Di chúc lập bằng hình thức văn bản phải đảm bảo những nội dung sau: Theo quy định của pháp luật thì di chúc được thể hiện dưới hình thức văn bản phải đáp ứng các yêu cầu chung về mặt nộ
Trang 1A - ĐẶT VÂN ĐỀ.
Như chúng ta đã biết di chúc là sự thể hiện ý trí của cá nhân nhằm chuyển dịch tài sản cho người khác sau khi chết Đó là một chế định quan trọng được quy định trong pháp luật thừa kế của BLDS 2005 Di chúc liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự thừa kế Trong thực tiễn đã xảy ra rất nhiều vụ tranh chấp liên quan đến vần đề thừa kế và khá phức tạp Đa số các vụ việc khi chia di sản theo di chúc thì các chủ thể có quyền lợi liên quan nhận thấy khi chia theo di chúc thì có ảnh hưởng đến quyền lơi của ban thân nên đã yêu cầu tòa án giải quyết phân chia di sản theo pháp luật Các vụ kiện này thường liên quan đến tính hợp pháp của bản di chúc trong đó có hình thức lập di chúc bằng văn bản Bởi khi lập di chúc đó không tuân theo điều kiện và trình
tự, hay thủ tục nhất định mà pháp luật quy định Để hạn chế và tránh tình trạng trên
và đáp ứng được ý trí của người để lại di sản thì khi lập di chúc băng văn phải tuân theo những quy định của pháp luật Với tính quan trọng như vậy nên em đã chọn
đề tài một số vấn đề về di chúc bằng văn bản để tìm hiểu qua đó hiểu biết thêm
về tính pháp lý của hình thức lập di chúc bằng văn bản
B - GIẢI QUYẾT VÂN ĐỀ.
I khái quát chung về di chúc, phân loại di chúc:
1 Di chúc ( Ðiều 646 )
Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết
Như vậy khi một người trước khi mất muốn để lại di sản của mình cho người còn sống hưởng di sản thừa kế thì có thể lập di chúc để thể hiện ý trí đó Có hai hình thức lập di chúc là lập di chúc bằng văn bản và bằng miệng mỗi loại phải tuân theo những trình tự, thủ tục nhất định mà pháp luật đã quy định
Trang 22 phân loại di chúc :
Hình thức của di chúc là sự thể hiện ý trí của người để lại di sản thừa kế ra bên ngoài thế giới khách quan là sự chứa đựng nội dung của di chúc theo một trình tự kết cấu nhất định Vì vậy chia di chúc thành hai loại sau: di chúc băng văn bản và
di chúc bằng miệng
- Di chúc bằng văn bản bao gồm các loại sau đây:
• Di chúc băng văn bản có người làm chứng
• Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng
• Di chúc bằng văn bản có chứng thực của ủy ban nhân dân xã, Phường thị, trấn, chứng nhận của công chứng nhà nước
• Di chúc bằng văn bản có giá trị như như di chúc được công chứng, chứng thực
II DI CHÚC BĂNG VĂN BẢN: ( Điều 653 )
1 Khái niệm di chúc băng văn bản:
Di chúc băng văn bản là di chúc được thể hiện dưới dạng văn bản có chữ viết, có công chứng, chứng thực hay không có công chứng, chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
2 Di chúc lập bằng hình thức văn bản phải đảm bảo những nội dung sau:
Theo quy định của pháp luật thì di chúc được thể hiện dưới hình thức văn bản phải đáp ứng các yêu cầu chung về mặt nội dung, đồng thời với mỗi một thể thức
cụ thể của di chúc viết phải tuân theo một trình tự tương ứng Để bản di trúc được thể hiện dưới hình thức dạng văn bản có hiệu lực pháp luật là cơ sở pháp lý để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể người lập di chúc phải đáp ứng các nhu cầu sau về nội dung với mọi di chúc viết như sau
2.1 Di chúc phải rõ ràng ghi rõ ngày, tháng, năm lập di trúc :
Đây là một nội dung hết sức quan trọng và có ý nghĩa thiết thực trong việc xác định tính hiệu lực của của di chúc Vì thông qua ngày, tháng, năm ta có thể xác định được tại thời điểm đó xác định được chủ thể có năng lực hành vi dân sự hay không, có minh mẫm, sáng xuốt hay không, tại thời điểm đó người lập di chúc có
đủ tuổi lập di chúc hay chưa? mặt khác trong trường hợp người quá cố để lại nhiều
Trang 3bản di chúc ta sẽ căn cứ vào ngày, tháng, năm của bản di chúc để chung ta xác định bản di chúc nào thể hiện ý tri sau cùng của người chết và bản di chúc sau cùng sẽ
có hiệu lực pháp luật Vì theo quy định tai khoản 5 điều 667 BLDS thì “ khi một người để lai nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực pháp luật ” Do vậy những bản lập trước cùng sẽ bị hủy bỏ vì chỉ di chúc lập thể hiện ý trí sau cùng mới có hiệu lực pháp luật Ngoài ra căn cứ vào ngày, tháng, năm lập di chúc ta có thể xác định được pháp luật hiện hành để điều chỉnh bản di chúc đó
2.2 Di chúc phải ghi rõ ngày, tháng, năm nơi cư trú của người lập di chúc:
Theo quy định của pháp luật thì địa điểm mở thừa kế, nơi đăng ký từ chối nhận
di sản, thẩm quyền giải quyết của tòa án khi có tranh chấp đều được giải quyết thông qua nơi cư trú của người lập di chúc, do đó nơi cư trú phải ghi rõ nơi cư trú của người lập di chúc là một yêu cầu quan trọng Hơn nữa di chúc là sự thể hiện ý trí đơn phương của một chủ thể trong giao dịch dân sự nên cần phải ghi rõ họ, tên, đầy đủ của người thể hiện ý trí đó
2.3 Di chúc phải ghi rõ họ tên người, tên cơ quan, tổ chức được hưởng di sản trong diện hàng thừa kế :
Xác định như vậy để xem quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng theo quy
định của pháp luật trong khi những ngừơi được hưởng thừa kế theo di chúc thì không bị giới hạn phạm vi như trên Những người được hưởng thừa kế theo di chúc có thể là tổ chức cá nhân bất kỳ bằng ý tri của người lập di chúc có thể định đoạt tài sản của mình cho bất kỳ ai được hưởng Do vậy khi định đoạt tài sản của mình cho ai, cho tổ chức nào thi người lập di chúc thì phải xác định rõ trong di chúc như sau:
Thứ nhất: Chỉ người nào được người lập di chúc chỉ định được hưởng thừa kế
trong di chúc mới là người thừa kế theo di chúc của người đó, do vậy nếu người lập di chúc có ý định để lại tài sản của mình cho người khác những vi một lý do
Trang 4nào đó mà không xác định trong di chúc thì người đó không phải là người thừa kế theo di chúc của người để lại di sản
Thứ hai: nếu người lập di chúc không xác định rõ họ, tên của người nhận thừa
kế theo di chúc Nhưng bằng các yếu tố căn cứ khác có thể xác định được người đó
là ai thì họ vấn được xác định được hưởng thừa kế tuy nhiên trường hợp này phải giải thích được di chúc nếu không giải thích được thi coi như không có di chúc
2.4 Di chúc phải ghi rõ tên di sản và nơi có di sản:
Di sản thừa kế chỉ là những tài sản thuộc sở hữu của của người chết và chỉ với những tài sản thuộc sở hữu của mình thì người lập di chúc mới định đoạt cho người thưa kế được Do vậy nên di sản được ghi trong di chúc thừa kế sẽ giúp ta xác định người lập di chúc họ có những tài sản nào và được phân định ra sao Tuy nhiên nếu như trong di chúc của mình mà người lập di chúc không rõ liệt kê từng loại di sản thì cũng không thể coi di chúc đó là bất hợp pháp được vì trong trường hợp này những người có thẩm quyền vẫn có thể căn cứ vào pháp luật về quyền sở hữu tài sản xác định những gì thuộc về di sản của người chết để lại
Ngoài ra nêu theo quy định tại khoản 3 điều 633 BLDS có quy định “ nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế được xác định
là là nơi có toàn bộ hoặc phần di sản ” nên việc ghi ro nơi có di sản là rất cần thiết, hơn nữa dựa vào địa điểm ghi trong di sản mà những người được thừa kế dễ dàng xác định được địa điểm tồn tại của di sản sau khi người lập di chúc chết
2.5 Di chúc phải ghi rõ việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nhĩa vụ :
Theo nguyên tắc chung tất cả mọi người được hưởng di chúc phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại trên cơ sở tương ứng với những kỷ phần tài sản mà họ được hưởng Ngoài ra với việc giao nghĩa vụ cho những người thừa kế
là một trong những quyền định đoạt của người lập di chúc Vì vậy trong di chúc có thể giao nghĩa vụ giêng cho từng người được hưởng thừa kế để họ thưc hiện, người
Trang 5lập di chúc phải ghi rõ cơ quan, cá nhân tổ chức nào phải thực hiện nghĩa vụ mà người chết để lại tuy nhiên nếu trong di chúc mà không có sự định đoạt nghĩa vụ giêng cho từng người thì tất cả những người hưởng thừa kế sẽ cùng nhau thực hiện nhĩa vụ mà người lập di chúc để lai
2.6 Di chúc không được viết tắt hoặc bằng ký hiệu nêu di chúc gồm nhiêu trang thi mỗi trang phải đánh dấu số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.
Do di chúc là sự thể hiện ý chí của người chết vì vậy để lại di chúc được rõ ràng
cụ thể, tránh sự tranh cãi gữa những người thừ kế về sau này thi người lập di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu để biểu đạt ý chí của mình Trường hợp người để lại di chúc lập di chúc phải công chứng nhà nước, UBND xã, phường, thị trấn, thì cán bộ có thẩm quyền có trách nhiệm hướng dẫn cho người lập không được viết tắt hoặc dùng ký hiệu để viết trong di chúc
Ngoài ra nếu di chúc đươc lập không có công chứng hoặc chứng thực những thỏa mãn các điều kiện khác do pháp luật quy định mà có chữ viết tắt hoặc viết bằng các ký hiệu do người viết di chúc không hiểu biết về quy định của pháp luật thì hiệu lực của di chúc nên giải quyết ra sao, đây là một vấn đề được quan tâm và
đã có ba quan điểm khác nhau về giải quyết vấn đề trên
Quan điểm thứ nhất cho rằng pháp luật đã quy định di chúc không được viết tắt
hoăc viết bằng ký hiệu nên bất cứ di chúc nào viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu đều bị coi là vi phạm quy định của pháp luật nên di chúc đó không phát sinh hiệu lực pháp luật
Quan điểm thứ hai cho rằng mặc dù di chúc có viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu
nếu đa số những người thừa kế của người lập di chúc cùng hiểu theo một nghĩa đối vơi chữ viết tắt và chữ viết bằng ký hiệu thì không có ảnh hưởng gì đến hiệu lực của di chúc
Trang 6Quan điểm thứ ba cho rắng toán bộ những người thừa kế hiểu theo một nghĩa
đối với từ viết tắt viết bằng ký hiệu thì di chúc mới phát sinh hiệu lực pháp luật vậy nếu trong trường hợp chữ viết tắt hoăc viết bằng ký hiệu chỉ liên quan đến nội dung của một phần di chúc mà chữ viết tắt hoặc chữ viết bằng ký hiệu không được những người thừa kế hiểu chung cùng một nghĩa thì phần di chúc đó không có hiệu lực pháp luật, các phần khác của di chúc vẫn có hiệu lực pháp luật trong trường hợp chữ viết tắt hoặc bằng ký hiệu được các người thừa kế hiểu khác nhau mà ảnh hưởng đến toàn bộ nội dung của di chúc thì di chúc sẽ không phát sinh hiệu lực pháp luật
Cả ba quan điểm trên đều dựa trên những quan đểm nhất định tuy nhiên để hiểu đúng vấn đề này cần xem xét tổng hợp các quy định pháp luật về thừa kế theo di chúc Trong quan điểm thứ nhất ta thấy nếu chỉ căn cứ vào khoảng 2 điều 653, BLDS mà di chúc có chữ viết tắt hoặc viết hoặc viết bằng ký hiệu không phát sinh hiệu lực pháp luật là chưa thỏa đáng, chưa xem xét tới điều 667, BLDS về hiệu lực
di chúc, trong tất cả các trường hợp di chúc không có hiệu lực pháp luật toàn bộ hay một phần được quy định tại điều luật này thì không có trường hợp nào quy định là di chúc có chữ viết tắt hoặc chữ viết bằng ký hiệu
Vậy nêu cho rằng toàn bộ những di chúc có chữ viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu đều không có hiệu lực pháp luật là chưa đủ cơ sở pháp lý
Con theo quan điểm thứ hai cho rằng chỉ cần đa số những người thừa kế của người lập di chúc cùng hiểu theo một nghĩa đối với những từ viết tặt, viết bằng ký hiệu thì di chúc phát sinh hiệu lực cũng không đùng vì di chúc liên quan đến quyền
và nghĩa vụ của toàn thể của các thừa kế mặt khác sự định đoạt của người lập di chúc có thể chỉ định đoạt tài sản cho một người hoặc toàn bộ toàn bộ những người thừa kế.Theo pháp luật thậm chí có thể định đoạt cho người không nằm trong diện thừa kế theo pháp luật Do vậy đa số những người thừa kế cố tình hiểu chữ viết tắt hoặc chữ viết bằng ký hiệu được ghi nhận trong di chúc theo một nghĩa nhắm mục
Trang 7đích hưởng di sản điều này khiến cơ quan nhà nước lại chấp nhận chưa thỏa đáng
ý chí của người để lại di sản không được thực hiện Vì vậy theo quan điểm thứ ba
có tính thuyết phục hơn do di chúc liên quan đến toàn bộ quyền của những người thừa kế mà nếu tất cả họ đều nhất chí với việc phân chia di sản khác với ý thể hiện trong di chúc thì việc thỏa thận đó không trái với pháp luật nên việc toàn bộ những người thừa kế hiểu cùng một nghĩa với từ viết tắt Hoặc viết bằng ký hiệu trong di chúc đương nhiên phải được pháp luật công nhận Mặt khác di chúc có nhiều phần khác nhau mà chữ viết tắt chỉ ảnh hưởng đến nội dung của một phần Di chúc do các thừa kế có các cách hiểu khác nhau thì di chúc không có hiệu lực đối với phần
đó còn đối với phần khác không bị ảnh hưởng vẫn phát sinh hiệu lực pháp luật Ngoài ra pháp luật còn quy địn để đảm bảo tính khách quan và chính xác cho bản di chúc và ý chí của người lập trong trường hợp văn bản di chúc có nhiều trang thì pháp luật yêu cầu người lập di chúc phải đánh số thứ tự trang và phải ký và điểm chỉ vào từng trang của bản di chúc để tránh tình trạng người khác thêm, bớt, giả mạo hoặc thay thế từng trang của di chúc làm sai lệch ý chí của người lập di chúc
3 Di chúc được lập bằng văn bản gôm các hình thức sau (Điều 650 BLDS 2005):
Hình thức văn bản có nhiều loại khác nhau, bao gồm di chúc bằng văn bản không có người làm chứng ; di chúc bằng văn bản có người làm chứng; di chúc bằng văn bản có công chứng, chứng thực của ủy ban nhân dân xã, Phường, thị trấn
Di chúc bằng văn bản có công chứng của nhà nước, di chúc bằng văn bản không có người làm chứng có giá trị như di chúc bằng văn bản đã được chứng thực Như vậy dựa vào từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể mà người để lại di sản thừa kế có quyền lựa chọn một trong những hình thức di chúc trên để thể hiện ý chí định đoạt tài sản của mình sau khi chết Tuy nhiên sau khi đã lựa chon được hình thức viết di chúc phù hợp với điều kiện thì người lập di chúc chú ý tới tuân thủ theo đúng thể thức,
Trang 8trình tự yêu cầu của pháp luật đã quy định tương ứng với từng loại di chúc trên và những quy định này được thể hiện ở những dạng như sau:
3.1 Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng ( điều 655 )
Đối với loại di chúc này điều 655 BLDS 2005 quy định như sau “ người lập di chúc phải tự viết tay và ký vào bản di chúc, việc lập di chúc bằng văn bản không
có người làm chứng còn phải tuân theo quy định tại điều 653 của pháp luật này ”, Như vậy theo quy định của pháp luật thì di chúc bằng văn bản không có người làm chứng là là loại di chúc được lập theo hình thức văn bản do vậy nó phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của pháp luật Quy định chung đối với di chúc đối với loại di chúc bằng văn bản theo điều 653 Ngoài ra trong trường hợp người lập di chúc tự mình ký và viết vào di chúc mà không có người làm chứng không chứng thực vẫn
có hiệu lực pháp lý
Tuy nhiên khi phân chia di sản theo di chúc nếu không có người đồng ý vì cho rằng tính pháp ly của di chúc không đảm bảo thi phải giám định chữ viết và chữ ký của người lập di chúc Do vậy để đảm bảo tính xác thực của loai di chúc bằng văn bản thì người lập di chú phải tự mình chính tay viết và có chữ ký lên trên loại di chúc này cần đáp ứng đủ điều kiện là : no phải do chính tay người lập viết và ký tên, nếu một văn bản được lấp bằng hình thức đánh máy và được người lập di chúc
ký tên thì văn bản di chúc này càng không được pháp luật công nhận mặc dù là có chữ ký của người lập di chúc Hay mặt khác bản di chúc do chính tay người lập di chúc viết lại không có chữ ký và ký tên thì tùy từng trường hợp xác định giá trị pháp lý cảu bản di chúc Nếu giám định đùng chữ của người lập di chúc thì phải công chứng di chúc Nêu giám định chữ viết không được thì không chấp nhận Mục đính cuart quy đinh văn bản không có người làm chúng thì không công chứng, chứng thực nếu xác định đúng ý chi của người lập di chúc thì di chúc có giá trị, vì thế nếu xác định được chữ viết của người để lại di sản, đó chính là ý trí của
họ và ý trí này phải được pháp luật công nhận
Trang 9Xuất phất từ thực tế là có rất nhiều trường hợp vì một lý do hay trở ngại nào đó
mà người lập di chúc muốn giữ kín bí mật nội dung của bản di chúc hoặc do trình
độ hiểu biết pháp luật chưa cao mà việc lập di chúc không di công chứng , chứng thực tài cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc không nhờ bất kỳ một người nào làm chứng Do đó để thực hiện đúng nguyên tắc đảm bảo quyền định đoạt tài sản của người để lai di chúc thì pháp luật vẫn công nhận tính pháp lý của bản di chúc của người lập di chúc trong trường hợp trên nếu nó đáp ứng đủ các điều kiện trên Tuy nhiên cũng từ thực tiễn một vấn đề được đặt ra là vợ chồng có thể lập di chúc chung theo hình thức di chúc bằng văn bản không có người làm chứng? Điều 655 BLDS quy định về việc lập di chúc viết tay của cá nhân “ người lập di chúc phải tự viết tay và ký vào di chúc ” Như vậy về mặt logic, hai người không thể cùng một lúc viết cùng một nội dung như trên cùng một tờ di chúc được
Vậy phải từng người viết xong, rồi sau đó từng người ký lên vào bản di chúc
đó Vấn đề đặt ra ở đây là di chúc do một người viết và một người kia chỉ ký tên hoặc điểm chỉ có được pháp luật công nhân hay không? hoặc mỗi người viết một đoạn để nói về những vấn đề khác nhau rồi sau đó cùng ký tên vào bản di chúc có được không? chúng tôi cho rằng nếu chỉ một người viết toàn bộ di chúc rồi hai người ký vào bản di chúc thi không đảm bảo thủ tục lập di chúc viết tay dẫn đến sự giả mạo di chúc chung mà không có cơ sở để giám định bút tích của người lập di chúc Nhưng việc cả hai ngươi cùng thay nhau và thay nhau viết di chúc bằng chữ của chính mình để định đoạt tài sản chung thì không thể thực hiện được trên thực
tế Vì như vậy hai người cùng phải viết giống nhau về cùng một nội dung, trên hai đoạn khác nhau cùng một tờ di chúc nên làm như thế nào để giống di chúc cá nhân nhiêu hơn một bên không thể ủy quyền cho người thay mặt mình để viết ra toàn
bộ di chúc Vì trái với nguyên tắc di chúc viết tay phải được viết trực tiêp bằng chữ viết tay của người lập di chúc mặt khác viết như vậy giống như viết hộ di chúc nên phải tiến hành theo một thủ tục khác, trước mặt ít nhất hai người đủ điều kiện làm
Trang 10chứng việc lập di chúc chung Như vậy để di chúc chung của vợ chồng thực hiện dưới hình thức văn bản không có người làm chứng là khó có thể thực hiện được dưới hình thực văn bản không có người làm chứng khó có thể thực hiện được Tuy nhiên theo em trường hợp nếu một người viết và ký và ghi rõ họ tên sẽ là căn cứ giám định chữ viết việc giám định chữ viết của một ngưởi của người vợ hoặc chồng là rất quan trong Trường hợp náy người ký ghi ro họ tên của minh vào bản di chúc sẽ là căn cứ giám định chữ viết là họ và tên
3.2 Di chúc băng văn bản có người làm chứng ( điều 656 )
Xuất phát từ điều kiện hoàn cảnh khách quan nên không phải ai cũng có thể tự mình lập di chúc bằng văn bản để định đoạt tài sản của mình cho người khác sau khi mình chết Vì vậy để khắc phục tình trạng trên pháp luật có quy định loại di chúc bằng văn bản có người làm chứng tại ( điều 656 BLDS ), trong trường hợp người lập di chúc không thể tự minh viết bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất hai người làm chứng người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt người làm chứng những người lập di chúc xác nhận và điểm chỉ vào di chúc và ký vào bản di chúc theo quyết định trên có thể vì
ly do nào đấy như người lập di chúc ốm, không biết chữ… không thể tự mình viết bản di chúc được do vậy có thể nghờ người khác viết di chúc vào bản di chúc này vẫn được chấp nhận và có giá trị như pháp lý mặc dù không phải người trực tiếp viết ra nếu đáp ứng được yêu cầu của các điều 653 của BLDS vơi yêu cầu sau khi lập di chúc có ít nhất hai người làm chứng và người lập di chúc phải ký tên hoặc điểm chỉ vào bàn di chúc trước mặt những người làm chứng và đồng thời bản di chúc này phải có chữ ký của và xác nhận của người làm chứng chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc Tuy nhiên không phải ai cũng có thể làm chứng được trong việc lập di chúc vì vậy để đảm bảo tính khách quan những người làm chứng cũng phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn quy định tại điều 654 như sau: