước đến nay, TNPĐ ít nhiều đã được đề cập Tuy

nhiên, đa phần chỉ tập trung vào hai chủ điểm ngữ pháp chính là đại từ phiếm

định và quán từ phiếm định (hay còn gọi là mạo từ phiếm định) Ở phần đại từ phiếm định, một số tác giả như Nguyễn Văn Ân (2003), Lê Dũng

(2002/2005),… thống nhất gộp chung hai loại: đại từ phiếm định người hoặc

vật và đại từ phiếm định số lượng vào cùng một nhóm Ngược lại, tác giả

Đinh Văn Sơn (2013) lại tách biệt thành hai nhóm với hai tên gọi khác nhau

là: đại từ phiếm định và lượng từ phiếm định Về phần quán từ phiếm định, quan điểm của các tác giả nghiên cứu hầu như đồng nhất Về các chỉ định từ

phiếm định, chúng tôi đánh giá cao cách phân loại của tác giả Đinh Văn Sơn

(2013) vì tính rõ ràng và tương tối đầy đủ Ở phần trạng từ phiếm định, đây là

những từ được dùng để bổ nghĩa cho động từ, tính từ hoặc trạng từ khác trong câu Dựa vào ngữ liệu quan sát được, chúng tôi đã liệt kê và lựa chọn những

từ phù hợp nhất để đặt vào nhóm này Đặc biệt, chúng tôi đã tập hợp được một nhóm các liên từ có ý “chỉ chung chung” được dùng để nối các mệnh đề

trong câu Nhóm các từ này được gọi là liên từ phiếm định

Như vậy, dựa vào các phân tích nói trên, chúng tôi tiến hành phân loại TNPĐ trong tiếng Anh thành 5 nhóm chính như sau:

1 Chỉ định từ phiếm định (indefinite determiners) như: another, any,

one, other, some

2 Đại từ phiếm định (indefinite pronouns) gồm 2 loại:

Phiếm định chỉ người hoặc vật gồm có:

 Các đại từ phiếm định ghép bởi any, every, no, some với body, one,

-thing tạo thành các nhóm từ như: anybody, anyone, any-thing, everybody, everyone, everything, nobody, no one, nothing, somebody, someone, something

Trang 36

 Các đại từ phiếm định ghép bởi who, what, which với -ever tạo thành các nhóm từ như: whoever, whatever, whichever

 Các đại từ phiếm định khác như: one, they, you

Phiếm định số lượng (indefinite quantities): all, whole, both, each,

any, many, much, most, more, plenty, some, one, few, little, lots, less, least, none, several,…

3 Quán từ phiếm định (indefinite articles): a/an

4 Trạng từ phiếm định (indefinite adverbs): anywhere, nowhere,

wherever, whenever, everywhere, however, always, usually, never,…

5 Liên từ phiếm định (indefinite conjunctions) gồm 2 loại:

Các liên từ phiếm định ghép bởi where, when với -ever tạo thành các

từ như: wherever, whenever

Các liên từ phiếm định ghép bởi no matter với who, whose, what,

which, where, when, how tạo thành các mệnh đề như: no matter who, no matter whose, no matter what, no matter which, no matter where, no matter when, no matter how

1.2 Khái quát về lý thuyết hành vi ngôn ngữ

1.2.1 Hành vi ngôn ngữ

Lý thuyết hành vi ngôn ngữ (HVNN) hay còn gọi là hành động ngôn từ

(speech acts) do nhà triết học người Anh - J.L Austin đề ra Sau khi ông qua đời, 12 chuyên đề do ông giảng dạy tại trường Đại học Tổng hợp Harvard

(Mỹ) đã được tập hợp thành quyển sách How do to things with words (Hành

động như thế nào bằng lời nói) và công bố vào năm 1962 Về sau, có rất nhiều nhà nghiên cứu phát triển lý thuyết này, trong đó nổi bật nhất chính là J.R

Searle với công trình Speech Acts (Các hành vi ngôn ngữ) được công bố vào

năm 1969

Trước khi lý thuyết HVNN của J.L Austin ra đời, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học và logic học chỉ quan tâm đến những câu được đánh giá đúng

Trang 37

hay sai về mặt ngữ nghĩa theo tiêu chuẩn logic, như: câu khẳng định, câu phủ

định, câu miêu tả, câu trần thuật, Ta gọi chung những câu như vậy là câu

trần thuật (constatives) (Đỗ Hữu Châu, 1993/2012, tr 87) Tuy nhiên, Austin

đã sớm nhận ra được nhiều vấn đề khác về ngữ nghĩa và ngữ pháp trong hiện thực hoạt động của lời nói

(40) Mày biết gì về tình yêu? (TYSCT, tr 540)

(41) Tôi xin lỗi bà con (TYSCT, tr 497)

(42) Ối giời! (TYSCT, tr 607)

Ở ba ví dụ trên, các câu này đều không thể đánh giá được là đúng hay sai

về mặt logic Bởi lẽ, chúng không trình bày kết quả đúng hay sai, miêu tả một

sự vật hay hiện tượng cụ thể nào, và cũng không phản ánh về một hiện thực khách quan nào đang tồn tại Ba câu trên được tạo ra với mục đích thực hiện

ba hành vi tương ứng khác nhau Câu (40) ứng với hành vi hỏi, câu (41) ứng với hành vi xin lỗi và câu (42) ứng với hành vi bộc lộ cảm xúc của người nói

Theo Austin, những câu như vậy được gọi là câu ngữ vi (performatives) (Đỗ

Hữu Châu, 1993/2012, tr 88)

Như vậy, sự phân biệt giữa câu trần thuật và câu ngữ vi chính là tiền đề

để Austin xây dựng lý thuyết HVNN Từ đó, bản chất hành vi của ngôn ngữ mới được nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc hơn Nói một cách cụ thể hơn, theo tác giả Nguyễn Đức Dân (1998/2000), lý thuyết HVNN đề cập đến

“mối quan hệ giữa kí hiệu ngôn ngữ và việc dùng chúng vào những mục đích giao tiếp được thể hiện thế nào” (tr 15)

1.2.1.1 Khái niệm

Trong quyển The Study of Language, tác giả George Yule (1985/2010)

đã nhận định: “Chúng ta sử dụng thuật ngữ hành vi ngôn ngữ để miêu tả

những hành động như: yêu cầu, ra lệnh, hỏi hoặc thông báo.”/ “We use the term speech act to describe actions such as “requesting”, “commanding”,

“questioning” or “informing”.” (tr.133)

Trang 38

Trong quyển Đại cương ngôn ngữ học (tập hai) - Ngữ dụng học, tác giả

Đỗ Hữu Châu (1993/2012) nhận định: “Khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện là

ngôn ngữ.” (tr 88) Loại hành động đặc biệt này chính là hành vi ngôn ngữ Trong quyển Dụng học Việt ngữ, tác giả Nguyễn Thiện Giáp (2000/2009) định nghĩa hành vi ngôn ngữ là: “các hành động được thực hiện

bằng lời” (tr 38)

Như vậy, ta có thể hiểu, hành vi ngôn ngữ chính là một hành động nào

đó được thực hiện đồng thời cùng lúc chúng ta phát ngôn

1.2.1.2 Phân loại

Theo J.L Austin (1962), khi ta thực hiện một phát ngôn bất kỳ thì cũng

là lúc ta thực hiện đồng thời ba HVNN: hành vi tạo lời (locutionary act), hành

vi tại lời (illocutionary act) và hành vi mượn lời (perlocutionary act)

A Hành vi tạo lời (locutionary act)

Theo J.L Austin (1962), khi tạo ra một phát ngôn, đầu tiên, người nói sẽ

thực hiện hành vi ngữ âm (phonetic act) để tạo ra một chuỗi âm thanh nào đó

Tất cả các cách thức âm thanh nhằm “thực hiện một âm tố, một từ thuộc một lớp từ vựng hay ngữ pháp nào đó với những kiểu nhấn giọng, ngữ điệu xác

định” được gọi là hành vi đưa giọng (“phatic” act) Và khi ta thực hiện một

phát ngôn với những ý nghĩa đã xác định rõ ràng cũng như “sự quy chiếu” cụ

thể thì được gọi là hành vi tạo vật (rhetic act) Đây cũng chính là ba phương diện khác nhau của hành vi tạo lời (Nguyễn Đức Dân, 1998/2000, tr 17) Như vậy, hành vi tạo lời là hành vi sử dụng những yếu tố của ngôn ngữ

để tạo ra một phát ngôn có hình thức và nội dung cụ thể, rõ ràng

B Hành vi tại lời (illocutionary act)

Trong giao tiếp thông thường, chúng ta hay bắt gặp những hành vi như: xin lỗi, hỏi, yêu cầu, hứa hẹn, cám ơn, thách thức, cho phép,… Để thực hiện những hành vi này thì ngay trong phát ngôn, người tham gia giao tiếp cần

Trang 39

phải “nói một điều gì đó” Hành vi như thế này được gọi là hành vi tại lời

(Nguyễn Đức Dân, 1998/2000, tr 17)

