Bộ giáo dục & đào tạo TRƯờNG ĐạI HọC VINH ------Võ thị thắm đặC điểm NGữ PHáP và ngữ nghĩa của phụ từ chỉ lợng trong tiếng việtQua khảo sát một số tác phẩm văn học việt nam... b Về t
Trang 1Bộ giáo dục & đào tạo
TRƯờNG ĐạI HọC VINH
- -Võ thị thắm
đặC điểm NGữ PHáP và ngữ nghĩa của phụ từ chỉ lợng trong tiếng việt(Qua khảo sát một số tác phẩm văn học việt nam)
Trang 2Lời nói đầu
Là một loại ngôn ngữ biến hình, tiếng Việt phụ thuộc rất nhiều vào các
hư từ khi hành chức Vai trò của các hư từ, đặc biệt là phụ từ trong đó phụ từchỉ lượng là vô cùng quan trọng Là một nhóm phụ từ có số lượng không lớnnhưng hoạt động hết sức phức tạp, phụ từ chỉ lượng đã được một số côngtrình nghiên cứu tiếng Việt đề cập đến Tuy nhiên sự nghiên cứu về phụ từ chỉlượng còn sơ lược, nhiều điểm chưa thống nhất và còn nhiều vấn đề chưađược giải quyết một cách triệt để Được sự động viên khuyến khích của cácthầy cô giáo, thời gian vừa qua chúng tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài “Đặc điểm ngữ pháp - ngữ nghĩa của phụ từ chỉ lượng trong tiếng Việt ’’ Về
đề tài này chúng tôi muốn khám phá cái hay, cái đẹp của phụ từ chỉ lượng với
tư cách là một tín hiệu thẩm mỹ Để thực hiện đề tài này, ngoài sự cố gắng, nỗlực của bản thân, tôi được sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của PGS - TS PhanMậu Cảnh cùng sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo đã tham gia giảngdạy lớp CH 15 - Đại học Vinh và sự động viên khích lệ của gia đình cũng nhưbàn bè đồng nhiệp
Nhân dịp này chúng tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy côgiáo, gia đình và bạn bè đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn này
Vinh, ngày 16 tháng 01 năm 2011
Tác giả: Võ Thị Thắm
Trang 3MỤC LỤC
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài 1
1.1 Về lý luận 1
1.2 Về thực tiễn 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu 6
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4.1 Mục đích 6
4.2 Nhiệm vụ 6
5 Phương pháp 6
6 Đóng góp của đề tài 6
7 Cấu trúc luận văn 7
Nội dung Chương 1 Những cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài 8
1 Dẫn nhập 8
2 Phụ từ chỉ lượng trong hệ thống từ loại tiếng việt 8
2.1 Hệ thống từ loại tiếng việt 8
2.2 Phụ từ chỉ lượng trong hệ thống từ loại tiếng việt 10
3 Phụ từ chỉ lượng trong mối quan hệ với từ chỉ lượng 17
4.Tác phẩm văn học và việc sử dụng từ ngữ chỉ lượng 24
4.1 Vài nét về thành phần văn học 24
4.2 Những nhận xét bước đầu về phủ từ chỉ lượng qua khảo sát một số tác phẩm văn học Việt Nam 26
5 Tiểu kết 29
Chương 2: Đặc điểm ngữ pháp của phụ từ chỉ lượng trong văn học 30
1 Dẫn nhập 30
2 Thống kê các phụ từ chỉ lượng trong tác phẩm văn học ……….30
3.Khả năng kết hợp của phụ từ chỉ lượng 35
Trang 43.2 Phụ từ chỉ lượng với đại từ 44
4 Tiểu kết 46
Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của phụ từ chỉ lượng qua khảo sát một số tác phẩm văn học Việt Nam 48
1 Ngữ nghĩa của các phụ từ chỉ lượng trong tấc phẩm văn học 48
1.1.Nghĩa thực 47
1.2.Nghĩa biểu trưng, sắc thái tình thái của phụ từ số lượng 53
2 Vai trò của phụ từ chỉ lượng trong tác phẩm văn học 70
3 Phụ từ chỉ lượng trong mối quan hệ với cấc từ ngữ chỉ lượng khác trong tác phẩm văn học ( số từ, đại từ) 74
4 Tiểu kết 81
Kết luận 82
Tài liệu tham khảo 84
Phụ lục 87
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong giao tiếp hàng ngày và trong các tác phẩm văn học, các từ chỉlượng có tần số sử dụng rất cao, trong đó có phụ từ chỉ lượng đi kèm danh từhay đại từ Đây là hiện tượng chưa được xem xét đầy đủ, cụ thể Vì vậy, luậnvăn này khảo sát phụ từ chỉ lượng trong tiếng Việt nhằm lí giải đặc điểm ngữpháp, ngữ nghĩa của chúng trong giao tiếp hàng ngày và đặc biệt là trong tácphẩm văn học
1.2 Tìm hiểu phụ từ chỉ lượng là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa về mặt
lí luận và thực tiễn
a) Về lí luận
Chúng tôi chọn đề tài này để góp phần tìm hiểu những đặc điểm vềngữ pháp – ngữ nghĩa của phụ từ chỉ lượng trong hoạt động giao tiếp củangôn ngữ - một hướng nghiên cứu đang được ngôn ngữ học chú trọng
Đề tài này cũng góp phần vào việc nghiên cứu phụ từ - loại từ công cụquan trọng của tiếng Việt và của các ngôn ngữ đơn lập để biểu thị các loại ýnghĩa ngữ pháp bằng phương thức hư từ
b) Về thực tiễn
Đề tài này của chúng tôi hướng đến việc thống kê các số liệu hoạtđộng của từng nhóm, từng phụ từ cụ thể; đồng thời phân tích, tổng hợp nhữngđặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp của nhóm và các phụ từ chỉ lượng trong các tácphẩm văn xuôi và thơ Việt Nam
Đề tài còn nhằm đóng góp số liệu, dẫn chứng vào việc nghiên cứu,giảng dạy, học tập từ loại, phân tích ngữ pháp tiếng Việt
1.3 Đề tài “ Đặc điểm ngữ pháp – ngữ nghĩa của phụ từ chỉ lượng
Trang 6trên cả ba bình diện: kết học (syntax), nghĩa học (semantics) và dụng hoc(pragmatics) với hy vọng sẽ đem đến một kết quả đầy đủ, chuyên sâu và hệthống hơn so với các nghiên cứu đã có đối với nhóm từ này.
2.Lịch sử vấn đề
Hầu như các công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt xuất bản trướcđây, hay hiện nay, khi bàn luận, phân tích về từ loại, đều có đề cập đến phụ từchỉ lượng, ở những mức độ khác nhau Chẳng hạn như các công trình nghiêncứu của các tác giả: Lê Văn Lý, Hoàng Tuệ, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn TàiCẩn, Đinh Văn Đức, Diệp Quang Ban, Nguyễn Anh Quế, Nguyễn HữuQuỳnh, Lê Cận – Phan Thiều, Lê Biên, Đỗ Thị Kim Liên…
Trong cuốn Từ loại tiếng Việt hiện đại, Lê Biên đã đề cập đến phụ từ chỉ
lượng ở phần viết về phụ từ Trong đó, tác giả coi phụ từ chỉ lượng là mộtnhóm các phụ từ bổ sung ý nghĩa về số lượng cho danh từ, đó là các hư từ
mang ý nghĩa chỉ số: những, các, mấy, từng, mọi…Những từ này có khả năng
kết hợp với danh từ và là thành tố phụ trước của danh từ làm trung tâm ngữ
- Một: Phụ từ dùng cấu tạo các từ có nghĩa giới hạn
- Những: phụ từ phiếm định
- Các: phụ từ xác định
- Mỗi, mọi, từng: biểu thị ý nghĩa phân lượng, phân phối
- Mọi: ý nghĩa khái quát, gộp chung các sự vật
- Mỗi, từng: mang ý nghĩa tách ra từng sự vật, từng cá thể trong các sự vật Các tác giả Diệp Quang Ban – Hoàng Văn Thung trong cuốn “Ngữ
pháp tiếng Việt tập 1” gọi phụ từ chỉ lượng là định từ: “Định từ là những từ biểu thị quan hệ về số lượng với sự vật được nêu ở danh từ, chuyên dùng kèm với danh từ, với chức năng làm thành tố phụ trong kết hợp từ có trung tâm ngữ nghĩa – ngữ pháp là danh từ (cụm danh từ)” Số lượng định từ không
Trang 7trọng của từ loại danh từ Tác giả còn chia định từ thành hai nhóm: những,
các, một tạo thành một nhóm đặc biệt, có thể gọi là quán từ, chúng có cách
dùng gần giống các quán từ trong một số ngôn ngữ Khi được dùng kèm danh
từ, những, các thường chỉ ý nghĩa số nhiều; một thường chỉ ý nghĩa số đơn Nhóm mỗi, từng, mọi dùng kèm trước danh từ, chỉ ý nghĩa phân phối về số lượng Nhóm cái, mấy: cái không trực tiếp biểu thị ý nghĩa có quan hệ về số
lượng với sự vật mà nó chỉ xuất sự vật và đơn vị sự vật; mấy, định từ chỉ ýnghĩa số nhiều trong quan hệ với sự vật nêu ở danh từ
Hoàng Văn Thung, Lê A cũng đồng quan điểm khi cho rằng phụ từ chỉ
lượng là định từ Theo các tác giả, định từ gồm hai nhóm: nhóm những, các,
một và nhóm mọi, mỗi, từng, mấy.
