XAY DUNG PHAP LUAT VIỆC BẮT NGƯỜI TRONG TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP {3% người trong trường hợp khẩn cấp là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, là việc tước tự do của người đang chuẩn
Trang 1XAY DUNG PHAP LUAT
VIỆC BẮT NGƯỜI
TRONG TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP
{3% người trong trường hợp khẩn cấp là
biện pháp ngăn chặn trong tố tụng
hình sự, là việc tước tự do của người đang
chuẩn bị thực hiện tội phạm nghiêm
trọng hoặc sau khi thực hiện tội phạm,
người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ
nhằm gây khó khăn cho việc điều tra,
khám phá tội phạm
Bắt người trong trường hợp khẩn cấp
là biện pháp mang tính cấp bách được
những người có thấm quyền tiến hành
trước khi có quyết định khởi tố vụ án
Người bị bat trong trường hợp khẩn cấp
là người chưa bị khởi tố về hình sự, họ
chưa phải là bị can, bị cáo mà chỉ là
người bị nghi thực hiện tội phạm Bi can,
bi cao trong vụ án khác cũng có thể bị bắt
khẩn cấp nếu hành vi của họ thuộc một
trong những trường hợp quy định tại
khoản I Điều 63 Bộ luật tố tụng hình sự
(BLTTHS) Mục đích của biện pháp ngăn
chặn này là nhằm ngăn chặn hành vi
phạm tội cũng như những hành vi nhằm
gây khó khăn cho việc điều tra, khám phá
tội phạm
Trong quy định của pháp luật hiện
hành về việc bắt người trong: trường hợp
khẩn cấp cũng như thực tiễn áp dụng
những quy định đó đang còn nhiều vấn
đề có ý kiến khác nhau cần phải được
xem Xét và giải quyết cho hợp lí và hoàn
chỉnh hơn
1 Về các trường hợp bắt người
trong trường hợp khẩn cấp
Theo quy định tại khoản 1 Điều 63
BLTTHS, những trường hợp sau đây được
bắt khẩn cấp:
PHAN THANH MAI *
a Khi có căn cứ để cho rằng nguoi
đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm nghiêm trọng;
b Khi người bị hại hoặc người có
mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt
trông thấy và xác nhận đúng là người đã
thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;
c Khi thấy có dấu vết tội phạm ở
người hoặc tại chỗ ở của người bị nghỉ
thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy c “hứng chit’
Đề có thể bắt người trong trường hợp
quy định tại điểm a khoản l Điều 63 BLTTHS, phải đảm bảo hai điều kiện: Có căn cứ cho rang người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm và tội phạm đó phải là
tội nghiêm trọng Đối với vấn đề này,
trong lí luận và thực tiễn áp dụng có nhiều ý kiến cần xem xét:
- Thứ nhất, có ý kiến cho rằng căn cứ vào Điền I5 Bộ luật hình sự (BLHS),
“người chuẩn bị phạm tội nghiêm trọng phải chịu trách nhiệm hình sự?” nên cần
phải coi người đang chuẩn bị thực hiện
tội phạm nghiêm trọng là người đang
phạm tội và đưa trường hợp này vào
trường hợp quả tang Pie chting tÔI, ý kiến này chưa thỏa đáng, bởi vì hành vi
chuẩn bị phạm tội chỉ là những hành vi
tạo điều kiện vật chất hoặc tinh thần giup cho việc thực hiện hành vi phạm tội xây
ra hoặc có thể xảy ra được thuận lợi, dễ
* Giảng viên Khoa tư pháp Trường Đại học luật Hà Nội
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 53
Trang 2F n6 sa anuuất
XAY DỰNG PHAP mm
đàng chứ chưa phải là những hành vi
khách quan được phản ánh trong cấu
thành tội phạm Những trường hợp phạm
tội quả tang theo quy định tại Điều 64
BLTTHS đều có đặc điểm là những hành
vi cụ thể, rõ ràng, bất cứ người bình
thường nào cũng có thể nhận thức được
đó là tội phạm và người phạm tội, không
cần phải có chuyên môn, nghiệp vụ mới
có thể nhận biết được Chính vì đặc điểm
đó nên luật tố tụng hình sự quy định bất
kì người nào cũng có quyền bắt người
phạm tội quả tang Trường hợp người
đang chuẩn bị thực hiện tội phạm nghiêm
trọng, do họ chưa thực hiện những hành
vi khách quan được quy định trong cấu
thành tội phạm cụ thể nên việc xác định
hành vi chuẩn bị phạm tội của họ thường
không đơn giản, không phải bất kì ai
cũng có thể nhận thức được mà cần phải
có những biện pháp kiểm tra, xác minh
mới có thể kết luận về tính chất, hành vi
chuẩn bị phạm tội của họ Vì vậy, về mặt
lí luận cũng như thực tiễn áp dụng, việc
coi trường hợp một người đang chuẩn bị
thực hiện tội phạm nghiêm trọng là
trường hợp phạm tội quả tang và bất kì
người nào cũng có quyền bắt là không
hợp lí và dễ dẫn tới tình trạng bắt oan
- Thứ hai, trong một số trường hợp,
việc xác định tội phạm mà người đó đang
chuẩn bị thực hiện có phải là tội nghiêm
trọng hay không là rất khó khăn Trong
BLHS, có những tội luôn là tội nghiêm
trọng (ví dụ như tội phản bội tổ quốc -
Điều 72 BLHS), có những tội luôn là tội
it nghiém trọng (ví dụ như tội xâm phạm
chỗ ở của công dân - Điều 120 BLDS)
Khi có căn cứ cho rằng một người đang
chuẩn bị phạm những tội này, việc xác
định đó có phải là tội nghiêm trọng hay
không để quyết định có áp dụng biện
pháp bắt khẩn cấp là điều đơn giản
Nhưng trong BLHS cũng có những tội
54 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
danh mà cấu thành cơ bản của tội đó là
tội ít nghiêm trọng còn cấu thành tăng
nặng của tội đó lại là tội nghiêm trọng và
một trong các tình tiết định khung tăng
nặng của tội đó là căn cứ vào hậu quả do hành vi phạm tội gay ra Cho nén trong những trường hợp này, khi quá trình thực
hiện tội phạm mới ở giai đoạn chuẩn bị
phạm tội, chưa gây ra hậu quả và người thực hiện tội phạm chưa thực hiện các
hành vi được quy định ở tình tiết định khung tăng nặng khác thì không thể xác định được người đó đang chuẩn bị thực
hiện tội phạm nghiêm trọng hay không
để tiến hành bắt khẩn cấp đối với họ Ví
dụ: Tội trộm cắp tài sản công dân (Điều
155 BLHS) Nếu phạm tội trong trường hợp được quy định tại khoản Í Điều 155
BLHS thì tội đó là tội ít nghiêm trọng,
còn nếu phạm tội trong những trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều
155 thì tội đó là tội nghiêm trọng Nếu người phạm tội chưa thực hiện những hành vi quy định tại điểm a, b, d khoản 2 Điều 155 thì khi có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn bị trộm cắp tài sản công dân, chúng ta không biết tội mà họ đang chuẩn bị thực hiện có phải là tội nghiêm trọng hay không Khi không thể xác định được như vậy, chúng ta chỉ có
thể căn cứ vào cấu thành cơ bản của tội
đó để xác định đó là tội ít nghiêm trọng
và vì thế không thể bắt khẩn cấp đối với
người đó
- Thứ ba, do trong luật không quy định “căn cứ” để xác định người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm nghiêm trọng là những căn cứ nào, đó có thể là những căn cứ do cơ quan có thẩm quyền trực tiếp xác định thông qua theo dõi đối tượng và các biện pháp nghiệp vụ khác,
qua kiểm tra xác minh các nguồn tin do
quần chúng cung cấp hay còn là những căn cứ nào khác ? Do không có quy định
Trang 3
va hướng dẫn cụ thể nên có sự không
thống nhất trong việc giải thích và áp
dụng quy định này trong thực tế
Để có thể bắt khẩn cấp trong trường
hợp quy định tại điểm b khoản ! Điều 63
BLTTHS, cần phải có đủ hai điều kiện:
- Thứ nhất, phải có người bị hại hoặc
người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm
chính mắt trông thấy và xác nhận đúng
người đã thực hiện tội phạm Việc “xác
nhận” này phải được kiểm tra, xác minh
bởi các cơ quan và những người có thẩm
quyền
- Điều kiện thứ hai là xét thấy cần
ngăn chặn ngay việc người đó trốn Khái
niệm trốn ở đây được hiểu theo nghĩa
rộng, không chỉ là hành động trốn hoặc
chuẩn bị trốn mà còn là những khả năng
để cho rằng họ có thể trốn hoặc khó có
thể triệu tập họ khi cần thiết như không
có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi cư trú quá
xa, là đối tượng phản cách mạng, lưu
manh, côn đồ hung hãn chưa xác định
được nhân thân của người đó
Trong trường hợp này, chúng tôi cho
rằng việc dùng thuật ngữ “người bị hại”
là chưa đúng về hình thức Chỉ sau khi vụ
án được khởi tố, người bị thiệt hại về thể
chất, tính thần hoặc tài sản do hành vi
phạm tội gây ra được cơ quan tiến hành
tố tụng công nhận thì họ mới trở thành
người bị hại với tư cách là chủ thể của
quan hệ pháp luật tố tụng hình sự Vì vậy,
theo chúng tôi, điều luật nên quy định là
“người bị thiệt hại do tội phạm gây ra”
nhằm xác định rõ họ là người nào chứ
không nên xác định họ là “người bị hại”
Để có thể bất khẩn cấp trong trường
hợp quy định tại điểm c khoản I Điều 63
BLTTHS, phải đảm bảo hai điều kiện:
- Thứ nhất là phải tìm thấy dấu vết tội
phạm tại người hoặc tại chỗ ở của người
bị nghi thực hiện tội phạm Những dấu
vết ở đây có thể là những vật, những tài
liệu có liên quan đến tội phạm hoặc là
những dấu hiệu khác do tội phạm để lại
Những dấu vết này có thể được phát hiện
thông qua tố giác của nhân dân, qua khám xét, xem xét dấu vết trên thân thể, kiểm tra hành chính
- Thứ hai là xét cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng
cứ như cất giấu công cụ phương tiện
phạm tội, xóa bỏ dấu vết tội phạm
Trong trường hợp này, cần phải chú ý nếu những dấu vết tội phạm tìm thấy tại người hoặc tại chỗ ở của người đó cho
phép khẳng định chính xác, rõ ràng là người đó đang thực hiện tội phạm thì phải
bắt người đó theo trường hợp phạm tội
quả tang Ví d„: Khám nha A dé tim tang
vat ma A bị tình nghi là đã trộm cắp tài sản của công dân không tìm được tạng
vật đó nhưng lại tìm thấy thuốc phiện
Cần phải tiến hành bắt quả tang đối với A
về hành vi đang thực hiện tội tàng trữ trái
phép các chất ma túy mà không bắt khẩn
cấp đối với A về hành vi bị nghi là hành
vi trộm cắp vì không đủ điều kiện
Nếu những dấu vết tìm thấy tại người
hoặc tại chỗ ở của người đó vừa cho phép xác định về việc họ bị tình nghi phạm tội
đối với tội này vừa xác định họ đang thực
tội khác thì cần lập biên bản bắt khẩn cấp
và biên bản bắt người phạm tội quả tang phù hợp đối với từng trường hợp Ví dự:
Cũng ví dụ trên, nếu khi khám nhà A tìm thấy cả tang vật mà A bị nghi đã trộm
cắp và cả thuốc phiện mà A tàng trữ trái phép Phải tiến hành bắt A, lập biên bản bắt khẩn cấp đối với A về hành vi bị tình nghi trộm cắp tài sản công dân và biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với
A về hành vi đang tàng trữ trái phép các chất ma túy Đây hoàn toàn không chỉ là
việc làm mang tính hình thức thủ tục mà còn có ý nghĩa trong việc xác định những
vấn đề thuộc nội dung vụ án Theo quy
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 55
Trang 4DỰNG PHÁP LUẬT —
định tại Điều 48 và Điều 59 BLTTHS,
biên bản bắt người được coi là phương
tiện chứng minh tội phạm và người phạm
tội Vì vậy, cần phải lập cả hai loại biên
bản để dùng làm phương tiện chứng minh
cho hai tội khác nhau
Ngoài những trường hợp được quy
định tại khoản 1 Điều 63 BLTTHS, có ý
kiến cho rằng cần phải quy định thêm
một số trường hợp bắt khẩn cấp khác
Tuy nhiên, việc mở rộng phạm vị các
trường hợp bắt khẩn cấp cần phải được
xem xét, cân nhắc thận trọng Chế định
bắt khẩn cấp là chế định phức tạp và đặc
biệt của luật tố tụng hình sự Điều 7l
Hiến pháp 1992 quy định: “Không ai bị
bắt nếu không có quyết định của tòa án,
quyết định hoặc phê chuẩn của viện kiểm
sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang)
Việc bắt khẩn cấp do tính chất cấp bách,
cần ngăn chặn ngay hành vi phạm tội
hoặc hành vi gây khó khăn cho việc điều
tra, vì vậy được tiến hành trước khi khởi
tố vụ án và mặc đù cũng được viện kiểm
sát phê chuẩn nhưng việc phê chuẩn này
lại được tiến hành sau khi đã bắt người
Vì tính chất đặc biệt như vậy nên cần
thận trọng khi quy định thêm các trường
hợp được bắt khẩn cấp, tránh lạm dụng
để có thể vừa lảm bảo ngăn chặn tội
phạm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc
điều tra vừa không vi phạm quyền bất
khả xâm phạm về thân thể của công dân
được pháp luật bảo hộ
2 Quyền hạn và thủ tục bắt khẩn
Theo quy định tại khoản 2 Điều 63
BLTTHS, những người sau đây có quyền
ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn
cấp:
“q Trưởng công an, phó trưởng công
an cấp huyện; thủ trưởng, phó thủ trưởng
cơ quan điều tra cấp tỉnh trở lên; thú
56 - TẠP CHÍ LUẬT HỌC
trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra
các cấp trong quân đội nhân dân;
b Người chỉ huy đơn vị quân đội độc
lập cấp trung đoàn và tương đương, người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo
c Người chỉ huy máy bay, tàu biển
khi máy bay, tàu biển rời khỏi sân bay,
bến cảng”
Theo quy định hiện hành, tất cả các
phó trưởng công an cấp huyện đều có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp chứ không
phải chỉ riêng phó công an cấp huyện phụ
trách điều tra Quy định này mặc dù về mặt thực tiễn áp dụng tạo điều kiện thuận
lợi cho cơ quan công an cấp huyện nhưng
rõ ràng như vậy là không có sự tách bạch
giữa chức năng tố tụng (tư pháp) và chức năng quản lí hành chính (hành pháp) ở cơ quan công an cấp huyện Bộ nội vụ (nay
là Bộ công an) đã có Chỉ thị số l1 ngày
22/12/1993 hướng dẫn: Chỉ có phó trưởng công an huyện đồng thời là thủ trưởng cơ quan điều tra cấp huyện mới có quyền ra lệnh bat người trong trường hợp khẩn cấp Nhưng trên thực tế, nhiều cơ quan
công an huyện vẫn áp dung theo tinh than
của điều luật là tất cả các phó trưởng công an huyện đều kí lệnh bắt khẩn cấp
Để tránh tình trạng không thống nhất
giữa luật và văn bản đưới luật và để phân định rõ phạm vi quyền hạn của cơ quan
điều tra cấp huyện, cần sửa lại điểm a,
khoản 2 Điều 63 BLTTHS là: “Thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp”
Về thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp, khoản 3 và 4 Diéu 63 BLTTHS quy định: “Nội dung lệnh bắt và việc thi
hành lệnh bắt người trong trường hợp
khẩn cấp phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 62 Bộ luật này.
Trang 5
Trong mọi trường hợp, việc bắt khẩn
cấp phải được báo ngay cho viện kiểm
sát cùng cấp bằng văn bản để xét phê
chuẩn Nếu viện kiểm sát không phê
_ chuẩn thì phải trả tự do ngay cho người
bị bắt"
Quy định về thủ tục bắt khẩn cấp như
hiện nay còn có những điểm chưa hợp lí
và chưa đầy đủ
- Thứ nhất, quy định thủ tục thi hành
lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp
phải theo đúng những quy định về thủ tục
bắt bị can, bị cáo để tạm giam là không
hợp lí Việc bắt khẩn cấp có đặc điểm và
tính chất khác hắn bắt bị can, bị cáo để
tạm giam Do tính chất cấp bách và
không thể trì hoãn nên có thể bắt khẩn
cấp bất kì lúc nào và bất kì đâu mà không
thể áp dụng quy định vỀ việc chứng kiến
của chính quyền địa phương, tổ chức nơi
người đó cư trú hoặc làm việc cũng như
của người láng giéng cua người đó Trong
thực tế, cơ quan có thẩm quyền bắt khẩn
cấp cũng đã áp dụng linh hoạt để đảm
bảo kịp thời bắt giữ người trong trường
hợp bắt khẩn cấp Vì vậy, cần quy định
thủ tục bắt khẩn cấp riêng biệt, không á ap
dung tương tự thủ tục bắt bị can, bị cáo
để tạm giam Trong thủ tục bắt khẩn cấp
không cần phải có sự chứng kiến của
chính quyền địa phương, cơ quan tổ chức
nơi người đó cư trú hoặc làm việc và
người láng giềng
- Thứ hai, về thẩm quyền phê chuẩn,
luật quy định thẩm quyên thuộc về ““viện
kiểm sát cùng cấp” Đối với trường hợp
cơ quan điều tra ra lệnh bắt khẩn cấp thì
có thể xác định được viện kiểm sát cùng
cấp nhưng đối với trường hợp người quy
định tại điểm b, c khoản 2 Điều 63
BLTTHS thì không thể xác định viện
kiểm sát cùng cấp Cần phải quy định cơ
quan có thẩm quyền phê chuẩn việc bắt
khẩn cấp là viện kiểm sát cùng cấp hoặc viện kiểm sát nơi gần nhất nếu không có viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn Cũng có thể xem xét để quy định thẩm quyền phê chuẩn thuộc “viện kiểm sát
nơi thuận tiện nhất” thay cho “viện kiểm
sát nơi gần nhất” bởi vì việc thông báo cho viện kiểm sát nơi gần nhất trong nhiều trường hợp chưa phải là nơi thuận tiện nhất cho người đã ra lệnh bắt khẩn cấp
- Thứ ba, trong điều luật chưa quy định về thời gian viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt và thực tế việc phê chuẩn của viện kiểm sát sau khi cơ quan điều tra đã
thực hiện lệnh bắt khẩn cấp cũng chưa
được thực hiện một cách chặt chế và còn mang tính hình thức Cần phải quy định thời hạn xét phê chuẩn việc bắt khẩn cấp của viện kiểm sát là 24 giờ kể từ khi nhận được dé nghị xét phê chuẩn để tăng cường trách nhiệm của viện kiểm sát Qua nghiên cứu, tìm hiểu những quy
định của luật tố tụng hình sự về việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp và thực
tiễn ap dụng biện pháp này, chúng tôi thấy rằng việc tiếp tục quy định biện
pháp này là cần thiết bởi vì biện pháp này
có :ý nghĩa rất lớn trong việc kịp thời ngăn chặn tội phạm và tạo điểu kiện thuận lợi cho hoạt động của cơ quan điều
tra Mặc dù vậy, theo chúng tôi, cần phải hoàn thiện và bổ sung chế định này để khắc phục những điểm còn hạn chế theo hướng chúng tôi đã trình bày ở trên để
việc thực hiện chế định này được chặt chẽ
và phát huy được tác dụng tích cực, hạn
chế những việc làm trái pháp luật, vi phạm quyền dân chủ của công dân trong việc bắt khẩn cấp./
TẠP CHÍ LUẬT HỌC - 57