1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo một số vấn đề về bắt người trong trường hợp khẩn cấp

4 248 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 74,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đào Hữu Dân * ắt người trong trường hợp khẩn cấp được quy định tại Điều 63 Bộ luật tố tụng hình sự BLTTHS là biện pháp ngăn chặn được áp dụng mà không cần có sự phê chuẩn trước của viện

Trang 1

nghiên cứu - trao đổi

Một số vấn đề về bắt người

Một số vấn đề về bắt người

trong trường hợp khẩn cấp

trong trường hợp khẩn cấp

ThS Đào Hữu Dân *

ắt người trong trường hợp khẩn cấp

được quy định tại Điều 63 Bộ luật tố

tụng hình sự (BLTTHS) là biện pháp

ngăn chặn được áp dụng (mà không cần

có sự phê chuẩn trước của viện kiểm sát)

nhằm chặn đứng hành vi phạm tội hoặc

những hành vi làm cản trở hoạt động điều

tra, truy tố, xét xử

Trước đây, tại Điều 2 Sắc lệnh số

02/SL ngày 18/6/1957 đP quy định các

trường hợp bắt khẩn cấp như sau:

1 Có hành động chuẩn bị làm việc

phạm pháp

2 Người bị hại hoặc người có mặt tại

nơi xảy ra vụ phạm pháp chính mắt trông

thấy và xác nhận đúng là kẻ phạm pháp

3.Tìm thấy chứng cứ trong người hoặc

tại nhà ở của người tình nghi phạm pháp

4 Có hành động chuẩn bị trốn hoặc

đang trốn

5 Có hành động chuẩn bị tiêu hủy

chứng cứ hoặc đang tiêu hủy chứng cứ;

làm giả chứng cứ; có sự thông đồng giữa

những kẻ phạm pháp với nhau để trốn

tránh pháp luật

6 Căn cước, lai lịch không rõ rànÿÿ*

ÿác quy định trên là cơ sở pháp lí

quan trọng trong đấu tranh phòng chống

tội phạm, nhờ đó đP kịp thời ngăn chặn

tội phạm nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm đến tính mạng và tài sản của Nhà nước, của nhân dân Tuy nhiên, các quy định trên qua quá trình áp dụng đP bộc lộ những sơ hở, thiếu sót, dễ dẫn đến tình trạng bắt khẩn cấp tràn lan, biến việc bắt khẩn cấp thành trường hợp

áp dụng phổ biến trong thực tiễn Điều đó

đP dẫn đến vi phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, vi phạm nguyên tắc pháp chế xP hội chủ nghĩa

Để đảm bảo việc bắt khẩn cấp chỉ

được áp dụng trong những trường hợp thực sự cần thiết và hạn chế đến mức tối

đa các vi phạm có thể xảy ra, tại Điều 63 BLTTHS năm 1988 đP quy định cụ thể các trường hợp bắt khẩn cấp như sau:

"a Khi có căn cứ để cho rằng người

đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm nghiêm trọng;

b Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đ1 thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn;

c Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở

người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi

B

* Trường đại học phòng cháy chữa cháy

Trang 2

nghiên cứu - trao đổi

thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn

chặn ngay việc người đó bỏ trốn hoặc

tiêu hủy chứng cứ" (sau đây xin gọi tắt

các trường hợp khẩn cấp được quy định

tại điểm a, b, c là các trường hợp 1,

trường 2, trường hợp 3)

Theo nội dung được quy định trên, có

thể thấy đặc điểm của việc bắt người

trong trường hợp khẩn cấp như sau:

- Phải có tính chất đặc biệt cấp bách,

tức là cần phải bắt ngay người đó để ngăn

chặn hành vi phạm tội hoặc hành vi trốn

tránh pháp luật của người phạm tội;

- Căn cứ để tiến hành việc bắt là các

cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan

được quyền tiến hành một số hoạt động

điều tra, qua công tác điều tra xác minh

phải thu thập được những chứng cứ cần

thiết để khẳng định người nào đó chuẩn

bị thực hiện tội phạm nghiêm trọng hoặc

tội phạm đP diễn ra nhưng kẻ phạm tội

đang tìm cách trốn hoặc tiêu hủy chứng

cứ

Với tính chất và đặc điểm của việc bắt

người trong trường hợp khẩn cấp là rất

cấp bách nên BLTTHS đP quy định việc

bắt người trong trường hợp này không cần

phải có sự phê chuẩn trước của viện kiểm

sát Tuy nhiên, để đảm bảo việc bắt được

chính xác, đúng người, BLTTHS cũng đP

quy định việc bắt người trong trường hợp

khẩn cấp phải được tiến hành theo trình tự

và thủ tục nghiêm ngặt Phải khẳng định

rằng, thực tiễn áp dụng các quy định về

bắt người trong trường hợp khẩn cấp từ khi có BLTTHS năm 1988 đến nay đP thực sự góp phần nâng cao hiệu quả cuộc

đấu tranh phòng, chống tội phạm, hạn chế những sai sót dẫn tới vi phạm các quyền cơ bản của công dân Song, cũng qua thực tiễn áp dụng các biện pháp ngăn chặn nói chung và áp dụng quy định về bắt người trong trường hợp khẩn cấp nói riêng, chúng tôi thấy nổi lên một số vấn đề sau: 1.Về điều kiện bắt người trong trường hợp bắt khẩn cấp, BLTTHS chỉ quy định

3 trường hợp được bắt khẩn cấp, qua thực tiễn áp dụng, cho thấy các quy định này của BLTTHS là chuẩn xác và chặt chẽ Nhưng thực tiễn đấu tranh chống tội phạm rất phức tạp và đa dạng, nhiều trường hợp đòi hỏi các cơ quan tiến hành

tố tụng phải có những biện pháp kiên quyết và kịp thời để nhanh chóng làm rõ tội phạm hoặc kịp thời truy bắt kẻ phạm tội Ví dụ, khi tiến hành điều tra một số

vụ án có 4 đối tượng tham gia, cơ quan

điều tra đP thu nhập được những chứng cứ cần thiết và đP bắt 3 đối tượng, lời khai của 3 đối tượng đều khẳng định còn một

đối tượng thứ tư cùng phạm tội (lời khai

đP được xác minh) Để đảm bảo yêu cầu

điều tra, ngăn chặn việc bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ cơ quan điều tra đP ra lệnh bắt khẩn cấp đối tượng trên Đây là trường hợp thường xảy ra trong quá trình

điều tra, vậy việc bắt đối tượng trên được vận dụng theo trường hợp nào? Có ý kiến

Trang 3

nghiên cứu - trao đổi

cho rằng là trường hợp 2, cũng có ý kiến

cho rằng là trường hợp 3 và cũng có kiến

nghị nên bổ sung là trường hợp thứ 4 của

bắt khẩn cấp Theo chúng tôi, những quy

định về bắt người trong trường hợp khẩn

cấp là rất chặt chẽ Vì vậy, không nên

quy định thêm các trường hợp mà phải

nắm vững và phân biệt các điều kiện bắt

khẩn cấp trong từng trường hợp để áp

dụng đúng đắn Đối chiếu với trường hợp

trên, nếu có tình tiết cấp bách cần ngăn

chặn việc người đó bỏ trốn thì áp dụng

trường hợp 2; nếu không có các tình tiết

cấp bách cần phải ngăn chặn thì không

được áp dụng bắt khẩn cấp mà phải áp

dụng biện pháp ngăn chặn khác

Một trong những sai sót đP xảy ra

trong quá trình điều tra là tình trạng lạm

dụng việc bắt khẩn cấp để công tác điều

tra được tiến hành nhanh chóng, như:

Đáng lẽ đối tượng bị bắt phải bắt trong

trường hợp bình thường (bắt bị can, bị cáo

để tạm giam) nhưng do cơ quan điều tra

ngại tiến hành các thủ tục đề nghị viện

kiểm sát phê chuẩn bắt giam nên đP linh

hoạt vận dụng bắt khẩn cấp hoặc không

cần thiết phải bắt nhưng để điều tra nhanh

lại bắt khẩn cấp đối tượng; thậm chí đP có

những trường hợp bắt oan, sai xảy ra

Tình trạng bắt khẩn cấp nhiều nhưng hiệu

quả xử lí về hình sự còn thấp (theo các

báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân tối

cao thì tỉ lệ xử lí về hình sự trong những

năm gần đây chỉ đạt từ 66% đến 72%, số

còn lại chỉ xử lí hành chính và các biện pháp khác) Nguyên nhân của tình trạng trên thì có nhiều nhưng chủ yếu là do ý thức trách nhiệm và trình độ pháp luật còn nhiều hạn chế; sự phối hợp giữa hoạt

động điều tra và kiểm sát điều tra chưa tốt

2 Về trình tự thủ tục bắt người trong trường hợp bắt khẩn cấp, khoản 4 Điều 63 BLTTHS quy định: "Trong mọi trường hợp, việc bắt khẩn cấp phải được báo ngay cho viện kiểm sát cùng cấp bằng văn bản để xét phê chuẩn Nếu viện kiểm sát không phê chuẩn thì phải trả tự do ngay cho người bị bắt" Vấn đề này còn nhiều tranh luận ở việc phê chuẩn của viện kiểm sát ở đây cần phải hiểu phê chuẩn có nghĩa là đồng ý tiến hành một việc nào đó nhưng thực tế, việc bắt đP

được tiến hành nên ý nghĩa của việc phê chuẩn sẽ không còn nguyên nghĩa của nó nữa Mặt khác, tại khoản 1 Điều 65 BLTTHS quy định: Sau khi nhận người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, cơ quan

điều tra phải lấy lời khai ngay và trong vòng 24 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt Như vậy, trong vòng 24 giờ, cơ quan điều tra phải làm hàng loạt các công việc lấy lời khai, sơ bộ thẩm tra xác minh lời khai, nhân thân, thu thập thêm các chứng cứ cần thiết khác để báo cáo đề nghị viện kiểm sát phê chuẩn đồng thời tự bản thân mình

Trang 4

nghiên cứu - trao đổi

phải đưa ra quyết định tạm giữ hay trả lại

tự do và nếu có quyết định tạm giữ thì

lệnh tạm giữ phải gửi ngay đến viện kiểm

sát để viện kiểm sát kiểm sát việc tạm

giữ Theo chúng tôi, quy định như vậy là

chưa phù hợp với thực tiễn đấu tranh

chống tội phạm hiện nay Nhưng để đảm

bảo việc bắt khẩn cấp được đúng đắn nên

quy định trong mọi trường hợp, việc bắt

khẩn cấp phải báo ngay cho viện kiểm sát

bằng văn bản để viện kiểm sát kiểm sát

việc bắt Vấn đề là ở chỗ phải nâng cao

trách nhiệm của kiểm sát viên trong quá

trình kiểm sát điều tra, nếu phát hiện thấy

việc bắt khẩn cấp là không đúng thì viện

kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định

bắt khẩn cấp của cơ quan điều tra Việc

phê chuẩn có thể là phê chuẩn lệnh tạm

giữ của cơ quan điều tra

3 Từ một số vấn đề đP nêu trên, theo

tôi, cần phải có những biện pháp nhằm

nâng cao hiệu quả của việc bắt người

trong trường hợp khẩn cấp, cụ thể là:

- Trước hết cần phải bổ sung và cụ thể

hóa các quy định tại Điều 63 BLTTHS về

các trường hợp bắt khẩn cấp và quan hệ

phối hợp, chế ước giữa cơ quan điều tra

với viện kiểm sát trong việc thực hiện các

quy định này Đối với trường hợp 1 cần

quy định theo Bộ luật hình sự mới đP

được Quốc hội thông qua ngày

21/12/1999 và có hiệu lực thi hành từ

1/7/2000, vì việc phân loại tội phạm đP

thay đổi so với Bộ luật hình sự năm 1985

(trước mắt phải có thông tư liên ngành giữa Bộ công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện về vấn đề này) Đồng thời cần cụ thể hóa quy định về người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm (trường hợp 2), vì hiện nay còn nhiều cách hiểu rất khác nhau về khái niệm người có mặt, dẫn đến việc vận dụng không thống nhất

- Cần phải nâng cao trình độ pháp luật cho các cán bộ tiến hành tố tụng, thống nhất nhận thức về áp dụng các trường hợp bắt khẩn cấp trong thực tiễn; nâng cao tinh thần trách nhiệm của các điều tra viên và kiểm sát viên, thực hiện đầy đủ các quy định theo yêu cầu của BLTTHS;

điều quan trọng hiện nay là phải xây dựng quy chế về sự phối hợp trong hoạt

động điều tra và kiểm sát điều tra trong khuôn khổ quy định của BLTTHS

- Phải tăng cường các hoạt động thanh tra, kiểm tra công tác bắt, giam giữ, qua

đó phát hiện những sơ hở thiếu sót trong quá trình thực hiện đồng thời xử lí nghiêm minh các trường hợp vi phạm Thực hiện tốt những yêu cầu trên là góp phần nâng cao hiệu quả việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp, hạn chế tối đa những vi phạm đến các quyền cơ bản của công dân, đảm bảo nguyên tắc pháp chế xP hội chủ nghĩa./

Ngày đăng: 19/12/2015, 22:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w