Trong "Ngữ pháp học tiếng Việt", Nguyễn Anh Quế cũng gọi nhóm
phụ từ chỉ lượng này là định từ "Ta có thể tách những phó từ chuyên dành cho
danh từ (trừ số từ) lập thành một nhóm riêng và có thể gọi là định từ (28,
Tr 123) Chính những yếu tố phụ đứng trước trung tâm danh ngữ như cả, những, các là định từ" (27,Tr 123).
Với tác giả Đái Xuân Ninh, nhóm từ này là từ chỉ số lượng "Những từchỉ số lượng là những từ đi kèm danh từ Đại diện của chúng là: những, các,mọi, mỗi, từng" Tác giả còn nêu đặc điểm ngữ pháp của loại phụ từ này làđánh dấu số lượng cho danh từ và được xác định trong cấu trúc mở rộng củacâu hai từ đơn theo quan hệ bậc hai Tuy nhiên, chúng không phải hoàn toànthuần nhất
"Những, các, mọi " có thể song song tồn tại trong cùng một cấu trúc với
"tất cả", "hết thảy" Chẳng hạn: tất cả (hết thảy) - những, các, mọi - con chim ấy.
"Mỗi, từng" lập thành một nhóm nhỏ đối lập với nhóm trên ở chỗ chúng
biểu đạt tính chất riêng lẻ của từng đơn vị trong cái toàn thể, nên chúng không
Trang 8Cho nên, từng và mỗi cũng không đặt trước danh từ tổng hơp Chẳng hạn,không nói: từng (mỗi) nhà cửa Tác giả còn nói rõ, muốn xác định phải thôngqua một từ có số lượng được xác định: mỗi bộ quần áo, từng đôi vợ chồng,mỗi cặp bát đĩa,
Đái Xuân Ninh còn đi vào hoạt động cụ thể của từng từ trong nhóm từ
này "Những từ chỉ số lượng không phải bao gồm tất cả các đơn vị được nói
đến, mà chỉ giới hạn trong một số nhất định nào đó" Ví dụ: Những người chưa
biết chữ hãy cố gắng mà học cho biết (Hồ Chí Minh) Trong trường hợp này,
những hoặc trực tiếp đứng trước danh từ hoặc thông qua danh từ chỉ loại,
chẳng hạn: những con chim ấy, những quyển sách này
Khác với những thì các chỉ có thể đặt trước danh từ và chỉ số nhiều toàn thể, không có ngoại lệ, chẳng hạn: "Các nước XHCN là bạn của ta" Vì
vậy, trong những lời thưa gửi, kêu gọi, chỉ có thể dùng "các" Ví dụ:
Thưa các cụ, các cô, các chú (Hồ Chí Minh)
Các đồng chí thân mến! (Trường Chinh)
Xin chào các ông (Bùi Hiển)
Chính vì thế mà "các" có thể kết hợp với những từ chỉ quan hệ thân thuộc như anh, ông, bà để chỉ ngôi thứ hai số nhiều Ví dụ: các ông, các bà, các
anh
"Mọi" chỉ số nhiều toàn thể, không có ngoại lệ Ví dụ: "Tất cả mọi người đều phải tiết kiệm" (Hồ Chủ tịch), "Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay" (Truyện Kiều - Nguyễn Du)
"Mỗi" nhấn mạnh đến tính chất trọn vẹn của các loại được nhắc đến Do
đó, khi kết hợp với những từ chỉ thời gian như: ngày, tháng, năm, lần, khi,
bữa, lúc nó biểu thị sự lặp đi lặp lại trong hiện tại, quá khứ hay tương lai Ví
dụ: Mỗi ngày tập thể dục nửa giờ, mỗi bữa ăn hai bát cơm
Trang 9Từng đứng trước danh từ, chỉ đơn vị riêng lẻ của một loại, lần lượt theo
nhau Ví dụ: "Cả thế giới đang theo dõi từng bước tiến của dân tộc ta" (Lê
Duẩn) "Rồi từng đám khói nhỏ đang từ từ bốc lên" (Bùi Hiển) Từng còn có thể
kết hợp với một (từng một) để xác định thêm tính chất riêng lẻ, lần lượt củađơn vị, chẳng hạn: từng người một bốc thăm Đứng trước động từ, tính từ,
từng chỉ sự trải qua và thường kết hợp với đã, đã từng, ví dụ: "Em ơi chua ngọt đã từng/ Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau" (Ca dao).
Như vậy, có thể thấy các phụ từ đi kèm với danh từ, đại từ nhằm chỉlượng trong tiếng Việt đã được các nhà ngôn ngữ học, đặc biệt là các nhà ngữpháp học quan tâm nghiên cứu Nhưng nhìn chung, các tác giả chỉ nghiên cứuchúng trong các công trình nghiên cứu về hệ thống từ loại tiếng Việt nóichung mà chưa có một công trình nào cụ thể nghiên cứu về tiểu nhóm phụ từchỉ lượng nói riêng Việc xác định nội dung số lượng có vai trò quan trọngcủa số từ (một tiểu loại của thực từ), tuy nhiên, bên cạnh đó, còn có vai tròquan trọng và không thể thiếu của các phụ từ chỉ lượng Nó góp phần làm cụthể hơn, sinh động hơn và phong phú hơn cho vốn từ tiếng Việt cũng nhưcách diễn đạt của tiếng Việt - một ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập,dựa nhiều vào vai trò của các hư từ khi thể hiện các quan hệ ngữ pháp Từtrước đến nay, những từ này được xếp vào loại định từ (bổ sung ý nghĩa chodanh từ) hoặc là những quán ngữ Với Đề tài này, chúng tôi tách những từnày ra và gọi chúng là một tiểu loại trong phụ từ, đó là phụ từ chỉ lượng vớimục đích tìm hiểu kĩ hơn sự hoạt động cũng như ý nghĩa của những từ chỉlượng này
Vì vậy, với đề tài " Đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của phụ từ chỉ lượng
trong tiếng Việt (Qua khảo sát một số tác phẩm văn học), chúng tôi hy vọng
sẽ góp phần nhỏ vào việc xác định rõ thêm đặc điểm hoạt động và vai trò của
Trang 103 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tìm hiểu hoạt động của phụ từ chỉ lượng trong tiếng Việt Nguồn
tư liệu khảo sát lấy từ các tác phẩm văn học:
- Hệ thống hoá các quan niệm về phụ từ chỉ lượng
- Thống kê, phân loại các loại phụ từ chỉ lượng
- Nêu các đặc điểm về ngữ pháp của phụ từ chỉ lượng
- Nêu các đặc điểm về ngữ nghĩa của phụ từ chỉ lượng
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp miêu tả
6 Đóng góp của luận văn
Giới thuyết rõ được các khái niệm: ý nghĩa chỉ lượng, phụ từ chỉlượng, các cách thức thể hiện ý nghĩa chỉ lượng trong tiếng Việt
Trang 11- Đề tài sẽ đóng góp cho việc nghiên cứu hoạt động về mặt ngữ phápcũng như vai trò ngữ nghĩa thể hiện trong cấu trúc câu văn và các ngữ cảnh sửdụng trong tác phẩm văn học của phụ từ chỉ lượng.
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn được triển khai thành 3 chương:
Chương 1: Những cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Đặc điểm ngữ pháp của phụ từ chỉ lượng trong tiếng Việt
Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của phụ từ chỉ lượng trong tiếng Việt
Trang 122 Phụ từ chỉ lượng trong hệ thống từ loại tiếng Việt
2.1 Hệ thống từ loại tiếng Việt
Vốn từ vựng của một ngôn ngữ có số lượng vô cùng lớn, các lớp từ lại đadạng về nghĩa nhưng không thuần nhất, do đó người ta phải tiến hành phânloại chúng Tuỳ theo mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu mà có những cáchphân loại từ loại khác nhau: phân loại của những nhà biên soạn từ điển, phânloại của những nhà từ vựng – ngữ nghĩa học… Chỉ có sự phân loại theo bảnchất ngữ pháp của từ mới được gọi là từ loại
Để phân chia từ loại, các nhà ngữ pháp học thường dựa vào ý nghĩa kháiquát của lớp từ và đặc điểm hoạt động ngữ pháp của chúng Hai tiêu chí này
có khi lại được tách thành ba: ý nghĩa, khả năng kết hợp, chức vụ cú pháp(Đinh Văn Đức); ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp, chức năng cú pháp(Diệp Quang Ban), ý nghĩa khái quát của từ, khả năng kết hợp của từ, khảnăng làm thành phần câu (Đỗ Thị Kim Liên)
Trang 13Mục đích của sự phân loại là nhằm phát hiện bản chất ngữ pháp, tínhquy tắc trong hoạt động ngữ pháp và sự hành chức của các lớp từ trong quátrình thực hiện các chức năng cơ bản của ngôn ngữ làm công cụ để giao tiếp,
để tư duy
Như vậy, từ loại là lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, được phân chiadựa theo ý nghĩa phạm trù, theo khả năng kết hợp trong cụm từ và trong câu,thực hiện những chức năng ngữ pháp khác nhau
Dựa vào các căn cứ nói trên, các nhà ngữ pháp học đã tiến hành phânloại vốn từ tiếng Việt qua nhiều bước, từ phạm trù từ loại đến thực từ và hư
từ, rồi đến các tiểu loại trong mỗi từ loại
Thực từ chiếm số lượng lớn nhất trong vốn từ tiếng Việt Bản chất, ýnghĩa của thực từ là tính chất từ vựng – ngữ pháp, là sự kết hợp của nội dungphản ánh thực tại (từ vựng) với cách thức phản ánh của người bản ngữ Thực
từ có khả năng làm trung tâm của cụm từ, tập hợp xung quanh chúng nhữngthành tố phụ Thực từ còn có khả năng giữ các chức vụ ngữ pháp quan trọngtrong câu Trong tiếng Việt, danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ là nhữngthực từ Có tác giả cho đại từ chỉ có tính chất thực từ chứ không phải là thực
từ đích thực (Lê Biên)
Hư từ chiếm số lượng rất nhỏ so với thực từ, chúng là những từ khôngmang ý nghĩa từ vựng chân thực Bản chất ý nghĩa của hư từ là tính chất ngữpháp Chúng là phương tiện vô cùng quan trọng để diễn đạt quan hệ giữa cáckhái niệm trong tư duy theo cách thức phản ánh bằng ngôn ngữ của ngườiViệt Hư từ không là thành tố chính của cụm từ, không có khả năng độc lậptạo thành câu Một số hư từ có thể làm thành phần phụ của cụm từ để thể hiệncác ý nghĩa ngữ pháp, ý nghĩa tình thái Trong tiếng Việt, phụ từ, quan hệ từ(kết từ), tình thái từ, trợ từ là những hư từ Có tác giả tách tình thái từ thành
Trang 14Sơ đồ về hệ thống từ loại tiếng Việt của các nhà ngữ pháp học có khácnhau chút ít Sau đây là sơ đồ hệ thống phân loại mà chúng tôi sử dụng làmcăn cứ trong đề tài này:
(Theo Đỗ Thị Kim Liên – Ngữ pháp tiếng Việt – Nxb Giáo dục – 2002)
2.2 Phụ từ chỉ lượng trong hệ thống từ loại tiếng Việt
Danh
từ
Tìnhthái từ
Trang 15Về tiểu loại,
Trong hệ thống từ loại tiếng Việt kể trên, luận văn chỉ đi sâu nghiêncứu một tiểu loại trong tiểu loại phụ từ: nhóm phụ từ chỉ lượng Nhóm nàyvừa mang những đặc điểm chung của phụ từ vừa có những đặc điểm riêng vềngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng so với các nhóm khác.Trong phần tiếp theo,chúng tôi sẽ đề cập đến những vấn đề lý thuyết về phụ từ và phụ từ chỉ lượng
Hầu hết các cuốn ngữ pháp tiếng Việt đều dành một phần để miêu tảphụ từ Xung quanh quan niệm phụ từ, còn có một số điểm chưa thống nhất,chẳng hạn về tên gọi, về cách phân loại…
Trong cuốn “Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học” (Nxb Giáo dục 2002),tác giả Nguyễn Như Ý định nghĩa: “phụ từ là từ chuyên bổ sung ý nghĩa cho động
từ, tính từ”
Cuốn Ngữ pháp tiếng Việt của UBKHXH, 2002 nói rõ hơn: phụ từ là từ
chỉ các ý nghĩa ngữ pháp về thời gian (Ví dụ: xe sẽ chạy), về thể trạng (Ví dụ:
xe đã đến rồi), về mức độ (Ví dụ: xe này rất tốt)… nó không đảm nhiệm phần
đề, phần thuyết trong nòng cốt Vai trò mà nó có thể đảm nhiệm là làm yếu tốcấu tạo ngữ nhưng cũng không làm chính tố mà chỉ làm phụ tố” (37, Tr88)
Lê Cận, Phan Thiều trong cuốn Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt địnhnghĩa sơ lược hơn: Đây là lớp từ không có ý nghĩa phạm trù đầy đủ, thườnglàm thành tố phụ cho danh từ, động từ hoặc tính từ trong cụm từ (7, Tr 152)
Theo hướng trên, Lê Biên trong cuốn “Từ loại tiếng Việt hiện đại miêu
tả đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ pháp của phụ từ như sau: Phụ từ không có chứcnăng sở chỉ mà chỉ có chức năng diễn xuất, sở biểu về tình thái Nhìn chung, ýnghĩa của các phụ từ vừa có tính chất từ pháp vừa có tính chất cú pháp Phụ từbiểu thị ý nghĩa ngữ pháp trong quan hệ với danh từ, động từ, tính từ, bổ sung
Trang 16gian (đã, sẽ, đang, còn, vẫn), ý nghĩa phủ định (không, chưa, chẳng), ý nghĩamệnh lệnh khuyên bảo, can ngăn (hãy, đừng, chớ) hoặc ý nghĩa về mức độ(rất, hơi, khí, quá) cho động từ và tính từ”… Về ngữ pháp: “Phụ từ khôngtham gia vào việc tổ chức cấu trúc của ngữ mà tham gia vào việc tổ chức mộtthành tố cú pháp”, chúng có khả năng kết hợp với thực từ và chuyên làmthành tố phụ trước cho cấu trúc ngữ” Phụ từ còn có tác dụng xác định thànhphần câu và vạch ranh giới các cấu trúc ngữ… phụ từ là dấu hiệu để phân biệt
từ loại (4, Tr68)
Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, tác giả Nguyễn Anh Quế cũng gọi
phụ từ là phó từ Nhưng theo ông, để làm nổi rõ sự khác nhau trong nội bộ từloại phó từ nên tách phó từ chuyên dùng cho danh từ lập thành một loại gọi làđịnh từ, còn những từ chuyên dùng cho động từ, tính từ thì gọi là phó từ Theotác giả, phó từ là từ loại không có ý nghĩa từ vựng chân thực, chúng chỉ bổsung cho động từ, tính từ một ý nghĩa ngữ pháp nào đó Chức năng chủ yếu củaphó từ là làm thành tố phụ cho đoản ngữ Chúng rất ít khi một mình làm thànhphần chính của câu (28, Tr 124)
Một số nhà ngữ pháp học lại theo xu hướng gọi tên chung của từ loại làphụ từ nhưng tách riêng thành hai nhóm: những phụ từ đi với danh từ gọi làđịnh từ, các phụ từ đi với động từ, tính từ gọi là phó từ Theo hướng này cócác tác giả Diệp Quang Ban, Đỗ Thị Kim Liên
Theo Đỗ Thị Kim Liên, phụ từ không mang ý nghĩa từ vựng chân thực
mà chỉ đi kèm danh từ, động từ, tính từ để bổ sung ý nghĩa cho danh từ, động
từ, tính từ Phụ từ thường đi kèm danh từ, động từ, tính từ để cấu tạo cụm từ.Phụ từ không làm thành phần chính của câu (23, Tr 60)
Các nhà ngữ pháp học Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung không địnhnghĩa về phụ từ mà định nghĩa riêng về định từ, phó từ Riêng về phó từ, họ
Trang 17Chúng biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa quá trình và đặc trưng với thực tại,đồng thời cũng biểu hiện ý nghĩa về cách thức nhận thức và phản ánh các quátrình và đặc trưng trong hiện thực Phó từ không có khả năng làm trung tâmngữ nghĩa, ngữ pháp trong kết hợp với thực từ và rất ít khả năng làm thànhphần chính trong câu Chúng chỉ xuất hiện phổ biến ở vị trí thành tố phụ trongkết hợp với thực từ, và trong cấu tạo thành câu (1, Tr124 - 125).
