1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN VĂN TỪ CHỈ ĐẦU TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÁN

86 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ chỉ đầu trong tiếng Việt và tiếng Hán gồm có: “đầu 头”, “thủ trong Từ điển tiếng Việt [26] và Từ điển Hán ngữ hiện đại [60], chúng tôi nhận thấy khả năng kết hợp từ của “đầu/头” là mạn

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HẠNH DUNG

TỪ CHỈ ĐẦU TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG HÁN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI, 2019

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai Các kết quả khảo sát và miêu tả nêu trong luận văn là trung thực

và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Nguyễn Hạnh Dung

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 13

Chương 2 NGHĨA CỦA TỪ “ĐẦU” TRONG TIẾNG VIỆT VÀ “头”

TRONG TIẾNG HÁN 24

2.1 Quá trình phát triển nghĩa của từ “đầu” trong tiếng Việt 24

2.2 Quá trình phát triển nghĩa của từ “” trong tiếng Hán 29

2.3 Đối chiếu quá trình phát triển nghĩa từ “đầu” trong tiếng Việt và tiếng Hán38

CHƯƠNG 3 CÁC ẨN DỤ Ý NIỆM CỦA TỪ “ĐẦU” TRONG TIẾNG

VIỆT VÀ TỪ “” TRONG TIẾNG HÁN 48

3.1 Ẩn dụ vật chứa của từ ''đầu'' trong tiếng Việt và “头” trong tiếng Hán 49

3.2 Ẩn dụ định hướng của từ “đầu” trong tiếng Việt và “头” trong tiếng Hán 51

3.3 Ẩn dụ cấu trúc của từ “đầu” trong tiếng Việt và “头” trong tiếng

Hán 56

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72 NGUỒN NGỮ LIỆU KHẢO SÁT 78

Trang 5

MỤC LỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU, LƯỢC ĐỒ

Hình 2.1 : Sơ đồ phát triển nghĩa của từ “đầu” 27

Hình 2.2 : Sơ đồ phát triển nghĩa của từ “头” 37

Bảng 2.1 Bảng đối chiếu nghĩa từ “đầu” và từ “” 38

Lược đồ 3.1 Ánh xạ ẩn dụ ý niệm KHÔNG GIAN LÀ CƠ THỂ NGƯỜI 57 Lược đồ 3.2 Ánh xạ ẩn dụ ý niệm SỰ LÃNH ĐẠO LÀ ĐẦU NGƯỜI 61 Lược đồ 3.3 Ánh xạ ẩn dụ ý niệm THỨ TỰ ĐẦU TIÊN LÀ ĐẦU

NGƯỜI 62

Bảng 3.1 Bảng đối chiếu những ẩn dụ ý niệm liên quan đến từ “đầu”

trong tiếng Việt và “头” tiếng Hán 65

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngôn ngữ là công cụ của tư duy, thông qua ngôn ngữ, chúng ta có thể thấy được những đặc trưng tư duy và giá trị văn hóa của cả một dân tộc Nghiên cứu quá trình chuyển nghĩa cùng các ẩn dụ ý niệm của từ nhằm làm rõ cách tri nhận về hiện thực khách quan, qua đó thấy được các dấu ấn và giá trị văn hóa của một cộng đồng ngôn ngữ là hướng đi cần thiết Hơn nữa, các nghiên cứu đối chiếu về mặt ngữ nghĩa của hai ngôn ngữ để chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt về mặt tư duy của hai dân tộc là một trong những hướng nghiên cứu liên ngành đang rất được quan tâm hiện nay

Từ chỉ đầu trong tiếng Việt và tiếng Hán gồm có: “đầu ()”, “thủ (

trong Từ điển tiếng Việt [26] và Từ điển Hán ngữ hiện đại [60], chúng tôi

nhận thấy khả năng kết hợp từ của “đầu/” là mạnh nhất, “thủ/” yếu hơn

và có nhiều nét nghĩa và cách biểu đạt tương đồng, còn “óc/大脑”, “não/,

dụng, phổ biến trong giao tiếp hàng ngày, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu

đối chiếu sự phát triển nghĩa, những ẩn dụ ý niệm liên quan đến từ “đầu/”,

cùng những cách biểu đạt tương đồng với từ “đầu/” của từ “thủ/

Trong hệ thống ngôn ngữ của tiếng Việt và tiếng Hán, không khó để

tìm ra những từ ngữ có chứa yếu tố “đầu” Ví dụ trong tiếng Việt có “bắt

đầu”, “đứng đầu”, đầu sỏ”, “to đầu”, “đầu cua tai nheo”, ; còn trong tiếng

Hán chúng ta có头段情缘 (mối tình đầu),机头 (đầu máy), 月头 (đầu tháng),

大 (to đầu) Chính bởi tính phổ biến này mà “đầu” trở thành một miền

nguồn quan trọng trong nghiên cứu về tri nhận ẩn dụ cơ thể người Về nhóm

từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người, giới nghiên cứu Việt ngữ học đã quan tâm

Trang 7

nghiên cứu, song cho đến nay, chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu về

sự phát triển nghĩa và các ẩn dụ ý niệm của đầu đặt trong sự đối chiếu với tiếng Hán Từ những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Từ chỉ đầu

trong tiếng Việt và tiếng Hán” với mong muốn có thể làm rõ con đường phát

triển ngữ nghĩa với những chiều kích tâm lý, văn hóa dân tộc liên quan đến sự

phát triển ngữ nghĩa của từ “đầu” thông qua các biểu thức ẩn dụ ý niệm trong

tiếng Việt và tiếng Hán

Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu đã có để tiến hành đối chiếu với tiếng Hán, các kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần củng cố lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận, bước đầu làm rõ những sự tương đồng và khác biệt về đặc trưng tư duy và cách thức tư duy của người Việt Nam và người

Trung Quốc trong cách thức tri nhận về từ chỉ đầu

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu về sự phát triển ngữ nghĩa của từ trong tiếng Việt

Nghiên cứu theo hướng cấu trúc luận: Từ vựng là một bộ phận

được coi là không ổn định nhất trong hệ thống ngôn ngữ, nghĩa của từ cũng vì thế mà không ngừng thay đổi Do đó, những vấn đề liên quan đến ngữ nghĩa cũng rất hấp dẫn các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Theo Lê Quang Thiêm, lịch sử ngôn ngữ học được phân thành 3 thời kỳ chính: thời kỳ tiền cấu trúc luận, thời kỳ cấu trúc luận, thời kỳ hậu cấu trúc luận, trong đó thời kỳ hậu cấu trúc luận gắn với khuynh hướng ngôn ngữ học tri nhận

Nghiên cứu về sự chuyển nghĩa trong tiếng Việt, cuốn sách “Đặc

trưng Văn hóa - Dân tộc của ngôn ngữ và tư duy” (Nxb.Khoa học xã hội,

2010) của tác giả Nguyễn Đức Tồn đã trình bày đặc trưng văn hoá – dân tộc của ngôn ngữ và tư duy tộc người bao gồm các vấn đề về đặc trưng văn hoá – dân tộc của sự phạm trù hoá và định danh thế giới khách quan của ngữ nghĩa

Trang 8

và tư duy ngôn ngữ ở người Việt, có so sánh với những dân tộc khác, trên cơ

sở khảo sát một số trường và nhóm từ vựng - ngữ nghĩa cơ bản Tác giả đã thống kê số lượng nghĩa chuyển, các phương thức chuyển nghĩa từ đó rút ra những nhận định có ý nghĩa Cùng hướng nghiên cứu đó là một số đề tài, luận

văn, luận án như “Đặc điểm trường ngữ nghĩa ẩm thực (trên tư liệu tiếng Hán

và tiếng Việt)” của Ngô Minh Nguyệt Luận án tìm hiểu đặc điểm cấu trúc,

ngữ nghĩa, đặc trưng văn hóa dân tộc của từ ngữ ẩm thực tiếng Hán và tiếng Việt Đồng thời, bước đầu chỉ ra sự khác biệt trong trường nghĩa này của hai

ngôn ngữ Việt-Hán Trịnh Thị Thu Hòa với luận án “Từ ngữ chỉ động vật và

thực vật trong tiếng Sán Dìu” đã bước đầu mô tả một cách có hệ thống về lớp

từ vựng của tiếng Sán Dìu thông qua nhóm từ ngữ chỉ động vật và thực vật Kết quả phân tích ngữ nghĩa các từ ngữ chỉ động, thực vật giúp hình dung phần nào bức tranh phân cắt hiện thực bằng ngôn ngữ của người Sán Dìu

Nghiên cứu theo hướng hậu cấu trúc luận: Năm 1989, hội nghị

khoa học tổ chức tại Duisbury của Đức đã đánh dấu sự ra đời của ngôn ngữ học tri nhận – tên gọi một khuynh hướng ngữ nghĩa coi trọng sự tri nhận trong nghiên cứu ngữ nghĩa Khuynh hướng này đề cao sự tri giác, nhận thức và năng lực của tư duy trong việc phân tích, miêu tả nghĩa của ngôn ngữ Nhìn từ góc độ của Ngôn ngữ học tri nhận, sự phát triển nghĩa của từ được nhắc tới chủ yếu qua các nghiên cứu về ẩn dụ và hoán dụ ý niệm, thuyết nghiệm thân, các cơ chế ánh xạ

Ở Việt Nam, Lý Toàn Thắng là người đầu tiên giới thiệu lý thuyết

Ngôn ngữ học tri nhận tại Việt Nam qua công trình “Ngôn ngữ học tri nhận

nhìn từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt” (Nxb.Khoa học xã hội,

2005) với những khái niệm cơ bản của Ngôn ngữ học tri nhận Nguyễn Thiện

Giáp đã dành một khoảng khá lớn trong cuốn “Phương pháp luận và phương

pháp nghiên cứu ngôn ngữ” (Nxb.Giáo dục, 2009) để đề cập tới những khái

Trang 9

niệm cơ bản của Ngôn ngữ học tri nhận Ngoài ra, cũng có rất nhiều những luận văn, luận án nghiên cứu về sự phát triển ngữ nghĩa của từ dưới góc độ tri nhận Hướng nghiên cứu các ẩn dụ tri nhận gắn với các điển mẫu và phạm trù tỏa tia của ngữ nghĩa học tri nhận, có một số công trình của Nguyễn Thị Bích Hợp (2015), Nguyễn Thị Hương (2017), Nguyễn Thị Hiền (2018) Nguyễn Thị Bích Hợp (2015) đã nghiên cứu khá kỹ về miền ý niệm đồ ăn dưới góc nhìn của Ngôn ngữ học tri nhận Tác giả đã xây dựng cấu trúc miền đồ ăn gồm 5

nhóm lớn với 5 điển mẫu tương ứng: thực thể - cơm; đặc điểm – mặn; đồ dùng – bát; cảm giác – đói; hoạt động – ăn Nguyễn Thị Hương (2017)

nghiên cứu, đối chiếu ẩn dụ ý niệm của phạm trù ăn uống trong tiếng Anh đối chiếu với tiếng Việt, nghiên cứu sự chuyển nghĩa, tỏa tia nghĩa của những điển mẫu là những từ chỉ phạm trù ăn, uống, từ nghĩa gốc, nghĩa chuyển, nghĩa phái sinh đến các ẩn dụ ý niệm trong hai ngôn ngữ

Hầu hết các luận án, luận văn hay các bài nghiên cứu đều kế thừa các

lý thuyết của ngôn ngữ tri nhận để áp dụng nghiên cứu vào thực tiễn, từ đó chứng minh quá trình phát triển và chuyển nghĩa của từ sẽ là chìa khóa để con người tư duy, tri nhận thế giới khách quan

2.2 Tình hình nghiên cứu về sự phát triển ngữ nghĩa của từ trong tiếng Hán

Ở Trung Quốc, ngay từ giai đoạn 1977-1989, từ vựng ngữ nghĩa học

đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Đáng chú ý là quan

điểm của Phù Phó Thanh (符准清) đưa ra trong cuốn “现代汉语词汇” (Từ vựng Hán ngữ hiện đại) xuất bản năm 1985 Tác giả quan niệm từ là đơn vị

nhỏ nhất của ngôn ngữ có nghĩa, dùng để tạo câu Từ có hai mặt là hình thức ngữ âm và khái niệm (nội dung) Theo Phù Chuẩn Thanh, từ trong quá trình

sử dụng chịu rất nhiều những chế định, ảnh hưởng và nghĩa của từ thể hiện ra rất nhiều điểm dị biệt Tuy vậy, trong những điểm dị biệt ấy vẫn có những nét

Trang 10

chung có thể xác định được, đó chính là ý nghĩa của từ Đây là một công trình khảo cứu chuyên sâu về từ vựng ngữ nghĩa học, có ứng dụng lý luận của nước

ngoài vào việc nghiên cứu từ vựng tiếng Hán Có thể nói rằng “Từ vựng Hán

ngữ hiện đại” của Phù Chuẩn Thanh là một trong số ít công trình nghiên cứu

về từ vựng học có tầm ảnh hưởng lớn ở Trung Quốc đương thời và cho đến tận bây giờ

Các công trình nghiên cứu về ngữ nghĩa học có thể kể đến cuốn sách

(邱震强) xuất bản năm 2006 Thành quả nghiên cứu của cuốn sách này chính

là những kiến giải độc đáo về sự phát triển ngữ nghĩa về cả chiều rộng và chiều sâu, tập trung phân tích ngữ tố trong tiếng Hán hiện đại, đưa ra khái niệm trường ngữ nghĩa tổng quát, nghiên cứu ngữ nghĩa dưới trạng thái động

và trạng thái tĩnh Cuốn sách này cũng chỉ ra một số đặc điểm và hướng nghiên cứu mới về ngữ nghĩa, từng bước hoàn thiện hệ thống lý luận nghiên cứu ngữ nghĩa tiếng Hán

Bên cạnh một số công trình nghiên cứu nêu trên, còn có rất nhiều luận văn, luận án, các bài nghiên cứu về sự phát triển nghĩa của từ Luận án

tiến sĩ của 魏慧萍 (Ngụy Huệ Bình) nghiên cứu về đề tài “汉语词义发展演

Luận án đã nghiên cứu sự phát triển nghĩa của từ dưới góc độ tư duy, tri nhận, phát triển lịch sử xã hội, vận dụng phương pháp nghiên cứu đồng đại và lịch đại, mở ra con đường nghiên cứu mở rộng nghĩa của từ, từ đó chỉ ra những

quy luật diễn biến phát triển nghĩa của từ trong tiếng Hán Bài nghiên cứu “

Kinh tế biên cương năm 2010 của Lưu Tái Nam (刘赛男) căn cứ vào lý

Trang 11

thuyết ngôn ngữ học tri nhận đưa ra quan điểm nghĩa của từ được sinh ra dưới

sự tác động của tư duy tri nhận của con người, chỉ ra việc mở rộng nghĩa của

từ còn chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố như môi trường ngôn ngữ, bối cảnh văn hóa, phong cách ngôn ngữ

Đi sâu vào nghiên cứu một vấn đề cụ thể về sự phát triển nghĩa của

từ có thể kể đến nghiên cứu “从认知角度看‘口’的词义演变” (Diễn biến nghĩa của từ “khẩu/miệng” từ góc độ tri nhận) của Lý Lôi (李雷) đăng trên

báo trường đại học Kỹ thuật Nghiệp vụ Diên An Bài nghiên cứu đã tiến hành phân tích có hệ thống diễn biến phát triển nghĩa của từ “khẩu/miệng” nhìn từ góc độ ẩn dụ và hoán dụ của ngôn ngữ học tri nhận, từ đó đưa ra kết luận việc

mở rộng nghĩa của từ về bản chất là một hiện tượng ẩn dụ

Cho đến nay, các công trình nghiên cứu về nguyên nhân của sự chuyển nghĩa trong ngôn ngữ nói chung và trong tiếng Hán nói riêng đã được các nhà nghiên cứu quan tâm và nhắc đến trong các luận án, chuyên đề, Trong luận án tiến sĩ của Kỳ Quảng Mưu cho rằng sự chuyển nghĩa của từ ngữ cũng là phương thức tạo từ mới Dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận, có thể thấy, các nghiên cứu đã vận dụng linh hoạt lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận đem lại nhiều kết quả nghiên cứu đáng ghi nhận

2.3 Tình hình nghiên cứu về từ chỉ đầu và sự phát triển nghĩa của từ chỉ đầu

2.3.1 Những nghiên cứu ở ngoài nước

Nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người từ trước đến nay luôn thu hút sự quan tâm tìm hiểu của giới nghiên cứu trong và ngoài nước Tiêu biểu có thể

kể đến hai cuốn sách của Giáo sư nghiên cứu ngôn ngữ học ứng dụng người

Trung Quốc Ning Yu xuất bản năm 2009 với tựa đề “The Chinese HEART in

a cognitive perspective: Culture, body, and language” (Từ “tim” trong tiếng Hán nhìn về văn hoá, con người và ngôn ngữ) và “From body to meaning in

Trang 12

culture: Papers on cognitive semantic studies of Chinese” (Từ các bộ phận cơ thể người đến ý nghĩa văn hóa: Tài liệu về nhận thức ngữ nghĩa trong tiếng Hán) nghiên cứu về sự chuyển nghĩa của một số bộ phận cơ thể người trong

tiếng Hán

Đi sâu vào tìm hiểu một bộ phận cụ thể là “đầu” cũng có rất nhiều

nghiên cứu Có thể kể đến nghiên cứu của Vương Côn với đề tài “汉语

tiếng Hán) phân tích ý nghĩa ẩn dụ và hoán dụ của từ “đầu” qua việc ánh xạ

đến các miền đích khác nhau, vận dụng lý thuyết về ẩn dụ để khảo sát ngữ nghĩa của từ “đầu” trong tiếng Hán Tiếp cận dưới góc độ đối chiếu có đề tài

nhận và phạm trù ngữ nghĩa của từ “đầu”, “thủ” trong tiếng Hán) của Lưu

Y Na, phân tích phương thức tạo từ của “đầu” và “thủ”, sau đó tiến hành đối chiếu ý nghĩa ẩn dụ với từ “head” trong tiếng Anh Hoàng Lị Bình với đề tài

từ góc độ tri nhận nghiệm thân) đã tiến hành đối chiếu cơ chế ánh xạ của từ

“đầu” trong tiếng Hán và tiếng Anh, phân tích sự mở rộng về mặt ngữ nghĩa

của từ “đầu” trong hai ngôn ngữ này “认知,从开始——浅谈隐喻、

một từ đa nghĩa) của Tiết Phương đã đối chiếu nghĩa mở rộng của từ “đầu”,

khái quát tính tương đồng trong ẩn dụ khi phân tích về từ “đầu” trong tiếng

Hán và tiếng Nhật

Các nghiên cứu đối chiếu về vấn đề này giữa tiếng Hán và tiếng Việt

còn khiêm tốn, có thể kể đến nghiên cứu “从认知角度看汉越人体词

Việt nhìn từ góc độ tri nhận) đăng trên báo trường Đại học Dân tộc Quảng

Trang 13

Tây của Vi Trường Phúc Tác giả đã tiến hành nghiên cứu ẩn dụ của từ “đầu” bằng việc phân tích và đối chiếu cơ chế ánh xạ của từ này tới bốn miền đích là

