1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử hình thành và phát triển ngân hàng thương mại việt nam

85 535 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử hình thành và phát triển ngân hàng thương mại việt nam

Trang 1

Đề tài: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Ngân hàng bắt nguồn từ một công việc rất đơn giản là giữ các đồ vật quý cho những người sởhữu nó tránh mất mát, đổi lại người chủ sở hữu phải trả cho người cầm giữ hộ một khoản tiềncông Khi xã hội phát triển, thương mại phát triển, nhu cầu về tiền ngày càng lớn thì ngân hàngtrở thành nơi giữ tiền cho những người có tiền và cung cấp tiền cho những người cần tiền Ngânhàng là một định chế tài chính trung gian, sẽ huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội và dùng chínhtiền đó cho các cá nhân và tổ chức vay lại, và rất hiếm khi có tình trạng cùng một lúc tất cả chủtiền gửi đến đòi nợ ngân hàng, đó chính là nguyên tắc cơ bản đảm bảo cho hoạt động của ngânhàng

Lịch sử phát triển của hệ thống NH Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển của từng thời kì cáchmạng và công cuộc xây dựng, phát triển đất nước

Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, hệ thống tiền tệ, tín dụng NH được thiết lập và bảo

hộ bởi thực dân Pháp thông qua NH Đông Dương NH Đông Dương vừa đóng vai trò là NHTWtrên toàn cõi Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia) vừa là NHTM

Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, căn cứ vào những biến đổi quan trọng về tình hình vànhiệm vụ cách mạng cũng như về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của NHNN Việt Nam, quátrình phát triển của NH được chia làm 4 thời kì:

Thời kì 1951 - 1954:

Trong thời kì này, NH Quốc Gia Việt Nam được thành lập và hoạt động độc lập tươngđối trong hệ thống tài chính,thực hiện trọng trách đầu tiên theo chủ trương của Đảng và nhà nướclà: phát hành giấy bạc NH; thu hồi giấy bạc tài chính; thực hiện quản lý kho bạc nhà nước gópphần tăng thu; tiết kiệm chi; thống nhất quản lý thu chi ngân sách; phát triển tín dụng NH phục

vụ sản xuất; lưu thông hàng hóa; tăng cường lực lượng kinh tế quốc doanh và đấu tranh tiền tệvới địch

Thời kì 1955 - 1975

Trong thời kì này, NH Quốc Gia thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Củng cố thị trường tiền tệ, giữ cho tiền tệ ổn định, góp phần bình ổn vật giá, tạo điềukiện thuận lợi cho công cuộc khôi phục kinh tế

Trang 2

- Phát triển công tác tín dụng nhằm phát triển sản xuất lương thực; đẩy mạnh khôi phục

và phát triển nông, công, thương nghiệp; góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựngnền kinh tế xã hội chủ nghĩa miền Bắc và giải phóng miền Nam

Sự thay đổi về chất trong hoạt động của hệ thống NH chuyển dần sang hoạt động theo cơchế thị trường chỉ được bắt đầu khởi xướng từ cuối những năm 80 và kéo dài cho tới ngày nay.Thời kì 1986 đến nay

Đây là giai đoạn đánh dấu nhiều sự kiện quan trọng, có nhiều chuyển biến cơ bản của hệthống NH Việt Nam, thực hiện tách dần chức năng quản lý nhà nước ra khỏi chức năng kinhdoanh tiền tệ, tín dụng, chuyển hoạt động NH sang hạch toán, kinh doanh xã hội chủ nghĩa

Trang 3

Hệ thống NHTM Việt Nam bao gồm: NHTM nhà nước, NHTM cổ phần, NH liên doanh, chinhánh NH nước ngoài, NH 100% vốn nước ngoài.

Ngân hàng là ngành có mối quan hệ mật thiết với các biến động của nền kinh tế Đây là ngànhchịu ảnh hưởng đầu tiên khi nền kinh tế gặp khó khăn nhưng cũng là ngành hồi phục trước tiên

để tạo điều kiện cho nền kinh tế phục hồi và đi vào ổn định Vì vậy, những biến động của nềnkinh tế, của môi trường kinh doanh có sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động của hệ thống ngânhàng TM Việt Nam Môi trường kinh doanh được chia thành môi trường vĩ mô và môi trường vi

mô Môi trường vĩ mô gồm: Môi trường kinh tế, môi trường văn hóa- xã hội, môi trường toàncầu, môi trường chính trị, pháp luật, môi trường công nghệ, môi trường nhân khẩu học Môitrường vi mô nói lên mức độ cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng

Những chuyển biến tích cực của NHVN hiện nay:

Thứ nhất, quá trình tái cơ cấu ngân hàng đã đạt được những kết quả ban đầu đáng khích lệ Thứhai, hiệu quả kinh doanh ngân hàng được cải thiện Thứ ba, xử lý nợ xấu đã đạt được nhữngthành công bước đầu

Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn đọng nhiều bất cập:

Một là, tổng cầu suy giảm gây khó khăn cho việc hấp thụ vốn Hai là, nợ xấu vẫn là rào cản đốivới hoạt động ngân hàng Ba là, khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thực hiện tái cơ cấuchậm

Cơ hội đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam:

Hội nhập quốc tế sẽ làm tăng uy tín và vị thế của hệ thống ngân hàng Việt Nam, nhất là trên thịtrường tài chính khu vực

Hệ thống NHTM và thị trường tiền tệ hoạt động an toàn và hiệu quả sẽ tạo thuận lợi cho việcnâng cao hiệu lực và hiệu quả của chính sách tiền tệ Loại bỏ các biện pháp bảo hộ, bao cấp vốn,tài chính đối với các NHTM trong nước, hạn chế tình trạng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ củaNHNN và Chính phủ Hội nhập quốc tế buộc các ngân hàng trong nước phải hoạt động theonguyên tắc thị trường, khắc phục những nhược điểm còn tồn tại, đồng thời phải tăng cường nănglực cạnh tranh trên cơ sở nâng cao trình độ quản trị điều hành và phát triển dịch vụ ngân hàng,khung khổ pháp lý sẽ hoàn thiện và phù hợp dần với thông lệ quốc tế, dẫn đến sự hình thành môitrường kinh doanh bình đẳng và từng bước phân chia lại thị phần giữa các nhóm ngân hàng theo

Trang 4

hướng cân bằng hơn, thị phần của NHTMNN có thể giảm và nhường chỗ cho các nhóm ngânhàng khác Theo thế mạnh của mỗi ngân hàng, sẽ xuất hiện những ngân hàng hoạt động theohướng chuyên môn hóa như ngân hàng bán buôn, ngân hàng bán lẻ, ngân hàng đầu tư, đồng thờihình thành một số ngân hàng qui mô lớn, có tiềm lực tài chính và kinh doanh hiệu quả.

Các NHTM trong nước có điều kiện để tiếp cận sự hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn, đào tạo thôngqua các hình thức liên doanh, liên kết với các ngân hàng và tổ chức tài chính quốc tế Các ngânhàng trong nước sẽ tiếp cận thị trường tài chính quốc tế một cách dễ dàng hơn, hiệu quả huyđộng vốn và sử dụng vốn sẽ tăng lên, góp phần nâng cao chất lượng và loại hình hoạt động Cácngân hàng trong nước sẽ phản ứng, điều chỉnh và hoạt động một cách linh hoạt hơn theo tín hiệuthị trường trong nước và quốc tế nhằm tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro

Những khó khăn và thách thức đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam:

Mở cửa thị trường tài chính làm tăng số lượng các ngân hàng có tiềm lực mạnh về tàichính, công nghệ và trình độ quản lý áp lực cạnh tranh cũng tăng dần theo lộ trình nới lỏng cácqui định đối với các tổ chức tài chính nước ngoài, nhất là về mở chi nhánh và các điểm giao dịch,phạm vi hoạt động, hạn chế về đối tượng khách hàng và tiền gửi được phép huy động, khả năng

mở rộng dịch vụ ngân hàng, trong khi các tổ chức tài chính Việt Nam còn nhiều yếu kém, trình

độ chuyên môn và trình độ quản lý còn bất cập, hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh thấp, nợquá hạn cao, khả năng chống đỡ rủi ro còn kém Vì thế, các NHTM Việt Nam sẽ mất dần lợi thếcạnh tranh về qui mô, khách hàng và hệ thống kênh phân phối, nhất là sau năm 2010, khi nhữnghạn chế nêu trên và sự phân biệt đối xử bị loại bỏ căn bản Sau thời gian đó, qui mô hoạt động vàkhả năng tiếp cận thị trường, các nhóm khách hàng, chủng loại dịch vụ do các ngân hàng nướcngoài cung cấp sẽ tăng lên Đáng chú ý, rủi ro đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể tănglên do các ngân hàng nước ngoài nắm quyền kiểm soát một số tổ chức tài chính trong nước thôngqua hình thức góp vốn, mua cổ phần, liên kết kinh doanh; một số tổ chức tài chính trong nước sẽgặp rủi ro và có nguy cơ thua lỗ, phá sản do sức cạnh tranh kém và không có khả năng kiểm soátrủi ro khi tham gia các hoạt động ngân hàng quốc tế

Mở cửa thị trường tài chính trong nước cũng làm tăng rủi ro do những tác động từ bênngoài, cơ hội tận dụng chênh lệch tỉ giá, lãi suất giữa thị trường trong nước và thị trường quốc tếgiảm dần Hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng phải đối mặt với các cơn sốc kinh tế, tài chínhquốc tế và nguy cơ khủng hoảng Trong trường hợp đó, thị trường vốn chưa phát triển sẽ khiến

Trang 5

Phương hướng phát triển của các ngân hàng thương mại:

Nâng cao năng lực cạnh tranh

Ở Việt Nam vẫn có truyền thống sử dụng tiền mặt trong thanh toán Trong tương lai các ngânhàng thương mại đã có phương hướng phát triển hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt Đây

là xu thế tất yếu vì đi đôi với sự phát triển của nền kinh tế thu nhập của người dân tăng lên vànhu cầu sử dụng dịch vụ này cũng tăng lên

Ở các nước phát triển thì e-banking đang rất phát triển và được sử dụng rộng rãi nhưng ở ViệtNam thì vẫn chưa được áp dụng nhiều ở các ngân hàng do trình độ công nghệ, bảo mật còn kém

và nhưng tương lai thì nghiệp vụ này sẽ được phát triển mạnh ở Việt Nam vì tính tiện lợi nhanhchóng của dịch vụ này

& Nhận xét cá nhân: Bài viết trình bày được lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng thương mại ở Việt Nam qua các thời kỳ, tuy nhiên chưa làm nổi bật được vấn

đề Phần trình bày những thách thức và cơ hội cũng như hướng phát triển còn lan man, chưa rõ Cần nêu rõ hơn với những bất cập như hiện nay ở hệ thống ngân hàng thì cần có giải pháp gì để phát triển hơn nữa trong tương lai.

Đề tài: VẤN ĐỀ NỢ XẤU CỦA VIỆT NAM

Trên thị trường Việt Nam hiện nay, vấn đề nóng bỏng là xử lý nợ xấu - cơn ác mộng kéo dàichưa đến hồi kết Nợ xấu không những làm tắc nghẽn dòng tín dụng trong nền kinh tế mà cònảnh hưởng không nhỏ đến uy tín, chất lượng, hiệu quả hoạt động kinh doanh của các tổ chức tíndụng Do vậy, xử lý nợ xấu là vấn đề cấp thiết và quan trọng

Bài viết này khái quát về nợ xấu, thực trạng hiện nay, nguyên nhân, tác động cũng như đề xuấtcác giải pháp giải quyết vấn đề nợ xấu, bài viết đi sâu vào phần trình bày nguyên nhân và đề xuấtgiải pháp

I Khái quát về nợ xấu

Theo định nghĩa nợ xấu của các tổ chức tín dụng thế giới thì: Một khoản nợ được coi là nợ xấukhi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đãđược nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đãquá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ đượcthanh toán đầy đủ”

Trang 6

Bản chất của nợ xấu là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định không thể thu hồi lại được và

bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ

Chính vì vậy dự phòng của quốc tế không tăng đột xuất theo tháng ngày trong thời hạn vay, củaViệt Nam thì cứ thêm mỗi tháng mỗi nhiều nhưng bất cứ lúc nào, không ai biết là bao nhiêu vìtháng sau, sau nữa sẽ thêm nữa

II Thực trạng nợ xấu tại Việt Nam

Trên thực tế, hoạt động kinh doanh ngân hàng không thể tránh khỏi nợ xấu, nhưng để nợ xấu tồntại quá cao và kéo dài là vấn đề nghiêm trọng cần phải giải quyết

Theo tiêu chuẩn phân loại quốc tế, mức cảnh báo nợ xấu cần xem xét ở ngưỡng trên 3% GDP,trong khi đó tỷ lệ nợ xấu của Việt Nam đã ở mức báo động, vượt mức chuẩn quốc tế rất nhiều,tăng nhanh và ngày càng khó xử lý trong điều kiện kinh tế tăng trưởng thấp

Năm 2011, tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng ở mức 3,3% tổng dư nợ Cuối năm 2012, tỷ lệ

nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng ở mức 4,08% Đến năm 2013, tỷ lệ nợ xấu giảm đáng kể ở mức3,61% Những tháng đầu năm 2014 tăng trưởng tín dụng so với cuối năm 2013; tuy nhiên, tìnhhình nợ xấu cũng đang có xu hướng tăng, cụ thể: Nợ xấu của hệ thống tín dụng đến cuối tháng 7năm 2014 là hơn 162.200 tỷ đồng chiếm 4,11% so với tổng dư nợ, đến đến cuối tháng 8 năm

2014 là hơn 210.000 tỷ đồng chiếm là 4,3% so với tổng dư nợ

Theo số liệu đến tháng 6/2014 thì tỷ lệ nợ xấu tại một số NHTM trên tổng dư nợ của ngân hàng

là khá cao đáng chú ý là NHTM SHB nợ xấu chiếm 8,10% trên tổng dư nợ, trong khi cuối năm

2013 con số này chỉ 5,67% NHTM ACB nợ xấu chiếm 3,65% trên tổng dư nợ, NHTMTechcombank nợ xấu chiếm 3,5% trên tổng dư nợ, tăng so cuối năm

Trong khi đó có một số Ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu thấp như NHTM BIDV nợ xấu chiếm 1,6%trên tổng dư nợ, trong khi cuối năm 2013 con số này là 2,3% đã giảm so với cuối năm 2013.NHTM Vietinbank nợ xấu chiếm 2,5% trên tổng dư nợ Nhưng do quy mô dư nợ ở các ngânhàng này rất lớn nên số tuyệt đối là khá cao và chiếm phần lớn nợ xấu của toàn nền kinh tế

Một điểm đáng chú ý là có sự chênh lệch khá lớn về tỷ lệ nợ xấu công bố từ các nguồn khácnhau, chẳng hạn số liệu nợ xấu tổng hợp từ các báo cáo của các tổ chức tín dụng khác xa so với

số liệu do cơ quan thanh tra giám sát của ngân hàng Nhà nước và Ủy ban giám sát tài chính quốcgia cũng như các tổ chức quốc tế

Trang 7

Nguyên nhân của sự chênh lệch này có thể do: khoản nợ rủi ro và khả năng quản trị rủi ro củacác tổ chức tín dụng là khác nhau, hoặc do một số tổ chức tín dụng không thực hiện đúng quyđịnh về phân loại và trích lập dự phòng nợ xấu.

Theo báo cáo của ngân hàng Nhà nước tính đến cuối năm 2012, dư nợ lớn đang tập trung vào cácngành như công nghiệp (29%), dịch vụ (27%), thương mại (20%)

Cũng theo đó, nợ xấu tập trung vào 5 ngành lớn bao gồm: công nghiệp chế biến chế tạo (22%),bất động sản và dịch vụ (19%), buôn bán, sửa chữa ô tô, xe máy (19%), vận tải, kho bãi (11%),xây dựng (10%)

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại đang tậptrung chủ yếu vào lĩnh vực bất động sản và chứng khoán; trong đó nợ xấu tại khu vực doanhnghiệp Nhà nước rất lớn Ước tính cuối tháng 8 năm 2013 nợ xấu của các doanh nghiệp Nhànước là khoảng 44.750 tỷ đồng chiếm 30% tổng nợ xấu

Một đặc điểm nổi bật là nợ xấu của các doanh nghiệp Việt Nam gắn khá chặt chẽ với khu vực bấtđộng sản (BĐS) Dư nợ cho khu vực này vay chiếm dưới 16% nhưng các tài sản thế chấp bằngBĐS cho các khoản vay khác nhau chiếm tới 60-80% tổng giá trị tài sản thế chấp Khi thị trườngBĐS suy giảm, những khoản nợ xấu, nợ quá hạn được thế chấp bởi BĐS sẽ rất khó thanh lý.Việcthanh lý mạnh các tài sản thế chấp sẽ tiếp tục khiến giá BĐS giảm thêm và càng làm trầm trọngthêm tình hình nợ xấu của nền kinh tế Chính đặc điểm này khiến cho công tác xử lý nợ xấu củacác doanh nghiệp sẽ gặp nhiều trở ngại hơn trong bối cảnh hiện nay

III Nguyên nhân của tình trạng nợ xấu tăng cao tại Việt Nam

Nợ xấu tăng cao ở Việt Nam xuất phát từ nhiều nguyên nhân

a Nhóm nguyên nhân từ môi trường pháp lý về hoạt động ngân hàng:

Hệ thống pháp luật là một trong những yếu tố hết sức quan trọng giúp giảm thiểu rủi ro tiềm tàngcủa lĩnh vực hoạt động ngân hàng cũng như của các tổ chức tín dụng Đối với Việt Nam, mặc dùnhững năm qua chúng ta đã rất chú ý xây dựng và từng bước hoàn thiện các văn bản pháp lý vềhoạt động ngân hàng, nhưng nhìn tổng thể có thể thấy hệ thống văn bản pháp luật chưa đồng bộ,

Trang 8

chưa hoàn thiện Vẫn còn một số điều luật đã có nhưng chưa được triển khai (về xiết nợ, về phátmại tài sản, về thế chấp, cầm cố, các quy định liên quan đến quyền sử dụng đất đai, ) Mặt khác,hiệu lực thực thi các văn bản pháp luật về hoạt động ngân hàng chưa cao, điều này đã và đangtiếp tục gây ra những rủi ro tiềm ẩn lớn đối với lĩnh vực ngân hàng Việt Nam.

b Nhóm nguyên nhân từ nội bộ hệ thống tài chính Việt Nam:

Tình hình nợ xấu của Việt Nam hiện nay có một phần lớn nguyên nhân đến từ sự yếu kém từ nội

bộ của các ngân hàng, TCTD: năng lực quản trị rủi ro của các NHTM, các TCTD yếu kém, cácquy định về công bố thông tin chưa đầy đủ và hiệu lực thi hành thấp gây ra sự thiếu minh bạch,thông tin tín dụng độ tin cậy kém, hoạt động thâu tóm, mua bán, sát nhập các công ty sân sau, sởhữu chéo trong ngân hàng,… đã tạo ra những vòng luẩn quẩn của dòng tiền, công nghệ ngânhàng còn nhiều bất cập so với yêu cầu hoạt động, nợ xấu còn có nguyên nhân sâu xa từ đạo đứcnghề nghiệp của một số cán bộ ngân hàng và khách hàng, nợ xấu tăng cao là hệ quả tất yếu củaquá trình tăng trưởng tín dụng, quá nóng

c Nhóm nguyên nhân từ cơ chế xử lý nợ xấu:

Nợ xấu ở Việt Nam đã tồn tại từ lâu nhưng quá trình xử lý nợ xấu lại thiếu hiệu quả, nguyênnhân là do cơ chế xử lý nợ xấu chưa thực sự hợp lý, còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế Cụ thể: tiêuthức phân loại nợ chưa phản ánh đúng số nợ xấu, vướng mắc trong cơ chế xử lý tài sản đảm bảo,

về xử lý nợ xấu, thị trường mua bán nợ ở Việt Nam chưa phát triển

d Nhóm nguyên nhân đến từ môi trường kinh doanh và hoạt động của các doanh nghiệp:

Nợ xấu tăng cao còn xuất phát từ sự khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp Nhiều doanh nghiệp hiện nay có năng lực tài chính yếu, chủ yếu dựa vào vốn vayngân hàng, vốn chủ sở hữu nhỏ và khả năng ứng phó với sự thay đổi môi trường kinh doanhkém Sự làm ăn thua lỗ của các doanh nghiệp, nhất là DNNN Nhiều doanh nghiệp dùng nợ ngắnhạn để đầu tư dài hạn Nhiều doanh nghiệp dùng vốn vay đầu tư ra ngoài ngành, đặc biệt là đầu

tư vào bất động sản

IV Tác động của nợ xấu

Trang 9

Nợ xấu ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế cũng như đến sự tồn tại và phát triểncủa hệ thống tổ chức tín dụng Do vậy, nợ xấu không chỉ là vấn đề của các tổ chức tín dụng cầnphải giải quyết mà cần có sự chỉ đạo chung của nhà nước

1 Tác động của việc gia tăng nợ xấu đối với bản thân các tổ chức tín dụng

Việc tỷ lệ nợ xấu gia tăng đã tác động mạnh mẽ đến các hoạt động của các tổ chức tín dụng Bởi

vì khi con số nợ xấu tăng cao sẽ làm tăng chi phí hoạt động, vì phải trích lập dự phòng nhiều hơnđối với các khoản nợ nhóm 3, 4, 5 Khi lợi nhuận giảm thì những khoản đóng góp vào ngân sáchcũng giảm đi, kéo theo việc đầu tư vào hiện đại hóa công nghệ tổ chức tín dụng, đào tạo và nângcao trình độ cán bộ nhân viên cũng giảm sút

Bên cạnh đó, khi tỷ lệ nợ xấu tăng lên cao gấp 2 đến gấp 4 lần tín dụng quốc tế thì uy tín và hệ sốtín nhiệm của tổ chức tín dụng bị sụt giảm nghiêm trọng Một tổ chức tín dụng mà con số nợ xấuquá cao thì dễ gây tâm lý hoang mang cho khách hàng lẫn nhân viên Trong trường hợp tổ chứctín dụng mất vốn, phải khoanh nợ, giảm nợ, thậm chí là xóa nợ, ngoài ra phần lớn vốn là do ngânsách cấp bù đắp và chủ yếu là do các ngân hàng trích lập dự phòng rủi ro dẫn đến việc phải giảmthu nhập, giảm lương, vả lại phải bắt đầu đối mặt với tình trạng cán bộ nghỉ việc, thiếu nhân viên

có đủ năng lực làm việc, mà nguồn nhân lực chất lượng cao thì rất quan trọng đối với hệ thốngngân hàng, dẫn đến kết quả hoạt động kinh doanh càng đi xuống

2 Tác động của việc gia tăng nợ xấu đến nền kinh tế

Việc tăng cao tỷ lệ nợ xấu có tác động gián tiếp đến nền kinh tế thông qua mối quan hệ hữu cơ tổchức tín dụng – khách hàng – nền kinh tế

Nhiều phân tích cho thấy mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chủ yếu dựa vào vốn đầu tư

và tăng trưởng tín dụng Khi tín dụng không tăng trưởng, vốn đầu tư bị cắt giảm thì đương nhiên

nó sẽ ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế Mặc khác, nếu nợ xấu phát sinh do khách hàng hoặcdoanh nghiệp sản xuất kinh doanh kém hiệu quả sẽ tác động đến toàn bộ nền kinh tế vì nguồnvốn bị ứ đọng trong nợ xấu, các tổ chức tín dụng không có điều kiện mở rộng tín dụng cho nềnkinh tế nên hoạt động sản xuất bị đình trệ làm cho nền kinh tế bị trì trệ Bên cạnh đó, nợ xấu tăngcao sẽ dẫn đến rủi ro vỡ thanh khoản cao, vỡ cơ cấu kỳ hạn của tổ chức tín dụng trong trườnghợp không thu hồi được nợ Khi nợ xấu càng kéo dài thì các chi phí bỏ ra về mặt hữu hình và vôhình đối với xử lý nợ xấu càng lớn

Trang 10

V Các giải pháp xử lý nợ xấu

1 Nhóm giải pháp về phía các tổ chức tín dụng (TCTD)

Các TCTD cần phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật về hoạt động cho vay, Phối hợpvới các khách hàng vay để thực hiện việc đánh giá chất lượng và khả năng thu hồi các khoản nợ

để có biện pháp xử lý phù hợp Đối với các TCTD tính thanh khoản chưa đe dọa sự an toàn của

cả hệ thống: Phải tự xử lý thông qua các biện pháp đã và đang làm Đối với các TCTD yếu kém,

có nguy cơ mất khả năng thanh khoản: Biện pháp khả thi là sáp nhập, hoặc giải thể

2 Nhóm giải pháp về phía ngân hàng nhà nước (NHNN)

Phải có biện pháp quyết liệt để xác định số thực tế về quy mô và cơ cấu của nợ xấu hiện nay Xử

lý nghiêm hành vi che dấu nợ xấu Đối với các TCTD có quy mô lớn, ảnh hưởng nhiều tới sự antoàn của cả hệ thống sẽ được NHNN bơm vốn để hỗ trợ, dưới hình thức góp vốn nhưng lại đượchưởng lãi cố định (như cổ phiếu ưu đãi) và ngân hàng có thể rút vốn về khi tổ chức này đã phụchồi chia sẻ khó khăn cho doanh nghiệp thông qua giảm lãi suất tiền vay đối với cả lĩnh vực ưutiên và các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác.Rà soát, hoàn thiện các quy định về phân loại nợ,trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro phù hợp hơn với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tiễn củaViệt Nam, đồng thời nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định về cấp tín dụng và an toàn hoạtđộng ngân hàng nhằm tăng cường khả năng phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý rủi ro tín dụng tronghoạt động ngân hàng Tăng cường hiệu quả, hiệu lực công tác thanh tra, giám sát ngân hàng đểđảm bảo các tổ chức tín dụng tuân thủ đúng các quy định về hoạt động ngân hàng, đặc biệt làquy định về cấp tín dụng, phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và quy định về an toàn hoạtđộng tín dụng NHNN cũng chủ động phối hợp với các Bộ, ngành liên quan để triển khai một sốgiải pháp hỗ trợ khác như: triển khai các chương trình tín dụng phù hợp, đẩy nhanh tiến độ giảiphóng hàng tồn kho, tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh Đồng thời, tích cựctriển khai đồng bộ các giải pháp sắp xếp, đổi mới và cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước, Phốihợp với các địa phương hỗ trợ thị trường bất động sản phục hồi nhanh, quản lý chặt chẽ và bảođảm thị trường này phát triển lành mạnh

3 Nhóm giải pháp về phía Bộ tài chính

Bộ tài chính phải sử dụng DATC như một công cụ quan trọng để xử lý nợ xấu hiện nay vớinguyên tắc kinh doanh có hiệu quả, DATC mua lại các khoản nợ có tài sản đảm bảo, theo cơchế thị trường Để DATC có thể làm được nhiệm vụ này thì việc nâng cao năng lực (tài

Trang 11

hoạt động bán tài sản để đảm bảo thu hồi nợ, như đào tạo và nâng cao kỹ năng phân tích tàichính, xác định giá trị tài sản thế chấp, kỹ năng xử lý nợ… cho đội ngũ cán bộ chuyên trách.

4 Nhóm giải pháp về phía các doanh nghiệp

Nâng cao hiệu quả kinh doanh, đảm bảo cơ cấu vốn hợp lý, bố trí vốn đúng nguyên tắc, sử dụngvốn có hiệu quả Xử lý nợ xấu, tái cơ cấu các TCTD, các ngân hàng phải đi đôi với việc tiếnhành tái cơ cấu DN Không thể tồn tại một hệ thống ngân hàng mạnh trên cơ sở một nền kinh tế

có các DN yếu kém

MỘT SỐ GIẢI PHÁP TỪ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ

 Vai trò của Nhà nước và nguồn vốn thực hiện việc xử lý nợ xấu

 AMC phải được hình thành có định hướng và quyền lực rõ ràng

 Xây dựng một cơ chế định giá các khoản nợ xấu một cách công khai và minh bạch

 Các giải pháp thực hiện giải quyết nợ xấu cần được lựa chọn phù hợp với trình độ pháttriển của thị trường tài chính

Nợ xấu tồn tại do nhiều nguyên nhân và nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinhdoanh của nhiều tổ chức tín dụng Kiểm soát và xử lý vấn đề nợ xấu luôn là mục tiêu ưu tiênhàng đầu của các tổ chức tín dụng, đặc biệt khi tỷ lệ nợ xấu tăng cao như hiện nay Việc tỷ lệ nợxấu cao nếu không kiểm soát và xử lý kịp thời thì hậu quả xấu của nó gây ra đối với bản thân các

tổ chức tín dụng và đối với nền kinh tế là rất lớn Trong những năm qua, tuy các tổ chức tín dụng

đã có nỗ lực tìm kiếm các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng và hạn chế rủi ro về nợ xấunhưng đây thực sự là một vấn đề khá phức tạp và nhạy cảm với các biến số kinh tế nên việc thựcthi các giải pháp vẫn còn nhiều hạn chế

& Nhận xét cá nhân: Bài viết trình bày khá rõ ràng về định nghĩa, nguyên nhân, tác động, thực trạng, giải pháp của vấn đề nợ xấu Tuy nhiên, cần đi sâu hơn vào phân tích thực trạng và tác động để làm nổi bật hơn sự nghiêm trọng của vấn đề nợ xấu đối với tổ chức tín dụng và toàn bộ nền kinh tế.

Đề tài: THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

I Tổng quan về thị trường chứng khoán

Trang 12

Khái niệm chứng khoán: Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp củangười sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán được thể hiệndưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử Chứng khoán bao gồm các loạisau đây:

a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;

b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai,nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán

Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường vốn dài hạn, thực hiện cơ chế chuyển vốntrực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành Qua đó thực hiện chức năng của thị trường tài chính

là cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế

Chức năng của thị trường chứng khoán: Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế, cung cấp môitrường đầu tư cho công chúng, tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ

mô, tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán, đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp

Phân loại thị trường chứng khoán:

 Luân chuyển nguồn vốn: Sơ cấp, Thứ cấp

 Phương thức hoạt động: Tập trung, Phi tập trung

 Hàng hóa trên thị trường:Cổ phiếu, Trái phiếu, Phái sinh

Các chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán: Nhà phát hành, nhà đầu tư, các tổ chức kinhdoanh trên thị trường chứng khoán, các tổ chức liên quan đến thị trường chứng khoán

Nguyên tắc hoạt động trên thị trường chứng khoán: Trung gian, đấu giá, công khai, tập trung

II Thị trường chứng khoán Việt Nam:

Các chủ thể tham gia ở thị trường chứng khoán Việt Nam: Nhà phát hành: chính phủ và chínhquyền địa phương, công ty, các tổ chức tài chính; nhà đầu tư: cá nhân, tổ chức; tổ chức liên quanđến TTCK: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán, Tổ chức lưu ký và thanhtoán; tổ chức khác: tổ chức kinh doanh trên TTCK, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ

Trang 13

Cơ chế điều hành, giám sát: Việc điều hành và giám sát thị trường chứng khoán được tổ chức ởnhiều cấp độ khác nhau, gồm 2 nhóm: Các cơ quan quản lý của chính phủ: và các tổ chức tựquản

CK, TTCK theo quy định của pháp luật

• Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán là tổ chức tự quản bao gồmcác công ty chứng khoán thành viên, trực tiếp điều hành và giám sát các hoạt động giaodịch chứng khoán thực hiện trên sở, trung tâm

• Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức của các công ty chứng khoán đượcthành lập với mục đích tạo ra tiếng nói chung cho toàn ngành kinh doanh chứng khoán vàđảm bảo các lợi ích chung của thị trường chứng khoán

• Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam: có nhiệm vụ thực hiện đăng ký, lưu ký, bù trừ,thanh toán chứng khoán và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ việc giao dịch mua, bán chứngkhoán

Cơ chế hoạt động

• Nguyên tắc hoạt động: Cạnh tranh đấu giá, công khai, trung gian, tập trung

Trang 14

• Niêm yết là việc cho phép các chứng khoán có đủ tiêu chuẩn được giao dịch tại thịtrường chứng khoán tập trung

• 10 tỷ đồng VN

Số năm liền trước

năm đăng ký phải

có lãi

Có ít nhất hai năm hoạt động dưới hìnhthức công ty cổ phần tính đến thời điểmđăng ký niêm yết và hoạt động kinhdoanh của hai năm liền trước năm đăng

ký niêm yết phải có lãi và không có lỗluỹ kế tính đến năm đăng ký niêm yết;

tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sởhữu (ROE) năm gần nhất tối thiểu là5%

Có ít nhất một năm hoạt động dướihình thức công ty cổ phần tính đếnthời điểm đăng ký niêm yết và hoạtđộng kinh doanh của năm liền trướcnăm đăng ký niêm yết phải có lãi,không có các khoản nợ phải trả quáhạn trên một năm, không có cáckhoản nợ quá hạn chưa được dựphòng và không có lỗ lũy kế tính đếnthời điểm đăng ký niêm yết; tỷ lệ lợinhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu(ROE) năm gần nhất tối thiểu là 5%;

Nợ

Công khai mọi khoản nợ của công ty đốivới cổ đông lớn và những người có liênquan

Không có các khoản nợ quá hạn hơn

1 năm và phải thực hiện đầy đủ nghĩa

vụ về tài chính đối với Nhà nước

Trang 15

Cổ đông nội bộ

• Giữ 100% số cổ phiếu do mình

sở hữu trong thời gian 6 tháng kể

từ ngày niêm yết

• 50% số cổ phiếu này trong thờigian 6 tháng tiếp theo

• Giữ 100% số cổ phiếu domình sở hữu trong thời gian 6tháng kể từ ngày niêm yết

• 50% số cổ phiếu này trongthời gian 6 tháng tiếp theo

Thời gian giao dịch:

A Đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư:

B Đối với trái phiếu

- Từ 9h00-15h00 : Giao dịch thỏa thuận

- Từ 11h30 đến 13h00 : Nghỉ giữa phiên

III Những tiêu cực của thị trường chứng khoán Việt Nam.

1 Yếu tố đầu cơ (thao túng giá cổ phiếu)

Trang 16

Đầu cơ là yếu tố có tính toán của người chấp nhận rủi ro Giá của các chứng khoán có thể bị đẩylên hoặc dìm xuống nhằm mục đích kiếm lợi Dẫn đến sự khan hiếm giả tạo trên thị trường, giáchứng khoán tăng vọt lên so với giá trị thực của nó khiến TTCK sụp đổ.

2 Mua bán nội gián

Mua bán nội gián là việc một cá nhân nào đó lợi dụng vị trí công việc của mình, nắm đượcnhững thông tin nội bộ của đơn vị phát hành để mua hoặc bán cổ phiếu của đơn vị đó một cáchkhông bình thường nhằm thu lợi cho mình và làm ảnh hưởng tới giá của cổ phiếu trên thị trường

Là hành vi phi đạo đức thương mại và bị cấm ở các nước

3 Phao tin đồn không chính xác hay thông tin lệch lạc

Là việc đưa ra các thông tin sai sự thật về tình hình tài chính, tình hình nội bộ của công ty hay vềmôi trường kinh doanh của công ty nhằm tăng hay giảm giá cổ phiếu để thu lợi nhuận cho cánhân Ảnh hưởng đến số đông các nhà đầu tư

4 Mua bán cổ phiếu ngầm

Là việc mua bán không qua thị trường chứng khoán Điều này có thể gây áp lực cho các nhà đầu

tư khác đưa tới việc khống chế hay thay thế lãnh đạo

Nguyên nhân dẫn tới các thiếu sót trong thị trường chứng khoán Việt Nam

 Luật chứng khoán vẫn còn những thiếu sót chưa phù hợp

 Quản lý, giám sát hoạt động thị trường còn chưa thật tốt

 Diễn biến thị trường chứng khoán Việt Nam thất thường

 Cơ sở hạ tầng trong ngành chứng khoán còn chưa đáp ứng được yêu cầu, hoạt động củacác trung gian tài chính còn chưa đủ năng lực

 Hoạt động kiểm toán trên thị trường này còn bộc lộ nhiều hạn chế

Giải pháp khắc phục các thiếu sót trong thị trường chứng khoán Việt Nam

 Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý bình đẳng và đồng bộ cho hoạt động của TTCK,tạo hành lang pháp lý và môi trường đầu tư thông thoáng

Trang 17

 Phát triển thị trường vốn theo hướng hiện đại, hoàn chỉnh về cấu trúc, có sự giám sátthích hợp của Nhà nước và liên kết với thị trường vốn quốc tế

 Đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa các DNNN và các NHTMNN

 Tăng cường hoạt động tuyên truyền và phổ biến kiến thức về chứng khoán và TTCK chocông chúng

 Nâng cao năng lực hoạt động của các trung gian tài chính trên TTCK

 Tiếp tục ban hành đầy đủ hệ thống chuẩn mực kế toán, kiểm toán Việt Nam, rút ngắn

khoảng cách giữa các chuẩn mực của Việt Nam so với các chuẩn mực quốc tế.

& Nhận xét cá nhân: Bài viết trình bày rất cụ thể, chi tiết, dễ hiểu về các khái niệm, đặc điểm, cơ chế hoạt động của thị trường chứng khoán Tuy nhiên phần tiêu cực của thị trường chứng khoán Việt Nam thì chưa rõ ràng lắm Cần đi sâu hơn phân tích từng tiêu cực để người đọc dễ hiểu vấn đề hơn.

Đề tài: GIỚI THIỆU VỀ CÁC CÔNG TY TÀI CHÍNH

Phần 1: Giới thiệu chung về công ty tài chính

Khái niệm: Công ty tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng với chức năng là sửdụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ

tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưngkhông được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới 1 năm (Nghị định số79/2002/NĐ-CP )

Phạm vi hoạt động: Thực hiện các chức năng : huy động, cho vay, đầu tư, tư vấn về tài chính,tiền tệ,… không được làm dịch vụ thanh toán, nhận tiền gửi dưới một năm, được phép mở chinhánh, văn phòng đại diện trong và ngoài nước, được phép thành lập công ty trực thuộc, có tưcách pháp nhân, hạch toán độc lập để hoạt động tài chính, tiền tệ, môi giới, bảo hiểm, chứngkhoán và tư vấn theo quy định của pháp luật

Mức vốn pháp định: Chậm nhất đến 31/12/2008: 300 tỷ đồng; chậm nhất đến 31/12/2010: 500 tỷđồng

Trang 18

Loại hình hoạt động: Theo Nghị định số 79/2002/NĐ-CP: Công ty tài chính nhà nước, công tytài chính cổ phần, công ty tài chính trực thuộc các tổ chức tín dụng, công ty tài chính liên doanh,công ty tài chính 100% vốn nước ngoài.

- Công ty tài chính doanh nghiệp: Cung cấp các dịch vụ chuyên biệt cho doanh nghiệp như: Baothanh toán, cho thuê tài chính…

Thời gian hoạt động: Tối đa 50 năm, có thể gia hạn thêm nếu được Ngân hàng nhà nước chấpthuận, mỗi lần gia hạn không quá 50 năm

Khung pháp lý: Có nhu cầu về hoạt động của Công ty Tài chính; đáp ứng điều kiện vốn phápđịnh; thành viên sáng lập, người điều hành là các tổ chức, cá nhân có uy tín và năng lực tàichính; người quản trị, điều hành có năng lực hành vi dân sự và trình độ chuyên môn phù hợp;điều lệ tổ chức, hoạt động phù hợp với quy định, dự thảo phương án kinh doanh khả thi Công tyTài chính liên doanh, Công ty Tài chính 100% vốn nước ngoài cần phải được cơ quan có thẩmquyền của nước ngoài cho phép thực hiện các hoạt động của Công ty Tài chính và hoạt động tạiViệt Nam

Cơ hội cạnh tranh và các lợi ích mang lại

 Chịu áp lực cạnh tranh thấp so với các loại hình khác

 Thực hiện các dịch vụ nhận ủy thác vốn, nhận ủy thác đầu tư bao thanh toán, thu xếpvốn, cho cả ngắn hạn, trung và dài hạn tương tự ngân hàng

 Huy động vốn chủ yếu từ nội bộ tập đoàn và nhóm công ty như là công cụ điều tiết vốncủa tập đoàn

Trang 19

 Tính nội bộ cao trong hoạt động nghiệp vụ giúp kiểm soát rủi ro tốt và tập trung vốn lớncho các dự án quan trọng trong nội bộ tập đoàn.

Phần 2: Hoạt động của các công ty tài chính

1 Huy động vốn:

• Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên

• Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ có giá khác

• Vay các tổ chức tín dụng, tài chính trong và ngoài nước

• Tiếp nhận vốn ủy thác của chính phủ, các tổ chức và cá nhân

• Vay Ngân hàng Nhà nước dưới hình thức tái cấp vốn

2 Tín dụng:

• Cho vay: Cho vay ngắn, trung và dài hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, chovay theo uỷ thác của Chính phủ, của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, cho vay tiêudùng bằng hình thức trả góp

• Chiết khấu, tái chiết khấu: Chiết khấu là việc tổ chức tín dụng mua giấy tờ có giá chưađến hạn thanh toán của khách hàng Tái chiết khấu là việc tổ chức tín dụng mua lại giấy

tờ có giá chưa đến hạn thanh toán và đã được chiết khấu theo phương thức mua hẳn

• Hoạt động bảo lãnh: Bảo lãnh bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với ngườinhận bảo lãnh, phát hành thư bảo lãnh, xác nhận bảo lãnh, ký xác nhận bảo lãnh trên cáchối phiếu, lệnh phiếu, các hình thức khác

• Hoạt động khác (bao thanh toán, góp vốn, đầu tư, cho thuê tài chính…): Góp vốn mua cổphần cho các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác, đầu tư cho các dự án theo hợpđồng, tham gia thị trường tiền tệ, hoạt động cho thuê tài chính, hoạt động ngoại hối, hoạtđộng bao thanh toán

Phần 3: Thực trạng các công ty tài chính tại Việt Nam

Trang 20

 Thị trường tài chính của Việt Nam chưa thực sự phát triển dẫn đến trình độ chuyên môn hóa củacác tổ chức tài chính chưa cao.

 Công ty tài chính dễ dàng thành lập vì vốn pháp định thấp hơn nhiều so với ngân hàng

 Bước đầu tạo được chỗ đứng tại Việt Nam, bằng chứng là số lượng các công ty tài chính đượccấp phép đi vào hoạt động liên tục tăng trong 10 năm trở lại đây

 Nâng cao chất lượng cạnh tranh trên thị trường cho vay tiêu dùng tại Việt Nam

 Tạo ra một kênh cung cấp vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ

 Chịu sự chi phối từ các tập đoàn, tổng công ty mẹ à đối tượng khách hàng bị hạn chế, phần lớnchưa có phân khúc thị trường rõ ràng

 Các công ty tài chính còn dàn trải quá nhiều lĩnh vực, các sản phẩm và dịch vụ tài chính chưa có

sự chuyên môn hóa cao

 Thủ tục trong lĩnh vực tàu chính rườm rà gây hạn chế đến khả năng tiếp cận của khách hàng đốivới gói các sản phẩm và dịch vụ tài chính

 Tốc độ phát triển của các công ty tài chính còn chậm, chưa khai thác được hết tiềm năng và thếmạnh của thị trường Việt Nam

 Lãi suất cho vay tín dụng cá nhân của các công ty tài chính vẫn còn rất cao

Phần 4: Giải pháp

Đối với công ty tài chính

 Định hướng rõ ràng về mô hình và cơ chế hoạt động của công ty tài chính trong tập đoàn kinh

tế

 Đa dạng hoá các hoạt động, nâng cao chất lượng hoạt động, nghiệp vụ, tăng cường các giảipháp công nghệ hiệu quả

 Chủ động trong quá trình tìm kiếm khách hàng

 Coi trọng các chiến lược phát triển nguồn nhân lực

Trang 21

 Xây dựng văn hoá công ty góp phần nâng cao bộ mặt công ty chỉ chuyên về lĩnh vực tàichính

Đối với nhà nước

 Tạo ra môi trường pháp lý và mối tương quan kinh tế thuận lợi

 Duy trì sự ổn định nền kinh tế, phát triển các yếu tố cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho Công tytài chính phát triển

Đối với ngân hàng nhà nước

 Cần sửa đổi những bất hợp lý trong các bô luật, nghị định để trình Quốc Hội xem xét, sửa đổitạo điều kiện hơn cho hoạt động của các công ty tài chính

 Hoàn thiện các quy chế và tiến hành giám sát chặt chẽ sự hoạt động của các Công ty tài chính.Đối với tổng công ty chủ quản của công ty tài chính

Thấy rõ được chức năng nhiệm vụ của các Công ty tài chính trong cơ cấu Tổng Công ty

Uỷ thác cho Công ty tài chính đại diện trong việc huy động vốn từ các tổ chức tín dụng vàquản lý nguồn vốn tự tích lũy, các quỹ hoặc phần tiền tạm thời nhàn rỗi

Giao cho Công ty tài chính xây dựng các phương án huy động vốn phát hành trái phiếu và cácnghiệp vụ liên quan

Tăng vốn cho Điều lệ cho các Công ty tài chính nhằm mở rộng năng lực hoạt động

& Nhận xét cá nhân: Bài viết trình bày khá đầy đủ về công ty tài chính nhưng chưa có

sự so sánh sự khác biệt của công ty tài chính với các loại hình khác để nêu bật được vai trò của công ty tài chính trong sự phát triển chung của nền kinh tế cũng như những khó khăn, thách thức mà các công ty tài chính hiện nay.

Đề tài: THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU Ở VIỆT NAM

A KHÁI QUÁT VỀ TRÁI PHIẾU VÀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU

1 Khái niệm:

Trang 22

Theo Luật chứng khoán Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam số70/2006/QH11 thì trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người

sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành

Theo định nghĩa của các tài liệu khác thì trái phiếu là một loại chứng khoán qui định nghĩa

vụ của người phát hành (người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người chovay) một khoản tiền xác định, thường là trong những khoản thời gian cụ thể, và phải hoàn trảkhoản cho vay ban đầu khi đáo hạn

2 Các loại trái phiếu

Căn cứ vào phương thức trả lãi: Trái phiếu Coupon, Trái phiếu Zero Coupon

Căn cứ vào việc ghi danh hoặc không ghi danh: Trái phiếu vô danh, trái phiếu ghi danh.Căn cứ vào đối tượng phát hành: Trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty

Căn cứ vào tính chuyển đổi: Trái phiếu không thể chuyển đổi, trái phiếu có thể chuyểnđổi

3 Thị trường trái phiếu

Thị trường trái phiếu là một bộ phận của thị trường vốn, là nơi giao dịch và mua bán cácloại trái phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này có thể là các loại trái phiếu chính phủ, tráiphiếu chính quyền địa phương hay trái phiếu doanh nghiệp Thị trường giao dịch trái phiếu cóthể là thị trường giao dịch chính thức hoặc thị trường giao dịch phi chính thức

Các chủ thể tham gia thị trường: Chủ thể phát hành, chủ thể đầu tư, chủ thể trung gian

Vai trò của thị trường trái phiếu:

Đối với nền kinh tế: kênh huy động vốn nhanh chóng và hiệu quả, hỗ trợ tốt hơn nhu cầu

vốn đầu tư dài hạn trong nền kinh tế, góp phần tạo ra một cấu trúc thị trường vốn vững chắc,thúc đẩy phát triển ổnđịnh bền vững, giảm sự tập trung vào hệ thống ngân hàng, góp phần thúcđẩy sự tăng trưởng kinh tế xã hội

Đối với chính phủ: kênh huy động vốn của chính phủ nhằm thực hiện các mục tiêu chính

trị, kinh tế và xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả của việc phân phối và tái phân phối nguồn lựctài chính, định hướng hoạt động đầu tư trong nền kinh tế

Trang 23

Đối với tổ chức phát hành: đảm bảo cho doanh nghiệp được sử dụng một nguồn vốn ổn

định và dài hạn, tránh pha loãng quyền sở hữu trong doanh nghiệp, chi phí sử dụng vốn khi pháthành trái phiếu thấp hơn phát hành cổ phiếu

Đối với nhà đầu tư: góp phần làm đa dạng hóa các sản phẩm tài chính, cung cấp cho các

nhà đầu tư ngày càng nhiều lựa chọn để đa dạng hóa danh mục đầu tư phù hợp với những khẩu

vị rủi ro khác nhau

B THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU Ở VIỆT NAM

1 Các loại trái phiếu

Hiện nay, đã có 4 loại trái phiếu được phát hành và giao dịch trên thị trường

Trái phiếu Chính phủ: Là loại trái phiếu do Bộ Tài Chính phát hành nhằm huy động vốn cho

ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn cho chương trình dự án đầu tư cụ thể thuộc phạm vi đầu

tư của nhà nước, bao gồm: Tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, công trái xây dựng Tổ quốc

Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh là loại trái phiếu do doanh nghiệp, các ngân hàng chính

sách của nhà nước, tổ chức tài chính, tín dụng phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh phảithỏa mãn các điều kiện: (1) Phát hành trái phiếu để đầu tư vào các chương trình, dự án theo quyđịnh tại Nghị định; (2) Các chương trình, dự án đã hoàn thành thủ tục đầu tư theo quy định củapháp luật về đầu tư và các quy định của pháp luật có liên quan; (3) Đáp ứng các điều kiện quyđịnh Luật Quản lý nợ công; (4) Đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật về phát hànhtrái phiếu doanh nghiệp; (5) Có đề án phát hành trái phiếu được Bộ Tài chính thẩm định và Thủtướng Chính phủ phê duyệt cấp bảo lãnh Chính phủ; (6) Tuân thủ các quy định khác của phápluật về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ

Trái phiếu chính quyền địa phương là loại trái phiếu do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực

thuộc Trung ương (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) phát hành nhằm huy động vốn cho công trình, dự

án đầu tư của địa phương Việc phát hành trái phiếu Chính quyền địa phương phải thỏa mãn 3điệu kiện: (1) Phát hành trái phiếu để đầu tư vào các dự phát phát triển kinh tế - xã hội thuộcnhiệm vụ của ngân sách địa phương theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và thuộc danhmục đầu tư trong kế hoạch 5 năm đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xác định có khả nănghoàn vốn Các dự án này phải hoàn thành thủ tục đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư vàcác quy định của pháp luật hiện hành có liên quan; (2) Có đề án phát hành trái phiếu đã được Hội

Trang 24

đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua và Bộ Tài chính thẩm định chấp thuận bằng văn bản; (3) Tổnghuy động số vốn tối đa bằng phát hành trái phiếu phải nằm trong hạn mức dư nợ từ nguồn vốnhuy động hàng năm của ngân sách cấp tỉnh theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và cácvăn bản hướng dẫn Đối với các dự án được xác định là có khả năng hoàn vốn, tổng giá trị vốnvay, bao gồm cả việc phát hành trái phiếu để đầu tư vào một dự án không vượt quá 80% tổngmức đầu tư của dự án đó.

Trái phiếu doanh nghiệp là loại chứng khoán nợ do doanh nghiệp phát hành, xác nhận nghĩa vụ

trả gốc, lãi, và các nghĩa vụ khác (nếu có) của doanh nghiệp đối với chủ sở hữu trái phiếu nhằmthực hiện các chương trình, dự án đầu tư của doanh nghiệp, tăng quy mô vốn hoạt động củadoanh nghiệp, cơ cấu lại các khoản nợ của doanh nghiệp

2 Diễn biến thị trường trái phiếu Việt Nam phát triển trong thời gian qua

Gần 15 năm hình thành và phát triển, thị trường trái phiếu của Việt Nam ngày càng lớn mạnh cả

về quy mô lẫn chiều sâu, phát huy được vai trò là kênh huy động vốn và giải quyết vấn đề thiếuhụt của ngân sách nhà nước

Tổ chức thị trường

Thị trường sơ cấp:

- TPCP phát hành theo 3 phương thức: (1) Đấu thầu phát hành trái phiếu tại HNX; (2) Bán lẻ

trái phiếu; (3) Bảo lãnh phát hành

- Tín phiếu Kho bạc được phát hành thông qua Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước (NHNN)dưới 2 phương thức: (1) Phương thức đấu thầu; (2) Phát hành tín phiếu kho bạc trực tiếp choNHNN theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ

- TPĐP được phát hành theo 3 phương thức: (1) Đấu thầu; (2) Bảo lãnh; (3) Đại lý phát hànhtrái phiếu

- TPCPBL của 2 ngân hàng chính sách được phát hành dưới 2 phương thức: (1) Đấu thầu tạiHNX; (2) Đại lý phát hành trái phiếu Trái phiếu của các DN khác được Chính phủ bảo lãnh,được phát hành dưới các phương thức phát hành TPDN

- TPDN được phát hành theo 2 hình thức là phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng

Trang 25

Thị trường thứ cấp:

Trái phiếu phát hành theo phương thức đấu thầu, bảo lãnh phát hành được đăng ký, lưu kýtập trung tại Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD), được niêm yết và giao dịch trênHNX

Quy mô của thị trường

B

ên cạnh việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, Bộ Tài chính đã thực hiện nhiều biện pháp để hỗ trợ

sự phát triển của TTTP, cụ thể: (i) thực hiện đa dạng hoá các sản phẩm trái phiếu theo hướngtăng cường các công cụ nợ có kỳ hạn dài để đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư Trong năm 2013,KBNN đã thực hiện phát hành trái phiếu kỳ hạn kéo dài 15 năm theo phương thức bảo lãnh pháthành; (ii) hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ giao dịch tại Sở Giao dịch Chứng khoán

để thúc đẩy việc đăng ký, lưu ký, niêm yết giao dịch trái phiếu trên thị trường thứ cấp; (iii) giảmthời gian đưa trái phiếu phát hành vào giao dịch từ T+6 thành T+5 (giảm 1 ngày làm việc); (iv)thực hiện đề án tái cơ cấu hàng hoá trên TTTP Chính phủ để giảm bớt mã trái phiếu giao dịch,tăng quy mô niêm yết và tăng tính thanh khoản cho TPCP Kể từ năm 2012, KBNN đã bắt đầuthực hiện hoán đổi TPCP để tăng thanh khoản trên thị trường thứ cấp; (v) rà soát, cải tiến cơ chếthuế, phí lệ phí để khuyến khích nhà đầu tư tham gia vào TTTP Từng bước xây dựng cơ sở dữliệu tập trung về

Hạn chế

Trang 26

Một là, về các quy định pháp lý: chưa có khung khổ pháp lý về hoạt động định mức tín

nhiệm đã ảnh hưởng đến sự phát triển của TTTP Việt Nam, do các nhà đầu tư không có thông tin

về mức độ rủi ro của trái phiếu nên đã hạn chế giao dịch

Hai là, về cơ sở nhà đầu tư trên TTTP: Hệ thống các nhà đầu tư trên TTTP vẫn chưa thay

đổi, tập trung vào các NHTM (nắm giữ khoảng 87% tổng khối lượng trái phiếu), chưa có các tổchức tài chính khác tham gia đầu tư dài hạn trên thị trường Nhà đầu tư nước ngoài mới chỉ quaylại TTTP trong nước từ cuối năm 2012 nhưng còn dè dặt, nắm giữ khoảng 13% tổng khối lượngtrái phiếu

Ba là, về thông tin giao dịch: Giao dịch chưa được báo cáo đúng bản chất, đang được báo

cáo thành 2 giao dịch mua đứt Do vậy, ảnh hưởng đến tính chính xác về bản chất và thời điểmcủa lãi suất giao dịch Hầu như không có giao dịch, nếu có thì thông tin cũng không được công

bố để làm cơ sở định giá cho thị trường

Bốn là, rủi ro về thanh toán: Thanh toán trái phiếu đang được thực hiện qua BIDV, dẫn đến

rủi ro về thanh khoản của BIDV khi khối lượng giao dịch trái phiếu ngày càng tăng

3 Giải pháp hoàn thiện

Để phát triển TTTP trong giai đoạn hiện nay và dài hạn, Bộ Tài chính đã đưa ra 9 nhómgiải pháp cơ bản như sau:

Một là, hoàn thiện dự thảo Nghị định về thành lập và hoạt động của DN định mức tín

nhiệm

Hai là, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý phát triển hệ thống đại lý cấp I để hỗ trợ công tác

phát hành trái phiếu trên thị trường sơ cấp và thanh khoản của thị trường thứ cấp, nghiên cứu,hoàn thiện cơ chế hỗ trợ thanh khoản cho các thành viên đấu thầu để thực hiện các nghĩa vụtrên thị trường sơ cấp và thứ cấp

Ba là, nghiên cứu và xây dựng Nghị định về Quỹ hưu trí tự nguyện để trình Chính phủ

xem xét, ban hành nhằm củng cố hệ thống cơ sở nhà đầu tư dài hạn trên TTTP

Bốn là, khuyến khích sự phát triển của thị trường TPDN Bộ Tài chính báo cáo Chính

phủ xem xét, quyết định sửa đổi, bổ sung Nghị định nêu trên nhằm khuyến khích sự phát triển

Trang 27

của thị trường TPDN, tạo thêm điều kiện cho các doanh nghiệp huy động vốn đầu tư pháttriển sản xuất kinh doanh ngoài nguồn vốn tín dụng của hệ thống các tổ chức tín dụng.

Năm là, phát triển các sản phẩm mới Phát triển các sản phẩm trái phiếu phái sinh và các

sản phẩm trái phiếu mới phù hợp với mức độ phát triển của thị trường

Sáu là, tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý về phát hành TPCP, trái phiếu được Chính

phủ bảo lãnh, trái phiếu cơ quan địa phương và TPDN

Bảy là, tiếp tục hỗ trợ thị trường thứ cấp phát triển thông qua việc nghiên cứu: (i) Các mô

hình giao dịch thứ cấp khác trên thế giới; (ii) Các giải pháp để xác định thời điểm phát sinhgiao dịch thực tế; (iii) Tiếp tục giảm thời gian thực hiện đăng ký, lưu ký, niêm yết trái phiếu

từ T+4 xuống T+3; (iv) Xây dựng hệ thống thanh toán bù trừ theo mô hình đối tác trung tâm

Tám là, thu hút nhà đầu tư nước ngoài Nghiên cứu chính sách thu hút nhà đầu tư nước

ngoài tham gia thị trường thông qua cơ chế về thuế và công cụ phòng ngừa rủi ro

Chín là, chính sách thuế và phí: Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các chính sách thuế và

phí đối với TTTP

Trong bối cảnh nền kinh tế của các nước đang phát triển như Việt Nam hiện nay, thịtrường trái phiếu đóng vai trò quan trọng trong việc huy động các nguồn lực của nền kinh tế.Tuy nhiên, nhìn lại sự hình thành và phát triển của thị trường trái phiếu Việt Nam trong thờigian qua, quy mô phát triển và giao dịch còn quá nhỏ bé nên sứ mạng của trái phiếu chưa thực

sự phát triển mạnh mẽ Do đó, phải tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức cá nhân tiếp cậnthị trường, hoàn thiện hệ thống cơ sở pháp lý, nâng cao nhận thức về trái phiếu cho các nhàđầu tư và doanh nghiệp, đẩy mạnh phát triển trái phiếu ra thị trường nước ngoài …để thịtrường trái phiếu trong tương lai ngày càng lớn mạnh, đóng vai trò quan trọng trong việc huyđộng vốn cho nền kinh tế, góp phần xây dựng thị trường tài chính Việt Nam là một trongnhững thị trường tài chính phát triển mạnh và ổn định của châu lục

& Nhận xét cá nhân: Bài viết giải thích rõ ràng về từng loại trái phiếu, vai trò của thị trường trái phiếu Tuy nhiên, nên nêu thêm đặc điểm của thị trường và thực trạng thị trường trái phiếu ở Việt Nam cụ thể hơn để người đọc hình dung tốt hơn về tình hình của thị trường hiện nay Các hạn chế và giải pháp chưa được rõ ràng.

Trang 28

Đề tài: NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI TẠI VN

1 SƠ LƯỢC BỐI CẢNH HÌNH THÀNH VÀ KHUNG PHÁP LÝ ĐIỀU CHỈNH NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

1.1 Khái niệm và phân loại

“Ngân hàng nước ngoài” là tổ chức được thành lập theo pháp luật nước ngoài, có hoạt

động chủ yếu và thường xuyên là hoạt động Ngân hàng

Ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động ở Việt Nam dưới các hình thức sau: Chinhánh Ngân hàng nước ngoài, Ngân hàng liên doanh, Ngân hàng 100% vốn nước ngoài và Vănphòng đại diện

Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của Ngân hàng mẹ, không có tư cáchpháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được Ngân hàng mẹ bảo đảm bằng văn bản về việc chịutrách nhiệm đối với mọi nghĩa vụ và cam kết của chi nhánh tại Việt Nam

Ngân hàng 100% vốn nước ngoài là Ngân hàng được thành lập tại Việt Nam với 100% vốnđiều lệ thuộc sở hữu nước ngoài, trong đó phải có một Ngân hàng nước ngoài sở hữu trên 50%vốn điều lệ (Ngân hàng mẹ) Ngân hàng 100% vốn nước ngoài được thành lập dưới hình thứccông ty trách nhiệm hữu hạn, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam

Ngân hàng liên doanh là Ngân hàng thương mại được thành lập tại Việt Nam, bằng vốngóp của Bên Việt Nam (gồm một hoặc nhiều Ngân hàng Việt Nam) và Bên nước ngoài (gồmmột hoặc nhiều Ngân hàng nước ngoài) trên cơ sở hợp đồng liên doanh; là pháp nhân Việt Nam,

có trụ sở chính tại Việt Nam Ngân hàng liên doanh được thành lập, tổ chức dưới hình thức công

ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên nhưng không quá 05 thành viên, trong đó mộtthành viên và người có liên quan không được sở hữu vượt quá 50% vốn điều lệ

1.2 Khung pháp lý NHNN tại Việt Nam

Các Ngân hàng nước ngoài để được hoạt động tại Việt Nam trước hết cần phải xin Giấy phéphoat động và kinh doanh – điều kiện tiên quyết Sau khi được cấp giấy phép, Ngân hàng nướcngoài đi vào hoạt động và phải đảm bảo một số yêu cầu tối thiểu khác do Nhà nước Việt Namquy định

Trang 29

1.3.1 Điều kiện chung để cấp Giấy phép 1

1.3.1.1 Tổ chức tín dụng được cấp Giấy phép khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Có vốn điều lệ, vốn được cấp tối thiểu bằng mức vốn pháp định;

- Chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, cổ đôngsáng lập, thành viên sáng lập là pháp nhân đang hoạt động hợp pháp và có đủ năng lực tàichính để tham gia góp vốn; cổ đông sáng lập hoặc thành viên sáng lập là cá nhân có năng lựchành vi dân sự đầy đủ và có đủ khả năng tài chính để góp vốn

- Điều kiện đối với chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn mộtthành viên, cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập do Ngân hàng Nhà nước quy định;

- Người quản lý, người điều hành, thành viên Ban kiểm soát có đủ các tiêu chuẩn, điều

kiện theo quy định tại Điều 50 của Luật này;

- Có Điều lệ phù hợp với quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liênquan;

- Có Đề án thành lập, phương án kinh doanh khả thi, không gây ảnh hưởng đến sự an toàn,

ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng; không tạo ra sự độc quyền hoặc hạn chế cạnh tranhhoặc cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống tổ chức tín dụng

1.3.1.2 Tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài được cấp Giấy phépkhi có đủ các điều kiện sau đây:

- Các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này;

- Tổ chức tín dụng nước ngoài được phép thực hiện hoạt động Ngân hàng theo quy địnhcủa pháp luật của nước nơi tổ chức tín dụng nước ngoài đặt trụ sở chính;

- Hoạt động dự kiến xin phép thực hiện tại Việt Nam phải là hoạt động mà tổ chức tín dụngnước ngoài đang được phép thực hiện tại nước nơi tổ chức tín dụng nước ngoài đặt trụ sởchính;

- Tổ chức tín dụng nước ngoài phải có hoạt động lành mạnh, đáp ứng các điều kiện về tổngtài sản có, tình hình tài chính, các tỷ lệ bảo đảm an toàn theo quy định của Ngân hàng Nhànước;

- Tổ chức tín dụng nước ngoài phải có văn bản cam kết hỗ trợ về tài chính, công nghệ,quản trị, điều hành, hoạt động cho tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng 100% vốn

Trang 30

nước ngoài; bảo đảm các tổ chức này duy trì giá trị thực của vốn điều lệ không thấp hơn mứcvốn pháp định và thực hiện các quy định về bảo đảm an toàn của Luật này;

- Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đã ký kết thỏa thuận với Ngân hàng Nhà nước vềthanh tra, giám sát hoạt động Ngân hàng, trao đổi thông tin giám sát an toàn Ngân hàng và cóvăn bản cam kết giám sát hợp nhất theo thông lệ quốc tế đối với hoạt động của tổ chức tíndụng nước ngoài

1.3.1.3 Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài được cấp Giấy phép khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Các điều kiện quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 1 và các điểm b, c, d và e khoản 2Điều này;

- Ngân hàng nước ngoài phải có văn bản bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ vàcam kết của chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam; bảo đảm duy trì giá trị thực củavốn được cấp không thấp hơn mức vốn pháp định và thực hiện các quy định về bảo đảm antoàn của Luật này

1.3.1.4 Điều kiện cấp Giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100%vốn nước ngoài 2

- Các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng

- Điều kiện đối với thành viên sáng lập, chủ sở hữu là tổ chức tín dụng nước ngoài:

 Không vi phạm nghiêm trọng các quy định về hoạt động ngân hàng và các quy địnhpháp luật khác của nước nguyên xứ trong vòng 05 năm liên tiếp liền kề trước năm nộp

hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép và đến thời điểm cấp Giấy phép;

 Có kinh nghiệm hoạt động quốc tế, được các tổ chức xếp loại tín nhiệm quốc tế xếphạng từ mức ổn định trở lên, mức có khả năng thực hiện các cam kết tài chính và hoạtđộng bình thường ngay cả khi tình hình, điều kiện kinh tế biến đổi theo chiều hướngkhông thuận lợi;

 Có lãi trong 05 năm liên tiếp liền kề trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép và đếnthời điểm cấp Giấy phép;

 Có tổng tài sản có ít nhất tương đương 10 tỷ đôla Mỹ vào cuối năm liền kề năm nộp hồ

sơ đề nghị cấp Giấy phép;

Trang 31

 Được cơ quan có thẩm quyền của nước nguyên xứ đánh giá đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn,các tỷ lệ bảo đảm an toàn khác, tuân thủ đầy đủ các quy định về quản trị rủi ro và tríchlập dự phòng đầy đủ theo quy định của nước nguyên xứ vào năm liền kề năm nộp hồ sơ

đề nghị cấp Giấy phép và đến thời điểm cấp Giấy phép;

 Không phải là chủ sở hữu, thành viên sáng lập, cổ đông chiến lược của tổ chức tín dụngViệt Nam khác

- Thành viên sáng lập của ngân hàng liên doanh là ngân hàng thương mại Việt Nam phảiđáp ứng các điều kiện quy định tại điểm a, b, c, g khoản 2 Điều 9 Thông tư này

- Trong thời hạn 05 năm kể từ ngày được cấp Giấy phép, các thành viên sáng lập phải cùngnhau sở hữu 100% vốn điều lệ của ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài.1.3.1.5 Điều kiện cấp Giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài 3

- Các điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng

- Điều kiện đối với ngân hàng mẹ:

 Đáp ứng các điều kiện quy định tại điểm a, b, c, đ khoản 2 Điều 10 Thông tư này;

 Ngân hàng mẹ có tổng tài sản có ít nhất tương đương 20 tỷ đôla Mỹ vào năm liền kềnăm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép và đến thời điểm cấp Giấy phép

Quy định về vốn điều lệ

Loại Ngân hàng Ngân hàng 100%

vốn nước ngoài

Ngân hàng liên doanh

Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Vốn pháp định 3000 tỷ đồng 3000 tỷ đồng 15 triệu USD

Quy định về an toàn hoạt động

Thực hiện tỷ lệ bảo đảm an toàn

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải duy trì các tỷ lệ bảo đảm an toànsau đây:

- Tỷ lệ khả năng chi trả

- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% hoặc tỷ lệ cao hơn theo quy định của Ngân hàng Nhà nướctrong từng thời kỳ;

- Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn;

- Trạng thái ngoại tệ, vàng tối đa so với vốn tự có;

- Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi;

Trang 32

- Các tỷ lệ tiền gửi trung, dài hạn so với tổng dư nợ cho vay trung, dài hạn.

Ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tham gia hệ thống thanh toán liênngân hàng quốc gia phải nắm giữ số lượng tối thiểu giấy tờ có giá được phép cầm cố theo quyđịnh của Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ

Tổng số vốn của một tổ chức tín dụng đầu tư vào tổ chức tín dụng khác, công ty con của tổchức tín dụng dưới hình thức góp vốn, mua cổ phần và các khoản đầu tư dưới hình thức góp vốn,mua cổ phần nhằm nắm quyền kiểm soát các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng,bảo hiểm, chứng khoán phải trừ khỏi vốn tự có khi tính các tỷ lệ an toàn

2 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG NƯỚC NGOẠI TẠI VIỆT NAM

Trang 33

Hình 1: Quy mô các Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam(31/12/2012) 2.1.2 Ngân hàng 100% vốn nước ngoài

ĐVT: Tỷ VNĐ

Trang 34

Hình 2: Vốn điều lệ các Ngân hàng 100% vốn nước ngoài ở Việt Nam

2.1.3 Ngân hàng liên doanh tại Việt Nam

(triệu USD)

Tên giao dịch tiếng Anh, tên viết tắt

2.1.4 So sánh vốn điều lệ của một số Ngân hàng nội và Ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam đến 31/12/2012

Đơn vị: tỷ đồng

Trang 35

STT Tên viết tắt Vốn điều lệ STT Tên viết tắt Vốn điều lệ

7 Techcombank 8.848

Xét về năng lực tài chính và tài sản của các Ngân hàng 100% vốn nước ngoài so với cácngân hàng lớn ở Việt Nam thì các ngân hàng hầu như chỉ đầu tư vốn điều lệ ở mức 3000 tỷ đồngtheo quy định về mức vốn điều lệ tối thiểu theo lộ trình của Việt Nam

2.2 Tổng tài sản

Xét về thị phần tổng tài sản thì đến 31/07/2012 thì thị phần của các Ngân hàng nước ngoàichỉ chiếm tỷ trọng khoản 10,66%, trong khi thị phần của các Ngân hàng TMCP chiếm đến44,25% và các Ngân hàng TM nhà nước chiếm đến 40,86% Như vậy tổng tài sản của các Ngânhàng nước ngoài chỉ bằng ¼ các Ngân hàng trong nước Điều này chứng minh năng lực cạnhtranh về tài chính của các Ngân hàng nước ngoài còn kém so với các Ngân hàng trong nước

Đề tài: VẤN ĐỀ SỞ HỮU CHÉO Ở VIỆT NAM

Trang 36

I TỔNG QUAN VỀ SỞ HỮU CHÉO

Khái niệm: Sở hữu chéo là 2 tổ chức sở hữu cổ phần lẫn nhau Sở hữu chéo là các khoản đầu tưtài chính do các định chế tài chính hoặc các doanh nghiệp thực hiện để sở hữu chéo vốn củanhau Và tùy vào bối cảnh, sở hữu chéo rất đa dạng khi kết hợp mọi thành phần tham gia kinh tế:ngân hàng - doanh nghiệp sản xuất - công ty bảo hiểm - các quỹ đầu tư Nhưng trong nhiều mốiquan hệ chằng chịt đó, mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp lại là đặc biệt hơn cả.Phân loại sở hữu chéo

- Sở hữu của các NHTM nhà nước và NHTM nước ngoài tại các ngân hàng liên doanh (NHLD)

- Cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM, cả nhà nước lẫn cổ phần

- Cổ đông tại các NHTM là các công ty quản lý quỹ

- Sở hữu của các NHTM nhà nước tại các NHTM cổ phần

- Sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM cổ phần

- Sở hữu NHTM cổ phần bởi các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tư nhân:

Trong các mối quan hệ trên, ba nhóm sở hữu chéo đầu tiên có tính tích cực vì các mốiquan hệ này chủ yếu hướng đến việc tăng cường thúc đẩy hoạt động thương mại giữa Việt Nam

và quốc tế, nâng cao năng lực quản trị và thúc đẩy việc sử dụng vốn một cách có hiệu quả

Về mặt khách quan, sở hữu chéo có nhiều yếu tố tích cực: góp phần làm tăng hiểu biếtgiữa các doanh nghiệp, đồng thời hình thành nên một cơ cấu sở hữu và quản trị ổn định trong cácdoanh nghiệp Sở hữu chéo có thể coi là một biểu hiện của chiến lược kinh doanh đa ngành nhằmtối đa hóa lợi nhuận

II THỰC TRẠNG SỞ HỮU CHÉO TẠI VIỆT NAM

1 Thực trạng sở hữu chéo tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, vấn đề sở hữu chéo liên quan đến các tổ chức tín dụng(TCTD) ở Việt Nam đang ngày càng trở nên phổ biến Bên cạnh các mặt tích cực mang lại thìtrong bối cảnh hiện nay, sở hữu chéo là một trong những nguyên nhân quan trọng có thể dẫn đến

Trang 37

các tác động tiêu cực cho hệ thống ngân hàng như cho vay theo quan hệ, thu xếp vốn cho những

dự án đầu tư chưa minh bạch, hoặc phục vụ mục đích thâu tóm ngân hàng

(1) Sở hữu của các NHTM nhà nước và NHTM nước ngoài tại các NH liên doanh:

Hiện tại có 6 NHLD trong hệ thống các tổ chức tín dụng của Việt Nam Thông thườngmột ngân NHLD được sở hữu bởi một ngân hàng nước ngoài và một ngân hàng trong nước (2) Cổ đông chiến lược nước ngoài tại các NHTM, cả nhà nước lẫn cổ phần:

Đứng trước nhu cầu thu hút vốn và kỹ năng quản trị từ các định chế tài chính có kinhnghiệm nước ngoài, NHNN đã có chủ trương khuyến khích các NHTM trong nước tìm kiếm cácđối tác nước ngoài làm cổ đông chiến lược Đến nay, có khoảng 10 NHTM có đối tác chiến lược

là các tập đoàn tài chính nước ngoài

(3) Cổ đông tại các NHTM là các công ty quản lý quỹ:

Từ năm 2005 trở lại đây, các quỹ quản lý vốn bắt đầu xuất hiện nhiều ở Việt Nam Cácquỹ này thường đầu tư vốn vào những NHTM cổ phần có tiềm năng phát triển tốt Chẳng hạn,Vinacapital đầu tư vốn vào Sacombank, VOF đầu tư vào Eximbank, quỹ Dragon đầu tư vàoACB …

(4) Sở hữu của các NHTMN nhà nước tại các NHTM cổ phần:

Quan hệ sở hữu này hình thành chủ yếu việc yếu kém nghiệp vụ ngân hàng của cácNHTM cổ phần trong giai đoạn đầu thành lập cũng như trong giai đoạn khủng hoảng 1997-1998.Tính đến nay, có gần 8 NHTM cổ phần có quan hệ cổ phần với 4 NHTM nhà nước

(5) Sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM cổ phần

Sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM cổ phần: Hiện tượng sở hữu lẫn nhau giữa các NHTM

cổ phần cũng khá phổ biến ở Việt Nam hiện nay Từ những thông tin công bố của các ngân hàng,hiện có ít nhất sáu NHTM cổ phần có cổ đông là một NHTM cổ phần khác

(6) Sở hữu ngân hàng cổ phần bởi các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tư nhân

Trang 38

Giai đoạn bùng nổ các NHTM cổ phần và quỹ đầu tư tài chính, rất nhiều tập đoàn và tổngcông ty nhà nước đã tham gia góp vốn hình thành các tổ chức tín dụng này Mới đây Ủy banKinh tế đã điểm mặt 40 tập đoàn, tổng công ty nhà nước và tư nhân đổ vốn vào các ngân hàngthương mại với cổ phần trên 5%

2 Tác động của sở hữu chéo đến hoạt động kinh doanh ngân hàng

1.1.1 Tác động tích cực

* Sở hữu chéo sẽ hỗ trợ nguồn vốn cho hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh, tạo điềukiện trao đổi kinh nghiệm, nguồn nhân lực, tài chính, công nghệ giữa các đối tác; tận dụng cơ hộikinh doanh trên thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh cho các bên tham gia; hình thành danhmục đầu tư tối ưu, tăng lợi nhuận và phân tán rủi ro trong hoạt động, góp nâng cao hiệu quả quảntrị tài chính nói riêng và quản trị kinh doanh nói chung

* Giúp các ngân hàng tăng vốn đáp ứng theo yêu cầu của Chính phủ: Sở hữu chéo giúpcác Ngân hàng giải quyết nhu cầu tăng vốn, đối phó với quy định của Chính phủ một cách nhanhchóng và đơn giản

* Sở hữu chéo giúp các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn vốn từ các ngân hàng2.2.2 Tác động tiêu cực

Rủi ro tăng vốn ảo: Sở hữu chéo hình thành những khoản vốn khổng lồ nhưng chỉ có trên giấy

tờ, sổ sách mà không được đưa ra thị trường, cho nền kinh tế Chính kết quả này kéo theo hệ lụylàm sai lệch về quản trị ngân hàng cũng như việc đánh giá rủi ro, trích lập dự phòng hay giám sátđối với hoạt động tài chính nói chung

b Rủi ro thâu tóm đối với hoạt động ngân hàng:

Sở hữu chéo khiến cho một số người sở hữu đồng thời nhiều ngân hàng và doanh nghiệp khácnhau, từ đó chi phối hoạt động kinh doanh ngân hàng Điều này được thể hiện rất rõ thông quahoạt động cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại, mặc dù có quy định các ngân hàng khôngđược phép cho cổ đông của mình vay vốn, nhưng trên thực tế họ lại có thể cho vay đối với cáccông ty, doanh nghiệp con của những cổ đông này Một khi giám sát không chặt chẽ, các chủ sởhữu có thể chi phối để dòng tiền chuyển sang cho vay các dự án sân sau của mình

Trang 39

c.Tiềm ẩn rủi ro hệ thống

Do mạng lưới chằng chịt phức tạp trong mối quan hệ sở hữu giữa các ngân hàng, khi xuấthiện rủi ro rất dễ xảy ra hiệu ứng domino không chỉ trong hoạt động ngân hàng

d Nợ xấu là một trong những hệ lụy nghiêm trọng

Nguyên nhân đến từ việc cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại,khi mà hoạt độngnày không dựa vào quy định tín dụng chặt chẽ mà chủ yếu từ quan hệ thân thiết “sân sau” Cácchủ sở hữu có thể tác động gây áp lực để thực hiện cấp tín dụng cho các hoạt động kinh doanhtheo mục đích riêng của mình; hoạt động này được thực hiện với sự qua loa trong khâu thẩmđịnh, và lỏng lẻo trong thanh tra giám sát, giải ngân và thực hiện khoản vay

3 Nguyên nhân của sở hữu chéo tại Việt Nam

2.3.3 Thiếu nguốn nhân lực quản lý cấp cao tại các NHTM Việt Nam

Đây là một đặc thù của các nước đang phát triển Khi số lượng các tổ chức tín dụng tăngmạnh, nhu cầu nhân sự quản lý cao cấp cũng tăng theo Người chủ sở hữu phải trông cậy vào cácmối quan hệ gia đình để điều hành ngân hàng Nhưng theo các quy định của Luật TCTD hiệnhành thì sử dụng mối quan hệ gia đình để điều hành ngân hàng là điều bị hạn chế Các chủ ngânhàng có xu hướng thiết lập quan hệ sở hữu chéo để có thể quản lý được hoạt động của ngân hàngthông qua các doanh nghiệp do những người thân trong gia đình làm chủ

Trang 40

2.3.4 Thiếu minh bạch thông tin của khu vực doanh nghiệp

Khi thông tin thiếu minh bạch và nguy cơ mất vốn cao nếu như xảy ra nợ xấu khiến cho ngânhàng luôn trong trạng thái nghi ngờ doanh nghiệp Để cấp vốn, ngân hàng thường yêu cầu nhiềuthủ tục chứng minh khả năng trả vốn và lãi, khiến cho rất nhiều doanh nghiệp khó có thể tiếp cậnngân hàng Một khi có quan hệ sở hữu chéo, ngân hàng nắm được tình hình của doanh nghiệp dễdàng hơn và nhờ vậy việc cấp vốn cũng thông thoáng hơn

2.3.5 Cho phép ngân hàng đa năng

Một nguyên nhân khác gây ra tình trạng sở hữu chéo khi thể chế tài chính của chúng ta cho phép

NH đa năng Tức là NH vừa hoạt động thương mại là huy động vốn và cho vay và NH vừa hoạtđộng đầu tư Nhiều NH dùng vốn huy động của dân chúng, của xã hội đáng lẽ là cho vay phục

vụ sản xuất kinh doanh nhưng lại ủy thác cho các công ty con đầu tư ximăng, hải sản, bất độngsản, chứng khoán, mua cổ phiếu và nhiều ngành nghề rủi ro khác

2.3.6 Sự quản lý lỏng lẻo của cơ quan giám sát và những lỗ hỏng trong luật quản lý banhành

Dù rằng Việt Nam có các quy định khống chế tình trạng sở hữu chéo, tuy nhiên, hệ thốngluật Việt Nam còn nhiều lỗ hỏng, giám sát chưa chặt chẽ để các ngân hàng, doanh nghiệp lợidụng sở hữu chéo để lách luật, góp phần làm cho tình trạng sở hữu chéo tại Việt Nam trở nênnghiêm trọng

III GIẢI PHÁP

Bên cạnh những tác động tích cực thì hệ lụy của sở hữu chéo để lại hậu quả nghiêm trọng đặcbiệt là tình trạng nợ xấu thời gian vừa qua Sở hữu chéo có những nguyên nhân khách quan vàchủ quan xuất phát từ yêu cầu của đời sống kinh tế, xã hội hay những kẽ hở của luật định

Đối với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước:

- Khống chế tỷ lệ sở hữu chéo: cần bổ sung quy định để hạn chế những sở hữu chéo gián tiếp cóảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thông qua các công ty con, đồngthời, cần có những quy định cụ thể nhằm cơ cấu lại tỷ lệ sở hữu giữa các NHTM với các DNTN

Ngày đăng: 25/02/2016, 13:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Quy mô các Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam(31/12/2012) 2.1.2. Ngân hàng 100% vốn nước ngoài - Lịch sử hình thành và phát triển ngân hàng thương mại việt nam
Hình 1 Quy mô các Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam(31/12/2012) 2.1.2. Ngân hàng 100% vốn nước ngoài (Trang 34)
Hình 2: Vốn điều lệ các Ngân hàng 100% vốn nước ngoài ở Việt Nam - Lịch sử hình thành và phát triển ngân hàng thương mại việt nam
Hình 2 Vốn điều lệ các Ngân hàng 100% vốn nước ngoài ở Việt Nam (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w