1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp trong tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh hà tĩnh)

101 326 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối quan hệ giữa hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp của Viện kiểm sát ..... Trong hoạt động áp dụng biện

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM MẠNH HÙNG

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Văn Thành

Trang 4

DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT NGƯỜI TRONG TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP 8 1.1 Những vấn đề chung về bắt người trong trường hợp khẩn cấp 8

1.1.1 Khái niệm biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp

khẩn cấp 8 1.1.2 Đặc điểm của việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp 16

1.2 Những vấn đề chung về kiểm sát việc áp dụng biện pháp

ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp 18

1.2.1 Khái niệm kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người

trong trường hợp khẩn cấp 18 1.2.2 Đối tượng và phạm vi kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn

chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp 24

1.3 Vai trò và ý nghĩa của hoạt động kiểm sát việc áp dụng biện

pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp của Viện kiểm sát 27 1.4 Mối quan hệ giữa hoạt động thực hành quyền công tố và

kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp của Viện kiểm sát 28

Trang 5

Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SÁT

VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT NGƯỜI TRONG TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH HÀ TĨNH 34 2.1 Khái quát quy định của pháp luật tố tụng hình sự trước năm

2003 về kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp 34

2.1.1 Giai đoạn từ năm 1960 đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự

năm 1988 34 2.1.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự

năm 2003 37

2.2 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 về kiểm sát việc

áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp 39

2.2.1 Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong kiểm

sát áp dụng biện pháp ngăn chặn 39 2.2.2 Kiểm sát việc tuân thủ quy định về căn cứ áp dụng biện pháp bắt

người trong trường hợp khẩn cấp 41 2.2.3 Kiểm sát việc tuân thủ các quy định của pháp luật về thẩm quyền

áp dụng 50 2.2.4 Kiểm sát việc tuân thủ các quy định của pháp luật về trình tự,

thủ tục áp dụng 52

2.3 Thực tiễn kiểm sát việc áp dụng biện pháp bắt người trong

trường hợp khẩn cấp 54

2.3.1 Khái quát về tình hình kinh tế, xã hội tỉnh Hà Tĩnh và cơ cấu tổ

chức, hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh 54 2.3.2 Những kết quả đạt được trong hoạt động kiểm sát việc áp dụng

biện pháp ngăn chặn bắt khẩn cấp trên địa bàn Hà Tĩnh và những hạn chế, tồn tại 57 2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại 67

Trang 6

Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI PHÁP KHÁC

NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP BẮT NGƯỜI TRONG TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP 72 3.1 Hoàn thiện pháp luật 72

3.1.1 Những nội dung mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về

kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt khẩn cấp 72 3.1.2 Tiếp tục hoàn thiện các quy định về kiểm sát việc áp dụng biện

pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp 76

3.2 Các giải pháp khác nâng cao hiệu quả kiểm sát việc áp dụng

biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp 80

3.2.1 Tăng cường hoạt động chỉ đạo nghiệp vụ của Viện kiểm sát nhân

dân cấp trên 80 3.2.2 Tăng cường trình độ chuyên môn và ý thức trách nhiệm, đạo đức

nghề nghiệp của cán bộ kiểm sát 82 3.2.3 Đẩy mạnh quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát 85 3.2.4 Nâng cao cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc và đổi mới chính

sách, chế độ đối với cán bộ kiểm sát 85

KẾT LUẬN 87 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự BPNC: Biện pháp ngăn chặn CQĐT: Cơ quan điều tra THQCT: Thực hành quyền công tố TTHS: Tố tụng hình sự

TTPL: Tuân theo pháp luật VKS: Viện kiểm sát

VKSND: Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Số liệu thụ lý án hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh từ

Bảng 2.2 Kết quả điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự trên

địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn 2012 - 2016 58 Bảng 2.3 Tình hình áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người

trong các vụ án hình sự từ năm 2012 đến năm 2016 59 Bảng 2.4 Tình hình Viện kiểm sát không phê chuẩn lệnh bắt

khẩn cấp của Cơ quan điều tra trên địa tỉnh Hà Tĩnh

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự (TTHS) thì các biện pháp ngăn chặn (BPNC) chiếm vị trí đặc biệt quan trọng Bởi lẽ các BPNC nhằm giúp cơ quan tiến hành tố tụng có các điều kiện thuận lợi để giải quyết các vụ việc, ngăn chặn kịp thời các hành vi phạm tội đang chuẩn bị thực hiện hoặc đang xảy ra, góp phần đắc lực cho việc phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi phạm tội Trong số các BPNC, thì bắt, tạm giữ, tạm giam là những biện pháp mang tính cưỡng chế rất nghiêm khắc Nếu bắt, giam, giữ oan, sai sẽ xâm phạm đến quyền tự do dân chủ của công dân và các quyền, lợi ích hợp pháp của con người được pháp luật bảo hộ Ngược lại, không bắt, giam, giữ người phạm tội để những người đó vẫn tự do ngoài vòng pháp luật, tiếp tục gây án hoặc trốn tránh gây khó khăn cho việc điều tra, xử lý vụ án cũng là làm thiệt hại đến quyền lợi của con người, của cộng đồng, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước

Trong các biện pháp ngăn chặn, thì biện pháp ngăn chặn bắt người là biện pháp thường được áp dụng, nhưng cũng có thể làm hạn chế tới quyền tự

do của con người Do đó, hoạt động bắt người luôn là vấn đề nhạy cảm trong đời sống chính trị, xã hội vì bắt người đúng hay không đúng các quy định của pháp luật có liên quan và ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân: Quyền bất khả xâm phạm về thân thể Do đó, vấn đề bắt người quy định trong

tố tụng hình sự (TTHS) luôn đòi hỏi phải đảm bảo tính chặt chẽ, để có căn cứ theo quy định của pháp luật

Theo Hiến pháp 2013, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp Hoạt động của VKSND nhằm bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công

Trang 10

2

dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Chính vì vậy, VKSND có vai trò quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự, trong đó một trong hai chức năng quan trọng của VKS trong tố tụng hình sự là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động TTHS, đảm bảo mọi hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự đều tuân thủ đúng các quy định của pháp luật Trong hoạt động áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung và áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp nói riêng VKSND có nhiệm vụ quyền hạn mang tính riêng biệt, điều này thể hiện ở việc, VKSND vừa là cơ quan có thẩm quyền trực tiếp áp dụng các biện pháp này, vừa là cơ quan kiểm sát việc

áp dụng các biện pháp ngăn chặn của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác Hoạt động kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp của VKSND nhằm đảm bảo mọi trường hợp áp dụng biện pháp này đều tuân thủ các quy định của pháp luật, tránh tình trạng lạm dụng, áp dụng tùy tiện, thiếu căn cứ, điều kiện, sai về trình tự, thủ tục…

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp tại Điều 81, với 3 trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng được áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp nhằm ngăn chặn người phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm hoặc cản trở hoạt động điều tra tội phạm Ngoài ra BLTTHS năm 2003 còn quy định về trình tự, thủ tục, điều kiện bắt khẩn cấp Quy định trên của pháp luật

tố tụng hình sự là căn cứ pháp lý quan trọng để các cơ quan tiến hành tố tụng

áp dụng biện pháp này, để từ đó có những hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm cần thiết Trong thực tiễn áp dụng, trên thực tế, các cơ quan điều tra đôi khi có biểu hiện lạm dụng áp dụng biện pháp bắt khẩn cấp, hoặc áp dụng biện pháp này không đúng về điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục

Trang 11

3

Điều này đã xâm hại tới quyền, lợi ích hợp pháp của những người bị bắt, vi phạm pháp chế xã hội chủ nghĩa, vi phạm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, được tổ chức, hoạt động theo các quy định của Luật tổ chức VKSND và có chức năng nhiệm vụ theo quy định của các văn bản pháp luật của nhà nước Với tính chất là địa bàn tỉnh có diện tích trung bình, dân số ít nhưng trong những năm vừa qua, kinh tế xã hội của tỉnh Hà Tĩnh rất phát triển Đặc biệt là với việc mở các khu kinh tế ven biển như Vũng Áng… tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Hà Tĩnh là khá cao so với bình quân cả nước Bên cạnh những ưu điểm về sự phát triển kinh tế xã hội thì sự thay đổi về cơ cấu kinh tế, xã hội đã kéo theo sự gia tăng của các loại tội phạm trên địa bàn Trong những năm vừa qua, lợi dụng chính sách thu hồi đất đai của chính quyền địa phương tình trạng khiếu nại đông người, gây rối trật tự công cộng, các tội phạm về trật tự xã hội như: ma túy, trộm cắp, cướp giật tài sản, tệ nạn mại dâm… ngày một gia tăng Hàng năm, Cơ quan điều tra trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã khởi tố, điều tra và VKS đã truy tố hàng nghìn vụ án các loại Kết quả trên góp phần có hiệu quả vào công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm trên địa bàn Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết vụ

án hình sự áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong đó có biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp vẫn còn những hạn chế, bất cập thể hiện qua việc chậm trễ trong việc chuyển giao các quyết định bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, hoạt động bắt khẩn cấp còn có sai sót về căn cứ, thẩm quyền, trình tự thủ tục Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao việc áp dụng biện pháp ngăn chặn VKS còn chưa thực sự kịp thời, sâu sát dẫn đến một số trường hợp việc áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp còn sai sót, dẫn đến ảnh hưởng về quyền và lợi ích hợp pháp của người bị bắt

Trang 12

4

Chính vì vậy, học viên quyết định chọn đề tài “Kiểm sát việc áp dụng

biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp trong tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn Hà Tĩnh)” làm đề tài luận

văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề các biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp nói riêng đã được một số nhà nghiên cứu đề cập đến trong các tác phẩm của mình Có thể kể đến như:

Tác giả, Nguyễn Vạn Nguyên – Phạm Thanh Bình với cuốn sách: Những điều cần biết về bắt người, tạm giam, tạm giữ đúng pháp luật – NXB Chính trị quốc gia 1993 và “Các biện pháp ngăn chặn và những vấn đề nêu cao hiệu quả của chúng” – Nguyễn Văn Nguyên – NXB Công an nhân dân, 1995

Tác giả Vũ Xuân Lâm với luận án Tiến sĩ luật học “Bắt người trong tố tụng hình sự Việt Nam” – bảo vệ tại Đại học luật Hà Nội, Hà Nội 2000

Tác giả, Hoàng Thị Minh Sơn với bài báo “Bảo đảm quyền của người

bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam”,

Tạp chí Luật học, số 3/2011, tr 54

Ngoài ra, nghiên cứu về góc độ kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung và kiểm sát việc áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp nói riêng có thể kể đến một số công trình như: Tác giả Lê Hữu Thể

với cuốn sách, Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2009; Luận án Tiến sỹ

của tác giả Bùi Thị Hạnh - 2017: Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố và kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn của Cơ quan điều tra; Tác giả Nguyễn Hải Phong với cuốn sách: Một số vấn đề: Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp - Nhà xuất bản chính trị Quốc gia 2014

Trang 13

5

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây mới chỉ đề cập đến một

số khía cạnh nhất định của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp cũng như kiểm sát việc áp dụng biện pháp này Mà không có công trình nào trực tiếp nghiên cứu về kiểm sát việc áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp, đặc biệt là nghiên cứu trên cơ sở một địa bàn cụ thể là tỉnh Hà Tĩnh Phân tích này cho thấy việc chọn đề tài nghiên cứu trên của tác giả là hoàn toàn chính xác về khoa học và thực tiễn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp trên cơ sở thực tiễn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, từ đó đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp và nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động này

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu trên, đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Nghiên cứu lý luận về biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp

và lý luận về kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp

- Nghiên cứu về thực tiễn quy định của pháp luật về biện pháp bắt khẩn cấp và thực tiễn quy định của pháp luật về kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp nói riêng

- Nghiên cứu thực tiễn hoạt động kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm sát việc áp dụng

Trang 14

6

biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp và nâng cao hiệu quả hoạt động này trên thực tiễn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài có đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp ngăn chặn bắt người khẩn cấp nói riêng thông qua đó đề tài đưa ra được những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp trong giai đoạn hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu trên, đề tài có phạm vi nghiên cứu về những vấn đề lý luận và thực tiễn về kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp theo quy định của BLTTHS năm 2003 trên

cơ sở có so sánh với BLTTHS năm 2015 Đề tài nghiên cứu thực tiễn kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp trên địa bàn Hà Tĩnh trong 5 năm từ năm 2012 đến năm 2016

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng

Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, về cải cách tư pháp

Trên cơ sở lý luận nói trên đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu trực tiếp là phân tích, so sánh, đối chiếu, thống kê, tổng hợp…

6 Những đóng góp mới của đề tài

Đề tài là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về vấn đề kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh

Trang 15

7

Về mặt lý luận, đề tài giải quyết một cách toàn diện những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp như khái niệm, đặc điểm, phạm vi và đối tượng của hoạt động này

Về mặt thực tiễn đề tài đã nghiên cứu thực tiễn hoạt động kiểm sát việc

áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt khẩn cấp trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong những năm vừa qua

Kết quả nghiên cứu đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong các cơ sở đào tạo, nghiên cứu luật học và tài liệu thực tiễn cho cán bộ của các cơ quan tư pháp như VKS, Cơ quan điều tra, Tòa án…

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 3 chương 10 tiểu mục

Trang 16

8

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG

BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT NGƯỜI TRONG

TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP

1.1 Những vấn đề chung về bắt người trong trường hợp khẩn cấp

1.1.1 Khái niệm biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp

Bắt người là BPNC có tính cưỡng chế nghiêm khắc, vì vậy việc bắt người nhất thiết phải tuân thủ các căn cứ, trình tự, thủ tục chặt chẽ mà pháp luật quy định Áp dụng biện pháp bắt người nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trốn tránh pháp luật, nhằm tạo điều kiện bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được thuận lợi Theo quy định của Bộ luật TTHS thì bắt người là một trong những BPNC áp dụng đối với bị can, bị cáo và có thể đối với người chưa bị khởi tố nhằm ngăn chặn hành vi tội phạm, ngăn ngừa việc người phạm tội trốn tránh pháp luật, bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử

và thi hành án hình sự được thuận lợi Hậu quả của việc bắt người nhầm lẫn, oan sai sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền hiến định của công dân, hạn chế một số quyền tự do của cá nhân có tác hại rất lớn đến tính nghiêm minh của pháp luật, ảnh hưởng xấu đến lòng tin của nhân dân đối với cơ quan pháp luật Đó là quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người mà Hiến

pháp năm 2013 đã ghi nhận: “Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp do phạm tội quả tang Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật” [21] Chỉ được bắt người theo TTHS khi có quyết định của Tòa

án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát và chỉ duy nhất trường hợp

Trang 17

9

bắt người phạm tội quả tang thì không cần có quyết định của Tòa án, quyết định phê chuẩn của VKSND Nếu bắt người trái pháp luật sẽ gây tác hại nghiêm trọng về nhiều mặt: Quyền và lợi ích của công dân bị xâm phạm, hiệu lực của pháp luật, uy tín của Nhà nước nói chung và của các cơ quan bảo vệ pháp luật nói riêng bị suy giảm Đối tượng của việc bắt là con người cho nên việc bắt đòi hỏi phải đảm bảo chặt chẽ, chính xác Bắt người không phải là một biện pháp trừng phạt của pháp luật đối với với người phạm tội Mà nhằm ngăn chặn người phạm tội tiếp tục phạm tội, che giấu, trốn tránh hoặc gây khó khăn cho việc xác định làm rõ sự thật của vụ án

Trong khoa học luật TTHS thủ tục bắt người được nhiều tác giả nghiên cứu và có những quan niệm, ý kiến khác nhau, cụ thể:

Theo tác giả Nguyễn Mai Bộ:

Bắt người là giữ người phạm pháp lại, không cho tiếp tục

tự do hoạt động, chặn đứng hành động phạm tội đề phòng người

đó lẩn trốn, tự sát, tiêu hủy chứng cứ hoặc gây trở ngại cho việc điều tra Bắt người là một trong những biện pháp cưỡng chế cần thiết nhất của Nhà nước để trấn áp, ngăn chặn những hành động phạm tội… Bắt người là một trong những BPNC do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo và có thể đối với người chưa bị khởi tố nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa việc người phạm tội trốn tránh pháp luật, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự được thuận lợi và đúng pháp luật [3, tr 31-32]

Theo Giáo trình Luật TTHS Việt Nam - Khoa luật, Đại học Quốc Gia

Hà Nội thì:

Bắt người là BPNC trong TTHS được áp dụng đối với bị can,

bị cáo, người bị nghi thực hiện tội phạm hoặc người phạm tội quả

Trang 18

10

tang hoặc người đang có lệnh truy nã nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa họ phạm tội, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành bản án hình sự [6, tr.199]

Còn theo Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Trung tâm Đào tạo từ xa Đại học Mở Hà Nội:

Bắt người là BPNC trong TTHS do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo và có thể đối với người chưa bị khởi tố nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa việc người phạm tội trốn tránh pháp luật, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự được thuận lợi và đúng pháp luật [28, tr.214]

Theo Giáo trình Luật TTHS của Trường Đại học Luật Hà Nội thì lại quan niệm:

Bắt người là BPNC trong TTHS được áp dụng đối với bị can,

bị cáo, người đang bị truy nã và trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thì áp dụng cả đối với người chưa bị khởi tố về hình sự nhằm ngăn chặn hành vi phạm tội của họ, ngăn ngừa họ trốn tránh pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy

tố, xét xử và thi hành án hình sự [32, tr.197]

Cả bốn quan điểm trên về biện pháp bắt người đều có những hạt nhân hợp lý, tuy nhiên có điểm không hợp lý khi cho rằng một trong những mục đích của bắt người là “Tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét

xử và thi hành bản án hình sự” Đồng thời quan điểm cho rằng việc áp dụng BPNC bắt người đều do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đã làm thiếu đi vai trò và thẩm quyền của công dân khi tham gia bắt người phạm tội quả tang và bắt truy nã

Trang 19

11

TS Trần Quang Tiệp đưa ra quan niệm:

Bắt là BPNC trong TTHS, do người có thẩm quyền áp dụng, tạm thời hạn chế tự do thân thể đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) theo những trình tự, thủ tục do pháp luật TTHS quy định, nhằm ngăn chặn tội phạm, người thực hiện tội phạm trốn tránh pháp luật, bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án [29, tr.89]

Với quan niệm này có thể thấy biện pháp bắt là một BPNC độc lập trong TTHS

TS Nguyễn Văn Điệp thì cho rằng:

Bắt người là biện pháp cưỡng chế được quy định trong pháp luật TTHS do cơ quan, người có thẩm quyền do luật định áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố; người đang có hành vi phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã khi có căn cứ do Bộ luật TTHS quy định, nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn việc bị can, bị cáo gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án [9, tr.12]

Hai quan niệm trên có sự tương đồng và thống nhất người có quyền áp dụng là “cơ quan, người có thẩm quyền” Việc quy định này đã khắc phục được phần nào hạn chế trong những quan niệm trước đây Tuy nhiên việc liệt

kê đối tượng bị áp dụng lại khá dài

Từ những phân tích trên, theo tôi, có thể đưa ra khái niệm về biện pháp

bắt người trong TTHS như sau: Bắt người là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do người có thẩm quyền áp dụng đối với những người thực hiện hành vi có dấu hiệu của tội phạm theo trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng hình

sự quy định, nhằm ngăn chặn tội phạm, người thực hiện hành vi có dấu hiệu

Trang 20

vô tội sẽ gây một tác hại rất lớn, ảnh hưởng xấu đến lòng tin của nhân dân đối với cơ quan bảo vệ pháp luật Vì vậy, khi bắt người phải thể hiện thái độ kiên quyết đấu tranh chống tội phạm, song cũng phải thận trọng khi xem xét đánh giá chứng cứ Quá trình thực hiện bộ luật TTHS các cơ quan như: Bộ Công

an, VKSND tối cao, TAND tối cao, Bộ Tư pháp, đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật đơn ngành, liên ngành để hướng dẫn việc áp dụng BPNC trong đó có biện pháp bắt người [13]

Quy định về biện pháp ngăn chặn bắt người và áp dụng BPNC bắt người trong TTHS có ý nghĩa lớn trong việc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm:

Một là, thể hiện thái độ của nhà nước trong việc đấu tranh và phòng

chống tội phạm Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm tới các quan hệ xã hội mà nhà nước bảo vệ Do đó, công tác đấu tranh, chống và phòng ngừa những hành vi phạm tội nhằm hạn chế những hiện tượng phạm tội ra khỏi đời sống xã hội là một trong những nhiệm vụ quan trọng và phải được tiến hành một cách kiên quyết, triệt để, không khoan nhượng

Hai là, bảo đảm cho các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng

diễn ra bình thường, góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm Thông thường, người phạm tội ý thức rất rõ về hậu quả pháp lý mà mình phải chịu do việc thực hiện tội phạm nên họ tìm đủ mọi cách để có thể nhanh chóng đạt được mục đích phạm tội lại vừa có thể che

Trang 21

13

giấu, trốn tránh được sự phát hiện và trừng phạt của pháp luật Việc áp dụng biện pháp bắt người là cần thiết nhằm ngăn chặn những hành vi phạm tội, đang phạm tội hoặc người thực hiện hành vi phạm tội trốn tránh, góp phần hạn chế đến mức thấp nhất những khó khăn mà người phạm tội có thể gây ra cho quá trình giải quyết vụ án

Ba là, bảo đảm sự dân chủ, tôn trọng các quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp quy định trong đó có quyền bất khả xâm phạm về thân

thể Quy định BPNC bắt người không chỉ đơn thuần tạo điều kiện cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện tốt nhiệm vụ theo chức năng của mình mà còn nhằm đảm bảo sự tôn trọng và thực hiện đầy đủ các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến pháp Sự tuân thủ các quy định của pháp luật TTHS khi áp dụng, thay đổi hay hủy bỏ một BPNC nào đó về các phương diện như: sự cần thiết phải áp dụng, thay đổi, hủy bỏ, đối tượng áp dụng…; căn cứ áp dụng; thẩm quyền; thủ tục

áp dụng… trước hết là xuất phát từ sự tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của con người [9, tr.76]

Việc bắt người có tác động trực tiếp đến quyền tự do về thân thể của con người bởi vậy khi áp dụng cần phải cân nhắc hết sức thận trọng khi quyết định việc bắt Bắt người đúng pháp luật sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh chống và ngăn ngừa tội phạm Chính vì vậy, việc quy định những cơ sở pháp lý cho việc áp dụng BPNC bắt người là một yêu cầu cấp thiết và quan trọng trong TTHS Việt Nam TS Nguyễn Vạn Nguyên và một số tác giả khác chia biện pháp bắt người thành bốn loại: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt người trong trường hợp khẩn cấp; bắt người phạm tội quả tang; bắt người đang

bị truy nã [14] Nhưng theo Chương VI, Bộ luật TTHS năm 2003 quy định ba trường hợp bắt người gồm: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; Bắt người trong trường hợp khẩn cấp; Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã

Trang 22

14

Căn cứ vào đối tượng bị bắt, có thể chia các biện pháp bắt người thành các loại: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; bắt người trong trường hợp khẩn cấp; Bắt người đang phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã và bắt một số đối tượng đặc biệt [9, tr.198]

Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là một trường hợp bắt, thường được áp dụng đối với người chưa bị khởi tố về hình sự, nhằm ngăn chặn ngay hành vi phạm tội hoặc những hành động cản trở việc điều tra, truy tố

Nhằm khắc phục những thiếu sót và hạn chế nêu trên, để bảo đảm cho việc bắt khẩn cấp chỉ áp dụng trong những trường hợp cần thiết (hay thực sự đúng nghĩa là khẩn cấp) nhằm chặn đứng hành vi phạm tội và hành

Trang 23

15

vi trốn tránh pháp luật của người phạm tội Đồng thời, hạn chế tới mức tối

đa những vi phạm về quyền và lợi ích hợp pháp của công dân các BLTTHS

1988 và BLTTHS 2003 đã quy định một cách khá cụ thể, rõ ràng các trường hợp bắt khẩn cấp như sau:

- Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

- Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn

- Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc chỗ ở của người bị tình nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó

trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ

Bắt người trong trường hợp khẩn cấp thể hiện tính chất đặc biệt cấp bách của việc ngăn chặn tội phạm Tính chất cấp bách đó được thể hiện ở chỗ: nếu như không tiến hành bắt ngay người có hành vi nguy hiểm cho xã hội thì người đó sẽ gây tổn thất nghiêm trọng cho Nhà nước, xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe và sở hữu của công dân hoặc cản trở việc điều tra, xét

xử, trốn tránh pháp luật Do đó, đối tượng bị bắt khẩn cấp là bất kỳ ai nếu như người đó có đầy đủ các điều kiện thuộc vào một trong các trường hợp được bắt khẩn cấp nêu trên

Nói tóm lại, bắt người trong trường hợp khẩn cấp là một trong các BPNC được quy định trong BLTTHS Với đặc điểm là tính khẩn cấp, do vậy việc áp dụng biện pháp bắt này đã phát huy được tác dụng rất lớn trong công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Tuy nhiên, để không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội và đảm bảo được các quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, thì khi ra quyết định bắt khẩn cấp những người có thẩm quyền cần phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định

Trang 24

16

của pháp luật về bắt khẩn cấp Chỉ áp dụng biện pháp này khi nó thực sự cần thiết để hạn chế việc lạm dụng bắt khẩn cấp, hạn chế tình trạng bắt oan, sai

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về bắt người trong

trường hợp khẩn cấp như sau: Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là một trường hợp của biện pháp bắt người, do người có thẩm quyền áp dụng khi

có các căn cứ cho rằng một người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc khi có người chính mắt trông thấy và xác nhận đúng một người đã thực hiện tội phạm mà xét cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ

1.1.2 Đặc điểm của việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp

Bắt người trong trường hợp khẩn cấp có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, đây là biện pháp được tiến hành khi có những căn cứ mang

tính cấp bách nếu được tiến hành theo thủ tục kéo dài thì sẽ không đảm bảo được mục đích bắt đặt ra Từ đó, người phạm tội sẽ gây khó khăn cho hoạt động điều tra Đây chính là căn cứ nổi bật để phân biệt với trường hợp bắt bị can bị cáo để tạm giam Theo đó, khi áp dụng biện pháp bắt bị can bị cáo để tạm giam cần phải tuân thủ theo trình tự trước khi thi hành quyết định bắt người phải được VKS cùng cấp phê chuẩn Điều này đảm bảo vai trò kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn của VKS, từ đó đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Ngược lại đối với biện pháp bắt khẩn cấp, do tính cấp bách của biện pháp này mà cơ quan tiến hành bắt ra quyết định và thực hiện ngay mà chưa cần sự phê chuẩn của VKS trước khi thi hành Điều này nhằm đảm bảo tính cấp bách, bí mật, bất ngờ của biện pháp này Từ đó góp phần ngăn chặn người phạm tội tiếp tục phạm tội mới, bỏ trốn, cản trở hoạt động giải quyết vụ án hoặc tiêu hủy chứng cứ

Trang 25

17

Thứ hai, nội dung của biện pháp ngăn chặn bắt khẩn cấp cũng giống

như các biện pháp bắt người khác là nó mang bản chất ngăn chặn bằng cưỡng chế Nhà nước, theo đó, biện pháp này được tiến hành với nội dung là nhà nước, thông qua các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện bằng cưỡng chế Do đó, biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp tác động tới các quyền con người cơ bản của người bị áp dụng

Thứ ba, một trong những đặc điểm khác biệt của biện pháp ngăn chặn

bắt người trong trường hợp khẩn cấp so với các biện pháp ngăn chặn bắt người khác như bắt người phạm tội quả tang hay bắt người đang bị truy nã đó

là về thẩm quyền áp dụng biện pháp này Theo đó, nếu như bắt người phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã thì bất cứ ai cũng có quyền bắt, và phải giải ngay đến cơ quan có thẩm quyền điều này nhằm đáp ứng tính kịp thời mang tính đặc thù của các biện pháp này, thì bắt người trong trường hợp khẩn cấp chỉ có thể do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiến hành Điều này nhằm đảm bảo tính hợp pháp và tính chặt chẽ của việc áp dụng biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp Không thể để tình trạng tùy tiện, bất kỳ

ai cũng có quyền bắt khẩn cấp được

Thứ tư, về trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp bắt người trong trường

hợp khẩn cấp cũng có những điểm đặc thù riêng so với bắt bị can, bị cáo để tạm giam Theo đó, bắt người trong trường hợp khẩn cấp là biện pháp được tiến hành trước khi có sự phê chuẩn của VKS Đây là sự khác biệt so với biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam Bởi lẽ, khi bắt bị can, bị cáo để tạm giam thì cần phải có sự phê chuẩn của VKS trước khi tiến hành thì biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp được tiến hành trước khi có sự phê chuẩn trên Bởi lẽ, đặc thù của biện pháp này là khẩn cấp, nếu phê chuẩn của VKS thì sẽ dẫn đến tính cấp bách của biện pháp này không đạt được, người phạm tội sẽ bỏ trốn, tiêu hủy chứng cứ hoặc làm cản trở hoạt động giải quyết vụ án

Trang 26

1.2.1.1 Khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự

Theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, tố tụng hình sự là toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự, từ tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử và thi hành án Nói cách khác, “tố tụng hình sự là toàn bộ hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng

và cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội nhằm giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật” [41, tr.251]

Như vậy, các hoạt động trong tố tụng hình sự bao gồm:

- Hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự là các cơ quan thực hiện việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, bao gồm: Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Toà án Đây là các cơ quan có vai trò chủ đạo trong việc giải quyết các vụ án hình sự

- Hoạt động của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng Người

có thẩm quyền tiến hành tố tụng là những công chức trong cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, được bổ nhiệm vào các chức danh tố tụng, có thẩm quyền thực hiện những hoạt động tố tụng nhất định trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó nhằm góp phần giải quyết vụ án hình sự

- Hoạt động của những người tham gia tố tụng: hoạt động của những người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan); hoạt động của những người tham gia

Trang 27

19

tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; hoạt động của những người tham gia tố tụng nhằm giúp cơ quan tiến hành tố tụng xác định

sự thật vụ án (người làm chứng, người giám định, người phiên dịch)

- BLTTHS còn quy định cả nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và công dân trong việc chủ động phòng ngừa, phát hiện

và ngăn chặn tội phạm, trong việc thực hiện các biện pháp cưỡng chế của tố tụng hình sự Như vậy, hoạt động của các chủ thể trên, trong những trường hợp nhất định, cũng là các hoạt động trong tố tụng hình sự

- Khoa học luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất về khái niệm “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự” “Kiểm sát” ở tầng nghĩa phổ thông, Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “là kiểm tra việc chấp hành pháp luật của Nhà nước” [34, tr 23] Theo

đó, nội dung của khái niệm “kiểm sát” là hoạt động kiểm tra với đối tượng kiểm tra là việc chấp hành pháp luật Như vậy, định nghĩa này chưa chỉ ra chủ thể của hoạt động kiểm sát Pháp luật thực định chỉ quy định một loại chủ thể

có chức năng kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự, đó là Viện kiểm sát Điều 23 BLTTHS 2003 quy định: …

Viện kiểm sát kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này

Viện kiểm sát THQCT và kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội [19, Điều 23]

Trang 28

20

Như vậy, theo BLTTHS 2003, kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình

sự đối với Viện kiểm sát là một chức năng do luật định Tham gia vào “kiểm tra việc chấp hành pháp luật của Nhà nước” trong tố tụng hình sự không chỉ

có Viện kiểm sát mà còn có các chủ thể khác như người tham gia tố tụng, các

cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, cá nhân công dân và toàn thể xã hội nói chung Quyền “kiểm tra việc chấp hành pháp luật của Nhà nước” trong tố tụng hình sự của các chủ thể khác xuất phát từ những nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp và pháp luật về tổ chức bộ máy Nhà nước và quyền công dân Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 2013 khẳng định: “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội” [21] Điều 8 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự quy định: “Cơ quan Nhà nước, Uỷ ban Mặt trận trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, đại biểu dân cử có quyền giám sát hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra ” Đối với những chủ thể này, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không phải là chức năng hoạt động mà là các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ chức năng hoạt động hay các quyền, các hoạt động mang tính tự nguyện Về bản chất, các hoạt động của những chủ thể này như: theo dõi, yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng báo cáo tình hình hoạt động, yêu cầu trả lời lý

do ra các quyết định, yêu cầu chấm dứt, khắc phục vi phạm cũng hướng tới việc “phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật” và “loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân” trong tố tụng hình sự Tuy nhiên, các hoạt động trên không thể coi là hoạt động kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự mà chỉ là các hoạt động giám sát việc TTPL trong tố tụng hình sự Sự khác nhau giữa hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát và hoạt động giám sát của các chủ thể khác chính là hình thức thực hiện mà cụ thể là phương thức

và các quyền năng mà pháp luật tố tụng hình sự cho phép khi thực hiện Chính điều này làm cho hoạt động giám sát của các chủ thể khác không thể

Trang 29

21

hiện tính chất “kiểm sát” như hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát Tuy nhiên, xuất phát từ ý nghĩa đặc biệt quan trọng của hoạt động giám sát do các chủ thể khác thực hiện, có thể coi đây là một trong các hình thức kiểm soát quyền lực của hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự

Ngoài ra, khi đề cập đến các thiết chế kiểm soát quyền lực trong tố tụng hình sự không thể không nhắc tới vai trò giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng Xuất phát từ đặc thù của mối quan hệ phối hợp - chế ước trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, Toà án có thể phát hiện và kiến nghị xử lý các quyết định, hành vi tố tụng của nhau và của Viện kiểm sát nếu nhận thấy có vi phạm pháp luật

Về thuật ngữ “tuân theo pháp luật”, theo quan điểm được nhiều người thừa nhận, không thể giải thích bằng cách tách bạch “tuân theo” là gì và

“pháp luật" là gì rồi ghép lại “Tuân theo pháp luật” cần được hiểu không phải với tư cách là một tổ hợp ngôn ngữ, mà là một thuật ngữ pháp lý thống nhất, mang tính chỉnh thể để chỉ một trong bốn hình thức thực hiện pháp luật

Như vậy, “tuân theo pháp luật” chỉ là một hình thức thực hiện pháp luật

và là một hình thức thực hiện pháp luật ở mức độ tự giác thấp nhất Nếu hiểu

“tuân theo pháp luật” trong khái niệm “kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự” như trên thì nội hàm của thuật ngữ “kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự” sẽ bị thu hẹp đáng kể Trong khi đó, pháp luật thực định cho thấy đối tượng của “kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự” không chỉ có hoạt động TTPL (ở dạng thụ động) mà còn có những hoạt động thực hiện pháp luật ở mức độ cao hơn và những hoạt động này chiếm tỷ lệ đa số Đó là những hoạt động áp dụng pháp luật, sử dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng Việc “tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự” ở góc độ thực tế, đã phải bao hàm tất cả các hình thức thực hiện pháp luật

Trang 30

22

Từ các phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm kiểm sát việc tuân

theo pháp luật trong tố tụng hình sự: “kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong

tố tụng hình sự là quyền năng pháp lý của Viện kiểm sát, có nội dung là kiểm tra, giám sát trực tiếp các hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể có liên quan trong quá trình tiếp nhận, giải quyết thông tin về tội phạm và giải quyết vụ án hình sự”

1.2.1.2 Khái niệm kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp

Hoạt động tố tụng hình sự bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, được tiến hành theo các trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định nhằm đảm bảo làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, nhằm đảm bảo xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Trong các hoạt động TTHS thì hoạt động áp dụng các biện pháp ngăn chặn được tiến hành trong các giai đoạn của quá trình tiếp nhận giải quyết các thông tin về tội phạm và điều tra, truy tố, xét xử Mục đích của các biện pháp ngăn chặn chính là nhằm đảm bảo cho quá trình giải quyết vụ án

Tuy nhiên, trên thực tế, các biện pháp cưỡng chế tố tụng nói chung và biện pháp ngăn chặn trong TTHS nói riêng đều là những biện pháp có khả năng xâm phạm, tác động xấu tới các quyền con người của người bị áp dụng đặc biệt là quyền tự do về thân thể Do đó, BLTTHS quy định những trình tự, thủ tục rất chặt chẽ khi áp dụng các các biện pháp ngăn chặn, đồng thời cũng quy định rất cụ thể về thẩm quyền và các căn cứ áp dụng các biện pháp này Điều này nhằm đảm bảo việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong TTHS phải được thực hiện thực sự chặt chẽ, tránh tình trạng áp dụng sai dẫn đến vi phạm các quyền lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng

Theo Hiến pháp năm 2013 và BLTTHS năm 2003 không ai bị bắt, giam giữ nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân Với tư cách là cơ quan có chức năng thực hành quyền công

Trang 31

23

tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong TTHS, VKSND là thiết chế có thẩm quyền kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động TTHS đều phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục, tuân thủ đúng quy định của pháp luật có liên quan Trong hoạt động áp dụng các biện pháp ngăn chặn, ngoài thẩm quyền VKSND được trực tiếp tiến hành áp dụng các biện pháp ngăn chặn, thì VKSND còn có thẩm quyền quan trọng đó

là kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã áp dụng Vai trò này của VKSND giống như một “là chắn” một thiết chế kiểm tra, đối trọng để từ đó không một chủ thể nào có thể tùy tiện áp dụng các biện pháp ngăn chặn dẫn tới xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân

Bắt khẩn cấp là một trong các trường hợp của biện pháp ngăn chặn bắt trong TTHS, đây là biện pháp được tiến hành theo mô tuýp “bắt trước, phê chuẩn sau”, hoàn toàn không giống với trường hợp bắt bị can, bị cáo để tạm giam cũng được quy định trọng TTHS Chính vì đặc trưng này do đó, hoạt động kiểm sát việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp cũng có những điểm đặc thù riêng đó là phạm vi kiểm sát hoạt động này của VKSND được tiến hành sau khi có quyết định bắt khẩn cấp và hoạt động bắt khẩn cấp đã được tiến hành, sau đó VKS mới tiến hành nghiên cứu hồ sơ và phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh bắt khẩn khấp Nếu VKS không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp thì người bị bắt cần phải được trả tự do ngay lập tức

Trong bộ máy nhà nước của Việt Nam hiện nay chỉ có VKS được Hiến pháp trao chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS Trong đó

có hoạt động kiểm sát việc áp dụng biện pháp bắt khẩn cấp Đây chính là thẩm quyền pháp lý quan trọng được Hiến pháp và BLTTHS trao cho VKS

Để thực hiện được việc này, BLTTHS đã quy định cụ thể hóa nhiệm vụ, quyền hạn và trình tự, thủ tục để VKSND tiến hành kiểm sát việc áp dụng biện pháp bắt khẩn cấp

Trang 32

24

Bên cạnh đó, hoạt động kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt khẩn cấp có mục đích là nhằm đảm bảo cho hoạt động áp dụng biện pháp ngăn chặn này của các cơ quan được giao tiến hành được thực hiện một cách hợp pháp, để từ đó có thể bảo vệ tốt quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong TTHS Chính vì vậy, nội dung của hoạt động kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt khẩn cấp đó là Viện kiểm sát tiến hành kiểm tra tính hợp pháp, tính có căn cứ, tính đúng đắn về thẩm quyền và tính đúng đắn về trình tự, thủ tục của việc áp dụng biện pháp này Nếu như các yếu tố trên không phù hợp với quy định của BLTTHS về áp dụng biện pháp ngăn chặn thì VKSND cần phải thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn của mình để kịp thời ngăn chặn, hủy bỏ, sửa chữa những sai sót, vi phạm trong quá trình áp dụng

Từ những phân tích trên ta có thể rút ra được khái niệm kiểm sát việc

áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp như sau:

Kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp là hoạt động sử dụng các quyền năng pháp lý của Viện kiểm sát, có nội dung là việc Viện kiểm sát thực hiện các hoạt động kiểm tra, giám sát việc hoạt động động của các chủ thể liên quan khi áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt khẩn cấp nhằm đảm bảo quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân trong giải quyết vụ án hình sự và việc bắt khẩn cấp tuân thủ đúng các quy định của pháp luật

1.2.2 Đối tượng và phạm vi kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp

Hoạt động áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt khẩn cấp là hoạt động của cơ quan điều tra, các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm áp dụng quy định của BLTTHS về căn cứ, trình tự, thủ tục

để áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt khẩn cấp đối với người thực hiện hành

Trang 33

cứ, thẩm quyền, trình tự hay không Hoạt động bắt khẩn cấp là hoạt động có khả năng ảnh hưởng tới quyền con người cơ bản của chủ thể bị áp dụng, đó là quyền tự do về thân thể… Do đó, hoạt động áp dụng các biện pháp này cần phải được thực hiện tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục, đúng căn cứ quy định của pháp luật tố tụng hình sự Về nguyên tắc khi đủ căn cứ bắt khẩn cấp thì phải kiên quyết bắt, khi chưa đủ căn cứ bắt khẩn cấp thì kiên quyết không được bắt Bởi lẽ, nếu áp dụng sai biện pháp này, thì quyền lợi ích hợp pháp của chủ thể bị áp dụng đã bị xâm hại không thể sửa sai, không thể khắc phục được sai lầm Chính vì vậy, VKS với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có trách nhiệm đảm bảo cho quá trình áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung, biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp nói chung phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật

Hoạt động tố tụng hình sự bao gồm hoạt động của các chủ thể sau: Cơ quan điều tra - Cơ quan được giao thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra - Viện kiểm sát - Toà án và tương ứng là hoạt động của những người

có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư

ký Toà án và người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra; hoạt động của những người tham gia tố tụng như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo,

Trang 34

Như vậy có thể kết luận, đối tượng của kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp là hoạt động tuân thủ các quy định của pháp luật về căn cứ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền trong áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt khẩn cấp của các chủ thể được BLTTHS quy định Phạm

vi kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt khẩn cấp được bắt đầu từ thời điểm các chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt khẩn cấp ra lệnh bắt khẩn cấp của mình và kết thúc khi VKS quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp

Trang 35

Thứ nhất, việc kiểm sát hoạt động áp dụng đúng đắn biện pháp ngăn

chặn nói chung và biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp

sẽ đảm bảo cho quá trình giải quyết vụ án hình sự được khách quan, toàn diện, không có oan sai Đây là ý nghĩa quan trọng của công tác kiểm sát việc

áp dụng biện pháp ngăn chặn Trên thực tế chúng ta thấy, hoạt động kiểm sát của VKS giống như một "lá chắn" nhằm kiểm tra, giám sát, ngăn chặn những

vi phạm pháp luật, những hoạt động có khả năng xâm phạm quyền con người của người bị áp dụng Như trên đã phân tích, biện pháp ngăn chặn nói chung trong đó có biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp có vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn sẽ hỗ trợ cho việc giải quyết vụ án, ngăn chặn người phạm tội tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, tiêu hủy chứng cứ, bỏ trốn, cản trở hoạt động điều tra… Do đó, việc kiểm sát áp dụng biện pháp ngăn chặn cũng hỗ trợ rất lớn cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, là tiền đề để VKS có thể thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự

Thứ hai, kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong

trường hợp khẩn cấp là một trong đảm bảo quan trọng trong việc tôn trọng quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Các quy định về

Trang 36

28

căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn là nhằm đạt được mục tiêu ngăn chặn và phòng chống tội phạm Tuy nhiên, không phải vì thế mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng một cách tùy tiện, thiếu căn cứ Điều này là hoàn toàn chính xác, bởi lẽ, như trên đã phân tích, biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp ngăn chặn bắt khẩn cấp nói riêng là những biện pháp có khả năng ảnh hưởng, tác động bất lợi đối với việc bảo đảm các quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Trong quá trình áp dụng các biện pháp này, khả năng tác động tới quyền tự do, quyền bất khả xâm phạm

về thân thể của con người là rất lớn Chính vì vậy, với chức năng kiểm sát của mình, VKS có khả năng giám sát, để từ đó ngăn chặn việc lạm dụng, áp dụng không đúng biện pháp ngăn chặn bắt khẩn cấp thông qua đó bảo vệ được quyền con người, quyền công dân trong TTHS Ví dụ: Khi bắt người phải có đại diện của chính quyền xã phường thị trấn hoặc đại diện cơ quan, tổ chức nơi người bị bắt cư trú hoặc làm việc và phải có người láng giềng chứng kiến

Thứ ba, hoạt động kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt

người trong trường hợp khẩn cấp góp phần bảo vệ trật tự xã hội và chế độ XHCN, bảo vệ tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân và các quan hệ xã hội khác cần được bảo vệ đồng thời trấn áp một cách kiên quyết tội phạm xảy ra

1.4 Mối quan hệ giữa hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp khẩn cấp của Viện kiểm sát

Quyền công tố là một khái niệm pháp lý, gắn liền với bản chất Nhà

nước và pháp luật Từ trước tới nay trong pháp luật thực định nhà làm luật nước ta chưa làm rõ và chưa có một định nghĩa chung về " quyền công tố" Theo quan điểm của chúng tôi trước hết quyền công tố là một loại quyền lực nhà nước (quyền lực công), nó ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại

Trang 37

29

của Nhà nước, do đó quyền công tố luôn luôn gắn liền với bản chất Nhà nước Trong đời sống xã hội cũng như trong lịch sử hình thành và phát triển của mình thì quyền công tố chủ yếu được phát sinh trong quan hệ pháp luật giữa một bên là Nhà nước (với tư cách là chủ thể quyền lực) và bên kia là người thực hiện hành vi phạm tội (với tư cách là người bị truy cứu trách nhiệm hình

sự và phải chịu hình phạt) Trong quan hệ đó Nhà nước muốn trừng trị được người phạm tội để bảo vệ lợi ích của Nhà nước cũng như quyền con người, quyền của công dân thì trước hết Nhà nước phải có cơ quan thay mình buộc tội người phạm tội Quyền công tố là việc Nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước (nhân danh quyền lực công) truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội Như vậy, quyền công tố có nội dung là sự buộc tội của nhà nước đối với người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm Với nội dung đó có thể khẳng định quyền công tố chỉ được thực hiện trong lĩnh vực hình sự, còn trong lĩnh lực tố tụng dân sự, hành chính, kinh tế thì VKS tham gia để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật Với việc xác định quyền công tố chỉ có trong tố tụng hình sự đã tạo

cơ sở cho việc xác định rõ đối tượng của quyền công tố chỉ là tội phạm và người phạm tội Như vậy, trong tố tụng hình sự, phạm vi quyền công tố được xác định từ khi có tội phạm xảy ra cho đến khi vụ án được xét xử và bản án đã

có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị

Từ nội dung trên có thể hiểu quyền công tố là: Một loại quyền lực của Nhà nước, được Nhà nước giao cho VKS thực hiện để truy cứu trách nhiệm hình sự và buộc tội người đã có hành vi bị coi là tội phạm, được thực hiện trong suốt quá trình tiếp nhận, giải quyết thông tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự

Trang 38

Từ quy định trên, có thể hiểu: Thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để phát hiện, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã có hành vi bị coi là tội phạm và thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội

Từ những nội dung nêu trên và trên cơ sở các quy định của BLTTHS

có thể nêu lên nội dung của thực hành quyền công tố bao gồm:

Thứ nhất, những hoạt động phát động công tố, đó là tiếp nhận, giải

quyết tố giác tin báo tội phạm và khởi tố vụ án, khởi tố bị can

Thứ hai, trong giai đoạn điều tra, VKS tiếp tục thực hành quyền công tố

với những nội dung: Yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ

án, khởi tố bị can; đề ra yêu cầu điều tra; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của CQĐT; hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của CQĐT; quyết định việc truy tố; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án

Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKS năm 2014, trong lĩnh vực tư pháp hình sự VKS có hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Đây là hai chức năng độc lập, nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau Trong thực tiễn hoạt động thực hiện chức năng của ngành kiểm sát trong lĩnh vực tư pháp hình sự, VKS các cấp được giao trách nhiệm đấu tranh chống tội phạm gắn liền với đấu tranh chống vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý nghiêm minh

Trang 39

31

theo quy định của pháp luật; không để lọt tội phạm đồng thời cũng không được làm oan người vô tội Nên việc thực hiện đồng thời hai hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự là mang tính khách quan, do vậy giữa hai hoạt động này luôn có mối quan hệ với nhau Mối quan hệ đó được thể hiện ở các phương diện sau:

Khi đã xác định có căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn các cơ quan tiến hành tố tụng trong đó có VKS được quyền tiến hành áp dụng các biện pháp ngăn chặn nhằm phục vụ công tác giải quyết vụ án hình sự, trong đó, mối liên

hệ giữa chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật gắn bó chặt chẻ với nhau Kiểm sát hoạt động áp dụng biện pháp ngăn chặn nhằm tạo cơ sở vững chắc, làm rõ nội dung pháp lý của vụ việc để VKS thực hành quyền công tố tốt hơn

Thông qua việc kiểm sát hoạt động áp dụng biện pháp ngăn chặn, VKS thực hiện các hoạt động xem xét tính có căn cứ, tính hợp pháp về căn cứ, trình

tự, thủ tục, thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn Đây là nội dung của hoạt động kiểm sát Trong quá trình kiểm sát khi có các căn cứ cho thấy việc áp dụng biện pháp ngăn chặn là không phù hợp, thiếu căn cứ, sai về trình tự thẩm quyền VKS sẽ thực hiện các hoạt động trong đó có việc thực hành quyền công

tố thể hiện ở việc VKS sẽ phê chuẩn hoặc không phê chuẩn áp dụng biện pháp ngăn chặn Trong đó, áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt khẩn khấp bắt buộc phải có sự phê chuẩn của VKS ngay sau khi thi hành Điều này nhằm đảm bảo quyền con người, quyền công dân, đồng thời thể hiện quyền công tố của VKS trong áp dụng biện pháp này

Khi VKS quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, các quyết định tố tụng khác của CQĐT, tức là VKS trực tiếp sử dụng quyền công tố Nhưng hoạt động thực hành quyền công tố của VKS cũng phải tuân

Trang 40

32

theo quy định của pháp luật, muốn vậy trước khi quyết định các vấn đề trên, VKS phải tiến hành kiểm sát các hoạt động tư pháp trong việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn hoặc trong việc khởi tố bị can của CQĐT, tức là VKS tiến hành thực hiện kiểm sát các hoạt động tư pháp

Để thực hiện tốt quyền công tố, có nghĩa là đảm bảo việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định tố tụng khác của CQĐT được chính xác, đúng pháp luật thì đòi hỏi phải kiểm tra chặt chẽ tính

có căn cứ và tính hợp pháp của các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự mà CQĐT quyết định áp dụng, mà hoạt động kiểm tra này chính là thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp Trên cơ sở kết quả của hoạt động kiểm sát thấy rằng quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình

sự là có căn cứ và hợp pháp thì VKS sẽ quyết định phê chuẩn để thi hành, ngược lại nếu xét thấy quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế về tố tụng hình sự của CQĐT là không có căn cứ và hợp pháp VKS sẽ quyết định không phê chuẩn hoặc quyết định huỷ bỏ quyết định tố tụng trái pháp luật của CQĐT, đồng thời yêu cầu CQĐT chấm dứt ngay các hoạt động tố tụng

Với việc thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp sẽ làm tiền đề cho hoạt động thực hành quyền công tố được thực hiện một cách chính xác, nếu có sai sót, vi phạm trong việc thực hiện kiểm sát các hoạt động tư pháp trong áp dụng biện pháp ngăn chặn sẽ kéo theo sự vi phạm pháp luật của hoạt động thực hành quyền công tố Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra khi chức năng thực hành quyền công tố của VKS được thực hiện cũng sẽ làm tiền

đề phát sinh hoạt động kiểm sát Ví dụ khi VKS phê chuẩn lệnh bắt khấn cấp của CQĐT thì làm phát sinh hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tạm giữ người bị bắt của CQĐT nhằm bảo đảm việc tạm giữ người phải có lệnh hoặc có quyết định phê chuẩn của VKS, đồng thời bảo đảm thời hạn tạm giữ đúng theo quy định của pháp luật

Ngày đăng: 26/12/2017, 16:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mai Đắc Biên, Mai Ngọc Hải (2016), “Chế định BPNC trong BLTTHS năm 2015”, Tạp chí Kiểm sát, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định BPNC trong BLTTHS năm 2015”," Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Mai Đắc Biên, Mai Ngọc Hải
Năm: 2016
2. Phạm Thanh Bình (1997), Một số vấn đề chung quanh việc tạm giữ, tạm giam, Nxb Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chung quanh việc tạm giữ, tạm giam
Tác giả: Phạm Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
Năm: 1997
3. Nguyễn Mai Bộ (1997), Những BPNC trong TTHS, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những BPNC trong TTHS
Tác giả: Nguyễn Mai Bộ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
4. Lê Cảm (2000), "Các đặc điểm của tội phạm và tính quyết định xã hội của chúng", Dân chủ và pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các đặc điểm của tội phạm và tính quyết định xã hội của chúng
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2000
5. Lê Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (phần chung), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (phần chung)
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
6. Nguyễn Ngọc Chí (Chủ biên) (2010), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-01 của Bộ Chính trị, về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-01 của Bộ Chính trị, về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết 49-NQ-TW ngày 2-6 của Bộ Chính trị, Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49-NQ-TW ngày 2-6 của Bộ Chính trị, Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
9. Nguyễn Văn Điệp (2003), Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Viện Nhà nước và pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Điệp
Năm: 2003
10. Bùi Thị Hạnh (2017), Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố và kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn của Cơ quan điều tra, Luận văn Tiến sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố và kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn của Cơ quan điều tra
Tác giả: Bùi Thị Hạnh
Năm: 2017
12. Vũ Gia Lâm (2012), “Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng BPNC”, Tạp chí Luật học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng BPNC”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Vũ Gia Lâm
Năm: 2012
13. Bình Nguyên (1995), "Từ thực tiễn áp dụng những BPNC trong TTHS Việt Nam", Kỷ yếu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của TTHS Việt Nam, VKS nhân dân tối cao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ thực tiễn áp dụng những BPNC trong TTHS Việt Nam
Tác giả: Bình Nguyên
Năm: 1995
14. Nguyễn Vạn Nguyên (1995), Các BPNC và vấn đề nâng cao hiệu quả của chúng, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các BPNC và vấn đề nâng cao hiệu quả của chúng
Tác giả: Nguyễn Vạn Nguyên
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1995
15. Nguyễn Hải Phong (2014), Một số vấn đề: Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề: Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo yêu cầu cải cách tư pháp
Tác giả: Nguyễn Hải Phong
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia
Năm: 2014
16. Hoàng Việt Quang (2011), “Cần thay đổi BPNC "cấm đi khỏi nơi cư trú" bằng biện pháp "trình diện", Tạp chí Kiểm sát, (17) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần thay đổi BPNC "cấm đi khỏi nơi cư trú" bằng biện pháp "trình diện
Tác giả: Hoàng Việt Quang
Năm: 2011
17. Quốc hội (1988), Bộ luật tố tụng hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1988
19. Quốc hội (2003), Bộ luật tố tụng hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2003
23. Quốc hội (2015), Bộ luật tố tụng hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
24. Quốc hội (2015), Luật tổ chức điều tra hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức điều tra hình sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
25. Trịnh Văn Thanh (2000), Áp dụng BPNC trong điều tra vụ án hình sự của lực lượng cảnh sát nhân dân, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng BPNC trong điều tra vụ án hình sự của lực lượng cảnh sát nhân dân
Tác giả: Trịnh Văn Thanh
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w