Như vậy, hành vi tại lời (HVTL) là loại hành vi có hiệu lực ngay tại thời

điểm phát ngôn được thực hiện

(43) Em không nên đi đâu (TYSCT, tr 154)

 HVTL là khuyên bảo

(44) Vụ lễ tân xin thông báo: Vào lúc bốn giờ mười lăm phút chiều nay

đoàn xe của Bộ Ngoại giao sẽ có mặt tại khách sạn để đưa đại sứ lên phủ tổng thống trình quốc thư hồi bốn giờ ba mươi phút (TYSCT, tr 476)

 HVTL là thông báo

(45) Chào anh, cám ơn anh rất nhiều (TYSCT, tr 481)

 HVTL đầu tiên là chào tạm biệt, HVTL tiếp theo là cám ơn

C Hành vi mƣợn lời (perlocutionary act)

Trong một tình huống giao tiếp cụ thể, thông qua cung cách nói năng khi thực hiện một HVTL, người nói có thể nhắm đến “một chủ đích, một mục tiêu nào đó cần đạt được” trong giao tiếp Từ đó, người nói chủ dộng tạo ra một loại hiệu quả khác nằm ngoài hiệu quả của giá trị tự tại mà HVTL mang lại

Loại hiệu quả này được J.L Austin gọi là hành vi mượn lời (Nguyễn Đức

Dân, 1998/2000, tr 19)

Có thể nói, hành vi mượn lời tác động đến người tham gia phát ngôn một

hiệu lực nằm ngoài khả năng của ngôn ngữ Lúc này, giá trị của hành vi không chỉ gói gọn trong ngôn từ mà nằm trong những tác động của nó vào tâm lí, hành vi của người nghe, người nhận hoặc ở chính cả người nói Chính

sự tác động bằng phát ngôn này sẽ làm cho người tham gia giao tiếp cảm thấy xúc động, yên tâm, bị thuyết phục, bị áp đảo, bực mình, phấn khởi,… Những hành vi và diễn biến tâm lý này không có đích đến cụ thể Tùy thuộc vào từng đối tượng, tình huống cụ thể mà chúng phân tán đến những điểm đích khác nhau, khó có thể dự đoán trước

Trang 40

(46) Chiều gió này không khéo bão cấp 11 rồi! (TYSCT, tr 281)

Đối với những người không sống trong vùng bị ảnh hưởng của bão, HVTL của ví dụ (46) chỉ đơn thuần là một thông báo bình thường Tuy nhiên,

đối với những đối tượng khác, nó có thể gây ra những hành vi mượn lời khác

nhau Về mặt tâm lý, người nói có thể gây ra tâm lý lo lắng cho những người đang sống trong vùng tâm bão hoặc vùng bị ảnh hưởng do bão Mặt khác, người nói cũng có thể tạo ra tâm lí vui mừng cho những ngư dân vừa cập bến, neo đậu tàu thuyền vì họ đã có thể tránh bão an toàn Về mặt hành vi, sau khi nghe phát ngôn này, một số người sống trong vùng tâm bão hoặc vùng bị ảnh hưởng có thể nhanh chóng chạy đi khóa chặt cửa sổ, kiểm tra lại mái nhà hoặc

dữ trự một số lương thực cần thiết Nếu là người không sống trong vùng bị ảnh hưởng, họ có thể chạy đi thông báo cho những người cần biết thông tin này hoặc huy động, kêu gọi mọi người cùng chung tay giúp đỡ người dân sống quanh khu vực đó

1.2.2 Phân loại hành vi tại lời

Trong giao tiếp, có rất nhiều HVTL khác nhau Vì vậy, theo J.L Austin (1962), ông chia các HVTL thành 5 lớp:

1 Lớp phán xử (verdictives): miêu tả, phân tích, kể, đánh giá, nêu đặc

điểm, lên án (condemn),…

2 Lớp hành xử (exercitives): ra lệnh, chỉ huy, bổ nhiệm, kết án (condemn), tuyên bố, cảnh cáo,…

3 Lớp cam kết (commissives): hứa, thề, cá, giao ước, bảo đảm, thỏa

thuận,…

4 Lớp ứng xử (behabitives): xin lỗi, cám ơn, ca ngợi, khen, chê, chúc

mừng, chia buồn, phê phán, thách thức,…

5 Lớp bày tỏ (expositives): khẳng định, phủ định, phủ nhận, bác bỏ, giải

thích, minh họa,…

Ngày đăng: 29/04/2021, 15:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm