Quản lý đất đai thông qua quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất vừa đảm bảo tính thông nhất của quản lý nhà nước về đất đai vừa tạo điều kiện để phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong vi
Trang 1
BO TAI NGUYEN VA MOI TRUGNG
_ Trung tam Điều tra Quy hoạch đất đai
78/9 Đường Giải Phóng - Phương Mai — Đống Da - Hà Nội
Đề tài cấp nhà nước:
NGHIEN CUU BOI MOI HE THONG QUAN LY
DAT DAI DE HINH THANH VA PHAT TRIEN
THI TRUONG BAT DONG SAN O VIỆT NAM
DE AN
QUY HOACH, KE HOACH SU DUNG DAT DAI
TS Nguyễn Đức Minh
839-3 3+! C06
MỤC LỤC
"N0 81010) 8n 5
2.2 Mục tiêu cụ thể đến năm 2010: tt neieee 6
3 Nội dung chủ yếu của đề án 7
3.1 Hiện trạng sử dụng đất đai cu thoa 7
3.2 Định hướng sử dụng đất lâu dài trong giai đoạn công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước (tầm nhìn 2020 về sử dụng đất) -cc-ce 15
4 Quy hoạch sứ dụng đất đến năm 2010 18 F2 toi 6i) i c££ỶẢẢẢẢẢẮIẮIẮẦẮẶỶẶỶỶẶÚ 18 l2 0c | 8n 19 4,3 Đất chuyên dùng s-ctc tS 111171221 1117112151111111 117115111 tre 20 4.4 Đất khu dân cư nông thôn, đất đô thị ¿s2 vs evxrrirkerkrsree 20
4.5 Đất chưa sử dụng c- sex TH 111 1211 11111121112121121 11111111 21
5 Một số giải pháp và tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất 21
6 Tiền độ và kinh phí thực hiện 23
A10 00i./aỒỒỒIIẮIẶẶẶẶ 23
6.2 Về giao đất, - sec tt HH H1 111111111111 11.11111171 23
6.3 Về lập quy hoạch sử dụng đất địa phương các cấp 24 6.4 Kinh phí đề thực hiện công tác thu hồi đất cs-ccccczvcrserxcee 25
Trang 2MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta tiến hành đôi mới
nền kinh tế đất nước theo hướng “phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiễu
thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Nhờ từng bước thực hiện quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cùng với nền kinh tế thị trường,
Việt Nam đã có những bước tiến rõ rệt Tuy nhiên Việt Nam là nước đất
chật người đông, có diện tích tự nhiên 32.924.061 ha với số dân 77,6 triệu
người (2000), trong đó 75,8% (58,8 triệu người) là dân số nông thôn, vấn
đề đất đai luôn luôn nhạy cảm, nóng bỏng mà Đảng và Nhà nước thường
xuyên quan tâm nhằm sử dụng hợp lý quỹ đất đai rất có hạn và quý của
nước ta
Đất đai nằm trong nhóm tài nguyên hạn chế của Việt Nam nhưng lại
là điều kiện không thê thiếu được trong mọi quá trình phát triển, vì vậy việc
sử dụng thật tốt tài nguyên quốc gia này không chỉ sẽ quyết định tương lai
của nền kinh tế đất nước mà còn là sự đảm bảo cho mục tiêu ốn định chính
trị và phát triển xã hội Xã hội ngày càng phát triển thì giá trị của đất đai sẽ
càng cao và yêu câu về sử dụng đất càng phải tốt hơn với hiệu quả kinh tế và
xã hội cao hơn
Quy hoạch sử dụng đất là công cụ quản lý không thể thiếu trong việc
tổ chức sử dụng đất của các ngành kinh tế - xã hội và các địa phương
Phương án quy hoạch sử dụng đất là kết quả hoạt động thực tiễn của hệ
thống bộ máy quản lý Nhà nước kết hợp với những dự báo có cơ sở khoa
học cho tương lai Quản lý đất đai thông qua quy hoạch và kế hoạch sử dụng
đất vừa đảm bảo tính thông nhất của quản lý nhà nước về đất đai vừa tạo
điều kiện để phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc sử dụng đất để
đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công băng văn minh
1 Sự cân thiết
Với tổng diện tích tự nhiên 32.924.061 ha, Việt Nam là nước có quy
mô trung bình, xếp thứ 59 trong tổng số trên 200 nước, nhưng đông dân vào
hàng thứ 13 trên thế giới (77,6 triệu người năm 2000) nên bình quân đất đai
tính theo đầu người rất thấp chỉ bằng 1/6 mức bình quân của thế giới (0,45
ha), tương đương với các nước Anh, Đức, Philippin, đứng hàng thứ 9 trong
10 nước Đông Nam Á và thứ 135 trong tổng số trên 200 nước trên thế giới
Việt Nam đang ở thời kỳ điều chỉnh mạnh cơ cấu kinh tế về công
nghiệp, nông nghiệp và thương mại - dịch vụ Tốc độ tăng trưởng kinh tế
liên tục tăng từ 1991 đến nay, đạt mức bình quân 7%/năm nhưng dân số còn
tăng nhanh trong vải thập ký nữa Thu chỉ ngân sách có chiều hướng én
định, bắt đầu có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế nhưng đang đứng trước nguy
cơ tụt hậu xa hơn nữa so với các nước trong khu vực
Nhu cau tăng trưởng kinh tế cao sẽ gây áp lực mạnh đối với đất dai và
dễ dẫn đến tình trạng rối loạn trong khai thác sử dụng đất, nhất là ở những
nơi “đất chật người đông”, kinh tế trù phú, có nhiều cơ hội tiếp nhận đầu tư,
lao động
Để sử dụng đất đai đúng mục đích và có hiệu quả, Nhà nước phải thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật
Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: “Nhà nước thông nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và
pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả” (Điều 18)
Luật Đất đai năm 1993 quy định nội dung, trách nhiệm, thầm quyền
lập và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 16, 17, 18), căn cứ
giao đất và thâm quyền giao đất là phải dựa vào quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất (Điều 19, 23).
Trang 3Diéu 16 khoan 1 ghỉ rõ: “Chính phủ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất đai trong cả nước trình Quốc hội quyết định”
Nghị định của Chính phủ vẻ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai số
68/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 tại Điều 2 khoản 1 có ghi “Chính phủ giao
Tổng cục Địa chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan lập quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của cả nước” và “Quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất đai đã được cơ quan nhà nước có thấm quyền quyết định, xét duyệt
là căn cứ để bố trí sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử
dụng đất, chuyên đất nông nghiệp trồng lúa nước sang nuôi trồng thuỷ sản
hoặc trồng cây lâu năm, chuyển đất trồng cây lâu năm sang trồng cây hàng
năm” (Điều 5 khoản 1)
Như vậy, Đề án “Quy hoạch sử dụng đất đai Việt Nam đến năm
2010” được xây dựng là xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trong quản lý và sử
dung đất đai của nước ta và những quy định được nêu trong Luật Đất đai và
Nghị định số 68/2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 1/10/2001 về quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất đai Đề án do Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng
để Chính phủ trình Quốc hội quyết định
2 Mục tiêu của đề án
Đề án “Quy hoạch sử dụng đất đai Việt Nam đến năm 2010” có
mục tiêu: Xây dựng bộ chỉ tiêu các loại đất cho cả nước và 7 vùng kinh tế
năm 2010:
- Đất nông nghiệp
- Đất lâm nghiệp
- Đất đô thị
- Đất khu dân cư nông thôn
- Đất chuyên dùng
- Đât chưa sử dụng và sông suôi, núi đá 2.1 Mục tiêu tông quát:
+ Tài nguyên đất đai quốc gia phải được khai thác tổng hợp, đồng bộ
vì các lợi ích kinh tế - chính trị - xã hội của cả nước và từng địa phương, dam bao hai hoa cac lợi ích kinh té, xd hội và môi trường: lợi ích của Nhà
nước, người đầu tư và người sử dụng đất
+ Phát triển công nghiệp, đô thị, kết cấu hạ tầng phải nhịp nhàng với
phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa Đón trước những tiền bộ khoa học kỹ thuật để sử dụng đất đai một cách hết sức
tiết kiệm, nhằm bảo vệ và khai thác sử dụng thật tốt quỹ đất nông nghiệp
nhất là đất trồng lúa nước đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
+ Đảm bảo diện tích phủ xanh bằng cây rừng nhất là rừng đầu nguồn, nâng tỷ lệ che phủ bằng cây rừng để giữ được cân băng sinh thái bền vững
và bảo vệ được tính đa dạng sinh học
+ Dành một quỹ đất đai hợp lý trong việc xây dựng và phát triển các
khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất ở những địa bàn kinh tế có điều kiện thuận lợi để phát huy nhanh hiệu quả đầu tư, đồng thời chủ động chuẩn
bị những địa bàn kinh tế khác tuy trước mắt còn khó khăn nhưng không lấn
nhiều vào đât nông nghiệp
+ Dành quỹ đất cho phát triển cơ sở hạ tầng để đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
+ Từng bước bố trí lại các khu dân cư cả ở nông thôn và đô thị ở
những nơi đã hình thành, kết hợp với quy hoạch xây dựng các khu đân cư
mới phát triển theo hướng vừa chú ý tới môi trường sinh thái như cây xanh,
lâm viên, công viên, vừa đáp ứng các nhu câu về giao thông, thông tin liên lạc, giáo dục, văn hóa, thể dục thê thao, du lịch và các công trình phúc lợi xã hội khác
Trang 4+ Đảm bảo nguyên tắc quốc phòng kết hợp với kinh tế và kinh tế kết
hợp với quốc phòng trong khai thác sử dụng đất đai, ưu tiên bố trí những địa
thế tự nhiên thuận lợi cho mục tiêu an ninh quốc phòng Đồng thời một mặt
khi bố trí các cơ sở kinh tế phải gắn với an ninh quốc phòng vững chắc Đặc
biệt quan tâm các yếu tổ an ninh quốc phòng trong khai thác sử dụng đất dai
vùng biên giới đất liền, vùng bờ biến và hải dao
+ Với 3.260 km bờ biển và hơn 3.000 hải đảo, Việt Nam có thêm lục
địa và lãnh hải rộng lớn gấp nhiều lần diện tích đất liền Đề tiến ra biển phải
biết lợi dụng các yếu tế tự nhiên kết hợp với các yếu tô khác mà lịch sử dân
tộc ta đã trải qua cũng như những kinh nghiệm tiên tiến hiện thời của nhân
loại Phải tiến tới xây dựng chiến lược khai thác sử dụng và quản lý chặt chẽ
hải đảo, thềm lục địa và lãnh hải để vừa tạo ra khả năng phân bổ lại dân cư
và phát triển kinh tế vừa tăng cường đảm bảo chủ quyền lãnh thổ và an ninh
quốc gia
2.2 Mục tiêu cụ thể đến năm 2010:
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010 nhằm đạt
Các mục tiêu sau:
- Đất nông nghiệp:9,9 - 10,0 triệu ha
Trong đó đất ruộng lúa: 3,8 - 4,0 triệu ha
- Đất lâm nghiệp : 16,2 triệu ha
Ty lệ so với diện tích tự nhiên: 49,3%
- Đất đô thị: 1.070,2 ngàn ha
Trong đó đất ở: 99,3 ngàn ha
- Đất khu dân cư nông thôn: 1.903,6 ngàn ha
Trong đó đất ở: 379,2 ngàn ha
- Đất chuyên dùng: 2.085,8 ngan ha
- Đât chưa sử dụng và sông suôi, núi đá: 4,2 triệu ha (Đất đô thị và đất khu dân cư nông thôn bao gồm cả đất nông nghiệp,
lâm nghiệp và chuyên dùng và đất chưa sử dụng năm trong ranh giới)
3 Nội dung chủ yếu của đề án
3,1 Hiện trạng sử dụng đất đại Năm 2000 đất đai cả nước được sử dụng như sau:
Diện tích tự nhiên -32.924 ngàn ha;
- Đất đã sử dụng: 22.897 ngàn ha, chiếm 69,54% diện tích tự nhiên; + Đất nông nghiệp: 9.345 ngàn ha, chiếm 28,38%;
+ Đất lâm nghiệp: 11.575 ngàn ha, chiếm 35,15%;
+ Đất chuyên dùng: 1.533 ngàn ha;
+ Đất ở đô thi: | 72 ngàn ha;
+ Đất ở nông thôn: 371 ngànha;
- Đất chưa sử dụng và sông suối, núi đá: 10.027 ngàn ha, chiếm 30,46% diện tích tự nhiên
Từ năm 1990 đến nay, tuy quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá đã
gây sức ép lớn đối với đất đai nhưng điện tích đất nông nghiệp, đất lâm
nghiệp đều tăng, việc sử dụng đất chuyên dùng được quản lý tốt hơn
- Đất nông nghiệp tăng: 2.352.100 ha Trong đó: + Đất trông cây hàng năm tăng: 790.500 ha
(riêng đất trồng lúa tăng 159.000 ha) + Đất trồng cây lâu năm tăng: 1.136.800 ha
- Đất lâm nghiệp có rừng tăng: 2.180.200 ha
Trong đó: + Rừng tự nhiên tăng: 1.051.200 ha
Trang 5+ Rimg tréng tang: 1.128.600 ha
- Đất chuyên dùng tăng: 560.600 ha, bình quân 1 năm tăng 56.000 ha
(thời kỳ 1980 - 1990 đất chuyên dùng tăng 253.400 ha)
Nhận xét về hiện trạng sử dụng đất đai:
Thời kỳ 1990 - 2000 nhất là từ sau khi có Luật Đất đai với những
chính sách đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước ta, việc quản lý và sử
dung đất đai đã có những tiễn bộ rõ rệt:
- Tuy quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá và xây dựng cơ sở hạ
tầng đã gây sức ép lớn đối với đất đai nhưng do khai hoang, đây mạnh
trồng rừng nên diện tích đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp đã không bị suy
giảm mạnh và bắt đầu phục hồi, môi trường sinh thái được chú trọng và cải
thiện Việc quản lý và sử dụng đất chuyên dùng đã tốt hơn nên vẫn đáp ứng
được mọi nhu cầu nhưng diện tích đất chuyên dùng hàng năm tăng ít hơn
thời ky trước
- Trong 10 năm đất nông nghiệp tăng được 2.352.100 ha là một thành
tựu to lớn, trong đó riêng đất trồng cây hàng năm tăng 790.500 ha, trong đó
có 301.400 ha đất trông lúa nước là rất có ý nghĩa
- Cùng với việc tăng diện tích đã chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật phục vụ nông nghiệp đã tăng được diện tích, tăng hệ số lần
trồng, kết hợp với việc ứng dụng các kỹ thuật đã đưa năng suất lúa từ 31,9
tạ/ha (1990) lên 48,5 tạ/ha (2000) nên lương thực không những đủ ăn mà
còn dư thừa đề xuât khâu
Chính vì vậy đã bố trí hợp lý cây trồng vật nuôi, khắc phục sản xuất
lương thực bằng mọi giá, khôi phục và phát triển nhiều vườn cây ăn trái, cây
công nghiệp có giá trị cao, nuôi trồng thuỷ sản ở hầu hết các vùng của đất
nước Đông thời đã hạn chế việc sử dụng đất nông nghiệp sang các mục đích
sử dụng khác
- Về đất lâm nghiệp có rừng đặc biệt là rừng tự nhiên đủ tiêu chuẩn
vẫn bị suy giảm về trữ lượng, chất lượng và đa dạng sinh học nhưng thời gian qua do đây mạnh khoanh nuôi tái sinh nên về điện tích đã từng bước được mở rộng
- Trong đất chưa sử dụng thì đất đồi núi có diện tích 7.699.383 ha, chiếm tới 89% diện tích đất chưa sử dụng Thực chất phần lớn loại đất này
đã từng được sử dụng nhưng không ổn định, chưa bền vững nên bị bỏ hoá trở lại thành đất hoang trọc Ngoài ra còn có 1.363.944 ha là núi đá trọc,
sông suối
Trong 10 năm 199] - 2000 đã đưa vào sử dụng mỗi năm khoảng 455,5 ngàn ha
Bên cạnh những ưu điểm trên còn những mặt ton tai:
- Toàn quốc hiện có khoảng 100 triệu thửa đất do bị chia cắt nhỏ Đây
là một đặc thù quan trọng chi phối trong việc quản lý và sử dụng tài nguyên đất ở nước ta, cần phải được tính tới trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn và nông nghiệp
- Tiêm năng đất nông nghiệp còn nhưng chưa được khai thác do điều
kiện tự nhiên và khả năng dau tu co han va suat dau tư lớn
- Việc mắt đất nông nghiệp nhất là đất trồng lúa cho mục đích phát
triển công nghiệp, kết cấu hạ tầng và đô thị hoá còn là vẫn đề gay can trong
quả trình hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất nước từ nay đến những năm
2020 Do đó đòi hỏi phải có những biện pháp chính sách tích cực ngay ở nửa
chặng đường đầu công nghiệp hoá đất nước thì mới chủ động được trong vân đề an ninh lương thực ở những chặng đường tiếp theo
- Rừng vân còn bị tàn phá trong khi phục hôi còn chậm nên đã ảnh
hưởng đến môi trường sinh thái.
Trang 6Ở những nơi còn nhiều đất thì mật độ dân số thưa, đân trí còn thấp,
tập quán canh tác lạc hậu, khó có thể đây nhanh tốc độ và quản lý tốt
đất rừng
Ở những nơi đất chật người đông thì lao động dưa thừa, trình độ dân
trí cao hơn, tập quán canh tác tiên tiến hơn, thì sức ép trên đất đai lại ngày
càng lớn
Do đó cần có những chính sách thoả đáng mới có thể giải quyết
những vấn đề không chỉ là lợi ích kinh tế mà còn là lịch sử xã hội và phong
tục tập quán của các dân tộc nhất là đông bào ở vùng sâu, vùng xa
- Tuy đã đang hình thành với khoảng 67 khu công nghiệp tập trung
nhưng vẫn còn bị động, chắp vá, sử dụng đất lãng phí do chưa có quy
hoạch đồng bộ Mặt khác do cơ sở hạ tầng yếu kém nên đã hạn chế thu hút
đầu tư phát triển công nghiệp tới các vùng đất ít thuận lợi và ít lấn vào đất
nông nghiệp
Đất ở đô thị và đất ở khu dân cư nông thôn cũng còn nhiều mặt giải
quyết không theo kịp yêu câu:
Một bộ phận dân cư thiếu đất ở nhưng chưa có cơ chế phù hợp để giải
quyêt yêu câu này trong điêu kiện Nhà nước xoá bỏ bao cap về nhà ở
Việc mở rộng các khu dân cư ở đô thị còn thiêu quy hoạch vững chắc
cả về kinh tê, kỹ thuật, cơ sở hạ tâng và chính sách đến bù tái định cư chưa
đông bộ nên đã ảnh hưởng đến việc mở rộng đô thị và các khu công nghiệp,
đê lại nhiêu hậu quả khó khắc phục
Trong một thời gian dài việc quản lý và sử dụng đất của các tổ chức
chưa được quản lý sử dụng chặt chẽ nên đã gây ra lãng phí và sử dụng
không đúng mục đích
Nhiễu nơi chưa có quy hoạch sử dụng đất đai trong đó đặc biệt là quy
hoạch các khu dân cư nông thôn nên dân cư sông phân tán, rải rác dọc theo
đường giao thông, kênh rạch, bờ vùng, giữa cánh đồng hoặc rẻo cao gây khó khăn cho việc xây dựng đường sá, điện nước, trường học, dịch vụ công cộng, để nâng cao đời sông kinh tê và dân trí
- Quỹ đất dành cho các hoạt động văn hoá, thể dục, thê thao, vui chơi
giải trí, bị thu hẹp do quản lý đất đai lỏng lẻo nên đã bị lấn chiếm sử dụng
vào mục đích khác
Về quản ly dat dai con nhiéu bat cập:
- Do nhiều đặc điểm của quá trình sử dụng trước đây, các thửa đất bị
chia cắt quá nhỏ Toàn quốc hiện có khoảng 100 triệu thửa đất Đây là một
đặc thù quan trọng của hiện trạng sử dụng tài nguyên đất ở Việt Nam, có
liên quan tới quyết định cầu trúc hệ thống quản lý đất đai và việc hình thành
các chính sách đất đai để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trải qua một thời gian đài buông lỏng quản lý nên tải nguyên đất không được khai thác đầy đủ, sử dụng đất còn lãng phí, nguồn thu từ đất bị
thất thoát
Để quân lý chặt chẽ đất đai và có cơ sở giao cấp đất sử dụng hợp lý,
tiết kiệm cần tiễn hành lập quy hoạch sử dụng đất đai dựa trên cơ sở chiến
lược lâu đài về khai thác sử dụng và bảo vệ đất đai của cả nước gắn với
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của từng thời kỳ
Thiếu tầm nhìn dải hạn về khai thác sử dụng đất đai dễ dẫn đến tình
trạng sử dụng nguôn tài nguyên này kém hiệu quả và gây lãng phí lớn cho lợi ích của toàn xã hội
Trước tiên những ngành quản lý và sử dụng nhiều đất cùng với các
cấp chính quyền cần rà soát lại thực trạng sử dụng đất đai đề tiền hành lập
quy hoạch sử dụng đất đai trên diện tích do mình quản lý và sử dụng
- Pháp luật đất đai cùng với các chính sách đất đai đã được hình thành
nhưng còn thiêu đồng bộ, chưa được phô biên sâu rộng đề toàn dân tự giác
Trang 7thực hiện Còn thiếu các chính sách cụ thể và các văn bản pháp quy điều tiết
các mỗi quan hệ đất đai ở cả khu vực nông thôn và thành thị trong cơ chế
kinh tế thị trường, thiếu quy định cụ thể về 5 quyền của người sử dụng đất
Xử lý hành chính các vi phạm pháp luật đất đai, quản lý và sử dụng đất
chuyên dùng, đất công cộng còn lỏng lẻo, thiểu chặt chẽ trong khi bộ máy
quản lý đất đai, nhà ở, xây dựng ở các cấp đặc biệt là cấp xã, phường, thị
tran còn thiếu và yếu chưa đủ sức nhanh nhạy giải quyết kịp thời đã dẫn đến
tỉnh trạng việc sử dụng đất tuy tiện, lân chiếm, mua bán, chuyển nhượng đất
đai, nhà ở Có nơi diễn ra như một “thị trường ngầm” sôi động ở các thành
phó, thị trấn, thị tứ, hai bên đường các trục giao thông chính và âm thâm
diễn ra cả ở nông thôn làm cho một số nông dân lâm vào tình trạng “không
có ruộng” thuộc diện phải hỗ trợ xoá đói giảm nghèo
- Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhu cầu đất đai cho
xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển công nghiệp, đô thị là tất yếu và ngày
tăng Trong khi cố gắng đáp ứng yêu cầu này, Chính phủ đã có chủ trương
bảo vệ quỹ đất nông nghiệp, nhất là đất lúa, hạn chế việc sử dụng đất nông
nghiệp vào mục đích khác để đảm bảo an ninh lương thực Tuy nhiên còn
thiểu các chính sách cụ thể và chính quyền các cấp còn lúng túng trong việc
tổ chức thực hiện đền bù, giải toả, tái định cư, tạo việc làm cho người lao
động ở những nơi phải chuyển đi, dành đất cho xây dựng hạ tầng, công
nghiệp, đô thị làm cho nhân dân không an tâm, cá biệt có những trường hợp
phát sinh mất ôn định an nỉnh, trật tự xã hội
- Trơng việc thi hành Luật Đất đai, các ngành, các cấp chưa quan tâm
đầy đủ gắn quy hoạch phát triển kinh tế xã hội với quy hoạch sử dụng đất
đai nhất là đất ở vùng biên giới, hải đảo
Về điều động dân cư và lao động:
Trong thời kỳ trước năm 1990 các luồng di dân từ Bắc vào Nam là
chủ yếu với số lượng dân số khá lớn nhưng đại bộ phận là theo kế hoạch
12
điều động cả nơi đi và nơi đến Sô dân này vào các vùng Tây Nguyên, Đông Nam bệ và Duyên hải Nam Trung bộ về cơ bản đã ôn định được đời sông của mình trên cơ sở được cập đất ở và đât sản xuât tương đổi ôn định Trong thời kỷ sau năm 1990, các luồng di dân trong nội vùng và các vùng phía Bắc vào Nam cũng có số lượng lớn nhưng đại bộ phận là di cư tự
do gây nhiều khó khăn phức tạp cho các tỉnh thuộc 3 vùng Tây Nguyên,
Đông Nam bộ và Duyên hải Nam Trung bệ
Số dân di cư nảy hiện còn tồn đọng thiếu công ăn việc làm, khoảng
một nửa chưa được cấp đất ở và đất sản xuất ổn định nên đời sống còn rất
khó khăn Số dân di cư cả hai thời kỳ trên dù có kế hoạch hay di cư tự do
cũng còn một số hộ rất khó khăn vừa không có vốn, ít đất hoặc không đất,
thậm chí có đất nhưng không biết sản xuất nên lâm vào tình trạng nghèo và
rất nghèo, chỉ sống bằng cách làm thuê, làm mướn trong các công ty nông lâm nghiệp
Việc di dân giữa các vùng là cân thiết trong giai đoạn đầu, trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, nhất là nông nghiệp chủ yếu dựa vào
điều kiện tự nhiên Do đó trong những năm tới cần thực hiện chủ trương:
ồn định vững chắc công ăn việc làm cho số đân đã cư trú trong vùng từ trước đây
Từ thực tiễn thời gian qua, vẫn đề đặt ra là không nên điều động dân
cư giữa các vùng với mục tiêu kinh tế nhất là mục tiêu nông nghiệp và giải quyết công ăn việc làm mà chỉ nên điều động dân cư gắn mục tiêu phát triển kinh tế với an ninh quốc phòng (các vùng biên giới) và di dân gắn với các
mục tiêu công nghiệp hoá (di dân lòng hồ ) hoặc giải quyết hậu quả thiên tai (sat lở đất )
Trong sản xuất nông nghiệp hàng hoá, vấn đẻ tích tụ đất đai, kinh tế trang trại là những vấn đề có tính quy luật nhưng cần có bước đi thích hợp,
13
Trang 8phù hợp với tiễn độ công nghiệp hoá nói chung và đặc biệt là quá trình công
nghiệp hoá nông nghiệp vả nông thôn và phải gắn với mục tiêu đảm bảo
công bằng xã hội Thời gian qua, do chưa có những chính sách, biện pháp cụ
thê để khắc phục những mặt trái của nền kinh tế thị trường, do vậy chưa có
những chính sách, biện pháp cụ thể để đảm bảo nông dân có đất để sản xuất
cũng như các chính sách đât đai đôi với đông bảo các dân tộc thiêu sô
Khi chuyển sang nên kinh tế thị trường, việc sử dụng đất nông
nghiệp và phát triển nông nghiệp cân có hệ thống chính sách bảo đảm tương
đối ôn định đầu vào và đầu ra cho sản xuất nông nghiệp ở từng vùng khác
nhau để khuyến khích khai thác tiềm năng thế mạnh của mỗi vùng Ở đây
vai trò của Nhà nước là rât lớn, nhật là đầu ra cho sản phâm
Những mặt hạn chế và tổn tại trên là những thách thức lớn đối với
nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai trước yêu cầu nhiệm vụ mới trong giai
đoạn trước mắt từ nay đến năm 2010 trong tiễn trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước
Điểm nỗi bật là đã đến lúc phải tính tới việc tổ chức lại nền sản xuất
nông nghiệp của nước ta vì từ thiếu đói đã chuyền sang giai đoạn dư thừa và
xuất khẩu lớn thóc gạo trong mấy năm qua Phải quan niệm an ninh lương
thực là một nhiệm vụ chiến lược của Nhà nước trong những cân đối lớn ở
tầm vĩ mô mà không nên ủy thác để gò ép đối với từng hộ nông dân Do đó
Nhà nước cần có những chính sách lớn tác động vào nông dân mà bắt đầu là
các chính sách về sử dụng đất đai để làm cho nông dân sản xuất có lợi thì
mới phát triên ôn định ở khu vực nông thôn
Cần phải được làm rõ các hình thức tổ chức và các thành phần kinh tế
trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp từ nông lâm trường, hợp tác xã đến hộ
gia đình Đây mạnh các hình thức hiệp tác, cho phép hình thành các doanh
nghiệp nông nghiệp, công ty cô phần thực hiện phương châm “ly nông, bắt
ly hương” là những vấn đề cần được nghiên cứu và áp dụng
3.2 Định hướng sử dụng đất lâu dài trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (tầm nhìn 2020 VỀ sử dụng đáp
Tài nguyên đất thuộc loại tài nguyên có nguồn cung cô định, vì vậy quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đóng một vai trò quan trọng để thiết lập
một hệ thống sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững Hệ thống
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hợp lý cho phép sử dụng nguồn tài nguyên
đất và nguồn vốn đất đai nhằm mục tiêu ôn định chính trị, phát triển kinh tế
và công bằng xã hội; đồng thời tạo lập được một hệ thống quản lý đất đai có thể chế hành chính chặt chẽ, thủ tục hành chính đơn giản và điều tiết hợp lý lợi ích trong quan hệ đất đai
Sử dụng quỹ đất là một quá trình động để tạo hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội; một phần quỹ đất nông nghiệp được chuyển sang sử dụng cho mục đích phi nông nghiệp đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội và kinh tế; một phần đất chưa sử dụng được đưa vào sử dụng để bổ sung cho đất
nông nghiệp hoặc trực tiếp sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp; cơ cấu
sử dụng đất trong từng loại đất nông nghiệp và phi nông nghiệp cũng chuyển đổi theo nhu cầu của thị trường Trong quá trình chuyển đổi cơ cầu sử dụng đất có thê dự báo được những yếu 16 mang tính mục tiêu lâu
dài mà chúng ta phải đạt được trong toàn bộ quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đât nước
Các dự báo dài hạn về sử dụng đât ở nước ta như sau:
* Khả năng chuyên đất chưa sử dụng sang sử dụng vào mục đích
nông lâm nghiệp:
Đến năm 2000 còn 10 triệu ha đất chưa sử dụng, trong đó đất chưa
sử dụng có thể đưa vào sử dụng cho mục đích nông lâm nghiệp là 8,66 triệu ha, trong đó: đất trồng lúa nước là 98 nghìn ha; đất trồng cây hàng năm khác là 252 nghìn ha; đất trồng cây lâu năm là 562 nghìn ha; đất trồng
Trang 9cỏ là 144 nghìn ha; đất nuôi trồng thuỷ sản là 91 nghìn ha; đất phát triển
lâm nghiệp là 6443 nghìn ha Như vậy, trong giai đoạn công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước có thể chủ động ưu tiên đất nông nghiệp có vị trí hợp
lý để phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội, trong đó cần
chú trọng bảo vệ đất trồng lúa nước có năng suất cao, đất rừng phòng hộ và
đất rừng đặc dụng
Khi chuyển đất chưa sử dụng sang sử dụng vào mục đích nông lâm
nghiệp, cần chú ý đến thực trạng hiện nay, đó là:
- Trong tông số 8,66 triệu ha đất chưa sử dụng có:
e 2,69 triệu ha Nhà nước đã giao cho chủ cụ thê nhưng chưa sử
dụng
e 0,57 triệu ha tự bao chiếm chưa sử dụng
e 2,29 triệu ha đã được sử dụng nhưng bỏ hoang (chủ yếu là đất
nương rẫy luân canh của đồng bào các dân tộc thiểu số)
Tổng diện tích 3 loại trên là 5,55 triệu ha
- Khoảng 50% diện tích đất chưa sử dụng của cả nước tập trung tại
các tỉnh Miền núi Trung du Bắc bộ thuộc địa bàn các huyện dân cư thưa
thớt, đất đai xấu, cơ sở hạ tầng kém phát triển Diện tích còn lại tập trung ở 3
vùng Bắc Trung bộ (19,5%), Duyên hải Nam Trung bộ (16,7%) và Tây
Nguyên (10,6%)
* Đảm bảo diện tích phủ rừng ở 50% lãnh thô để bảo vệ môi trường:
Để đảm bảo diện tích đất có phủ rừng theo tiêu chuẩn quốc tế và khả
năng thực hiện ở nước ta, khoảng 18 triệu ha đất được phủ rừng nhằm tạo
một môi trường trong lành và hệ sinh thái bền vững Đất có rừng phòng hộ
và đất có rừng đặc dụng được quy hoạch và bảo vệ nghiêm ngặt trong từng
16
giai đoạn, đất rừng sản xuất và đất trồng cây lâu năm được quy hoạch định hướng và tạo điều kiện đê nông dân dê dàng chuyên đôi cơ cầu cây trông
* Bảo vệ đất nông nghiệp có năng suât cao, đặc biệt đất chuyên
canh lúa:
Nước ta có thể đảm bảo diện tích 10 triệu ha đất nông nghiệp chuyên
canh bao gồm: đất lúa nước là 4,0 triệu ha, đất trồng cây lâu năm là 3,0 triệu
ha; đất trông cây hàng năm khác là 2,7 triệu ha Diện tích đất nông nghiệp phải được quy hoạch, chỉnh trang đồng ruộng nhằm bảo vệ đất chuyên canh lúa có năng suất cao, đất vùng nguyên liệu công nghiệp
* Đảm bảo quỹ đất sử dụng cho mục đích xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ
thuật và hạ tầng xã hội:
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi một quỹ đất
đáng kế để xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội để đáp
ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nước Tổng quỹ đất này ước tính
khoảng 3 triệu ha để thoả mãn các nhu cầu phát triển công nghiệp, dịch vụ,
giao thông, văn hoá, y tế, thể dục - thé thao, giao duc - dao tạo, khoa học - công nghệ Quy hoạch sử dụng quỹ đất này phải được tính toán chặt chẽ để chủ động kiểm soát quá trình chuyển mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp
* Đảm bảo quỹ đất phát triển khu dân cư cho tổng số dân với mức sống có chất lượng cao:
Theo dự báo phát triển dân số, cần để quỹ đất là 1 triệu ha để chỉnh
trang các khu dân cư hiện có và phát triển các khu dân cư mới đáp ứng nhu cầu nhà ở, dịch vụ công cộng cho toàn dân với mức sống có chất lượng
cao Quy hoạch sử dụng đất phải kết hợp chặt chẽ với quy hoạch đô thị và
quy hoạch khu dân cư nông thôn dé kiểm soát hoàn toan quá trình đô thị
hoá tự phát
17
Trang 104 Quy hoach sir dung dat dén nim 2010
Đến năm 2010 sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã
đi vào thời kỳ phát triển cao để bắt đầu vào thời kỳ hoàn thiện Năm 2010
GDP tăng lên ít nhất gấp đôi năm 2000 Tỷ trọng trong GDP của nông
nghiệp là 16 - 17%, công nghiệp 40 - 41%, dịch vụ 42 - 43% Tỷ lệ lao động
nông nghiệp còn khoảng 50% Dân số khoảng 89 - 90 triệu người (từ kết quả
tổng kiểm kê dân số năm 1999, dự báo mới vẻ dân số đến năm 2010 chỉ còn
86 - 87 triệu người), tốc độ tăng dân số đến năm 2010 còn khoảng 1,1%
Trên cơ sở đó, quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 như sau:
- Đất nông nghiệp 9.920 ngàn ha, chiếm 30,13% diện tích tự nhiên,
tăng 574 ngàn ha so với năm 2000
- Đất lâm nghiệp 16.244 ngàn ha, chiếm 49,34%, tăng 4.668 ngàn ha
- Đất chuyên dùng 2.166 ngàn ha, chiếm 6,58%, tăng 633 ngàn ha
- Đất ở nông thôn 379 ngản ha, tăng 8 ngàn ha
- Đất ở đô thị 99 ngàn ha, tăng 27 ngàn ha
- Đất chưa sử dụng và sông suối, núi đá 4.116 ngàn ha, chiếm 12,5%
điện tích tự nhiên, giảm 5.911 ngàn ha
So với năm 2000 đất đã sử dụng vảo các mục đích nông, lâm nghiệp,
chuyên dùng, khu dân cư năm 2010 sẽ tăng thêm 5.91 1.400 ha Như vậy đất
đã sử dụng sẽ chiếm 87,50% diện tích tự nhiên
4.1 Đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp năm 2010 sẽ là 9.919.900 ha, trong đó có 3,8 triệu
ha đất trồng lúa, đảm bảo sản xuất trên 40 triệu tấn lương thực có hạt, bình
quân lương thực đầu người 460 kg (dân số 87 triệu người)
Thời kỳ 2001 - 2010 sẽ khai hoang khoảng 1 triệu ha để đất nông
nghiệp tăng 574.600 ha, trong đó bù diện tích đất nông nghiệp chuyển sang
mục đích sử đụng không phải là nông nghiệp 456 ngàn ha (bao gồm cả sang
nuôi trồng thuỷ sản và trồng rừng)
Về đất trồng lúa: Trong thời kỳ này nước ta tiến hành chuyển dịch cơ
cấu sản xuất nông nghiệp, do vậy cơ cầu sử dụng đất cũng chuyển dịch, đặc
biệt là ruộng trồng lúa:
Ruộng trông lúa năm 2000: 4.267.800 ha
Khai hoang thời kỳ 2001 - 2010: 92.000 ha Chuyển mục đích sử dụng khác: 108.400 ha
(Chuyển sang đất chuyên dùng và đất ở)
- Chuyên sang đất lâm nghiệp (rừng tràm ): 8.000 ha
- Chuyén sang dat trồng cây lâu năm: 65.700 ha Đất ruộng còn lại đến năm 2010 là 4.177.700 ha, được sử dụng
như sau:
- Ruộng có trồng lúa (chuyên lúa, lũa màu, lúa thuỷ sản): 3.861.400 ha
- Ruộng trồng cây hàng năm khác (mía, bông ): 82.200 ha
- Ruộng nuôi trồng thuỷ sản: 229.500 ha
4.2 Đất lâm nghiệp
Nhiệm vụ trước mắt của hoạt động lâm nghiệp là chuyển từ khai thác tài nguyên rừng sang bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng Do đó đến năm
2010 đất lâm nghiệp có rừng sẽ chiếm 49% diện tích tự nhiên cả nước Điện
tích đất lâm nghiệp có rừng đủ tiêu chuẩn so với diện tích tự nhiên (tỷ lệ che phủ bằng cây rừng) là 43%, cải thiện được đáng kể môi sinh tự nhiên có lợi cho sản xuất nông nghiệp Sau 1 chu kỳ rừng nếu cần có thê đưa 500.000 -