Như vậy, có thể dễ dàng nhận thấy cách gọi tên phụ từ của các tác giảchưa thống nhất: Lê Cận - Phan Thiều, Lê Biên gọi chung là phụ từ, dùngkhái niệm phụ danh từ đối với loại chuyên đi kèm danh từ, phụ vị từ đối vớiloại chuyên đi kèm vị từ; Nguyễn Hữu Quỳnh, Nguyễn Anh Quế lại gọichung là phó từ; Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung, Đỗ Thị Kim Liên thìgọi chung là phụ từ nhưng chia làm hai loại: định từ chuyên đi kèm danh từ,phó từ chuyên đi kèm động từ, tính từ; Đinh Văn Đức dùng khái niệm phụ từ,Nguyễn Tài Cẩn cũng dùng chung là phó từ nhưng lại chia làm hai loại: định
từ chuyên đi kèm danh từ và trạng từ chuyên đi kèm động tính từ Khái niệmtrạng từ của Nguyễn Tài Cẩn tương đương khái niệm phó từ của một số tácgiả trên
Mặc dù cách diễn giải và cách gọi tên đối tượng có khác nhau chút ítnhưng về cơ bản, các nhà ngữ pháp học tiếng Việt đã gặp nhau trong quanniệm về phụ từ ở các khía cạnh sau:
- Phụ từ không mang ý nghĩa từ vựng chân thực mà chủ yếu mang ýnghĩa ngữ pháp
- Phụ từ chuyên đi kèm với thực từ để bổ sung một ý nghĩa ngữ phápnào đó
- Phụ từ không có khả năng làm thành phần chính trong câu, không thểđộc lập tạo câu
Trang 18Chúng tôi coi những nét tóm lược trên đây là quan niệm của luận văn
về phụ từ Và để thống nhất, chúng tôi dùng khái niệm chung là phụ từ, khôngphân biệt phó từ, trạng từ nữa để tránh nhầm lẫn (coi định từ, phó từ là loại từtrong khi thực ra chúng chỉ là một tiểu loại của phụ từ)
2.2.2 Phụ từ chỉ lượng
Ngoài việc chia phụ từ ra các loại phụ danh từ, phụ vị từ (định từ vàphó từ), các nhà ngữ pháp còn tiến hành phân chia các nhóm này thành nhómnhỏ hơn Riêng đối với nhóm phụ từ chuyên đi với danh từ, người ta thườngdựa vào ý nghĩa quan hệ với quá trình hay đặc trưng (ý nghĩa ngữ pháp) hoặccăn cứ vào vị trí của chúng với từ trung tâm để phân nhóm nhỏ hơn
Căn cứ vào ý nghĩa ngữ pháp, tác giả Lê Cận - Phan Thiều trong cuốngiáo trình "Ngữ pháp tiếng Việt tập 1" chia phụ từ của danh từ thành 6 loại,Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung trong "Ngữ pháp tiếng Việt tập 1",NXBGD, 2002, chia phụ từ đi với danh từ thành 9 nhóm Nguyễn Anh Quếchia phụ từ thành 7 nhóm; Lê Biên không chia phụ từ thành các lớp phụ từnhỏ hơn sau khi chia thành 2 lớp phụ từ của danh từ và phụ từ của vị từ nhưngkhi phân tích hoạt động của phụ từ, ông lại đề cập đến 4 nhóm Tác giả khônggọi tên từng nhóm mà chỉ dẫn ra các phụ từ trong nhóm
Dựa vào vị trí của phụ từ so với yếu tố chính làm trung tâm, tác giả ĐỗThị Kim Liên chia phó từ làm 3 nhóm, trong từng nhóm lại tiếp tục dựa vào ýnghĩa để chia thành từng tiểu nhóm Phó từ đứng trước danh từ, phó từ đứngsau danh từ, phó từ vừa có khả năng đứng trước danh từ vừa có khả năngđứng sau danh từ
Điều đáng chú ý là mặc dù cách phân chia tiểu loại, tiểu nhóm có khácnhau ít hoặc nhiều ở mỗi tác giả nhưng tất cả đều để nhóm phụ từ chỉ lượngthành một nhóm riêng Điều này phần nào đã cho thấy vai trò đặc biệt của
Trang 19Như đã nói trong phần lịch sử vấn đề, quan niệm và cách miêu tả, giảithích của các tác giả về phụ từ chỉ lượng cũng còn một vài điểm chưa thật sựnhất quán.
Diệp Quang Ban gọi phụ từ chỉ lượng là định từ - là từ biểu thị quan hệ
về số lượng với sự vật được nêu ở danh từ, chuyên dùng kèm danh từ, vớichức năng làm thành tố phụ trong kết hợp từ có trung tâm ngữ - nghĩa ngữpháp là danh từ
Tác giả phân loại nhóm này thành hai nhóm nhỏ: nhóm những, các,
một - gọi là quán từ Khi được dùng kèm danh từ, xét riêng từng từ trong
nhóm thì những, các thường chỉ số nhiều, một thường chỉ ý nghĩa số đơn.
Nhưng nếu đem chúng đặt vào những thế đối lập thì chúng sẽ bộc lộ một số ý
nghĩa phạm trù ngữ pháp quan trọng của danh từ Nhóm mỗi, từng, mọi dùng
kèm trước danh từ, chỉ ý nghĩa phân phối về số lượng Chúng có đặc điểm của
hư từ, nhưng không biểu thị những ý nghĩa ngữ pháp có tính chất phạm trù
như nhóm những, các, một.
Còn tác giả Lê Biên gọi nhóm phụ từ chỉ lượng này là "Các phụ từ chodanh từ" Tác giả dựa vào đặc trưng từ loại của từ trung tâm trong cấu trúcmột ngữ để chia ra các lớp phụ từ này Các phụ từ cho danh từ này - đó là các
hư từ mang ý nghĩa chỉ số như: những, các, mấy, từng, mọi
Những từ này có khả năng kết hợp với danh từ và làm thành tố phụtrước của danh từ làm trung tâm ngữ
Hoàng Văn Thung - Lê A cũng gọi nhóm phụ từ chỉ lượng này là phụ
từ như cách gọi của tác giả Diệp Quang Ban Định từ là từ đi kèm với danh
từ, biểu thị các ý nghĩa ngữ pháp của danh từ (ý nghĩa số và ý nghĩa khác)
Định từ gồm có:
- Nhóm những, các, một.
Trang 20+ Những, các chỉ ý nghĩa số nhiều, đối lập với một chỉ ý nghĩa số ít (cần phân biệt một - phụ từ chỉ số với một - số từ chỉ lượng).
+ Những chỉ ý nghĩa số nhiều và chỉ ý nghĩa sự vật cần được giới hạn trong toàn bộ các sự vật Do đó, danh từ đứng sau những đòi hỏi phải có từ,
cụm từ đi kèm để giới hạn ý nghĩa sự vật (chỉ nói đến một số nhất định sự vậtnào đó trong toàn bộ các sự vật)
- Nhóm mọi, mỗi, từng, mấy: đặt trước danh từ, chỉ ý nghĩa phân phối (sự
vật)
+ Mọi: Phân phối bao quát tất cả các sự vật.
+ Mỗi: Phân phối theo cá thể sự vật.
+ Từng: Phân phối lần lượt theo cá thể sự vật.
+ Mấy: tách ra một nhóm các cá thể sự vật.
Mặc dù cách gọi tên, phân tích, lý giải và mức độ đề cập đến phụ từ chỉlượng có khác nhau nhưng các nhà ngữ pháp vẫn có tiếng nói chung về nhómphụ từ đặc biệt này ở một số điểm:
- Đây là nhóm phụ từ chuyên biệt của danh từ, chuyên đi kèm với danh
từ làm thành tố phụ bổ sung ý nghĩa Tuy vậy, chúng vẫn có khả năng kết hợphạn chế với một số nhóm đại từ khác
Ý nghĩa mà phụ từ chỉ lượng biểu thị chủ yếu là ý nghĩa ngữ pháp vềlượng đặc trưng của danh từ và một số đại từ với những sắc thái khác nhaukhi chúng được thực hiện hóa trong giao tiếp
Hiện nay, việc xếp từ loại cho những từ: Những, các, mọi, mỗi, một,
từng, mấy còn có nhiều ý kiến chưa thống nhất Có tác giả xếp những từ: mỗi, từng, mọi, mấy vào nhóm số từ như Nguyễn Tài Cẩn, Đinh Văn Đức, Diệp
Quang Ban Nhưng có tác giả xếp những từ: mỗi, từng, mọi, mấy, những, các vào nhóm định từ
Trang 21Những kiến giải nói trên là những cơ sở lý thuyết hết sức quan trọngđối với chúng tôi trong quá trình nghiên cứu Để tiện cho việc phân tích, lýgiải, trong luận văn này, chúng tôi xin phép được dùng khái niệm "Phụ từ chỉlượng" như đã nêu ở tên đề tài để thay thế cho như những cách gọi còn chưathống nhất Trên cơ sở tiếp thu những quan điểm đã nêu trên, chúng tôi xinđưa ra quan điểm của luận văn về phụ từ chỉ lượng như sau: "Phụ từ chỉ lượng
là loại từ chuyên biệt của danh từ và đại từ Chúng có số lượng không lớnnhưng có vị trí đặc biệt trong các loại phụ từ"
3 Phụ từ chỉ lượng trong mối quan hệ với từ chỉ lượng
3.1 Hệ thống từ ngữ chỉ lượng trong tiếng Việt
Trong hệ thống từ loại tiếng Việt, có lớp từ định danh, gọi tên sự vật;
có lớp từ chỉ đặc điểm, tính chất sự vật; có lớp từ chỉ hoạt động, trạng thái của
sự vật Và có lớp từ chỉ số lượng của các sự vật và biểu thị ý nghĩa về lượngcủa các đặc điểm, tính chất, hoạt động của các sự vật đó Trong tiếng Việt,
để biểu đạt nội dung ý nghĩa về lượng, có thể có nhiều nhóm, nhiều từ loạitham gia thể hiện ở những mức độ chuyên dụng hay phù trợ khác nhau: số từ,phụ từ, tính từ, đại từ, danh từ, động từ…
Trong đó, số từ là từ loại chuyên dụng, gồm những từ biểu thị ý nghĩa
số (Ý nghĩa số vừa có tính chất thực - gắn với khái niệm thực thể, vừa có tínhchất hư - không tồn tại như những thực thể hay quá trình)…
Số từ biểu thị nghiã về số lượng, đó là số đếm như: một, hai, bảy,chín hoặc đó có thể là số chỉ số thứ tự: nhất nhì Về chỉ lượng, số từ gồm
cả từ chỉ lượng chính xác, đó là các số trong dãy số đếm tự nhiên: một, hai,
ba, bốn và các từ chỉ số lượng không chính xác: vài, dăm, mấy, mươi
Về ngữ pháp, số từ thường đi kèm với danh từ để chỉ ra số lượng của sựvật (thường đứng trước danh từ) hoặc chỉ thứ tự của sự vật (thường đứng sau
Trang 22mười" Số từ có thể làm trung tâm của cụm số từ trong một số trường hợpnhư: "Đám ruộng này rộng chừng bốn sào", nó cũng có thể làm chủ ngữ trongcâu "Hai nhân hai bằng bốn", làm bổ ngữ đối tượng, bổ ngữ kết quả, làm địnhngữ cho danh từ và làm vị ngữ gián tiếp
Như vậy, để biểu đạt ý nghĩa số lượng, trong lớp thực từ của từ loạitiếng Việt có hẳn một từ loại biểu thị về số lượng, đó là "số từ" Ta có thể gặprất nhiều số từ được sử dụng trong cuộc sống và đặc biệt là trong văn họcnhư:
Số đếm:
Dù ai nói ngả nói nghiêng
Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân
(Ca dao)
Dù ai buôn đâu bán đâu
Mùng mười tháng tám chọi trâu thì về
Kháng chiến ba ngàn ngày không nghỉ
Bắp chân đầu gối vẫn săn gân
(Ta đi tới)
Số từ chỉ thứ tự như:
Ai nhất thì tôi thứ nhì
Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba
Trang 23Tuy nhiên, bên cạnh đó, tiếng Việt còn rất nhiều các từ loại khác biểuđạt ý nghĩa số lượng Đó là các đại từ chỉ khối lượng, tổng thể: cả, tất cả, tấtthảy, hết thảy bao nhiêu bấy nhiêu; các tính từ: ít, nhiều, nặng nhẹ ; cácdanh từ: mét, tạ, tấn, và các phụ từ: những, các, mọi, từng, mấy
Chẳng hạn:
Bàn tay ta làm nên tất cả
Có sức người sỏi đá cũng thành cơm
(Hoàng Trung Thông)
Ai vô đó, với đồng bào, đồng chí
Nói với nửa Việt Nam yêu quý
(Tố Hữu)
Tất cả tranh và kí họa của tôi vẽ trong mấy năm đã chất lên đầy một
cái sạp lán giữa rừng căn cứ
(Nguyễn Minh Châu)
từ Đại từ dùng để chỉ trỏ, thay thế Tính từ dùng để chỉ đặc điểm, tính chất,trạng thái của sự vật, hiện tượng Các từ loại này cũng tham gia biểu thị vềlượng nhưng không chuyên dụng như số từ, phụ từ chỉ lượng
Đối với các ngôn ngữ biến hình như tiếng Nga, tiếng Anh, để biểu đạt ýnghĩa về số, các ngôn ngữ này dùng phương thức kết hợp: số từ + danh từ Ví
dụ: 3 students, 100 dolars (giống tiếng Việt) Nhưng cũng có thể dùng
Trang 24(những cuốn sách, những đứa trẻ); hay đùng phương thức biến đổi căn tố Ví
dụ: man/men (một người đàn ông/ nhiều người đàn ông)…Điều này khác với
tiếng Việt Tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình, từ không biến đổi hìnhthái Vậy, để biểu đạt nội dung, ý nghĩa một cách phong phú, đa dạng và tinh
tế, chính xác, tiếng Việt rất cần đến trật tự từ và hư từ Các hư từ, trong đó cóphụ từ, mặc dù không có ý nghĩa thực nhưng lại có ý nghĩa quan trọng,không thể thiếu trong cách diễn đạt của người Việt, trong đó có phương thứcbiểu đạt ý nghĩa chỉ lượng
Ngoài biểu thị những vai trò ngữ pháp của mình, hư từ nhiều khi cònmang ý nghĩa khái quát, biểu trưng khác nữa
Cũng như vậy, trong việc biểu đạt nội dung số lượng của tiếng Việt, sự
có mặt của những: " Những, các, từng, mọi, mấy, mỗi " có ý nghĩa vô cùng quan
trọng
3.2 Phụ từ chỉ lượng
Phụ từ chỉ lượng là những phụ từ đi kèm với danh từ và đại từ nhằm
biểu đạt số lượng cho danh từ hoặc đại từ Đó là các từ: những, các, một (một
là phụ từ chỉ số ít, khác với 1 là số từ chỉ số lượng), mỗi, từng, mọi, mấy.
Cách dùng phụ từ chỉ lượng trong tiếng Việt:
* Các
- "Các" xuất phát từ tiếng Hán, có nghĩa xác định về lượng
- Luôn đứng trước danh từ biểu trưng nghĩa số nhiều
- "Các" chỉ ý nghĩa số nhiều và chỉ toàn bộ "sự vật", không giới hạn
riêng một khối sự vật nào
- Cùng phạm trù với "những" nhưng khác "những" ở chỗ sau danh từ cóthể có một hoặc không nhất thiết phải có định ngữ Chẳng hạn: "Em chào cácanh, các chị" Trong khi đó: "Những anh chị đang chuyện trò với nhau đó là
Trang 25* Mỗi
- Nhấn mạnh giới hạn chừng ấy, không có hơn nữa
Ví dụ:
"Cả ngày mới được mỗi câu".
- Mỗi mỗi kết cấu có nét nghĩa như "một" chỉ lượng số ít:
"Tình hình mỗi ngày mỗi khác"
- Sự khác nhau giữa "mỗi" và "một" "Một" chỉ một lượng nhất địnhcòn "mỗi" biểu trưng một cá thể, một đơn vị được phân xuất từ toàn thể đơn
vị lớn hơn Do đó, trong những trường hợp như thế này không thay "một"bằng "mỗi" được
Chẳng hạn:
+ Mỗi lần về quê, em thấy quê mình nhiều thay đổi
+ Đã hơn một lần tôi đến thăm anh
- Mỗi kết hợp với một => "mỗi một": nhấn mạnh chỉ có chừng ấy không
hơn không kém
Ví dụ:
"Hôm nay chỉ mỗi một mình con về thôi"
- Mỗi một dùng để cá thể hóa, cụ thể hóa hiện tượng, sự tình, dùng để
nhấn mạnh mức độ nào đó được nói trong vị ngữ Ví dụ: "mỗi người một ý",
"Một người không làm nên xã hội"
- Một biểu trưng lượng số ít: "Đó là một xã hội tốt đẹp"
Trang 26Ví dụ:
"Một con thuyền với một dòng sông"
(Thu Bồn)
- "Một" kết hợp với "nửa" thành "một nửa", không mang nghĩa phân số 1/2
nữa mà biểu trưng cho sự xẻ đôi
Tình cờ anh gặp lại vầng trăng
Một nửa vầng trăng thôi, một nửa
(Hoàng Hữu)
- "Một" kết hợp với "cách" thành "một cách" Từ này mới xuất hiện gần
đây, được cấu tạo như một quán ngữ, có ý nghĩa về lượng số ít (không nói:
"một cách, hai cách, ba cách ): "Phải suy nghĩ một cách chắc chắn"
- Một kết hợp với "mặt" thành "một mặt" tạo thành kết cấu "Một mặt
một mặt" biểu trưng tính đồng thời hai hành động nhằm cùng một mục đích.
Chẳng hạn: "chúng ta một mặt cải cách kinh tế, một mặt từng bước cải cách
"Những người có mặt hôm ấy đều phản đối đề nghị này"
Sau "Những" danh từ bao giờ cũng phải có định ngữ thì câu mới kết
thúc
Ví dụ:
Không thể nói "Những học sinh" mà chỉ có thể nói "Những học sinh
giỏi" để từ đó tạo thành câu: "Những học sinh giỏi văn đã đi tham quan Huế"
- Trong một câu có thể vừa có “những” vừa có “các” “Những” nhấn
Trang 27Ví dụ:
Hôm nay Bác nói chuyện với các cháu ngoan Bác Hồ, những cháu thông minh và dũng cảm, những cháu tuy nhỏ nhưng gan dạ, anh hùng".
Vì thế, " các" được gọi là phụ từ xác định (mà Lê Biên gọi là quán từ xác
định), bởi "các" không nhằm đối chiếu với sự vật khác Còn "những"được dùng
khi đặt trong sự đối lập nhằm đối chiếu sự vật này với sự vật khác, tách một
số sự vật ra khỏi một tập hợp sự vật lớn hơn " Những" và " một " vì thế được gọi
là phụ từ phiếm định Chẳng hạn: "Trong các em, những ai đã đến Hà Nội
rồi?"
- "Những" biểu hiện nghĩa tính đến số nhiều trong tổng số nhiều hoặc ít.
Trường hợp này, các danh từ đếm được kèm theo định ngữ
"Lâu nay anh đi những đâu?"
- “Những”kết hợp với một số động từ biểu thị hoạt động tâm lí tình
cảm để nhấn mạnh tính chất của hoạt động đó Các động từ này dễ dàng biếnthành danh từ
Ví dụ:
" Những mong cá nước sum vầy"
Trang 28- "Những" kết hợp với "không" thành "không những" trong kết cấu:
"không những mà còn" biểu thị quan hệ liên tiếp, tăng tiến
- Kết hợp với danh từ, chỉ mặt đơn nhất, cá thể của sự vật Ở nghĩa
nghĩa này, " từng" giống " mỗi"
Bác sống như trời đất của ta
Yêu từng ngọn lúa mỗi nhành hoa
(Tố Hữu)
- Dùng để tách sự vật thành cá thể nhằm nhấn mạnh sự kế tiếp của sựvật như phương thức hành động
Ví dụ:
"Nhớ từng chữ, từng câu"…
4 Tác phẩm văn học và việc sử dụng phụ từ chỉ lượng
4.1 Vài nét về tác phẩm văn học
Theo Đoàn Đức Phương trong cuốn "Lí luận văn học" NXBGD, 1997,
"Từ xưa đến nay, khái niệm tác phẩm văn học được quan niệm với một phạm
vi khá rộng rãi Đó có thể là một bài ca dao vài chục câu, một trường ca, mộttruyện thơ, một bài thơ dài hoặc một bài thơ chỉ có hai câu như bài thơ củaXuân Diệu nói về phút giây xao xuyến kì lạ trong buổi đầu gặp gỡ của tìnhyêu:
Trang 29Đến như tia chớp vậy thôi
Mà gieo trận bão kinh người trong anh
Toàn bộ hoạt động của một nền văn học, hay nói rộng hơn, của đờisống văn học được tạo thành bởi bốn yếu tố: thời đại - nhà văn - tác phẩm -người đọc Trong các yếu tố ấy, tác phẩm văn học được xem là chỉnh thểtrung tâm, là "tế bào", là bộ mặt của đời sống văn học, là cơ sở của mối quan hệtác giả với cuộc sống và người đọc
Có thể đó là một vở kịch, một truyện ngắn, một bút ký, một tiểu thuyếthoặc một bộ tiểu thuyết như "Chiến tranh và hòa bình" của L.Tônxtôi miêu tảcuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân Nga năm 1812 hay bộ “Tấn tròđời” của Banzac miêu tả và phê phán chế độ tư sản Pháp thế kỉ XIX
Những tác phẩm văn học được đề cập đến ở đây không phải là nhữngtác phẩm văn học thuộc các thể loại cụ thể như thế mà là tác phẩm ở dạngthức chung nhất - tác phẩm với tư cách là một chỉnh thể thẩm mĩ
Khái niệm nội dung của tác phẩm văn học có cơ sở vững chắc từ mốiquan hệ mật thiết giữa văn học và hiện thực Nó bao hàm cả nhân tố kháchquan của đời sống và nhân tố chủ quan của nhà văn, nó vừa là cuộc sống được
ý thức, vừa là sự cảm xúc - đánh giá đối với cuộc sống đó Cũng vì thế, người
ta thường nói tới hai cấp độ của nội dung tác phẩm
Văn, chữ không bao giờ có thể trở thành một cái gì đó có thể đọc được
và hiểu được Hình thức của tác phẩm văn học chính là sự hợp thành củanhiều yếu tố: nghệ thuật, sử dụng ngôn ngữ, các quy định của thể loại vănhọc, những biện pháp kết cấu, cách xây dựng nhân vật thể hiện hình tượng tất cả nhằm mục đích biểu hiện trực tiếp, sinh động nội dung của tác phẩm,tạo nên một dạng nhất định của nội dung ấy, qua đó xây dựng toàn bộ tác phẩmthành một chỉnh thể thống nhất
Trang 30Tóm lại, chính sự thống nhất của các yếu tố nội dung và hình thức đãtạo nên sức mạnh trong nghệ thuật của chỉnh thể tác phẩm văn học Yêu cầu
lý tưởng là nội dung của tác phẩm phải có ý nghĩa lớn lao đối với đời sốngcủa con người và nội dung đó phải được biểu hiện bằng một hình thức độc
đáo, hấp dẫn đúng như lời của nhà văn Lenovop "Tác phẩm nghệ thuật đích
thực, nhất là tác phẩm ngôn từ bao giờ cũng là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung".
4.2 Những nhận xét bước đầu về phụ từ chỉ lượng trong tác phẩm văn học
"Văn học là nghệ thuật của ngôn từ", lấy ngôn từ làm chất liệu sáng tác.
Vì thế phân tích tác phẩm văn học phải bắt nguồn trước hết từ văn bản, từchính ngôn từ được lựa chọn, sắp xếp tổ chức kĩ lưỡng, có mục đích trong tácphẩm Mỗi tác phẩm là một thế giới riêng Mỗi nhà văn cũng là cái tôi riêngkhông lẫn với ai về phong cách Chính vì vậy, ngôn từ mà họ sử dụng trongtác phẩm của mình cũng không giống nhau Mỗi nhà văn trên nền ngôn ngữchung của dân tộc, họ đã trăn trở lựa chọn những từ ngữ phù hợp nhất, chínhxác nhất, diễn tả tối ưu nội dung cần biểu đạt Mặt khác mỗi nhà văn sinh ra ởmột vùng, miền khác nhau, cách nói, cách sử dụng ngôn ngữ và những từ ngữ
ưa dùng đã đi sâu vào tâm thức của họ
Chính vì vậy, tìm hiểu ngôn từ được sử dụng trong tác phẩm văn họcvừa giúp ta hiểu sâu hơn tác phẩm nhưng đồng thời cũng giúp ta hiểu hơn vềnhà văn, về phong cách viết của họ và con người họ
Cũng như trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày, ngôn ngữ trong tácphẩm văn học (văn học là tấm gương phản chiếu đời sống) cũng sử dụng đếntất cả các từ loại của tiếng Việt, gồm cả thực từ và hư từ Và mỗi từ loại đềuthể hiện được vai trò của mình trong biểu đạt và trong cấu trúc ngôn ngữ Tuy
Trang 31nhiên, nghiên cứu chung trong tác phẩm văn học thì chưa nhiều Đặc biệt, phụ
từ chỉ lượng trong tác phẩm văn học là một nội dung mới mẻ, độc đáo
Tìm hiểu nội dung này không những giúp chúng ta hiểu thêm về tần số
sử dụng, cách dùng, đặc điểm ngữ pháp của chúng trong các tác phẩm vănhọc mà còn góp phần bổ sung kiến thức về phụ từ
Cũng như trong cuộc sống, phụ từ chỉ lượng đi vào tác phẩm văn họcnhằm biểu đạt ý nghĩa số lượng cho thực từ Nhưng ngoài việc biểu đạt đó,nhiều khi phụ từ còn chứa đựng những nội dung khác, sâu sắc hơn Nghệthuật không đơn nghĩa, nội dung của tác phẩm văn học là những gì ẩn đằngsau câu chữ và đó mới là nội dung căn bản nhất Mỗi lời nói, mỗi từ ngữ đều
là sự lao tâm lựa chọn và sáng tạo của nhà văn, nhà thơ Chính vì vậy, ngay cảphụ từ chỉ lượng - những từ không có ý nghĩa từ vựng, chúng vẫn có thể biểuđạt một nội dung ý nghĩa gì đó ngoài vai trò ngữ pháp thông thường Đặcbiệt, trong một câu văn, câu thơ, một đoạn văn, đoạn thơ hay trong một tácphẩm phụ từ chỉ lượng có ngữ cảnh nhất định để biểu đạt một nội dung nàokhác ngoài vai trò vốn có của nó Và nhìn một cách tổng quát, phụ từ chỉlượng xuất hiện rất nhiều trong các tác phẩm văn học
Chính vì vậy, xem xét phụ từ chỉ lượng trong tác phẩm văn học là mộtđiều mới mẻ, phức tạp nhưng cũng thật thú vị
Số lượng tác phẩm rất nhiều, để khảo sát trên diện rộng là một việckhông dễ Tuy nhiên, chúng tôi chọn ra ba tác giả đại diện cho văn học bamiền Bắc - Trung - Nam và tiêu biểu cho 3 thể loại phổ biến: Thơ, truyện, kí
Đó là:
Tuy nhiên, do giới hạn đề tài cũng như dung lượng của luận văn, chúngtôi chỉ đi sâu tìm hiểu, khảo sát, thống kê, phân loại phụ từ chỉ lượng trongmột số tác phẩm văn học Việt Nam, cụ thể là:
Trang 32- Truyện ngắn Nam Cao, trong đó có các tác phẩm: Chí Phèo, Lão
Hạc, Đời thừa, Một bữa no.
- Kí - Nguyễn Thi, trong đó có các tác phẩm: Người mẹ cầm súng, Ước mơ của
đất.
- Thơ - Tố Hữu, trong đó có các tác phẩm: Thù muôn đời muôn kiếp
không tan, Người con gái Việt Nam, Mùa thu mới, Đường sang nước bạn, Quê mẹ, Việt Bắc, Ta đi tới, Sáng tháng năm, Bài ca tháng mười, Bầm ơi, Lên Tây Bắc, Xuân nhân loại, Huế tháng tám, Tiếng hát đi đày, Một tiếng rao đêm, Tiếng chuông nhà thờ, Ba tiếng, Bà má Hậu Giang, Đông, Nhớ đồng, Tâm tư trong tù, Những người không chết, Tiếng sáo ly quê, Mẹ Tơm, Mẹ Suốt, Sáng tháng năm, Bà má Hậu Giang, Bài ca Xuân Sáu Tám.
Những tác phẩm được chọn để khảo sát cũng là những tác phẩm tiêubiểu của các tác giả này Đó là những tác phẩm đã tạo được chỗ đứng tronglòng độc giả, trở nên gần gũi, thân quen với mỗi người dân Việt Nam khinhắc đến Văn học Việt Nam cũng như nhắc đến tên của những tác giả này
Như ta đã biết, văn học là nghệ thuật của ngôn từ - một loại hình nghệthuật sử dụng ngôn ngữ để sáng tạo ra nghệ thuật Ngôn từ văn học do vậykhông chỉ khác với lời nói hàng ngày, khác với các hình thức giao tiếp phinghệ thuật mà cũng khác với hình thức của các nghệ thuật ngôn từ khác
Trong đời sống hàng ngày, ngôn từ được sử dụng với mục đích giaotiếp, truyền đạt thông tin, cốt nói sao cho người nghe hiểu rõ, người nói có thểnói đủ mọi cách Do vậy, lời nói thường ngẫu nhiên, tạm thời, nói xong thìthôi Ngôn từ văn học là ngôn từ được lựa chọn, được tổ chức thành văn bản
cố định sao cho nói một lần là có thể giao tiếp mãi mãi
"Ngôn từ văn học là một hiện tượng nghệ thuật do nghệ sĩ sáng tạo theoquy luật chung của nghệ thuật Văn bản nghệ thuật phải truyền đạt một ý
Trang 33nghĩa mà không một phát ngôn đồng nghĩa nào có thể thay thế được (30,Tr163).
Có thể nói, qua tác phẩm văn học, ta có thể thấy được cái hay, cái đẹpcủa ngôn ngữ tiếng Việt Trong đó, phụ từ chỉ lượng là một trong nhữngphương tiện làm tăng thêm sức biểu đạt nội dung của người nói vì khi dựatrên những ấn tượng về lượng thì người nghe hoặc người đọc cảm nhận đượcrất nhanh và cụ thể về những ý nghĩa sâu xa
Tóm lại, qua khảo sát, thống kê, chúng tôi nhận thấy rằng: phụ từ chỉlượng được sử dụng trong các tác phẩm văn học là rất lớn với tần số sử dụngcao Đó là điều mà chúng tôi sẽ phân tích lí giải ở các phần tiếp theo của luậnvăn
5 Tiểu kết
Trong chương 1 này, chúng tôi nêu một số khái niệm có liên quan đến
đề tài như: từ loại, hệ thống từ loại tiếng Việt; ý nghĩa chỉ lượng, các từ loại
có thể tham gia biểu thị ý nghĩa chỉ lượng; phụ từ và phụ từ chỉ lượng; mốiquan hệ giữa các từ chỉ lượng (như: số từ, đại từ) với phụ từ chỉ lượng Trongchương, chúng tôi cũng bước đầu giới thiệu số lượng các từ chỉ lượng đượcgiới hạn tìm hiểu trong luận văn, cũng như cách hiểu cơ bản nhất về nhómphụ từ chỉ lượng – mà nhiều sách ngữ pháp gọi đây là định từ Đồng thờichúng tôi cũng giới thiệu các tác phẩm văn học, được chọn một cách có địnhhướng, rằng đó là những tác phẩm tiêu biểu, để làm nguồn ngữ liệu thống kêtần số xuất hiện và các ngữ cảnh sử dụng phụ từ chỉ lượng
Trang 34Chương 2
ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA PHỤ TỪ CHỈ LƯỢNG TRONG TIẾNG
VIỆT (qua khảo sát một số tác phẩm văn học Việt Nam)
1 Dẫn nhập
Trong chương này, chúng tôi đề cập đến phương diện đặc điểm ngữ phápcủa phụ từ chỉ lượng Thông thường, khi xem xét đặc điểm ngữ pháp của từ lànói đến các mặt: ý nghĩa ngữ pháp khái quát, khả năng kết hợp, khả năng làmthành phần câu của từ đó Như mọi phụ từ khác, phụ từ chỉ lượng không có ýnghĩa từ vựng chân thực, không có khả năng làm thành phần chính trong câuhay làm trung tâm trong cụm từ Chúng chỉ có chức năng làm thành tố phụchỉ quan hệ ngữ pháp về lượng của danh từ và của một số từ loại khác
Như vậy, đặc điểm ngữ pháp của phụ từ thể hiện ở:
- ý nghĩa ngữ pháp: Phụ từ chỉ lượng là công cụ để diễn đạt các ý nghĩangữ pháp của các thực từ trong cụm từ, câu
- Về khả năng kết hợp: Khi dùng, phụ từ dùng kèm (trước hoặc sau) thực
từ, phụ từ chỉ lượng tham gia cấu tạo cụm từ trong vai trò thành tố phụ…
Từ những đặc điểm đó của phụ từ chỉ lượng, chúng tôi đi vào khảo sát sựhoạt động của phụ từ chỉ lượng trong các tác phảm văn học, như đã giới thiệu,bao gồm: các tác phẩm truyện ngắn và tiểu thuyết của Nam Cao, Nguyễn Thi
và thơ Tố Hữu
2 Thống kê các phụ từ chỉ lượng trong tác phẩm văn học
Chúng tôi thống kê được trong 3 thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, thơcủa ba tác giả Nam Cao, Nguyễn Thi và Tố Hữu, với số lượng khoảng 5.000trang, với khoảng 2.500 câu Trong đó có tổng số 907 câu có xuất hiện phụ từchỉ lượng, với tần số xuất hiện là 1758 lượt Cụ thể như sau:
- “Mỗi” xuất hiện ở 30 câu với 43 lượt.
