Việc bắt một người nào đó để xác định trách nhiệm hình sự của họ là việc quan trọng và cần thiết giúp ích cho việc thực hiện các hoạt động tố tụng được dễ dàng và thuận tiện, nhưng nếu v
Trang 1MỤC LỤC
Trang
I Khái quát chung về biện pháp bắt người trong TTHS 1
2 Mục đích của biện pháp bắt người trong TTHS 2
II Quy định của pháp luật hiện hànhvề bắt người trong trường hợp
2 Các trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp 4
3 Thẩm quyền bắt người trong trường hợp khẩn cấp 8
4 Thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp 9 III Thực trạng áp dụng pháp luật về bắt người trong trường hợp
khẩn cấp Một số khó khăn còn tồn tại và phương hướng hoàn thiện 10
1 Thực trạng áp dụng pháp luật về bắt người trong trường hợp
2 Một số khó khăn còn tồn tại và phương hướng hoàn thiện 12
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là một trong những biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ Luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) Việc bắt một người nào
đó để xác định trách nhiệm hình sự của họ là việc quan trọng và cần thiết giúp ích cho việc thực hiện các hoạt động tố tụng được dễ dàng và thuận tiện, nhưng nếu việc bắt người không được thực hiện đúng quy định của pháp luật, thậm chí là oan sai thì
ảnh hưởng rất lớn tới quyền lợi của người bị bắt Vì vậy, em chọn đề tài “Quy định
của Bộ luật tố tụng hình sự về bắt người trong trường hợp khẩn cấp, thực tiễn thi hành và hướng hoàn thiện.”
NỘI DUNG
I Khái quát chung về biện pháp bắt người trong TTHS
1 Cơ sở pháp lí
Bắt người là một trong những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự nhằm chặn đứng hành vi phạm tội hoặc những hành động cản trở việc điều tra, truy tố và xét xử người đó Biện pháp này nhằm bảo vệ các quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nhưng khi áp dụng chúng cũng dễ tạo ra ảnh hưởng tiêu cực tới quyền con người Xuất phát từ tầm quan trọng của việc bảo đảm quyền con
người, quyền công dân Điều 71 Hiến pháp 1992 quy định: “Công dân có quyền bất
khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự
và nhân phẩm Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật Nghiêm cấm mọi hành vi truy bức, nhục hình xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân” Điều 72 Hiến pháp năm
1992 cũng nhấn mạnh “Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật
có quyền được bồi thường thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh”.Những quy định trên của Hiến pháp nằm ngăn ngừa sự vi phạm quyền con
người, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo vệ nhân phẩm danh dự của công dân từ phía các cán bộ, cơ quan nhà nước Đồng thời, đây cũng là cơ sở để xây dựng Luật Tố tụng hình sự trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân Trước khi BLTTHS được ban hành, để quy định vấn đề này Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật tố tụng hình sự quy định chi tiết về việc bắt người như: Luật số 103-SL/L005 ngày 20/5/1957, Sắc luật số 02/SLt ngày 18/6/1957…
Trang 3Tuy nhiên, với sự phát triển không ngừng của đất nước và những diễn biến phức tạp của xã hội mà các quy định trên dần bộc lộ nhiều hạn chế Nhằm khắc phục những thiếu sót nêu trên đồng thời hạn chế tới mức tối đa những vi phạm về quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, ngày 10/12/2003 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Bộ luật Tố tụng hình sự (có hiệu lực 1/7/2004) với nhiều quy định được sửa đổi, bổ sung đồng thời những quy định mới đảm bảo phù hợp với tinh thần của Hiến pháp và đáp ứng nhu cầu của tình hình thực tiễn
2 Mục đích của biện pháp bắt người trong TTHS
Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là một trong những biện pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHS, vì vậy biện pháp này cũng mang mục đích giống với các biện pháp khác được quy định trong Điều 79 BLTTHS.Cụ thể:
Thứ nhất, nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm Tội phạm là hành vi nguy hiểm
cho xã hội do người có năng lực TNHS thực hiện do cố ý hoặc vô ý xâm hại các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ Việc ngăn chặn không để cho tội phạm xảy ra hoặc không để hành vi phạm tội gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội là một đòi hỏi cấp bách, phù hợp với yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng ngừa tội phạm
Thứ hai, ngăn chặn việc bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho công tác điều tra,
truy tố và xét xử Bị can, bị cáo là người tham gia tố tụng ở các giai đoạn khác nhau của quá trình giải quyết vụ án Sự tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS của họ là quyền đồng thời là nghĩa vụ bắt buộc Vì vậy, việc bắt đối với những đối tượng nói trên là cần thiết để đảm bảo sự thuận lợi, khách quan trong quá trình thu thập chứng
cứ của vụ án, loại trừ các khó khăn mà họ có thể gây ra cho cơ quan tiến hành tố tụng
Thứ ba, ngăn chặn không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội Để tránh áp dụng
biện pháp bắt người tràn lan không cần thiết, BLTTHS quy định không phải bất kì
bị can, bị cáo nào cũng đều có thể bị bắt để tạm giam Do đó, bị can, bị cáo có thể được tại ngoại hoặc được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơn như cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh… Tuy nhiên, nếu có căn cứ xác định rằng các đối tượng này sẽ tiếp tục phạm tội, cơ quan tiến hành tố tụng có thể bắt để tạm giam
Thứ tư, nhằm ngăn chặn hành vi gây khó khăn, cản trở việc thi hành án Để
đảm bảo thi hành án cũng như ngăn ngừa những hành vi gây khó khăn cho hoạt động xét xử, Tòa án có thể ra quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam
Trang 4Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người có ý nghĩa hết sức quan trọng, không chỉ tạo điều kiện cho việc áp dụng biện pháp đúng pháp luật, kịp thời, nhanh chóng mà còn đảm bảo sự tôn trọng các quyền cơ bản của công dân, quyền con người của nhà nước ta thông qua các quy định cụ thể của pháp luật
II Quy định của pháp luật hiện hành về bắt người trong trường hợp khẩn cấp
Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là bắt người khi người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội của họ hay bắt người sau khi thực hiện tội phạm mà người đó bỏ trốn, cản trở việc điều tra, khám phá tội phạm1
1 Đối tượng áp dụng
Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là một biện pháp mang tính cấp bách được những người có thẩm quyền tiến hành trước khi có quyết định khởi tố vụ án Người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp thường là người chưa bị khởi tố về hình sự
và người chưa bị Tòa án ra quyết định xét xử Họ chưa phải là bị can, bị cáo mà chỉ
là người bị nghi thực hiện tội phạm Tuy nhiên, cũng cần phải chú ý không phải cứ chưa bị khởi tố vụ án hình sự, chưa có tư cách bị can, bị cáo thì mới được áp dụng bắt khẩn cấp Trong thực tế, rất nhiều trường hợp người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp đã là bị can hoặc bị cáo của một vụ án khác
Ví dụ: Nguyễn Văn A bị khởi tố về tội cố ý gây thương tích nhưng đang được tai ngoại để phục vụ điều tra Trong quá trình này, cơ quan điều tra nhận thấy A cầm đầu một đường dây mua bán ma túy xuyên quốc gia với số lượng lớn.Nhận thấy nhiều khả năng A sẽ tiêu thụ số ma túy này vào thị trường trong nước Cơ quan điều tra ra quyết định bắt khẩn cấp Nguyễn Văn A.Vì vậy tại thời điểm Nguyễn Văn A bị
ra lệnh bắt thì A đã là bị can của một vụ án khác
Vì vậy có thể nói, đối tượng bị bắt trong trường hợp khẩn cấp là bất kì người nào nếu họ thuộc một trong ba trường hợp mà Khoản 1 Điều 81 BLTTHS quy định làm căn cứ để bắt khẩn cấp
Như vậy, người chưa bị khởi tố về hình sự ở đây được hiểu là người bị khởi tố
về hành vi được luật quy định là lý do (căn cứ) khiến họ bị bắt khẩn cấp
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb.
CAND, Hà Nội – 2011
Trang 52 Các trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp
Trên cơ sở kế thừa quy định về bắt người trong Bộ luật tố tụng hình sự năm
1988, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 tại Điều 81 đã quy định 3 trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp sau:
2.1 Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất
nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Đây là trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã có quá trình theo dõi hoặc kiểm tra, xác minh các nguồn tin biết người đó (một người hoặc nhiều người) đang bí mật tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác
để thực hiện tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nên cần phải bắt ngay trước khi tội phạm được thực hiện Việc bắt người trong trường hợp này cần phải đảm bảo hai điều kiện sau:
Một là, có căn cứ khẳng định một người (hoặc nhiều người) đang chuẩn bị thực
hiện tội phạm
Những căn cứ này có thể do cơ quan có thẩm quyền trực tiếp xác định thông qua việc theo dõi đối tượng hoặc qua việc kiểm tra, xác minh các nguồn tin do quần chúng cung cấp đã khẳng định người đó (hoặc những người đó) đang tìm kiếm công
cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm như bàn mưu tính kế, hoạch định thời gian, địa điểm thực hiện tội phạm Những hành vi nói trên, mặc dù chưa trực tiếp xâm hại đến lợi ích của Nhà nước và công dân nhưng đã đặt các lợi ích ấy vào tình trạng bị đe dọa, cần thiết phải được bảo vệ kịp thời
Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn trong đó người phạm tội có hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm nhưng chưa bắt đầu thực hiện tội phạm đó Vậy người chuẩn bị thực hiện tội phạm là người có hành vi tạo ra những điều kiện vật chất hoặc tinh thần giúp cho việc thực hiện hành vi phạm tội có thể xảy ra và xảy ra được thuận lợi, dễ dàng hơn Trong thực tế, hành vi chuẩn bị thực hiện tội phạm thể hiện ở một số dạng sau: tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm…
Hai là, tội phạm đang chuẩn bị thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng
Trang 6Hiện nay, theo quy định của BLHS 1999 tội phạm được phân loại thành bốn nhóm khác nhau: Tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Tại Khoản 3 Điều 8 BLHS quy
định: “…tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà
mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”.
Mặt khác, thông thường thì việc chuẩn bị thực hiện tội phạm vẫn còn một khoảng cách nhất định với việc thực hiện tội phạm nên không nhất thiết mọi trường hợp phải truy cứu trách nhiệm hình sự Mà theo quy định tại Điều 17 BLHS 1999 thì chỉ người nào chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự Do vậy, muốn bắt khẩn cấp một người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm thì tội phạm họ đang chuẩn bị thực hiện phải là tội rất nghiêm trọng hoặc là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Như vậy, theo quy định của điều luật thì không được phép bắt người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng
2.2 Trường hợp khẩn cấp thứ hai: Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi
xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn.
Trong trường hợp này, tội phạm đã xảy ra, nhưng người thực hiện tội phạm không bị bắt ngay lúc đó Sau một thời gian, người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy đã xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm Nếu cơ quan điều tra xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn thì ra lệnh bắt khẩn cấp Việc bắt khẩn cấp trong trường hợp này cũng cần đảm bảo hai điều kiện, đó là:
Một là, có người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác
nhận đúng là người đó đã thực hiện tội phạm
Người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm có thể là người bị hại hoặc là một người khác đã chính mắt trông thấy và xác nhận với cơ quan có thẩm quyền đúng là người
đã thực hiện tội phạm Việc xác nhận phải mang tính chất khẳng định một cách chắc
chắn, chứ không thể “hình như” hoặc “nhìn giống” người đã thực hiện tội phạm
Trang 7Điều luật đã quy định “người bị hại hoặc người có mặt…” thay vì quy định là
“người bị hại hoặc người làm chứng” bởi theo quy định của pháp luật thì người làm
chứng là bất cứ người nào biết được những tình tiết khách quan của vụ án và được
cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập đến để khai báo về những việc cần xác minh trong vụ án Như vậy, để được coi là người làm chứng thì phải có hai điều kiện là biết được những tình tiết liên quan đến vụ án và phải được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập đến Tuy nhiên, trên thực tế thì tại nơi xảy ra tội phạm có rất nhiều người
có mặt mà không phải ai cũng có thể trở thành người làm chứng Do đó, quy định như trên là rất chính xác, có như vậy mới đảm bảo được tính xác thực và giá trị của lời tố giác tội phạm
Trước đây, trong các văn bản pháp luật về TTHS thì chỉ cần yếu tố trên là được phép bắt người trong trường hợp khẩn cấp, dẫn đến tình trạng bắt tràn lan, do đó không phát huy được ưu điểm của biện pháp bắt người, gây tốn kém về tiền của và sức người một cách không cần thiết Để hạn chế nhược điểm trên, BLTTHS đã quy
định thêm một yếu tố nữa là “…chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã
thực hiện tội phạm…”
Hai là, cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn.
Để ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp, cơ quan điều tra ngoài căn cứ nêu ra ở phần trên thì còn phải xem xét đến vấn đề có cần bắt để ngăn chặn việc người đó trốn hay không Nếu có căn cứ để cho rằng người đó không có khả năng trốn thì không nhất thiết phải bắt khẩn cấp Căn cứ để cho rằng cần bắt ngay để ngăn chặn việc người đó bỏ trốn có thể dựa vào các căn cứ sau:
- Căn cứ thực tế: Người phạm tội có hành động bỏ trốn hoặc thực tế đã trốn.
- Căn cứ thuộc về khả năng: Đó là việc người phạm tội không thực sự có hành
vi trốn nhưng nếu không bắt thì người đó sẽ trốn (cụ thể là: người đó không có nơi
cư trú rõ ràng hoặc có nơi cư trú nhưng ở quá xa; là đối tượng phản cách mạng, lưu manh, côn đồ hung hãn hoặc chưa được xác định được nhân thân của người đó…)
Ví dụ: Vụ án mạng kinh hoàng xảy ra vào khoảng 6h30 phút ngày 2/5/2013 tại
ấp 8, xã Lộc Điền, huyện Lộc Ninh tỉnh Bình Phước, nạn nhân là chị Đinh Thị Hạnh Chồng chị Hạnh là Trần Phước Đào sau một thời gian mâu thuẫn, đang làm thủ tục ra tòa ly hôn Sáng ngày 2.5, nhiều người nghe tiếng la thất thanh vọng ra từ nhà chị Hạnh Khi mọi người chạy đến, phát hiện chị nằm dưới đất, cổ chảy nhiều
Trang 8máu Lúc này,Đào vẫn còn cầm dao trong tay Chị Hạnh tử vong trên đường đi cấp cứu Nhận được tin báo lực lượng chức năng đã đến khám nghiệm, ra quyết định bắt khẩn cấp và tổ chức truy bắt Hào Đến 8g cùng ngày, hung thủ bị tóm khi đang ẩn nấp trong vườn cao su2 Như vậy có thể thấy khi xảy ra án mạng, nhiều người dân đã chứng kiến Hào còn cầm dao đã chém chị Hạnh trên tay và cơ quan công an căn cứ Hào đang bỏ trốn để cơ quan ra quyết định bắt khẩn cấp
2.3 Trường hợp khẩn cấp thứ ba: Khi có dấu vết của tội phạm ở người hoặc
tại chỗ của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ
Đây là trường hợp cơ quan có thẩm quyền chưa có đủ tài liệu, chứng cứ để xác định người thực hiện tội phạm Nhưng qua việc phát hiện dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần thiết ngăn chặn việc người này bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ thì bắt khẩn cấp Việc bắt người trong trường hợp này cần có hai điều kiện:
Một là, khi thấy dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi
thực hiện tội phạm
Qua những hoạt động như khám chỗ ở, địa điểm, khám người, xem xét dấu vết trên cơ thể, kiểm tra, kiểm soát hành chính… cơ quan có thẩm quyền tìm thấy dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở, địa điểm của người bị nghi thực hiện tội phạm Các dấu vết đó có thể là những vật dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết của tội phạm, các vật khác có giá trị chứng minh tội phạm, cũng như các vết đâm chém, đánh, cào cấu hoặc vết cắn… xuất hiện trên thân thể của người bị nghi là thực hiện tội phạm Cần chú ý rằng, những dấu vết trên thân thể người bị nghi thực hiện tội phạm có trước hoặc sau khi tội phạm xảy ra (vết chàm, bớt, sẹo, nốt ruồi, hạt cơm…) thì không được coi là dấu vết của tội phạm Những dấu vết của tội phạm được tìm thấy là những vật chứng, cũng như dấu vết của tội phạm trên thân thể hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm Việc tìm thấy dấu vết của một tội phạm được coi là điều kiện để bắt khẩn cấp
Hai là, cần ngăn chặn người bị nghi thực hiện tội phạm trốn hoặc tiêu hủy
chứng cứ
2“Bắt khẩn cấp gã chồng chém chết vợ” dantri.com.vn › Pháp luật
Trang 9Những căn cứ cho rằng những người bị nghi thực hiện tội phạm bỏ trốn tương
tự như các căn cứ trong trường hợp thứ hai Tuy nhiên, nếu xác định người bị thực hiện tội phạm không bỏ trốn nhưng lại có căn cứ cho rằng người đó tiêu hủy chứng
cứ như: đang xóa dấu vết tội phạm, đang cất giấu công cụ phương tiện phạm tội, đang tẩu tán tài sản vừa lấy được… thì những hành vi đó vẫn được coi là điều kiện
để bắt khẩn cấp
Trường hợp bắt khẩn cấp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 81 BLTTHS chính
là sự kết hợp các trường hợp bắt khẩn cấp thứ 3, 4 và 5 trong các Sắc luật 002/SL ngày 15/3/1976 trước đây Việc quy định như vậy, đã giúp được việc hạn chế lạm dụng bắt khẩn cấp với điều kiện đơn giản để thay thế cho việc điều tra, xác minh Trước đây, khi BLTTHS chưa được ban hành thì các văn bản pháp luật về TTHS có
quy định việc bắt khẩn cấp trong trường hợp “căn cước lai lịch không rõ ràng”.
Đây là trường hợp người mang giấy tờ giả mạo hoặc không có giấy tờ chứng minh căn cước, lai lịch, có dấu hiệu nghi vấn hoạt động tội phạm hoặc trốn tù nên cơ quan Công an cần bắt giữ để điều tra, xác minh Quy định này là xuất phát từ tình hình thực tế nước ta lúc bấy giờ (do chiến tranh vừa kết thúc, việc kiểm soát căn cước còn khó khăn…) Hiện nay, những điều kiện đó không còn nữa, do vậy quy định này
là không cần thiết nữa và đã bị bãi bỏ
3 Thẩm quyền bắt người trong trường hợp khẩn cấp
Khoản 2 Điều 81 BLTTHS quy định những người có quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp, bao gồm:
“- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan tiến hành điều tra các cấp;
- Người chỉ huy đơn vị quân sự độc lập cấp trung đoàn và tương đương, người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới;
- Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời sân bay, bến cảng”
Theo tinh thần của quy định này thì người chỉ huy cấp trung đoàn và tương đương trực thuộc cấp sư đoàn không có thẩm quyền ra lệnh bắt khẩn cấp Tương đương với cấp trung đoàn được hiểu là các đơn vị có người chỉ huy cùng cấp bậc quân số tương đương, nhiệm vụ được giao tương đương với cấp trung đoàn mặc dù tên gọi có thể khác Người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới đó là các đơn vị được thành lập và biên chế trong hệ thống của bộ đội biên phòng quản lý một
Trang 10khu vực của tuyến biên giới trên đất liền và hải đảo Các đồn biên phòng ở trong khu vực nội địa như sân bay, bến cảng, nhà ga quốc tế… thì không có quyền này bởi
vì ở nội địa đã có các Cơ quan điều tra, Cơ quan Công an đảm nhận
4 Thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp
Khoản 3 Điều 81 BLTTHS quy định: “Nội dung lệnh bắt và thi hành lệnh bắt
người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng quy định tại Khoản 2 Điều 80 của
Bộ luật này” Theo đó, khoản 2 Điều 80 BLTTHS quy định: “2.Lệnh bắt phải ghi
rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị bắt và lý do bắt Lệnh bắt phải có chữ ký của người ra lệnh và có đóng dấu.
Người thị hành lệnh phải đọc lệnh, giải thích lệnh, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt.
Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện chính quyền
xã, phường, thị trấn và người láng giềng của người bị bắt chứng kiến Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng kiến Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng kiến ủa đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành bắt người.”
Thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp về cơ bản cũng được BLTTHS quy định và áp dụng tương tự như thủ tục bắt bị can, bị cáo để tạm giam nhưng có một số điểm khác biệt, cụ thể:
Thứ nhất, lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp không cần sự phê chuẩn
của VKS cùng cấp trước khi thi hành Quy định như vậy nhằm đảm bảo cho việc bắt người đạt hiệu quả và kịp thời đúng như tên gọi “khẩn cấp” của trường hợp bắt người này Nếu trì hoãn không tiến hành ngay thì sẽ mất thời cơ ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn người có hành vi phạm tội trốn tránh hoặc gây khó khăn cho việc điều tra khám phá tội phạm Việc phải có phê chuẩn của VKS đối với lệnh bắt khẩn
cấp trước khi thi hành sẽ là một sự “trì hoãn” làm mất đi tính cấp bách của trường
hợp bắt này
Thứ hai, sau khi đã bắt người, việc bắt khẩn cấp phải được báo ngay cho VKS
cùng cấp bằng văn bản cùng các tài liệu liên quan để xét và phê chuẩn VKS phải kiểm sát chặt chẽ các căn cứ bắt khẩn cấp trước khi quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh bắt Trường hợp cần thiết VKS phải trực tiếp gặp, hỏi người
bị bắt Nếu VKS không phê chuẩn thì phải trả tự do ngay cho người bị bắt (thời gian