đồ vật, thời gian, độ lớn, động vật trong tiếng Hán và tiếng Việt, nhưng phân loại còn đơn giản và chưa đề cập đến nguyên nhân của sự khác nhau này

Từ những nghiên cứu nói trên, có thể thấy, ẩn dụ của từ “đầu” trong tiếng Hán hay trong việc đối chiếu giữa tiếng Hán với các ngôn ngữ khác rất

có sức hút đối với các nhà nghiên cứu, nhưng các nghiên cứu trước đó chủ yếu là đặt từ chỉ “đầu” trong việc nghiên cứu chung với nhóm từ chỉ bộ phận

cơ thể người, xem xét nó dưới góc nhìn nội hàm văn hóa, chưa chỉ ra được sự phát triển ngữ nghĩa của từ chỉ “đầu” và đặc trưng tri nhận về từ chỉ “đầu” trong các loại ngôn ngữ sử dụng đối chiếu

2.3.2 Những nghiên cứu ở trong nước

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây có một số bài viết, sách chuyên khảo, luận văn, luận án đề cập đến sự phát triển nghĩa của từ chỉ bộ phận cơ

thể người khi nghiên cứu về từ vựng ngữ nghĩa Có thể kể đến đề tài “Tìm

hiểu thành ngữ tiếng Việt chứa từ chỉ bộ phận cơ thể người trên lý thuyết ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng” của Nguyễn Trung Kiên nghiên

cứu về thành ngữ nói chung và thành ngữ chứa từ chỉ bộ phận cơ thể người nói riêng dựa trên một cái nhìn tổng thể, đa chiều của lý thuyết ba bình diện

ngôn ngữ là ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Đề tài “Sự phát triển ngữ

nghĩa của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận”

của Nguyễn Thị Hiền (2018) nghiên cứu các điển mẫu, là các từ chỉ bộ phận

cơ thể người và cơ chế tỏa tia của các điển mẫu theo hướng tri nhận, phân tích các đặc điểm chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người trên cơ sở mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và tri nhận, góp phần chứng minh ẩn dụ, hoán dụ tri nhận không chỉ là vấn đề của ngôn ngữ mà còn là vấn đề của tư duy, nhận

thức Về đối chiếu, có thể kể đến một số đề tài như “Khảo sát đặc trưng từ,

Trang 14

ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt liên hệ chuyển dịch sang tiếng Anh” của Phạm Thị Tuyết Thanh; “Từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người trong tục ngữ, ca dao tiếng Hán và tiếng Việt dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận”

của Liêu Thị Thanh Nhàn, “Nghiên cứu so sánh đối chiếu ẩn dụ trong tiếng

Việt và tiếng Hán từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận (trên tư liệu bộ phận cơ thể người)” của Trịnh Thị Thanh Huệ

Tuy nhiên, những nghiên cứu trong nước tập trung tìm hiểu về một bộ

phận của cơ thể người lại chưa có nhiều Bài nghiên cứu với tiêu đề “Thành

ngữ tiếng Việt có từ chỉ "tay", "chân" với đặc trưng văn hoá dân tộc” của tác

giả Nguyễn Thị Thu đăng trên trang tin điện tử Liên hiệp các Hội Khoa học

và Kỹ thuật Việt Nam đã xem xét các thành ngữ có từ chỉ tứ chi người với

những ý nghĩa khác nhau thể hiện bản sắc văn hoá dân tộc và cốt cách của

con người Việt Nam Về đối chiếu có đề tài “Định danh chuyển nghĩa của từ

‘tay’ trong tiếng Việt và các từ tương đương trong tiếng Anh” của Nguyễn

Văn Hải đăng trên chuyên mục Ngoại ngữ với Bản ngữ của Tạp chí Ngôn

ngữ&Đời sống số 4(234)-2015 Bài báo phân tích sự chuyển nghĩa ẩn dụ và

hoán dụ của từ “tay” trong tiếng Việt và “arm”, “hand” trong tiếng Anh

Như vậy, có thể thấy, nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người đã được nghiên cứu theo nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, nghiên cứu về sự phát triển nghĩa của riêng một bộ phận (ở đây là từ chỉ đầu) lại chưa được đề cập một cách chi tiết và hệ thống, sự chuyển nghĩa của của từ chỉ đầu cũng có được nhắc đến trong một vài công trình nhưng nó diễn ra theo con đường nào, nguyên nhân dẫn đến sự phát triển nghĩa này là do đâu lại chưa được giải thích cụ thể Từ những lý do trên, luận văn đã lựa chọn triển khai nghiên cứu

về sự phát triển nghĩa của từ chỉ đầu trong tiếng Việt, và tiến thêm một bước

là tiến hành đối chiếu với tiếng Hán

Trang 15

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu: Chỉ ra con đường phát triển nghĩa của từ “đầu” trong tiếng Việt và từ “” trong tiếng Hán, trên cơ sở đó tìm ra những

nguyên nhân tương đồng và khác biệt trong tư duy tri nhận của người Việt Nam và Trung Quốc, từ đó xác định đặc điểm tri nhận, đặc trưng văn hóa của hai dân tộc Việt-Trung

- Nhiệm vụ nghiên cứu: Qua việc phân tích những ý nghĩa cụ thể của từ

chỉ đầu trong tiếng Việt và tiếng Hán ở những ngữ cảnh khác nhau, luận văn

sẽ cố gắng chỉ ra sự phát triển ngữ nghĩa của từ “đầu” qua mô hình tỏa tia, từ

đó tiến hành đối chiếu ý nghĩa ẩn dụ, để tìm ra sự phát triển ngữ nghĩa của từ

chỉ đầu trong hai ngôn ngữ trên Qua khảo sát khối liệu từ vựng tiếng Việt và tiếng Hán có chứa từ chỉ đầu, luận văn chỉ ra con đường và sự chuyển di nghĩa phái sinh của từ “đầu” thông qua việc xây dựng các mô hình ẩn dụ ý

niệm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu của luận văn là từ chỉ

đầu (thủ) trong tiếng Việt và tiếng Hán

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu sự phát triển ngữ

nghĩa của từ chỉ đầu trong tiếng Việt và tiếng Hán qua phương thức chuyển

nghĩa cơ bản là ẩn dụ

- Phạm vi ngữ liệu nghiên cứu: Luận văn khảo sát các từ chỉ đầu và các nghĩa phái sinh của từ chỉ đầu trong Từ điển Tiếng Việt (Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, Nxb Đà Nẵng, 2013) và Từ điển tiếng Hán (Từ điển Hán ngữ

hiện đại của của Nxb Thương vụ, 2014); khảo sát các ngữ có chứa từ chỉ đầu

trong các cuốn thành ngữ tiếng Việt (1 Từ điển giải thích thành ngữ tiếng

Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998, Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn Khang,

Trang 16

Phan Xuân Thành; 2 Từ điển thành ngữ tiếng Việt, 1978, Nguyễn Lực-Lương Văn Đang) và tiếng Hán (Thành ngữ đại từ điển, Nxb Thương vụ, 2013)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp miêu tả: được dùng để miêu tả và phân tích sự phát triển

ngữ nghĩa, cơ chế chuyển nghĩa của từ chỉ đầu trong tiếng Việt và tiếng Hán

- Phương pháp phân tích nghĩa tố: Phương pháp phân tích nghĩa tố

phân xuất ý nghĩa của từ thành các nghĩa tố, từ đó xác định được sự biến đổi

về ý nghĩa, cơ chế chuyển nghĩa của từ chỉ đầu trong tiếng Việt và tiếng Hán

Phương pháp này được coi là phương pháp nghiên cứu chính trong luận văn

- Phương pháp phân tích ý niệm: Phương pháp này được sử dụng để

phân tích các ý niệm và chỉ ra sự chuyển di các nét thuộc tính từ miền nguồn

sang miền đích trong các biểu thức ẩn dụ ý niệm có chứa từ chỉ chỉ đầu trong

tiếng Việt và tiếng Hán

- Thủ pháp thống kê: Thủ pháp này được dùng để thống kê những ý

nghĩa cùng hệ thống những ẩn dụ ý niệm của từ chỉ đầu trong tiếng Việt và tiếng Hán

- Thủ pháp so sánh: Thủ pháp này được sử dụng để chỉ ra những điểm

khác biệt và tương đồng trong những ý nghĩa của từ chỉ đầu trong tiếng Việt

và tiếng Hán, từ đó chỉ ra cơ chế chuyển di nghĩa và chiếu xạ của từ chỉ đầu trong hai ngôn ngữ trên

- Thao tác quy nạp, phân tích: thao tác này được dùng sau khi đã tiến

hành đối chiếu hai ngôn ngữ để tổng kết và phân tích những đặc điểm tri nhận

và đặc trưng văn hóa Việt-Trung

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

- Về ý nghĩa lý luận: Các kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần

làm rõ thêm một số vấn đề lý thuyết về sự phát triển ngữ nghĩa của từ chỉ đầu trong tiếng Việt và tiếng Hán, củng cố lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận,

Trang 17

giúp chúng ta tìm ra những đặc điểm về tư duy tri nhận thế giới khách quan của hai cộng đồng ngôn ngữ, qua đó đóng góp và bổ sung những kết quả nghiên cứu ẩn dụ tri nhận về các bộ phận cơ thể người

- Về ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể giúp cho

người học tiếng Việt và tiếng Hán biết cách sử dụng những từ có chứa yếu tố

“đầu” chuẩn xác hơn, đa dạng hơn, sâu sắc hơn trong ngữ cảnh giao tiếp phù hợp tạo hiệu quả giao tiếp tốt nhất Mặt khác, kết quả nghiên cứu của luận văn

có thể được ứng dụng trong nghiên cứu, giảng dạy tiếng Việt hoặc tiếng Hán, rộng hơn là giới thiệu về ngôn ngữ và văn hóa Việt- Trung

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và ngữ liệu khảo sát, luận văn được bố cục thành 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý thuyết

Chương 2 Nghĩa của từ “đầu” trong tiếng Việt và “” trong tiếng

Hán

Chương 3 Ẩn dụ ý niệm của từ “đầu” trong tiếng Việt và “” trong

tiếng Hán

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Một số vấn đề cơ bản về nghĩa của từ

1.1.1 Nghĩa của từ

Nghĩa của từ là một hệ thống các nét có quan hệ qua lại với nhau

Hoàng Phê [25] đã phân tích ngữ nghĩa của từ mẹ để có được một cái nhìn cụ thể về cấu trúc của nghĩa từ Mẹ có thể phân tích thành ba nét nghĩa: [phụ nữ], [đã có con], [nói trong mối quan hệ với con] Giữa ba nét nghĩa trên có mối

quan hệ trật tự nhất định Nét nghĩa đứng trước là tiền đề cho nét nghĩa đứng sau, nét nghĩa đứng sau thuyết minh, cụ thể hóa nét nghĩa đứng trước Quan

hệ quy định lẫn nhau này của các nét là “một quan hệ tĩnh, trong nội bộ

nghĩa của từ, xét một cách cô lập” [25] Khi từ hoạt động để tạo thành các tổ

hợp từ lớn hơn, giữa các nét nghĩa của từ cần có một loại quan hệ khác vô

cùng quan trọng: “quan hệ cấp bậc”

Hoàng Phê đã nhấn mạnh: “Giữa hai loại quan hệ, trật tự và cấp bậc

không nhất thiết có sự tương ứng, mà trái lại thường có mâu thuẫn” [25] Khi

từ được đặt trong một ngữ cảnh cụ thể, không phải lúc nào mọi nét nghĩa xét trong quan hệ tĩnh cũng đều tham gia vào việc thực hiện chức năng thông báo

Chẳng hạn, khi từ “mẹ” thực hiện chức năng thông báo, có thể là cả ba nét

nghĩa nhưng cũng có thể chỉ có hai, thậm chí một nét nghĩa trong cấu trúc biểu niệm của nó được hiện thực hóa

Nói tóm lại, nghĩa của từ được Hoàng Phê [25] kết luận như sau:

“Nghĩa của từ , nói chung:

a Là một tập hợp những nét nghĩa có quan hệ quy định lẫn nhau;

b Giá trị của các nét nghĩa không như nhau (giữa các nét nghĩa có quan hệ cấp bậc), biểu hiện ở khả năng tham gia khác nhau vào việc thực hiện chức năng thông báo;

Trang 19

c Các nét nghĩa có tính độc lập tương đối, biểu hiện ở khả năng độc lập tổ hợp và tác động qua lại với những nét nghĩa của những từ khác khi từ

tổ hợp với nhau.”

Quan niệm của Hoàng Phê cho thấy cấu trúc của nghĩa từ là một cấu trúc động, nghĩa là khi từ hoạt động, thường chỉ có một số nét nghĩa trong nghĩa của từ có khả năng hiện thực hóa Và nét nào của từ được hiện thực hóa

là tùy thuộc vào ngữ cảnh, cụ thể là “tùy vào chức năng của từ trong ngữ”,

tùy vào quan hệ cú pháp của từ với các từ khác, tùy nội dung ngữ nghĩa của những từ kết hợp với nó Như vậy, cấu trúc ngữ nghĩa của một từ có liên quan chặt chẽ đến hoạt động ngữ pháp của nó Điều này không chỉ Hoàng Phê mà các nhà ngữ nghĩa học hiện đại đều công nhận

Đỗ Hữu Châu khi nói về mối quan hệ giữa ý nghĩa biểu niệm và ý

nghĩa ngữ pháp đã khẳng định: “Những nét nghĩa trong ý nghĩa biểu niệm

chung cho nhiều từ không chỉ có tính từ vựng mà cũng có tính ngữ pháp” [2,

tr.119] bởi những nét nghĩa khái quát trong cấu trúc biểu niệm (sự vật, hoạt động, tính chất) chính là ý nghĩa từ loại hay ý nghĩa ngữ pháp của từ Tác giả

cũng nhấn mạnh rằng “bản thân những nét nghĩa trong ý nghĩa biểu niệm và

quan hệ giữa chúng có tác dụng quy định cách dùng từ, qui định cách kết hợp của nó với các từ khác trong câu” [2, tr.119] Các từ chỉ có thể tạo thành

những tổ hợp chấp nhận được trong thực tế khi giữa chúng có sự tương hợp

về ngữ nghĩa Nói như JU.D Aprexjan: “Hạn chế về kết hợp của những từ

khác nhau trong lời nói là sự vắng mặt trong ý nghĩa của chúng những thành

tố nghĩa chung hoặc là sự có mặt của các thành tố nghĩa không dung hòa được nhau” [19]

Cuối cùng, chúng tôi xin nhấn mạnh quan điểm của Hoàng Phê, “nghĩa

của từ xem ra nên quan niệm là một tiềm năng Có những nét nghĩa hầu như luôn luôn được hiện thực hóa, bên cạnh những nét nghĩa chỉ được hiện thực

Trang 20

hóa trong những trường hợp nhất định, có khi là những trường hợp rất hãn hữu Định nghĩa từ điển của từ nhiều lắm cũng chỉ có thể nêu được những nét nghĩa có khả năng hiện thực hóa trong những trường hợp điển hình” [25] 1.1.2 Sự chuyển biến ý nghĩa của từ

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, hiện tượng nhiều nghĩa là kết quả của sự chuyển biến ý nghĩa của từ Từ (đơn hoặc phức) lúc đầu mới xuất hiện đều chỉ

có một nghĩa biểu vật Sau một thời gian được sử dụng, nó có thể có thêm những nghĩa biểu vật mới Các nghĩa biểu vật mới xuất hiện ngày càng nhiều thì nghĩa biểu niệm của nó càng có khả năng biến đi [2, tr.147]

Giữa nghĩa đầu tiên với các nghĩa mới có thể diễn ra sự biến đổi theo kiểu móc xích Phần lớn các trường hợp của từ chuyển biến theo lối “tỏa ra” nghĩa là các nghĩa mới đều dựa vào nghĩa đầu tiên mà xuất hiện Sự chuyển nghĩa có thể dẫn tới kết quả là ý nghĩa sau khác hẳn với nghĩa trước, thậm chí ngay cùng một từ sự chuyển nghĩa có thể khiến cho nó trở thành đồng nghĩa với cái từ trái nghĩa trước kia của nó Khi các nghĩa chuyển biến còn liên hệ với nhau, sự chuyển nghĩa có thể làm cho ý nghĩa của từ mở rộng ra hoặc thu hẹp lại.[2, tr.149 -150]

Chuyển nghĩa từ vựng là một trong những nội dung cơ bản của ngôn ngữ học truyền thống Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp và Đỗ Hữu Châu, sự phát triển nghĩa của từ chủ yếu dựa vào hai phương thức ẩn dụ và hoán dụ Cụ thể:

- Phương thức ẩn dụ

“Phương thức ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa lấy tên gọi A của

x để gọi tên y (để biểu thị y), nếu như x và y giống nhau Các sự vật được gọi tên, tức x và y, không có liên hệ khách quan, chúng thuộc những phạm trù hoàn toàn khác nhau Sự chuyển tên gọi diễn ra tùy thuộc vào nhận thức có tính chất chủ quan của con người về sự giống nhau giữa chúng” [2, tr.156]

Trang 21

Ví dụ: từ “đầu” có nghĩa gốc chỉ bộ phận cơ thể người hay động vật,

ở vị trí đầu tiên, trước hết, có chứa được chuyển nghĩa sang để chỉ các sự vật

hiện tượng khác dựa trên sự tương đồng về hình dáng và chức năng: đầu máy, đầu làng, đầu câu chuyện, đứng hàng đầu…

- Phương thức hoán dụ

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, phương thức chuyển nghĩa “Hoán dụ là

phương thức chuyển nghĩa lấy tên gọi A của x để gọi y nếu x và y đi đôi với nhau trong thực tế Mối liên hệ đi đôi với nhau giữa x và y là có thật, không tùy thuộc vào nhận thức của con người Cho nên các hoán dụ có tính khách quan hơn các ẩn dụ” [2, tr.156]

Có thể thấy rằng, vấn đề nghĩa và chuyển nghĩa là một trong những nội dung trọng tâm của ngôn ngữ học cấu trúc Tuy nhiên, ngôn ngữ học cấu trúc mới chỉ xem chuyển nghĩa của từ là quá trình chuyển đổi tên gọi thông qua các phương thức ẩn dụ và hoán dụ mà chưa chú trọng đến quá trình tư duy của con người, đến đặc trưng tri nhận của con người trong việc tạo nghĩa mới cho từ

Ngôn ngữ học tri nhận coi trọng vai trò chủ thể của con người trong việc kiến tạo và lưu giữ nghĩa Nghĩa được bộc lộ trong hoạt động hành chức, trong quá trình con người thực hiện hoạt động giao tiếp Như vậy, nghĩa theo ngôn ngữ học tri nhận là ở trong tư duy con người, trong hoạt động hành chức của từ Vì vậy, trong ngôn ngữ học tri nhận, hiện tượng chuyển nghĩa của từ

cũng thuộc tư duy, ý thức của con người Theo Gibbs [46] khẳng định “hiện

tượng chuyển nghĩa không tồn tại với tư cách là những đơn vị nghĩa độc lập trong hệ thống từ vựng mà về bản chất chúng là những bộ phận của hệ thống các khái niệm đã được ẩn dụ hóa”

Theo quan điểm này, các nghĩa chuyển có quan hệ với nhau theo cách nhất định dựa trên cơ chế tri nhận ẩn dụ và hoán dụ Chúng được tổ chức

Trang 22

sắp xếp theo một hệ thống giống như cách thức tổ chức nghĩa trong tư duy con người Sơ đồ ý niệm giúp chúng ta sắp xếp tổ chức các nghĩa trong từ nhiều nghĩa, giúp chúng ta hiểu được các nghĩa lời nói, nghĩa từ điển của từ được tổ chức sắp xếp theo quy tắc nhất định

Chính quan niệm này đã định hướng việc nghiên cứu bản chất của hiện tượng chuyển nghĩa Theo đó, các nghĩa chuyển ẩn dụ và hoán dụ có thể được miêu tả rõ ràng hơn thông qua lược đồ tri nhận qua mối liên hệ giữa ý niệm nguồn và ý niệm đích

1.2 Một số lý thuyết cơ bản về ẩn dụ ý niệm

1.2.1 Ý niệm và ý niệm hóa

Ý niệm (concept) là một trong những khái niệm quan trọng của ngôn ngữ học tri nhận (congnitive linguistics) Theo ngôn ngữ học tri nhận, ý niệm

được hình thành trong ý thức con người, “là đơn vị nội dung của bộ nhớ động,

của từ vựng tinh thần và của bộ não, của toàn bộ bức tranh thế giới được phản ánh trong tâm lý con người” [3, tr.139]

Ý niệm là đơn vị của ý thức, có cấu trúc bao gồm 3 thành tố: cảm

xúc, trí tuệ, ý chí Tác giả Trần Văn Cơ cho rằng : “ý niệm có cấu trúc trường

- chức năng được tổ chức theo mô hình trung tâm và ngoại vi Có thể hình dung trường chức năng của ý niệm như một vòng tròn to chứa vòng tròn nhỏ

ở tâm và những vòng tròn nhỏ khác giao nhau ở ngoại vi Hạt nhân là khái niệm, nằm ở trung tâm của trường - chức năng, mang tính phổ quát, toàn nhân loại Nằm ở ngoại vi là những yếu tố mang nét đặc thù văn hóa dân tộc” [3, tr.141]

Ý niệm được hình thành trong ý thức của con người, cơ sở của ý niệm là kinh nghiệm cảm tính trực tiếp mà con người thu nhận được thông qua quá trình tri giác thế giới bằng các cơ quan cảm giác, thông qua hoạt động

tư duy và hoạt động giao tiếp dưới hình thức ngôn ngữ

Trang 23

Vậy, ý niệm là “cái chứa đựng” sự hiểu biết của con người về thế giới được hình thành trong ý thức trong quá trình tri nhận và hiện thân trong ngôn ngữ Trong ý niệm có cái phổ quát (khái niệm) và cái đặc thù (văn hóa được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau)

1.2.2 Thuyết nghiệm thân

Nghiệm thân (Embodiment) là khái niệm có vai trò quan trọng trong ngôn ngữ học tri nhận Thuật ngữ Embodiment được Lakoff và Johnson đề cập trong công trình Philosophy in the flesh (Triết học trong thân xác) Theo Lakoff và Johnson, khái niệm nghiệm thân liên quan đến quá trình con người lấy các bộ phận của cơ thể và sự trải nghiệm của thân xác để định hình hệ thống ý niệm và tư duy Lakoff và Johnson cho rằng nghiệm thân gồm hai yếu

tố chính, đó là những tiếp nhận của con người với thế giới khách quan và đồng thời là sự trải nghiệm trong cuộc sống để hình thành hệ thống tư duy và nhận thức

Ở Việt Nam, thuyết nghiệm thân đã được tác giả Nguyễn Thiện Giáp

nhắc đến trong cuốn “Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn

ngữ” với thuật ngữ hiện thân Tác giả cho rằng “Tính hiện thân (embodyment)

là một tư tưởng trung tâm của ngôn ngữ học tri nhận” và đó là tư tưởng

“nhấn mạnh tầm quan trọng của kinh nghiệm loài người, tính trung tâm của

thân thể con người” [4, tr.211 – 212] Trong hai bài viết gần đây, tác giả

Nguyễn Văn Hiệp đã dùng giả thuyết nghiệm thân để nghiên cứu những con

đường phát triển ngữ nghĩa của hai từ “ra” và “vào” trong tiếng Việt [13&14]

và khẳng định trong vốn từ vựng hằng ngày của tiếng Việt, có vô số những trường hợp chứng minh cho giả thuyết nghiệm thân như vậy

Như vậy, có thể hiểu nghiệm thân là quá trình tương tác không ngừng giữa tư duy, thân thể với môi trường sống bên ngoài, cùng với sự vận

Trang 24

hành của các hoạt động, từ đó tạo nên một hệ thống tri nhận với các cấu trúc ý niệm và ngôn ngữ

phương thức của tư duy, là công cụ để ý niệm hóa thế giới “Theo Lakoff, ẩn

dụ ý niệm (conceptual metaphor) là các ánh xạ có tính hệ thống giữa hai miền ý niệm: miền nguồn là một phạm trù trải nghiệm được ánh xạ hay phóng chiếu vào miền đích là một miền trải nghiệm khác” [dt 4, tr.240]

Lakoff & Johnson (1980) khẳng định, “Ẩn dụ ý niệm có thể mở rộng

vượt ra ngoài cách nghĩ và cách nói theo nghĩa đen thông thường để đi vào phạm vi của những gì được gọi là lối suy nghĩ và ngôn ngữ bóng bẩy, thơ mộng và huyền ảo” [dt 44, tr.13] Hay “Ẩn dụ là một công cụ tri nhận, nghĩa

là nó không chỉ là một phương cách biểu thị các tư tưởng bằng ngôn ngữ mà còn là một phương cách để tư duy về các sự vật; rằng hệ thống ý niệm đời thường của chúng ta, mà trong khuôn khổ của nó chúng ta suy nghĩ và hành động, về bản chất là ẩn dụ” [dt 44, tr 3]

Như vậy, nói một cách khái quát, ẩn dụ ý niệm là một trong hai cơ chế tri nhận quan trọng của con người, là kết quả của quá trình ánh xạ từ phạm trù này (miền nguồn) sang phạm trù khác (miền đích)

1.2.4 Miền nguồn – miền đích

Trong cuốn Metaphor – a practical introduction [49], Kovesces đã

thực hiện một khảo sát về những miền nguồn và miền đích chủ yếu trong ẩn

Trang 25

dụ ý niệm và chỉ ra được 13 miền nguồn phổ biến (bộ phận cơ thể người, sức khỏe, động vật, thực vật, xây dựng, công cụ/máy móc, trò chơi/thể thao, tiền/giao dịch kinh tế, ẩm thực, nóng/lạnh, sáng/tối, lực tác động, sự di chuyển) và 13 miền đích phổ biến (cảm xúc, tham vọng, đạo đức, tư duy, xã hội/quốc gia, chính trị, kinh tế, mối quan hệ con người, giao tiếp, thời gian, cuộc sống/cái chết, tôn giáo, sự kiện/hành động)

Như vậy, có thể hiểu, miền nguồn là một tập hợp các thực thể trực quan, dễ nhận biết, mang tính cụ thể, còn miền đích lại mang tính trừu tượng, khó nhận biết, mới mẻ

Nếu như miền nguồn có tính cụ thể dễ nhận biết thì miền đích lại mang tính trừu tượng, khó nhận biết và mới mẻ Thông qua các ánh xạ giữa miền nguồn và miền đích, chúng ta có thể nhận thức một cách dễ dàng hơn về các khái niệm phức tạp ở miền đích Đây chính là một căn cứ quan trọng để

luận văn có thể xây dựng được các mô hình ẩn dụ ý niệm của từ chỉ đầu trong

hai ngôn ngữ Việt - Trung

Có hai loại ánh xạ: ánh xạ ý niệm và ánh xạ hình ảnh, cả hai đều phục tùng nguyên tắc bất biến Ánh xạ ẩn dụ theo nguyên tắc một hướng là sơ

đồ hình ảnh của miền nguồn được ánh xạ lên miền đích chứ không ngược lại

Sự ánh xạ không võ đoán, cơ sở tri nhận của những ánh xạ ẩn dụ ý niệm là kinh nghiệm hay nền tảng kinh nghiệm

Trang 26

1.2.6 Lược đồ hình ảnh

Để hiểu rõ ánh xạ ý niệm thì chúng ta cần tìm hiểu khái niệm lược

đồ hình ảnh Các nhà nghiên cứu cho rằng lược đồ hình ảnh vượt ra ngoài phạm vi của lý thuyết ngôn ngữ, theo nghĩa là chúng có thực tạo về mặt tâm

lý mà được chứng minh bằng nghiên cứu thực nghiệm trong ngôn ngữ - tâm

lý học, tâm lý học tri nhận và tâm lý phát triển

Theo Lakoff &Tuner [43], lược đồ hình ảnh là một cấu trúc có tính chất lặp đi lặp lại và nó dựa trên kinh nghiệm của con người Những miền

thiếu hình ảnh như “thời gian, sự sống, cái chết ” được gọi là miền trừu

tượng hay vô ảnh Còn các miền tạo nên hình ảnh thì mang tính nghiệm thân Lược đồ hình ảnh không phải là các hình ảnh cụ thể mà là trừu tượng theo nghĩa là các lược đồ trong nhận thức, biểu trưng cho các mô hình lược đồ xuất

phát từ các miền hữu ảnh chẳng hạn như “vật chứa, đường đi, lực đẩy, cân

1.2.7 Phân loại ẩn dụ ý niệm

Lakoff và Johnson [44] chia ẩn dụ ý niệm thành ba loại chính sau:

- Ẩn dụ cấu trúc (Structural metaphors) “là tạo ra một cấu trúc ý

niệm này từ một cấu trúc ý niệm khác, dùng các từ ngữ thuộc vùng ý niệm này

để bàn về ý niệm khác” [4, tr.243] Ví dụ, ẩn dụ ý niệm TRANH LUẬN LÀ

CHIẾN TRANH), trong đó CHIẾN TRANH thuộc miền nguồn, TRANH

Trang 27

LUẬN thuộc miền đích Ý niệm CHIẾN TRANH giúp chúng ta hiểu nghĩa của ý niệm TRANH LUẬN [44, tr.4]

- Ẩn dụ định hướng (Orientational metaphors) “cấu trúc hóa một số

miền và tạo nên một hệ thống ý niệm hóa chung cho chúng, chúng liên quan đến việc định hướng trong không gian với những đối lập kiểu như lên - xuống, vào - ra, sâu - cạn, trung tâm - ngoại vi” [4, tr.319] Ví dụ, ẩn dụ định hướng

VUI LÀ HƯỚNG LÊN, BUỒN LÀ HƯỚNG XUỐNG với các biểu thức như: mắt sáng rực lên; đôi mi cụp xuống, lòng trĩu nặng…

- Ẩn dụ bản thể (Ontological metaphors) là trường hợp mà những khái niệm trừu tượng như hoạt động, cảm xúc, tư tưởng được thể hiện như cái

gì đó cụ thể, chẳng hạn như một đồ vật, một chất liệu, một vật chứa hay một con người Vật chứa thông thường được hiểu là những thực thể vật lý bị hạn chế trong một không gian nhất định và tách biệt khỏi thế giới còn lại bởi bề mặt của nó Mỗi con người là một vật chứa bị hạn chế bởi bề mặt của thân thể, cái vật chứa này có khả năng định hướng kiểu “trong – ngoài” Ví dụ: KANSAS LÀ VẬT CHỨA

Tiểu kết chương

Trong chương này, chúng tôi đã tổng kết lại những nghiên cứu trong

và ngoài nước liên quan đến tài Chúng tôi nhận thấy, các nhà nghiên cứu đã

dành nhiều sự quan tâm đối với từ chỉ đầu, và điều này đã cho thấy vai trò

quan trọng của nhóm từ này trong ngôn ngữ học nói chung và ngôn ngữ học tri nhận nói riêng

Tiếp đó, chương 1 của luận văn đã đưa ra những lý thuyết cơ bản có liên quan đến đề tài, với mục đích sử dụng những lý thuyết này để tiến hành

phân tích phương thức chuyển di ý nghĩa của từ chỉ đầu trong tiếng Việt của

tiếng Hán Những vấn đề lý thuyết được nêu ra trong chương 1 gồm:

Trang 28

- Lý thuyết về nghĩa của từ và sự phát triển nghĩa của từ, nhấn mạnh quan điểm của tác giả Nguyễn Thiện Giáp và Đỗ Hữu Châu về sự chuyển nghĩa của từ chủ yếu dựa vào hai phương thức ẩn dụ và hoán dụ, bên cạnh đó cũng đề cập đến cách nhìn của ngôn ngữ học tri nhận về hiện tượng chuyển nghĩa, đó là các nghĩa chuyển có quan hệ với nhau theo cách nhất định dựa trên cơ chế tri nhận ẩn dụ và hoán dụ

- Một số lý thuyết cơ bản về ẩn dụ ý niệm: ý niệm và ý niệm hóa, thuyết nghiệm thân, khái niệm ẩn dụ ý niệm, miền tri nhận, miền nguồn, miền đích, ánh xạ, lược đồ hình ảnh, phân loại ẩn dụ ý niệm

Trang 29

là khối mềm màu trắng đục chứa ở trong hộp sọ, cơ sở của hoạt động thần

kinh cấp cao Có thể nói đầu chính là cơ quan tổng chỉ huy tất cả các giác quan và các bộ phận trên cơ thể con người và là đầu mối chỉ huy tất cả các hoạt động hành vi cùng các chức năng sinh lý của con người và động vật, đặc biệt là trí tuệ, tư duy và ngôn ngữ vốn chỉ có ở con người cũng được quyết định bởi đại não Trong quá trình tri nhận về thế giới và mọi vật xung quanh, người Việt Nam và Trung Quốc đặc biệt coi trọng đầu, coi đầu là điểm khởi đầu của tất cả vạn vật trên thế gian, là cội nguồn của mọi hoạt động Như vậy,

có thể thấy, từ chỉ đầu trong tiếng Việt và tiếng Hán gồm có: “đầu ()”,

Từ điển tiếng Việt [26] và Từ điển Hán ngữ hiện đại [60], chúng tôi nhận thấy

khả năng kết hợp từ của “đầu/” là mạnh nhất, “thủ/” yếu hơn và có

nhiều nét nghĩa và cách biểu đạt tương đồng, còn “óc/大脑”, “não/, 脑筋”,

biến trong giao tiếp hàng ngày, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu đối chiếu sự

phát triển nghĩa, những ẩn dụ ý niệm liên quan đến từ “đầu/”, cùng những

cách biểu đạt tương đồng với từ “đầu/” của từ “thủ/

2.1 Quá trình phát triển nghĩa của từ “đầu” trong tiếng Việt

Theo Từ điển tiếng Việt [26, tr.398], từ “đầu” có 9 nghĩa, với nghĩa

gốc là chỉ sự nhận thức, phản ánh chỉ vật (referent) – đầu của người và động vật Cụ thể như sau:

Trang 30

(1) Bộ phận cơ thể người, phần trên cùng, phía trước, cơ quan trung ương, nơi có bộ óc và nhiều giác quan khác của cơ thể con người hay phần trước nhất của thân thể động vật

(2) Đầu của con người, coi là biểu tượng của suy nghĩ, nhận thức (dùng

hạn chế trong một số tổ hợp) Vấn đề đau đầu Cứng đầu

(3) Phần có tóc mọc ở trên đầu con người; tóc (nói tổng quát) Gãi đầu

gãi tai Chải đầu Mái đầu xanh Đầu bạc

(4) Đầu là phần trước nhất hoặc phần trên cùng của một số vật Đầu

máy bay Trên đầu tủ Sóng bạc đầu

(5) Phần có điểm xuất phát của một khoảng không gian hoặc thời gian,

đối lập với cuối Đi từ đầu tỉnh đến cuối tỉnh Nhà ở đầu làng Đầu mùa thu

Những ngày đầu tháng

(6) Phần ở tận cùng, giống nhau ở hai phía đối lập trên chiều dài của

một vật Hai bên đầu cầu Nắm một đầu dây Trở đầu đũa

(7) Vị trí hoặc thời điểm thứ nhất, trên hoặc trước tất cả những vị trí,

thời điểm khác Hàng ghế đầu Lần đầu Tập đầu của bộ sách Đếm lại từ đầu

Dẫn đầu

(8) Từ dùng để chỉ từng đơn vị để tính đổ đồng về người, gia súc, đơn

vị diện tích Sản lượng tính theo đầu người Mỗi lao động hai đầu lợn Tăng

số phân bón trên mỗi đầu mẫu

(9) Từ dùng để chỉ từng đơn vị máy móc, nói chung (kết hợp hạn chế)

Đầu máy khâu Đầu video Đầu đọc Đầu cắm

Theo tác giả Lê Quang Thiêm [35], quá trình phát triển nghĩa của từ

“đầu” có sự mở rộng, đa dạng theo thời gian tuyến dẫn xuất Cụ thể:

• Từ “đầu” năm 1931, trước năm 1945 có các nghĩa với quan hệ sau: 1

Phần trên nhất trong thân thể người ta và các loài động vật – Tiếng cổ gọi là

trốc, 2 Dùng để chỉ từng đơn vị một: Mấy đầu con, mấy đầu gậy Tôm kể đầu,

Trang 31

rau kể mớ 3 Nghĩa rộng: Ở trên hết, trước hết, hay là cùng hết: Đầu núi, đầu tháng, đầu làng, v.v (Việt Nam Tự điển – Hội Khai Trí)

• Hơn 30 năm sau, nghĩa của từ “đầu” được miêu tả như sau: “ I d 1

Phần trên nhất của thân thể người hay phần trước nhất của thân thể loài vật ở

đó có hệ thần kinh trung ương; phần lớn các giác quan và nối vào thân bằng cổ; 2 Chỗ cao nhất của phần nói trên (ngh1) ở đó có tóc; 3 Bộ phận bên trong của phần nói trên, thường nói về mặt ý nghĩ, tư duy; 4 Đơn vị gia súc, thường nói trong một đàn; 5 Phần trên nhất, trước nhất của một vật, một thời gian; Phần trước nhất và phần cuối; 6 Phần tốt nhất; II Phần trên hết (Từ điển Tiếng Việt – Văn Tân)” Dù chỉ 6 nghĩa cùng với sự phân biệt hai từ loại nhưng cũng có thể coi đây là bước phát triển, phát triển hiện thực nghĩa của từ

và sự nhận thức, phân tích của nhà từ điển – nghĩa học để có kết quả miêu tả trên

• Cho đến nay, theo từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, từ “đầu”

được miêu tả thành 9 nghĩa (như trình bày bên trên) Nghĩa (1) được coi là nghĩa gốc cũng là nghĩa cơ bản Trong nghĩa (1) này có hai nét nghĩa quan trọng, một là vị trí “trên cùng” hay “phần trước nhất” của người và động vật, hai là nét nghĩa “có bộ óc và nhiều giác quan khác” Chính hai nét nghĩa quan trọng, khái quát này sẽ là “điểm tựa” để tạo ra các nghĩa phái sinh theo tuyến dẫn xuất khác nhau:

- Tuyến thứ nhất phái sinh theo vị trí cụ thể của người: (2) Đầu, tóc (đội trên đầu, đầu tóc, gãi đầu gãi tai); (3) Theo vị trí cụ thể tận cùng của vật (đầu

tủ, đầu nhà, đầu làng…); (4) Theo vị trí đầu của thời gian (đầu năm, đầu xuân…); (5)Theo vị trí thứ tự (đứng đầu, dẫn đầu)

- Tuyến thứ hai phái sinh theo chức năng, tầm quan trọng: (6) Vai trò điều khiển (cầm đầu, đầu não); (7) Biểu trưng cho khả năng trí tuệ, ý chí (cứng đầu, có đầu, vấn đề đau đầu,…)

Trang 32

- Tuyến thứ ba phái sinh theo đơn vị đếm: (8) Đơn vị động vật (đầu người, đầu gia súc); (9) Đơn vị máy móc (đầu máy khâu, đầu video)

Như vậy, có thể thấy, theo thời gian trước năm 1945, sau đó từ những

năm 60 rồi đến những năm 90 của thế kỷ XX, đầu năm 2000 từ “đầu” đã có

những bước phái sinh, dẫn xuất, phát triển; từ đơn giản đến phức tạp, từ cụ thể đến trừu tượng

( Nguồn: Khảo sát của tác giả)

Hình 2.1 : Sơ đồ phát triển nghĩa của từ “đầu”

Qua mô hình trên, có thể thấy, các nghĩa phái sinh của từ “đầu” là kết

quả của hai phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ Cụ thể, nghĩa (6), (7), (8) được chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ; (1), (2), (3), (4), (5) chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ, trong đó (1), (2) chuyển nghĩa theo nét nghĩa chức năng, còn (3), (4), (5) chuyển nghĩa theo nét nghĩa vị trí

Cụ thể, xét theo nét nghĩa chức năng, “đầu” với biểu tượng về trí tuệ

thường kết hợp với từ “óc” để tạo ra các cách nói: đầu óc nhanh nhạy (ca

Vị trí

Đầu là phần trước nhất (3) Đầu là vị trí cao nhất (4) Thứ tự (5)

Đơn vị tính đếm

Người (6) Động vật (7) Máy móc (8)

Trang 33

ngợi trí tuệ minh mẫn), ba đầu sáu tay (hình dung về người có năng lực, sức mạnh gấp mấy lần người bình thường), đau đầu nhức óc (suy nghĩ cân nhắc cẩn thận, tỉ mỉ ), đầu óc non nớt (suy nghĩ thiếu già dặn, chưa

chín chắn, thiếu bản lĩnh)… Để ca ngợi sự minh mẫn của trí tuệ, chúng ta

có thể nói “một cái đầu sáng suốt”; để chỉ ra quan hệ giữa trí tuệ và tình cảm, chúng ta có “cái đầu lạnh, trái tim nóng” Đó là những cách nói khá

mới nhưng cùng trong một hướng phát triển ngữ nghĩa của từ “đầu”

Xét theo nét nghĩa vị trí, vị trí trước nhất nhìn theo chiều thẳng ngang của đầu người đã được chuyển di sang chỉ bộ phận trước nhất của

động vật (đầu gà, đầu trâu, đầu lợn, đầu cá…) Vị trí cao nhất nhìn theo

chiều thẳng đứng của đầu người tiếp tục được mở rộng chỉ bộ phận cao nhất trên cơ thể thực vật Cụ thể, người Việt đã Việt đã dựa trên sự tương

đồng về vị trí với bộ phận đầu của cơ thể mình để gọi tên các bộ phận của

thực vật như: đầu lá, đầu rễ, đầu cành, đầu nhụy, đầu cây ngọn cỏ, đầu

quả… hay dựa trên sự tương đồng về hình dáng làm nảy sinh cách gọi tên như:

cỏ bạc đầu, cỏ đầu tròn…

Vị trí cao nhất của đầu tiếp tục được sử dụng để nói đến vị trí tận

cùng/trên cùng của đồ vật (đầu nhà, đầu bàn, đầu ghế, đầu giường, đầu bút, đầu tủ…) Từ những khái niệm cụ thể, thuộc tính về vị trí của đầu được phát

triển để giải thích cho các khái niệm trừu tượng hơn Ví dụ, xưa nay chúng ta

vẫn nói “bắt đầu công việc”, chính là một cách nói trừu tượng chứ không

phải là quá cụ thể, vì là trừu tượng nên mới vận dụng được vào bất kỳ trường

hợp cụ thể nào Mở đầu, bắt đầu, khởi đầu, ban đầu , hồi đầu, lúc đầu, mới đầu cũng từ đó mà ra Cặp đôi “đầu – đuôi” gắn liền với khái niệm “trước –

sau”: Đầu đi thì đuôi lọt Khái niệm này thông qua tư duy của người Việt lại được vận dụng một cách trừu tượng để nhấn mạnh nguyên nhân, khởi nguồn

của sự việc Chúng ta vẫn thường nói: đầu đuôi câu chuyện, đầu đuôi xuôi

Trang 34

ngược Ngoài ra còn có: đầu dây mối nhợ, đầu cua tai nheo, đầu sông ngọn nguồn, đầu cua tai đỉa, đầu cua tai ếch

2.2 Quá trình phát triển nghĩa của từ “” trong tiếng Hán

Theo Từ điển Hán ngữ hiện đại [66], “头” có tới 15 nghĩa như sau: (1) Phần trên cùng của cơ thể người hoặc phần trước nhất của động vật, nơi có miệng, mũi, mắt và các cơ quan khác

(2) Chỉ tóc hoặc kiểu để tóc 剃头 (cạo đầu) 梳头 (chải đầu, chải tóc)

(7) Khía cạnh, phương diện.一 心挂两头 (một tim treo hai đầu (lòng

hướng về cả hai phía)

(8) Thứ nhất 头等 (hạng đầu) 头号 (số đầu)

(9) Dẫn đầu, thứ tự ở trước 头马 (ngựa đầu đàn) 头羊 (dê đầu đàn)

(10) Dùng trước lượng từ hoặc số từ, biểu thị thứ tự trước tiên 头半本

(11) Tiếng địa phương, dùng trước “năm” hoặc “ngày”, biểu thị thời gian phía trước 头年 (năm ngoái hoặc một năm trước) 头天 (một ngày trước)

Trang 35

(12) Biểu thị gần, hoặc lân cận 头五点就得动身 (gần 5 giờ phải tập thể dục)

(13) Biểu thị số ước lượng 三 头五百 (khoảng ba đến năm trăm)

(14) Lượng từ dùng cho động vật hoặc những đồ vật có hình dạng tròn giống đầu 一头牛 (một con bò) 一头猪 (một con lợn) 两头蒜 (hai củ tỏi)

(15) 1 Đặt sau danh từ làm tiếng đệm, đọc thanh nhẹ[tou]: 木头 (gỗ)

Từ “đầu” trong tiếng Hán xuất hiện với ý nghĩa ban đầu là phần trên

cùng của cơ thể người hoặc phần trước nhất của động vật, nơi có miệng, mũi, mắt và các cơ quan khác Theo ý nghĩa này, chúng ta thấy rằng, khái niệm

“phần trước nhất” và “phần trên cùng” được miêu tả căn cứ theo thuộc tính vị trí của đầu, do đó có thể mở rộng thành nghĩa (3) là phần phía trên cùng và phần dưới cùng của vật thể Đây là khái niệm mang tính cụ thể, nhưng khi trừu tượng hóa khái niệm này, chúng ta có nghĩa (4) là sự bắt đầu (đầu mở) và kết thúc (đầu kết) của sự việc Rất dễ thấy, "đầu mở và đầu kết” có những đặc trưng tương tự với “đầu trên và đầu dưới” Cũng từ nghĩa (3), “đầu trên” hay

“đầu dưới” sẽ được coi là bộ phận của một vật thể hoàn chỉnh, từ đó phái sinh

ra nghĩa (5), và mở rộng thêm thành nghĩa (7) Bộ phận của một vật thể hoàn chỉnh sau quá trình trừu tượng hóa sẽ được dùng để giải thích cho khái niệm

“khía cạnh, phương diện”, tức một phần, một mặt của một vấn đề có thể tách riêng ra mà xem xét

Trang 36

Như chúng ta đã biết, đầu là bộ phận quan trọng nhất của cơ thể con người, là biểu tượng của trí tuệ Những quyết định, những tính toán đều được

“tiết” ra từ bên trong đầu Đây chính là cơ sở để phái sinh ra nghĩa (6) là thủ lĩnh, người lãnh đạo Những người nắm vai trò lãnh đạo hay đứng đầu trong một tổ chức thường đại diện cho những gì tốt nhất, tinh hoa nhất, có năng lực nhất Từ đây, nghĩa (8), (9) được mở rộng để biểu thị thứ tự trước nhất là đẳng cấp, là dẫn đầu Nghĩa (10) cũng được phái sinh theo hướng này Chuyển sang nghĩa (12), vì đầu là bộ phận quan trọng nhất không thể thiếu của một cơ thể sống, nên đầu rất phù hợp để trở thành một đơn vị để tính đếm

số lượng người và động vật trong một quần thể

Quay lại với nghĩa (2), tóc mọc ở trên đầu, vậy nên đầu cũng có nghĩa

là tóc Đây là phương thức chuyển nghĩa hoán dụ của từ “đầu” trong tiếng

Hán, lấy cái toàn thể để chỉ bộ phận

Từ “đầu” trong tiếng Hán là một từ có tần suất sử dụng khá phổ biến

từ trước đến nay, ý nghĩa và cách dùng của nó cũng vì thế mà trải qua một quá trình phát triển lâu dài và phức tạp Nghiên cứu của Lưu Văn Bình (2009) đăng trên báo của Học viện Hình Đài [57] xem xét sự phát triển nghĩa từ của

thời kỳ hiện đại

a) Thời kỳ Tiên Tần

- Xuân Thu chiến quốc: từ “” đã xuất hiện, nhưng chưa phổ biến

Thời kỳ này “” được sử dụng hoàn toàn với nghĩa gốc là đầu/sọ của con

người, sau đó mở rộng thành đầu/sọ của con vật

(1) 文公之出也, 竖头须 Văn công chi xuất dã, thụ đầu tu {46}

Trang 37

(2) 蟡者, 一头而两身, 其形若蛇 Qụy giả, nhất đầu nhi lưỡng thân, kỳ

hình nhược xà (Loài động vật một thân hai đầu, hình dáng giống con rắn) {72}

头 trong ví dụ (1) là đầu người, “thụ đầu tu” nghĩa là đầu phải thẳng, ý

chỉ đầu người phải thẳng 头 trong ví dụ (2) là đầu của động vật, “nhất đầu nhi lưỡng thân” nghĩa là một đầu mà hai thân, ý chỉ đầu của một loài động vật như rắn nước

- Lưỡng Hán: chủ yếu vẫn được sử dụng với nghĩa đầu/sọ, nhưng có

mở rộng thêm về ý nghĩa và cách dùng

động vật, người Con đường phát triển này thực ra rất dễ lý giải, bởi đầu là bộ

phận quan trọng nhất, lộ ra rõ nhất, nên tất nhiên con người sẽ dùng “” để

tính đếm số lượng động vật Cách giải thích cho sự phát triển này cũng khá phù hợp với cách thức tư duy của hoán dụ

(3) 式入山牧十余岁,羊致千余头,买田宅 Thức vào núi chăn cừu

hơn mười năm, cừu có tới hàng nghìn con, mua ruộng vườn nhà cửa {50}

(4) 外内骚动,百姓罢敝,头会箕敛,以供军费 Trong ngoài nháo

nhác, trăm họ mỏi mệt rã rời, cứ theo đầu người mà nộp thóc, vơ vét để cung

cấp quân phí {51}

Trong ví dụ (3), 头 được dùng để tính đếm số lượng cừu (hàng nghìn

đầu cừu),头 trong ví dụ (4) được dùng để tính đếm số lượng người (nộp

thóc theo đầu người)

o Với vị trí đầu tiên, trước nhất trên cơ thể người và động vật, “

được mở rộng với cách dùng chỉ phần đỉnh, phần trước của vật thể/đồ vật

(5) 至月余, 匈奴斩山头而去 Không đến một tháng, Hung Nô chém

đỉnh núi mà chạy {67}

Trang 38

山头 (sơn đầu) trong ví dụ (5) là đầu ngọn núi, chỉ phần đỉnh của ngọn núi

o Nhìn theo chiều thẳng đứng, “” chỉ phần đỉnh của sự vật, nhìn

theo chiều thẳng ngang, “” có thể mở rộng biểu thị ý nghĩa điểm đầu và

điểm cuối của sự vật

(6) 退而西南, 三月生天枪, 长数丈, 两头兑 Lui về phía Tây Nam, thì

3 tháng sau sẽ sinh ra sao chổi Thiên Thương, dài vài trượng và có hai đầu

nhọn {52}

头 trong ví dụ (6) đặt trong cụm “两头兑”(lưỡng đầu nhuệ) nghĩa là hai đầu nhọn, “hai đầu” ý chỉ điểm đầu và điểm cuối của sao chổi Thiên Thương

o Theo tập tục đội khăn ở trên đầu của người xưa, chiếc khăn tượng

trưng cho những thân phận khác nhau, vì thế từ “đầu” trong tiếng Hán có thể biểu thị chức vị hoặc địa vị của con người trong xã hội Từ “仓头” (thương

đầu) trong ví dụ (7) dưới đây ra đời từ việc binh sĩ trong quân đội buộc khăn

màu xanh ở trên đầu, vì thế “仓头” ý chỉ binh sĩ

(7) 武力二十余万,苍头二千万 Vũ lực hơn 20 vạn, binh sĩ 200

vạn.{74}

Có thể thấy, từ “” trong thời Lưỡng Hán đã có sự phát triển nghĩa

hết sức mạnh mẽ, xuất hiện thêm 4 nét nghĩa mới

- Tùy Đường: “” diễn biến hóa từ nghĩa thực từ sang nghĩa hư từ,

đứng sau thực từ, bản thân không có nghĩa, chỉ khi kết hợp với thực từ phía trước tạo thành kết cấu “Từ gốc + 头” Tuy nhiện, trong thời kỳ này tần suất xuất hiện chưa nhiều

(8) 含情欲说宫中事﹐鹦鹉前头不敢言 Hàm tình dục thuyết cung

trung sự, Anh vũ tiền đầu bất cảm ngôn (Ngậm ngùi toan nói điều cung cấm,

Chợt thấy chim về bỗng lặng thinh) {68}

Trang 39

前天 (tiền đầu) trong ví dụ (8) là kết cấu 前 (tiền, phía trước) + 头 biểu

thị ý nghĩa là phía trước, “” trong cụm từ này không có nghĩa gì “Anh vũ

tiền đầu bất cảm ngôn” nghĩa là chim vẹt phía trước không dám nói ra

- Ngũ Đại: Hiện tượng hậu tố hóa của từ “” trở nên phổ biến Trong

《敦煌变文选》(Đôn Hoàng biến văn tuyển) có rất nhiều câu sử dụng cách

dùng này của từ “” như:

(9) 外头有一僧, 善有妙术, 口称医疗, 不感不报 Bên ngoài có một vị tăng, giỏi phép thuật, tự xưng chữa bệnh, không cần báo đáp {78}

(10) 难陀走到佛前头, 礼拜如来双泪流 Nan Đà đi đến trước mặt

Phật Tổ, rưng rưng hai hàng nước mắt, cúi lạy Như Lai {78}

Dễ thấy, trong ví dụ (9) (10) là kết cấu “Phương vị từ + 头” , “

trong 外头 (ngoại đầu) không mang nghĩa gì, chỉ là hậu tố thêm vào phía sau

từ

- Đời Nguyên: “” có thêm hai nét nghĩa mới:

o Đầu là bộ phận quan trọng nhất của cơ thể, là cơ quan linh hồn, có

tác dụng chi phối hành vi của con người Do đó, “” được dùng để chỉ

người đứng đầu, lãnh đạo, chỉ huy

(11) 官里面前, 丞相为头儿 Quan lý diện tiền, Thừa tướng vi đầu

(Thừa tướng là người đứng đầu trong số các quan) {75}

(12) 有一千军, 内有一头目 Nghìn quân chỉ có một tướng {76}

đầu; còn trong ví dụ (12) là từ ghép đẳng lập 头目 “” (đầu) và “”(mục,

mắt) là hai bộ phận vô cùng quan trọng trên cơ thể người, vậy nên khi hai chữ này ghép lại để hình dung về một con người phi phàm, có vai trò quan trọng

Trang 40

o Đầu ở vị trí cao nhất trên cơ thể, nên có thể biểu thị đỉnh của sự vật,

cũng có thể biểu thị khởi nguồn của sự việc Từ “” ở Triều Nguyên từ nét

nghĩa “phía trước” chuyển di sang nghĩa “thứ tự trước tiên” “” có thể

đứng trước Danh từ, Lượng từ biểu thị ý nghĩa “trước tiên”, “trước nhất”; và cũng có thể đứng trước Số từ hoặc Đoản ngữ chỉ số lượng, biểu thị “前几个

(mấy cái trước) Ví dụ:

(13) 头一道团撺汤, 第二道鲜鱼汤 Món ăn đầu là canh mọc, món thứ hai là canh cá tươi {77}

lượng từ của món ăn, “nhất” là số từ Từ “” đặt trước cụm số lượng từ

mang nghĩa thứ tự trước tiên

Cho đến cuối đời Tống đầu đời Thanh, từ “” kết thúc quá trình phát

triển nghĩa, những đời sau tiếp tục với những cách dùng này, trở thành từ thường dùng trong tiếng Hán

b) Thời kỳ hiện đại

Quá trình chuyển từ thực từ thành hư từ được coi là quá trình ngữ pháp

hóa của từ “” Hiện tượng ngữ pháp hóa điển hình là từ ngữ hoặc kết cấu

có nghĩa trong ngôn ngữ sẽ trở nên không có nghĩa mà chỉ là thành phần biểu thị chức năng ngữ pháp, hoặc là một thành phần ngữ pháp không bị hư hóa

quá sẽ trở nên hư hóa hơn “” với cách dùng của hư từ bắt đầu từ thời kỳ

Tùy Đường, nhưng chưa phổ biến, mà phải đến thời kỳ Ngũ Đại mới được sử

dụng nhiều trong các văn kiện Trong Hán ngữ hiện đại, “” trở lại với cách

dùng của thực từ, trở thành từ gốc kết hợp với các từ khác tạo thành từ mới,

và không đọc thanh nhẹ Ví dụ:

头发 (tóc), 光头 (trọc đầu), 头脑 (đầu não, đầu óc), 头痛 (đau đầu) (头: đầu óc)

Ngày đăng: 15/11/2019, 15:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w