Trang 35- “Mọi” xuất hiện ở 53 câu với 80 lượt.
- “Các” xuất hiện ở 257 câu với 492 lượt.
- “Những” xuất hiện ở 353 câu với 874 lượt.
- “Mấy” xuất hiện ở 148 câu với 188 lượt.
- “Một” xuất hiện ở 230 câu với 247 lượt
Đặc biệt, trong quá trình khảo sát, thống kê, chúng tôi còn nhận thấy córất nhiều câu văn có một phụ từ xuất hiện 2 đến 3 lần trong cùng một câu Cụthể:
- Có 142 câu có từ "các" xuất hiện từ 2 - 3 lần trong một câu
Ví dụ:
+ Em có lời hoan hô các anh, các anh mình cực khổ
(Ước mơ của đất)
+ , các anh cũng có kế hoạch hơn, mặc dù việc đó so với nữ các anh
+ Những đêm đua xe đạp, những chiều cấy rán, những tối họp đoàn
nấu nước cho anh em uống bàn bạc tới khuya
(Ước mơ của đất).
+ Ngày anh Chẵn đi thì những công việc đối với Hạnh mới chỉ là
những bàn tay vẫy gọi, như những cánh cò ở chân trời mới.
(Ước mơ của đất).
Trang 36Ví dụ:
+ Như Thạch Sanh của thế kỷ hai mươi.
Một dây ná, một cây chông cũng tiến công giặc Mỹ.
(Bài ca Xuân 68)
Ví dụ:
+ Có ai biết ai ngờ trong đó
Còn chơ vơ một ổ lều con.
Đạn bom qua hãy sống còn
Núp sau lưng rộng một hòn đá to
Có ai biết trong tro còn lửa
Một má già lần lữa không đi
Ở đây sóng gió bất kỳ
Má ơi má ở làm chi một mình Rừng một giải U Minh sớm tối
Má lom khom đi lượm củi khô
( Bà má Hậu Giang)
+ Những thằng điên và những thằng say rượu không bao giờ làm
những cái mà lúc ra đi chúng định làm
(Chí Phèo).
+ Những người, những việc không hề biết đến trận đánh
(Ước mơ của đất).
+ Những con chiên ngoan đạo và nhẹ dạ có thể thấy ở đây những buổi cầu kinh đầy hấp dẫn, còn những tên chuyên môn giết người cũng có
thể học ở đây đủ kiểu giết người.
(Người mẹ cầm súng)
- Với từ "mấy":
Trang 37+Có chạy xạc cả gấu váy, hết chợ gần đến chợ xa, thì mới kiếm được
mỗi ngày mấy đồng xu
(Một bữa no).
+ Nhưng mỗi lần nó giẫy thử, hắn lại vỗ nhẹ vào lưng nó như moi tối
(Chuyện người hàng xóm).
+ Những tấm bánh Út đã nhịn sau khi đánh trận về, mấy mẹ cho du
kích mỗi người một cái ăn lót dạ
Phải chăng, "Thơ là ý tại ngôn ngoại", từ ngữ trong thơ được sử dụng
với số lượng ít lựa chọn kĩ càng nghiêm ngặt nên số lượng phụ từ nói chung
Trang 38Nhưng ngược lại, văn xuôi với sự không hạn định về số lượng câu chữ,với vai trò chuyển tải nội dung cuộc sống phong phú, rộng lớn cũng như đisâu "mổ xẻ" đời sống tinh thần của con người mà văn xuôi cần nhiều đến cáckiểu câu khác nhau Có câu ngắn, câu dài, câu liệt kê, câu trần thuật Vì thế
mà từ loại được sử dụng trong văn xuôi cũng vô cùng phong phú, ngoài thực
từ là các hư từ Và dĩ nhiên trong đó có cả phụ từ chỉ lượng
Sau đây là bảng thống kê tần số sử dụng các phụ từ chỉ lượng trong từng thểloại văn học:
Tỷ lệ
%
Số lần xuất hiện
Trang 39thể loại, có thể là do đặc điểm tính cách của con người miền Bắc và miềnTrung chi phối
3 Khả năng kết hợp của phụ từ chỉ lượng
3.1 Khả năng kết hợp của phụ từ chỉ lượng với danh từ
Danh từ là loại có khả năng kết hợp rộng rãi nhất với phụ từ chỉ lượng.Điều này được thể hiện rõ trong các tác phẩm mà chúng tôi khảo sát Phụ từchỉ lượng kết hợp với 10 tiểu nhóm danh từ
Ta có bảng thống kê như sau:
2 Danh từ chỉ đơn vị tính toán, đo
* Phụ từ chỉ lượng với các tiểu loại danh từ
Sau đây là một số dẫn chứng cụ thể về sự kết hợp giữa phụ từ chỉ lượng vớicác tiểu loại danh từ tiếng Việt, các ngữ cảnh của sự kết hợp này là các câuvăn lấy từ nguồn các tác phẩm của Nam Cao, Nguyễn Thi và Tố Hữu
a- Phụ từ chỉ lượng kết hợp với danh từ chỉ thời gian
Những danh từ chỉ thời gian thường gặp là: ngày, hôm, bữa, tháng, năm,thời, đời, sáng, trưa, chiều, tối, hôm, hồi, khi, lúc, ban biểu thị thời gian vàkết hợp trực tiếp với phụ từ chỉ lượng trong các tác phẩm văn học mà chúng
Trang 40tôi khảo sát Đây là tiểu nhóm có khả năng kết hợp với phụ từ hết sức phongphú với một số lượng nhất trong các tiểu nhóm danh từ (44,21%).
Ví dụ:
+Đêm nay như những chiều chiều
(Tiếng sáo ly quê)
+ Mấy tháng vừa rồi anh đã lăn lộn góp công nhiều trong việc diệt bốt
+Mình đi có nhớ như những ngày
Mưa nguôi,suồi lũ những mây cùng mù
(Việt Bắc)
c- Phụ từ chỉ lượng kết hợp với danh từ chỉ đơn vị tính toán đo lường
Loại danh từ này "Thường dùng để xác định ý nghĩa đo lường, tính toáncủa sự vật, khác với danh từ chỉ loại, ý nghĩa phạm trù thực thể của danh từ rõhơn: cân (thóc), mét (vải), mẫu (ruộng), lít (nước), sào (đất), " (23, tr 47) Danh từ chỉ đơn vị tính toán đo lường có khả năng kết hợp với phụ từchỉ lượng và được chia thành 2 nhóm: danh từ chỉ đơn vị chính xác (đơn vịchiều dài, đơn vị trọng lượng, đơn vị diện tích, đơn vị tiền tệ như mét, tấn,thước, đồng ) và danh từ chỉ đơn vị không chính xác như bầy, đoàn, toán, lũ,bọn