1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bắt người trong trường hợp khẩn cấp

15 268 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 111 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ qui định đó, ta có thể hiểu rằng: bắt người trong trường hợp khẩn cấp là bắt người khi người đó đang chuẩn bị thực hiện tôi phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng n

Trang 1

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 2

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2

I Các quy định của pháp luật về bắt người trong trường hợp khẩn cấp 2

1 Khái niệm 2

2 Đối tượng bị áp dụng 2

3 Trường hợp được bắt khẩn cấp 3

3.1 Trường hợp thứ nhất 3

3.2 Trường hợp thứ hai 5

3.3 Trường hợp thứ ba 7

4 Thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp 9

5 Thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp 9

II thực trạng tình hình bắt khẩn cấp hiện nay ở nước ta………12

III Những vướng mắc tồn tại trong việc áp dụng qui định pháp luật về bắt người trong trường hợp khẩn cấp và nguyên nhân dẫn tới những hạn chế đó……… 12

1 Những vướng mắc tồn tại khi áp dụng qui định pháp luật về bắt người trong trường hợp khẩn cấp 12

2 Nguyên nhân……….13

IV Phương hướng hoàn thiện qui định pháp luật về bắt người trong trường hợp khẩn cấp 13

KẾT THÚC VẤN ĐỀ 14

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Như chúng ta đã biết bắt người là một trong những biện pháp ngăn ngừa, để tội phạm không trốn thoát hay phạm một tội khác… bắt người gồm có 3 trường hợp như băt bị can, bắt bị cáo để tạm giam và bắt người trong trường hợp khẩn cấp Để tìm hiểu thế nào là bắt người trong trường hợp khẩn cấp và bao gồm nhữn trương hợp nào

thì em chọn đề tài là “ Bắt người trong trường hợp khẩn cấp”

NỘI DUNG

I Các quy định của pháp luật về bắt người trong trường hợp khẩn cấp.

1 Khái niệm.

Bắt người trong trường hợp khẩn cấp được qui định cụ thể tại Điều 81 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 Từ qui định đó, ta có thể hiểu rằng: bắt người

trong trường hợp khẩn cấp là bắt người khi người đó đang chuẩn bị thực hiện tôi phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội của họ hay bắt người sau khi thực hiện tội phạm mà người đó

bỏ trốn, cản trở việc điều tra, khám phá tội phạm.

2 Đối tượng bị áp dụng.

Không giống như đối tượng bị bắt tạm giam hay bắt bị cáo, đối tượng bị áp dụng bắt

khẩn cấp theo qui định tại Điều 81 BLTTHS 2003 lại là những người chưa bị khởi tố

về hình sự, và càng không phải là những người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử.

Tuy nhiên, không loại trừ người đã bị khởi tố hay đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét

xử với tư cách là bị can hoặc bị cáo của vụ án khác, nếu hành vi của họ thuộc một trong ba trường hợp qui định tại khoản 1 Điều 81 BLTTHS 2003

3 Trường hợp được bắt khẩn cấp.

Khoản 1 Điều 81 BLTTHS 2003 cụ thể ba trường hợp được bắt khẩn cấp như sau:

Trang 3

3.1 Trường hợp thứ nhất: Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (điểm a khoản 1 Điều 81 BLTTHS).

Đây là trường hợp hành vi khách quan được qui định trong cấu thành tội phạm chưa xảy ra, tội phạm mới chỉ được thể hiện ở những hành vi tạo ra những điều kiện tiền đề về vật chất hoặc tinh thần giúp cho việc thực hiện hành vi phạm tội có thể xảy

ra hay xảy ra thuận lợi, dễ dàng hơn ( hay đây thuộc vào giai đoạn chuẩn bi phạm tội theo quy định của BLHS) Đây cũng là trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã có quá trình theo dõi hoặc kiểm tra, xác minh các nguồn tin biết một người chuẩn bị những điều kiện cần thiết để thực hiện tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nên cần phải bắt ngay trước khi tội phạm được thực hiện

Với qui định tại điểm a khoản 1 Điều 81 BLTTHS như trên, ta có thể hiểu rằng đối với những trường hợp mà người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hay tội phạm nghiêm trọng thì không được bắt khẩn cấp, mà chỉ áp dụng các biện pháp chủ động khác mang tính giáo dục, phòng ngừa, răn đe để tội phạm không xảy ra

Việc bắt người trong trường hợp này phải đảm bảo hai điều kiện sau:

Điều kiện thứ nhất: có căn cứ khẳng định một người ( hoặc nhiều người) đang

chuẩn bị thực hiện tội phạm

Những căn cứ này có thể do cơ quan nhà nước có thẩm quyền trực tiếp xác định qua việc theo dõi đối tượng hoặc kiểm tra, xác minh các nguồn tin do quần chúng cung cấp đã khẳng định người đó (hoặc những người đó) đang tìm kiếm công cụ, phương tiện hoặc tạo ra các điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm (Điều 17 BLHS) Vậy căn cứ cho rằng một người (hay một số người) đang chuẩn bị thực hiện tội phạm phải là những tài liệu để chứng minh người đó (hay những người đó) đang

có hành vi tạo ra những điều kiện vật chất hoặc tinh thần giúp cho việc thực hiện hành vi phạm tội xảy ra hoặc có thể xảy ra dễ dàng, có hiệu quả, trốn tránh được sự điều tra, phát giác của cơ quan có thẩm quyền

Trang 4

Những hành vi nói trên mặc dù chưa trực tiếp xâm hại đến lợi ích của Nhà nước

và công dân nhưng đã đặt lợi ích ấy vào tình trạng bị đe dọa, cần thiết phải được bảo

vệ kịp thời

Điều kiện thứ hai: tội phạm đang được chuẩn bị thực hiện là tội phạm rất

nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Chuẩn bị thực hiện tội phạm còn một khoảng cách nhất định với việc thực hiện tội phạm nên không phải mọi hành vi chuẩn bị thực hiện tội phạm đều cần truy cứu trách nhiệm hình sự Điều 17 BLHS quy định chỉ người nào chuẩn bị thực hiện một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng mới phải chịu trách nhiệm hình sự

Do vậy, muốn bắt khẩn cấp một người (hoặc nhiều người) đang chuẩn bị thực hiện tội phạm thì phải xác định tội phạm họ đang chuẩn bị thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

Theo khoản 3 Điều 8 BLHS qui định: “tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình” Như vậy, chỉ khi xác định được một người

(hay nhiều người) đang chuẩn bị thực hiện tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì mới được áp dụng biện pháp bắt khẩn cấp BLTTHS qui định như vậy nhằm ngăn ngừa không cho tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng đang được chuẩn bị thực hiện có khả năng gây nguy hại cho các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ

Tuy nhiên, việc xác định tội phạm mà một người (hay nhiều người) đang chuẩn bị thực hiện có phải là tội rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng hay không để có căn cứ bắt khẩn cấp là một việc rất khó khăn Trong BLHS có những tội luôn là tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng như tội giết người được qui định tại Điều 93 BLHS Khi có căn cứ cho rằng một người (hay nhiều người) đang chuẩn bị thực hiện tội này thì việc xác định đó có phải là tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng

Trang 5

hay không để quyết định áp dụng biện pháp bắt khẩn cấp là một điều đơn giản Nhưng đối với những tội phạm mà có cấu thành cơ bản là tội nghiêm trọng, còn cấu thành tăng nặng là tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng và một trong các tình tiết định khung tăng nặng này là căn cứ vào hậu quả do hành vi phạm tội gây ra thì khi quá trình thực hiện tội phạm mới ở giai đoạn chuẩn bị thực hiện phạm tội, chưa gây ra hậu quả và người thực hiện tội phạm chưa thực hiện các hành vi được qui định tại tình tiết định khung tăng nặng thì không thể xác định được người đó đang chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng để áp dụng bắt khẩn cấp đối với họ

3.2 Trường hợp thứ hai: Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn (điểm b khoản 1 Điều 81

BLTTHS).

Đây là trường hợp tội phạm đã xảy ra, nhưng người thực hiện tội phạm không bị bắt ngay Sau một thời gian, người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy đã xác nhận đúng là người thực hiện tội phạm Trường hợp này thuộc vào trường hợp tố giác, cơ quan điều tra cần xác minh lại xem người đó có tố giác đúng không Nếu Cơ quan điều tra xét thấy việc tố giác đó là đúng cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn thì ra lệnh bắt khẩn cấp Trong trường hợp nàyvấn đề quan trọn không còn là mức độ phạm tội nữa mà rơi vào trường hợp nếu không bắt thì người đó sẽ trốn mất

Việc bắt người trong trường hợp này cần đảm bảo hai điều kiện sau:

Điều kiện thứ nhất: phải có người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt

trông thấy và trực tiếp xác nhận đứng là người đã thực hiện tội phạm.

Điều này có thể được hiểu là một người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm nhưng không tận mắt chứng kiến hành vi phạm tội hoặc không có mặt tại nơi xảy ra tội phạm nhưng được người khác trực tiếp chứng kiến mô tả lại, kể lại cũng không được coi là căn cứ bắt khẩn cấp; hoặc trường hợp người đó không tận mắt chứng kiến mà

Trang 6

chỉ biết người thực hiện tội phạm qua giọng nói (ví dụ như do trời tối, không quan sát được ) cũng không đủ điều kiện để bắt khẩn cấp trong trường hợp này

Người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm có thể là người bị hại hoặc người khác đã chính mắt trông thấy người phạm tội cũng như hành vi phạm tội được thực hiện và trực tiếp xác nhận với cơ quan có thẩm quyền đúng là người đã thực hiện tội phạm Việc xác nhận phải mang tính chất khẳng định, chứ không thể “hình như” hoặc “nhìn giống như” người đã thực hiện tội phạm Nếu việc xác nhận không phải do người trực tiếp chứng kiến sự việc phạm tội thì không coi là điều kiện để bắt khẩn cấp, bởi lẽ nếu bắt trong trường hợp đó dễ dẫn đến việc bắt nhầm người không thực hiện tội phạm

Điều kiện thứ hai: xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn

Những căn cứ cho rằng người phạm tội bỏ trốn thường là: đang có hành động bỏ

trốn, đang chuẩn bị trốn; hoặc căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn, khó có thể triệu tập khi cần thiết như: không có nơi cư trú rõ ràng, có nơi cư trú nhưng ở quá xa,

là đối tượng lưu manh, côn đồ, hung hãn, hay chưa xác định được nhân thân người đó (căn cước lí lịch không rõ ràng) Đối với trường hợp khác thì vẫn tiến hành việc giải quyết vụ án mà không cần bắt khẩn cấp

Việc xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn tùy thuộc vào sự đánh giá

của cơ quan, người có thẩm quyền căn cứ vào từng trường hợp cụ thể Ví dụ, thông

qua hành vi thực tế của người phạm tội như đang chuẩn bị trốn hoặc người thực hiện hành vi phạm tội không có nơi cư trú rõ ràng, là đối tượng nhân thân xấu, nhiều tiền

án, tiền sự, lí lịch không rõ ràng; từ đó, cơ quan người có thẩm quyền xem xét để quyết định bắt khẩn cấp đối tượng đó

3.3 Trường hợp thứ ba: Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ

ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người

đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ (điểm c khoản 1 Điều 81 BLTTHS)

Đây là trường hợp cơ quan có thẩm quyền chưa có đủ tài liệu, chứng cứ để xác định người đó thực hiện tội phạm, nhưng qua việc phát hiện thấy có dấu vết của tội

Trang 7

phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người mà người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn việc người này bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ thì bắt khẩn cấp

Việc bắt người trong trường hợp này cần đảm bảo hai điều kiện sau:

Điều kiện thứ nhất: khi thấy dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của

người bị nghi thực hiện tội phạm.

Qua những hoạt động như khám chỗ ở, khám người, xem xét dấu vết trên thân thể, kiểm tra, kiểm soát hành chính Cơ quan có thẩm quyền tìm thấy dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm Dấu vết của tội phạm được hiểu là sự phản ánh vật chất của việc có hành vi phạm tội Những dấu vết của tội phạm được tìm thấy có thể là những vật chứng như công cụ, phương tiện phạm tội, đối tượng của tội phạm (tài sản do phạm tội mà có) cũng như dấu vết của

tội phạm trên thân thể của người bị nghi thực hiện tội phạm (ví dụ: các vết cào cấu,

cắn, dấu vết máu, lông, tóc, ) Việc phát hiện những dấu vết này chính là sự khẳng định nghi ngờ của cơ quan có thẩm quyền là chính xác Việc tìm thấy dấu vết được coi là căn cứ để bắt khẩn cấp

Điều kiện thứ hai là: cần ngăn chặn người bị nghi thực hiện tội phạm trốn hoặc

tiêu hủy chứng cứ

Đó là trường hợp khi phát hiện người tình nghi có dấu hiệu muốn trốn hoặc nếu xác định người bị nghi thực hiện tội phạm không bỏ trốn nhưng lại có căn cứ cho rằng người đó đang tiêu hủy chứng cứ như đang xóa dấu vết tội phạm, đang cất giấu công cụ, phương tiện phạm tội, đang tẩu tán tài sản vừa lấy được hoặc đang có hành

vi làm giả chứng cứ làm sai lệch các tài liệu liên quan đến hành vi phạm tội nhằm gây khó khăn cho việc điều tra xác định tội phạm thì những hành vi đó vẫn được coi là điều kiện để bắt khẩn cấp

Như vậy, nếu bắt khẩn cấp theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 81 BLTTHS thì

cơ quan có thẩm quyền “phải thu thập hoặc ghi nhận được dấu vết, tài liệu, đồ vật liên quan đến tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở, nơi làm việc của người bị nghi thực

Trang 8

hiện tội phạm đó” (điểm 3.1 Điều 3 Thông tư liên tịch 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP).

Tóm lại, nếu có căn cứ thuộc một trong ba trường hợp qui định tại khoản 1 Điều 81 BLTTHS thì cơ quan có thẩm quyền ra lệnh bắt khẩn cấp

4 Thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp.

Thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp được qui định tại khoản

2 Điều 81 BLTTHS 2003 Cụ thể là:

“2 Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp: a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;

b) Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới;

c) Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng”.

Như vậy, có thể thấy thẩm quyền bắt người trong trường hợp khẩn cấp tương đối rộng Điều này xuất phát từ tính chất cấp bách của việc ngăn chặn tội phạm, ngăn

ngừa sự trốn tránh pháp luật cũng như hành vi gây khó khăn cho việc điều tra, khám phá tội phạm của người phạm tội, đồng thời để phát huy tính chủ động, tích cực, kịp thời trong đấu tranh phòng chống tội phạm nên việc bắt khẩn cấp được thực hiện bất

cứ ở đâu, bất cứ lúc nào Do đó, BLTTHS 2003 đã qui định phạm vi các chủ thể có thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp là tương đối rộng và điều này là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn

5 Thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp.

Thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp được qui định cụ thể tại khoản 3 và khoản 4 Điều 81 BLTTHS 2003

Khoản 3 Điều 81 BLTTHS 2003 qui định:

“3 Nội dung lệnh bắt và việc thi hành lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 80 của Bộ luật này”.

Trang 9

Theo đó, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp về cơ bản cũng được

BLTTHS quy định và áp dụng tương tự như thủ tục bắt bị can, bị cáo để tạm giam.

Nghĩa là việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp phải có lệnh bắt Người thi hành lệnh bắt phải đọc và giải thích lệnh và phải lập biên bản về việc bắt Khi tiến hành bắt người phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc đại diện của cơ quan, tổ chức nơi người bị bắt cư trú hoặc làm việc và người láng giềng chứng kiến Tuy nhiên, so với thủ tục bắt bị can, bị cáo để tạm giam, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp có một số điểm khác biệt sau:

Thứ nhất: Lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp không cần sự phê chuẩn

của Viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành.

Với tính chất và đặc điểm của việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp là rất cấp bách nên BLTTHS qui định việc bắt người trong trường hợp này không cần sự phê chuẩn trước của Viện kiểm sát Qui định như vậy nhằm đảm bảo cho việc bắt đạt hiệu quả và kịp thời, đúng như tên gọi “khẩn cấp” của trường hợp băt người này, nếu trì hoãn không tiến hành ngay thì sẽ mất thời cơ ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người

có hành vi phạm tội trốn tránh hoặc gây khó khăn cho việc điều tra khám phá tội phạm việc phải có phê chuẩn cảu Viện kiểm sát đối với lệnh bắt khẩn cấp trước khi thi hành sẽ là một sự “trì hoãn” làm mất đi tính chất cấp bách cảu trường hợp bắt người này

Thứ hai: Sau khi bắt người, việc bắt khẩn cấp phải được báo ngay cho Viện kiểm

sát cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét phê chuẩn (khoản 4 Điều 81 BLTTHS 2003) Qui định như vậy đảm bảo cho tính

chính xác và tránh sự lạm dụng bắt khẩn cấp của cơ quan có thẩm quyền khi ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp

Khoản 4 Điều 81 BLTTHS còn qui định cụ thể như sau:

“Viện kiểm sát phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ bắt khẩn cấp quy định tại Điều này Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát phải trực tiếp gặp, hỏi người bị bắt trước khi xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn

Trang 10

Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn Nếu Viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn thì người đã ra lệnh bắt phải trả tự do ngay cho người bị bắt”.

Đồng thời, Thông tư liên tịch 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP về quan hệ phối

hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số qui định của

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, cũng có qui định cụ thể về thủ tục bắt người trong trương hợp khẩn cấp như sau:

“3.2 Trường hợp uỷ thác bắt khẩn cấp thì ngay sau khi kết thúc việc bắt khẩn cấp,

Cơ quan điều tra được uỷ thác phải thông báo ngay cho Cơ quan điều tra đã uỷ thác đến nhận người bị bắt và các tài liệu liên quan Khi đã dẫn giải người bị bắt về đến trụ sở của mình, Cơ quan điều tra thụ lý vụ án phải chuyển ngay hồ sơ kèm theo quyết định uỷ thác việc bắt khẩn cấp cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn [ ]

3.4 Trong mọi trường hợp thời hạn xét phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp của Viện kiểm sát phải thực hiện đúng quy định tại Khoản 4 Điều 81 của BLTTHS Nếu phải trực tiếp gặp, hỏi người bị bắt hoặc trong trường hợp phải xét phê chuẩn nhiều người bị bắt khẩn cấp cùng một thời điểm hoặc vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn này cũng không được quá 12 giờ, kể từ khi Viện kiểm sát nhận được hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn Thời hạn 12 giờ xét phê chuẩn được tính liên tục kể cả trong và ngoài giờ làm việc

3.5 Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát phải trực tiếp gặp, hỏi người bị bắt trước khi xem xét quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp quy định tại khoản 4 Điều 81 là trường hợp qua nghiên cứu hồ sơ thấy có dấu hiệu lạm dụng việc bắt khẩn cấp hoặc tài liệu chứng cứ trong hồ sơ bắt khẩn cấp chưa thể hiện

rõ căn cứ để bắt khẩn cấp hoặc có mâu thuẫn

Ngày đăng: 29/01/2016, 16:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w